1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An

84 1,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 697,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu khái niệm về xét xử phúc thẩm trong TTHS như sau: Phúc thẩm trong TTHS là chế định tố tụng thể hiện chế độ hai cấp xét xử, là giai đoạn độc lập

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 6

1.1 Khái quát lý luận về xét xử phúc thẩm 6 1.2 Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm 16

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ THẨM QUYỀN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH LONG AN 21

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm 21 2.2 Thực tiễn thực hiện các quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An 40

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC THỰC HIỆN THẨM QUYỀN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 59

3.1 Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm 59 3.2 Hướng dẫn thực hiện thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm 62 3.3 Tổng kết thực tiễn xét xử phúc thẩm khắc phục tình trạng án oan, sai.64 3.4 Nâng cao năng lực của Thẩm phán xét xử phúc thẩm 71

KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

TANDTC Tòa án nhân dân Tối cao

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết củađề tài

Từ Đại hội lần thứ VI (năm 1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề

ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước.Cảicách tưpháplàmộtđòihỏikhách quan,cấpthiếtđể cóthểthíchứngvớinhữngđổimớivề chínhtrị, kinhtế,vănhóa, xã hội Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị “về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đề ra các chủ trương lớn, có tính đột phá nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách tư pháp ở nước ta

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những sửa đổi, bổ sung một cách tương đối đồng bộ, toàn diện và phát huy tác dụng tích cực trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng đạt được mục đích và nhiệm vụ đặt ra, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp ở nước

ta Tuy nhiên, về cơ bản các quy định về phúc thẩm trong Bộ luật tố tụng hình

sự sửa đổi vẫn như trước đây chưa khắc phục được những bất cập, tồn tại và vướng mắc trong thực tiễn

Trong các quy định về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm là rất quan trọng, nếu không có quy định này, thì khi các bản án sơ thẩm có sai sót sẽ không được khắcphụckịp thời.Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận các quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm; chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn

và nguyên nhân, trên cơ sở đó đưa ra được các căn cứ khoa học nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định vềcác quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm là một yêu cầu cấp thiết của khoa học luật tố tụng hình sự hiện nay Mặc khác, tình hình xét xử án hình sự theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An trong thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được

Trang 5

góp phần ổn định tình hình chính trị tại địa phương thì vẫn còn những hạn chế, thiếu sót Tình trạng án sơ thẩm bị hủy, bị cải sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán chưa được khắc phục triệt để; việc áp dụng pháp luật thiếuthống nhất…

Do đó, tác giả chọn đề tài: “Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An”

vừa có tính cấpthiết về cơ sở lý luận, vừa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ khi có BLTTHS 1988 ra đời, và sau đó là BLTTHS 2003, các quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm là đối tượng nghiên cứu cho nhiều tác giả Qua khảo sát tình hình nghiên cứu cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu

về thủ tục xét xử phúc thẩm như: Luận án “Thẩm quyền của Tòa án các cấp

theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Nguyễn Văn Huyên năm 2002;

luận án “Phúc thẩm trong Tố tụng hình sự” của TS Nguyễn Đức Mai năm 2004; luận án “Nguyên tắc hai cấp xét xử trong Tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Vũ Gia Lâm năm 2008; luận văn “Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc

thẩm trong Tố tụng hình sự” của Ths Nguyễn Văn Tiến năm 1997; …

Trước khi có BLTTHS 2003 có một số bài nghiên cứu trên các báo, tạp

chí như: Tạp chí Tòa án nhân dân số 23/2006; và “Một số vấn đề về phạm vi

xét xử và quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự”, Tạp chí

Tòa án nhân dân số 18/2009 Đinh Văn Quế “Một số vấn đề về sửa bản án sơ

thẩm trong xét xử phúc thẩm theo Bộ luật TTHS năm 2003”, Tạp chí Tòa án

nhân dân số 13/2006 Ngoài ra, còn được đề cập tới ở một số tài liệu khác

Như vậy, nội dung cụ thể về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm là một phần trong các nội dung nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm của luận án tiến sĩ hoặc luận văn thạc sĩ Do đó, việc nghiên cứu toàn diện về quy

Trang 6

định này là rất cần thiết, tạo sự thống nhất trong nhận thức và chính xác trong thực tiễn xét xử

3 Mục đíchvànhiệmvụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt nam; phân tích làm rõ những điểm hạn chế, thiếu sót trong quy định về thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm, phân tích những tồn tại hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định đó để đƣa ra giải pháp bảo đảmthực hiện thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm

Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu đã đƣợc đặt ra, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Góp phần làm rõ các vấn đề lý luận về thẩm quyền của hội đồng xét

xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam

- Đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm và thực tiễn thi hành tại Long An trong thời gian qua

- Đề ra những giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm và bảo đảm thực hiện trên thực tế

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm; thực tiễn thi hành các quy định của BLTTHS về thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm tại tỉnh Long An

Phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Luận văn nghiên cứu các quy định có liên quan trong lịch sử phát triển của pháp luật TTHS của nước ta và trọng tâm là nghiên cứu quy định tại Điều

248 của BLTTHS Việt Nam năm 2003 về quyền thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm Nghiên cứu cụ thể các nội dung quy định tại Điều 248 trong mối tương quan phù hợp với các văn bản pháp luật khác như: Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự v.v Đồng thời, luận văn tổng hợp số liệu và phân tích thực tiễn áp dụng Điều 248 của các Tòa án nhân dân tỉnh Long An trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -

Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp quyền Các giải pháp luận văn đưa ra được nghiên cứu dựa trên các quan điểm định hướng chỉ đạo của Đảng và nhà nước ta về cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình

sự như: phân tích, tổng hợp, lịch sử, thống kê, khảo sát thực tiễn và tham khảo chuyên gia Để thực hiện Luận văn, tác giả thu thập số liệu thống kê về thực tiễn xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Long An trong 05 năm (2010 – 2015)

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa trong việc góp phần nhận thức đúng đắn, thống nhất về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm Luận văn đưa ra các giải pháp có cơ

sở lý luận và thực tiễn đối với việc hoàn thiện pháp luật TTHS của nước ta trong thời kì mới

Trang 8

Luận văn là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy, học tập môn Tố tụng hình sự

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương1:Lý luận vềthẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong

tố tụng hình sự Việt Nam

Chương2:Quy định của pháp luật Tố tụnghìnhsự Việt Nam về thẩm

quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm và thực tiễn tại tỉnh Long An

Chương3: Các giải pháp bảo đảm việc thực hiện thẩm quyền của Hội

đồng xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 9

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC

THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái quát lý luận về xét xử phúc thẩm

1.1.1 Khái niệm xét xử phúc thẩm

Trong khoa học luật TTHS, khái niệm xét xử phúc thẩm có thể được hiểu ở các góc độ khác nhau cả ở nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, thì khái niệm xét xử phúc thẩm có thể được hiểu là một giai đoạn của TTHS (giai đoạn phúc thẩm); một chế định (chế định phúc thẩm) của TTHS hay cũng có thể được hiểu là một thủ tục tố tụng (thủ tục xét xử phúc thẩm) Theo nghĩa rộng, khái niệm xét xử phúc thẩm được hiểu ở cả ba nghĩa nêu trên [13,

tr 13] Để làm rõ khái niệm về xét xử phúc thẩm, cần phải làm sáng tỏ các nội dung sau đây:

Thứ nhất, xét xử phúc thẩm làgiai đoạn của TTHS: Quá trình giải quyết

các vụ án hình sự được phân thành các giai đoạn có tính độc lập tương đối kế tiếp và liên quan chặt chẽ với nhau Giai đoạn tố tụng trước là tiền đề cho giai đoạn tố tụng sau Ví dụ, để có thể đưa một vụ án ra xét xử thì phải có quyết định truy tố của VKS đối với các bị cáo trong vụ án đó và muốn truy tố thì phải có kết luận của cơ quan điều tra về vụ án

Với tư cách là một giai đoạn độc lập của quá trình TTHS, giai đoạn phúc thẩm tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào việc bản án, quyết định

sơ thẩm có kháng cáo hoặc kháng nghị hay không Đây là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử sơ thẩm Nó được bắt đầu ngay sau khi bản án sơ thẩm được tuyên và kết thúc khi bản án, quyết định sơ thẩm có HLPL hoặc được thay thế bằng bản án, quyết định phúc thẩm [13, tr.14,15]

Có ý kiến cho rằng, phúc thẩm không phải là một giai đoạn độc lập của quá trình TTHS mà phụ thuộc vào việc có hay không có kháng cáo, kháng

Trang 10

nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm trong thời hạn luật định Bởi vì, sau khi xét xử sơ thẩm, không phải tất cả các vụ án hình sự, mà chỉ có những vụ

án mà bản án có kháng cáo, kháng nghị mới được đưa ra xét xử phúc thẩm

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, ý kiến này đã sai lầm khi đồng nhất "giai

đoạn phúc thẩm" với "thủ tục xét xử phúc thẩm" Đối với một vụ án cụ thể,

thủ tục xét xử phúc thẩm không phải là bắt buộc Thủ tục xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm theo quy định của pháp luật Trong trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thì mặc dù không phải tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án đó, nhưng đối với vụ án đó giai đoạn phúc thẩm vẫn tồn tại

và được bắt đầu ngay sau khi bản án sơ thẩm được tuyên và kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và bản án có HLPL

Thứ hai, xét xử phúc thẩm là chế định của TTHS: Về mặt lý luận, pháp

luật của mỗi quốc gia nói chung và pháp luật của Việt Nam nói riêng, là một

hệ thống những quy tắc xử sự (các quy phạm pháp luật) do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Hệ thống này được phân thành các tiểu hệ thống nhỏ hơn - các ngành luật Mỗi ngành luật là một tiểu hệ thống các quy tắc xử sự điều chỉnh một loại quan hệ xã hội trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội (hình sự, dân sự, kinh tế, ) Đến lượt mình, mỗi ngành luật lại được chia thành các chế định pháp lý và mỗi chế định này bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất [13, tr.17]

Pháp luật TTHS cũng bao gồm các chế định pháp lý khác nhau Với tư cách là một chế định của pháp luật TTHS, xét xử phúc thẩm là một tiểu hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tham gia vào giai đoạn tố tụng này Các quy phạm pháp luật này không chỉ bao gồm các quy định trong BLTTHS của mỗi quốc gia mà cả các

Trang 11

quy phạm trong các văn bản luật và dưới luật khác Ví dụ: Ở nước ta chế định

phúc thẩm trong TTHS không chỉ bao gồm các quy phạm ở Phần thứ tư "Xét

lại bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm",

mà cả các quy định khác của BLTTHS như: Các nguyên tắc cơ bản; các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm được áp dụng khixét xử phúc thẩm Một số lượng khá lớn quy phạm về phúc thẩm trong TTHS còn được chứa đựng trong các văn bản luật (như Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, ) và văn bản dưới luật (như Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự, Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự; các Thông tư liên tịch, các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC, về việc hướng dẫn

áp dụng một số quy định của BLTTHS) [13, tr.17]

Thứ ba, xét xử phúc thẩm làthủ tục tố tụng: Xét xử phúc thẩm là một

trong những hình thức xem xét lại việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa

án cấp dưới Thủ tục xét xử phúc thẩm đối với một vụ án chỉ phát sinh khi bản án, quyết định sơ thẩm về vụ án đó bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật Vì vậy, không phải tất cả các vụ án hình sự sau khi xét xử sơ thẩm đều được xem xét lại theo thủ tục này Thủ tục phúc thẩm sẽ kết thúc sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định về vụ án đó

Như vậy, thời điểm bắt đầu của giai đoạn phúc thẩm và thời điểm bắt đầu của thủ tục xét xử phúc thẩm là khác nhau Thời điểm bắt đầu của giai đoạn phúc thẩm là cố định, không thay đổi và sớm hơn, tức là ngay sau khi tuyên bản án, quyết định sơ thẩm Còn thời điểm bắt đầu thủ tục phúc thẩm phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật và được xác định từ thời điểm Tòa án nhận được kháng cáo hoặc kháng nghị Thời điểm kết thúc giai đoạn phúc thẩm và thời điểm kết thúc thủ tục phúc thẩm chỉ trùng nhau trong trường hợp vụ án có kháng cáo, kháng nghị là ngay sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết

Trang 12

định phúc thẩm Đối với vụ án không có kháng cáo, kháng nghị, thủ tục phúc thẩm không phát sinh, vì vậy, không thể có thời điểm bắt đầu và kết thúc thủ tục này [13, tr.18]

Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu khái niệm về xét xử phúc

thẩm trong TTHS như sau: Phúc thẩm trong TTHS là chế định tố tụng thể

hiện chế độ hai cấp xét xử, là giai đoạn độc lập của TTHS, đồng thời là thủ tục mà theo đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hình sự mà bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật địnhnhằm kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, khắc phục kịp thời các sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo vệ công lý, quyền con người, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

1.1.2 Tính chất của xét xử phúc thẩm

Một trong những vấn đề cần được quan tâm đầu tiên khi nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm đó là tính chất xét xử phúc thẩm Tính chất xét xử phúc thẩm sẽ quyết định đến những vấn đề khác của phúc thẩm như: Phạm vi xét

xử phúc thẩm, những quy định chung về thủ tục tại phiên tòa phúc thẩm, trình

tự phiên tòa phúc thẩm cũng như quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm…Mặt khác, tính chất của phúc thẩm là một trong những điểm khác biệt để có thể phân biệt giữa thủ tục phúc thẩm và giám đốc thẩm Tính chất của phúc thẩm được thể hiện qua những nét đặc trưng cơ bản đó là:

Thứ nhất,Phúc thtg nh th vấn đề cần được quan tâm đầu tiên Không

phải mọi vụ án hình sự đều được xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Thế nhưng, bản án, quyết định sơ thẩm bị Viện kiểm sát kháng nghị, bị cáo hay những người tham gia tố tụng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo trong thời hạn luật định thì được xét xử theo thủ tục phúc thẩm để xem xét lại những vấn

đề bị kháng cáo, kháng nghị và những vấn đề khác khi cần thiết Việc xét xử

Trang 13

phúc thẩm là yêu cầu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của

Toà án cấp phúc thẩm

Thứ hai, căn cứ làm phát sinh trình tự phúc thẩm là kháng cáo, kháng

nghị mà trong đó quyền kháng cáo là nét đặc trưng của phúc thẩm.Sau khi xét

xử sơ thẩm, bản án quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực ngay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác còn có quyền yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án một lần nữa Để tạo điều kiện cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thực hiện tốt quyền kháng cáo của mình thì, khi tuyên

án, Hội đồng xét xử phải giải thích cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác về quyền kháng cáo và họ phải được giao bản án trong thời hạn luật định Trường hợp bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa thì quyền kháng cáo được tính kể từ ngày họ nhận được bản án, quyết định hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án, quyết định của Tòa án

Quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không chỉ được thể hiện qua các quyền của họ được pháp luật quy định mà còn thể hiện qua nghĩa vụ của Tòa án trong việc giải quyết kháng cáo của họ Trường hợp kháng cáo hợp lệ về hình thức, Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa để giải quyết chấp nhận hay không chấp nhận nội dung kháng cáo của người kháng cáo Nếu không chấp nhận kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm phải nêu rõ lý do của việc không chấp nhận kháng cáo Tòa án cấp phúc thẩm không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo nếu như không có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại theo hướng bất lợi cho bị cáo Quy định này đảm bảo cho bị cáo có sự yên tâm thực hiện quyền kháng cáo

mà không lo hậu quả của việc kháng cáo có thể gây bất lợi cho mình

Thứ ba, tính chất của phúc thẩm không phải là xét lại mà là xét xử lại

vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.Nhiệm vụ của Tòa án cấp phúc thẩm là kiểm tra tính hợp

Trang 14

pháp và có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, đồng thời xét xử lại về mặt nội dung tính hợp pháp của bản án, quyết định trên cơ sở của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng

Tính có căn cứ của bản án, quyết định thể hiện ở chổ các chứng cứ đưa

ra để chứng minh trong vụ án phải phù hợp với thực tế Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án về mặt nội dung là việc xác định lại thực chất của vụ án để đưa ra quyết định những vấn đề về nội dung vụ án và những quyết định khác

có liên quan Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có thể giống hoặc khác so với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Đây chính là điểm khác biệt của phúc thẩm so với giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Đối với giám đốc thẩm hoặc tái thẩm chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật mà không xét xử lại về nội dung

Từ phân tích trên có thể khẳng định rằng, tính chất của phúc thẩm

trong TTHS là việc thực hiện một cấp xét xử mà trong đó Toà án có thẩm quyền xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật do bị kháng cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn luật định”

1.1.3 Mục đích của xét xử phúc thẩm

Mục đích của xét xử phúc thẩm là nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính

có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội và Nhà nước

Với tính chất là cấp xét xử thứ hai, vừa là một hình thức giám đốc của Toà án cấp trên đối với việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm đồng thời thực hiên cả hai chức năng vừa xét xử lại vụ án về nội dung vừa xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định

sơ thẩm

Một là, xét xử lại về mặt nội dung Tòa án cấp phúc thẩm có nhiệm vụ

xem xét, đánh giá lại sự thật khách quan của vụ án dựa trên toàn bộ những

Trang 15

chứng cứ đã được thu thập trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và chứng cứ mới được thu thập bổ sung trong giai đoạn xét xử phúc thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền xét xử lại một phần hoặc toàn bộ nội dung vụ án tùy thuộc vào nội dung của kháng cáo và kháng nghị Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm cũng có thể xem xét những nội dung khác ngoài phạm vi kháng cáo hoặc kháng nghị

Hai là, thực hiện nhiệm vụ giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên

đối với Tòa án cấp dưới Hội đồng xét xử phúc thẩm kiểm tra xem xét tính khách quan và tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới Việc kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm nhằm giúp cho tòa án cấp phúc thẩm có thể sửa chữa những sai lầm trong bản án hoặc quyết định sơ thẩm, đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng[39, tr 524]

1.1.4 Các đặc điểm của xét xử phúc thẩm

Như đã phân tích ở trên, xét xử phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm đồng thời thực hiện

cả hai chức năng vừa xét xử lại vụ án về nội dung, vừa xét lại tính hợp pháp

và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm Do đó, xét xử phúc thẩm có các đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra việc tuân theo yêu

cầu của pháp luật trong khi xét xử của Tòa án cấp dưới, mà còn kiểm tra tính đúng đắn của các tình tiết thực tế được xác định trong bản án, tức là đồng thời kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án

Trên cơ sở những kháng cáo, kháng nghị hợp lệ, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ tiến hành xét lại và xét xử lại đối với những bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị Cụ thể, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành

Trang 16

xét lại tính hợp pháp của bản án, quyết định đó và tính có căn cứ về sự phù hợp giữa kết luận trong bản án, quyết định với những sự kiện trên thực tế khách quan của vụ án Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử lại vụ án

để giải quyết vụ án một cách chính xác trên cơ sở những chứng cứ ở cấp sơ thẩm và những chứng cứ mới

Thứ hai, xét xử phúc thẩm chỉ có thể được tiến hành khi có kháng cáo

của những người tham gia tố tụng hoặc có kháng nghị của VKS theo quy định của BLTTHS Chính những kháng cáo, kháng nghị hợp pháp là căn cứ để bản

án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trở thành đối tượng cần được xem xét giải quyết ở giai đoạn phúc thẩm Do đó, cơ sở pháp lý có nguồn gốc làm phát sinh thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm chính là kháng cáo, kháng nghị hợp pháp đối với những bản án, quyết định sơ thẩm Trong đó, quyền kháng cáo là nét đặc trưng của xét xử phúc thẩm Sau khi xét

xử sơ thẩm, bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, bị cáo và những người tham gia tố tụng còn có quyền kháng cáo yêu cầu xét xử lại một lần nữa ở Tòa án cấp trên trực tiếp Nếu như căn cứ để tiến hành xét

xử sơ thẩm là quyết định truy tố của Viện kiểm sát, căn cứ để tiến hành giám đốc thẩm, tái thẩm là kháng nghị của những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền là những căn cứ mang tính quyền lực Nhà nước thì trình tự phúc thẩm

có thể được phát sinh bởi kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật

Quyền kháng cáo được thể hiện qua việc bị cáo và người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm nào nhằm mục đích đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác Thông qua kháng cáo, họ thể hiện sự bất đồng và nêu những quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, đồng thời đề đạt những nguyện vọng, những yêu cầu của mình đối với Tòa án cấp phúc thẩm

Trang 17

Thứ ba, đối tượng của xét xử phúc thẩm là những bản án, quyết định sơ

thẩm do bị kháng cáo, kháng nghị hợp lệ nên chưa có hiệu lực pháp luậ Xét

xử phúc thẩm cũng là một điều kiện để Tòa án cấp trên có thể kiểm tra chất lượng xét xử của Tòa án cấp dưới, hướng dẫn Tòa án cấp dưới xét xử đúng pháp luật, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ xét xử Mặc dù vậy, không phải tất cả các vụ án xét xử qua cấp sơ thẩm đều bị phúc thẩm Chỉ có những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị hợp lệ theo quy định của BLTTHS mới là đối tượng của xét xử phúc thẩm Một bản án, quyết định sơ thẩm, nếu có sai lầm, nhưng không có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu phúc thẩm thì bản án, quyết định đó cũng không bị xét xử phúc thẩm Mặt khác, khi bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện thấy sai lầm thì cũng không phải là đối tượng của thủ tục phúc thẩm Trong trường hợp này, bản

án, quyết định sơ thẩm đó sẽ bị xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng

Thứ tư, chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng trong XXPT bao gồm:

Tòa án cấp phúc thẩm, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm; những người có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác mà Tòa án cấp phúc thẩm thấy cần thiết triệu tập tham gia phiên tòa

Thứ năm,Tòa án cấp phúc thẩm không bị ràng buộc bởi những lý do

kháng cáo hoặc kháng nghị mà kiểm tra toàn bộ vụ án đối với tất cả những người bị kết án, kể cả những người không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị trong giới hạn do BLTTHS quy định

Thứ sáu, phiên tòa phúc thẩm có một số đặc thù phù hợp với cấp xét xử

phúc thẩm như: Khi khai mạc phiên toà, Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà không phải đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử; trước khi tiến hành xét hỏi;

Trang 18

việc công bố Cáo trạng của Kiểm sát viên được thay thế bằng việc một thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản

án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị; việc luận tội của Kiểm sát viên ở phần tranh luận được thay thế bằng việc trình bày kết luận của đại diện Viện kiểm sát

Thứ bảy, khi xét xử phúc thẩm, những người tham gia tố tụng liên quan

đến kháng cáo, kháng nghị có quyền bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ Chủ thể kháng cáo, kháng nghị không chỉ viện dẫn những chứng cứ có trong hồ sơ vụ

án mà còn được xuất trình những tài liệu mới chưa được xem xét tại Tòa án cấp sơ thẩm Bản án của Tòa án cấp phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ

cũ và chứng cứ mới Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia

tố tụng khác được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của BLTTHS như: Quyền đưa chứng cứ và yêu cầu, tranh luận tại phiên tòa, quyền bào chữa của bị cáo Do xét xử phúc thẩm không chỉ là kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định mà còn xét xử lại vụ án về mặt nội dung, nghĩa là xem xét tính đúng đắn của vụ án về mặt thực chất Vì vậy, pháp luật quy định bị cáo và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị có quyền xuất trình những chứng cứ mới để bảo vệ quyền lợi cho mình, không phải phụ thuộc vào những chứng cứ đã đưa ra tại phiên tòa sơ thẩm Họ có quyền thay đổi lời khai, có quyền yêu cầu mời thêm nhân chứng mới, có quyền đa ra những vật chứng mới Viện kiểm sát cấp phúc thẩm cũng

có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của tòa án tiến hành điều tra bổ sung thu thập thêm những chứng cứ mới để làm sáng tỏ những vấn đề về nội dung vụ

án Tất cả các chứng cứ mới và chứng cứ cũ đều được đa ra xem xét trực tiếp tại phiên tòa và là căn cứ để tòa án cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định

Ngoài ra, xét xử phúc thẩm còn có những đặc điểm đặc trưng trong các quan hệ pháp luật tố tụng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng như: giữa Tòa án

Trang 19

cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm (trong việc thông báo kháng cáo, kháng nghị; xác minh lý do kháng cáo quá hạn ) giữa Viện kiểm sát cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp phúc thẩm (trong việc kháng nghị bản án sơ thẩm); Tòa án cấp phúc thẩm và Viện kiểm sát cấp phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án

1.2 Thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm

1.2.1.Thẩm quyền xem xét kháng cáo quá hạn

Để đảm bảo tính ổn định của bản án, quyết định sơ thẩm, kháng cáo thực hiện ngoài thời hạn luật định là quá hạn và về nguyên tắc không được chấp nhận Tuy nhiên nếu có lý do chính đáng thì Tòa án cấp phúc thẩm vẫn

có thể xem xét chấp nhận kháng cáo quá hạn đó, nhằm bảo đảm quyền lợi của người kháng cáo, vì lý do của việc kháng cáo quá hạn đó không phải do lỗi của họ Những lý do đó có thể là người có quyền kháng cáo bị tai nạn bất ngờ,

ốm đau đột xuất phải đi cấp cứu và nằm viện dài ngày hoặc do thiên tai… khiến cho họ dù muốn cũng không thể kháng cáo trong thời hạn luật định được Việc xét lý do kháng cáo quá hạn phải thực hiện trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, không phụ thuộc vào việc ngoài bị cáo, đương sự kháng cáo quá hạn, trong vụ án còn có kháng cáo của các bị cáo hoặc đương sự khác trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 234 của BLTTHS

Còn đối với kháng nghị của Viện kiểm sát quá hạn thì dù do bất kỳ lý

do gì cũng không được xem xét Kháng nghị đó không làm phát sinh trình tự xét xử phúc

1.2.2 Thẩm quyền xem xét vụ án (phạm vi xét xử phúc thẩm)

Trong quá trình thực hiện chức năng xét xử, Tòa án được Nhà nước trao cho quyền năng đưa ra các quyết định có tính chất quyền lực nhà nước để giải quyết vụ án, đồng thời, cũng hạn chế quyền năng đó trong một giới hạn pháp luật nhất định gọi là phạm vi thẩm quyền Về cơ bản, kháng cáo hoặc

Trang 20

kháng nghị hợp pháp là cơ sở pháp lý để Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định phạm vi xét xử của mình Phạm vi xét xử của Tòa án là giới hạn mà Tòa án có thẩm quyền được quyền xét xử và ra các quyết định đối với vụ án theo quy định của pháp luật Phạm vi xét xử phúc thẩm được xác định dựa vào kháng cáo, kháng nghị hợp pháp

Nếu kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phúc thẩm phải xem xét toàn bộ nội dung bản hoặc quyết định đó.Nếu kháng cáo, kháng nghị chỉ đề cập đến một phần nội dung của bản án hoặc quyết định sơ thẩm, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét giải quyết phần nội dung của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, nếu xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử phúc thẩm còn được mở rộng ra những phần khác của bản án hoặc quyết không có kháng cáo, kháng nghị, thậm chí mở rộng xem xét toàn bộ nội dung bản án Theo quy định tại Điều 241 BLTTHS năm 2003 thì phạm vi xét xử

phúc thẩm được xác định là việc "Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung

kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án" Tuy

nhiên, thẩm quyền ra quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải

là vô hạn, mà pháp luật cho phép xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị trên cơ sởnguyên tắc không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo

Ngoài ra, khi xét xử Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền ra quyết định khởi tố vụ án, ra các quyết định xử lý hành chính như cảnh cáo, phạt tiền đối với những người vi phạm trật tự phiên tòa

Tóm lại, nhiệm vụ của Hội đồng xét xử phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm mà đồng thời xét

xử lại về mặt nội dung tính hợp pháp của bản án thể hiện ở chỗ không những

nó phải phù hợp với pháp luật hình sự về mặt nội dung trong việc giải quyết

Trang 21

vụ án đồng thời còn phải phù hợp với những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về mặt hình thức Tính có căn cứ của bản án và quyết định thể hiện ở chỗ các chứng cứ dùng để chứng minh vụ án phải phù hợp với những sự kiện thực tế khách quan của vụ án

1.2.3 Thẩm quyền quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Phạm vi quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm là một nội dung hết sức quan trọng và cần thiết trong TTHS của nước ta Với vai trò là cấp xét xử thứ hai và giải quyết vụ án một lần nữa nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính

có căn cứ của bản án hoặc quyết định sơ thẩm để ra những quyết định cần thiết, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền quyết định các vấn đề cụ thể của

vụ án sau khi đã xem xét toàn bộ vụ án Như vậy có thể nói, thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm là toàn bộ các quyền hạn mà pháp luật dành cho Hội đồng xét xử phúc thẩm trong việc xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về các vụ án hình sự đã được các Tòa án cấp dưới trực tiếp xét xử sơ thẩm, nhưng bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật do bị kháng cáo, kháng nghị

Khi xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền quyết định: không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản

án sơ thẩm; sửa bản án sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét

xử lại; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án

Dựa vào các phân tích nêu trên, theo chúng tôi, có thể hiểu khái niệm

về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm“là tổng hợp các quyền mà

pháp luật quy định cho Hội đồng xét xử phúc thẩm được xem xét và quyết định trong phạm vi xét xử phúc thẩm đối với nội dung của vụ án hình sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; nhằm xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đó, giải quyết một cách đúng đắn vụ án”

Trang 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nội dung chương 1 đã nêu được khái niệm, tính chất, mục đích, các đặc điểm và phạm vi của xét xử phúc thẩm Theo đó, thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm các yếu tố đặc trưng cơ bản như sau:

Chủ thể thực hiện thẩm quyền xét xử phúc thẩm là những người được phân công tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa

án nhân dân Cấp cao

Đối tượng của xét xử phúc thẩm: HĐXX phúc thẩm có quyền xem xét

và quyết định đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trên cơ sở những kháng cáo, kháng nghị hợp lệ Ngoài ra HĐXX phúc thẩm còn có thẩm quyền xem xét lý do kháng cáo quá hạn theo quy định của pháp luật

Nội dung xét xử phúc thẩm: Trên cơ sở những kháng cáo, kháng nghị hợp lệ, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ tiến hành xét lại và xét xử lại đối với những bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị Với tính chất là cấp xét xử thứ hai, Hội đồng xét xử phúc thẩm đồng thời thực hiên cả hai chức năng vừa xét xử lại vụ án về nội dung vừa xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm

Phạm vi xét xử phúc thẩm: Trong quá trình thực hiện chức năng xét xử, Tòa án được Nhà nước trao cho quyền năng đưa ra các quyết định có tính chất quyền lực nhà nước để giải quyết vụ án, đồng thời, cũng hạn chế quyền năng

đó trong một giới hạn pháp luật nhất định gọi là phạm vi xét xử phúc thẩm

Với những phân tích ở Chương 1 sẽ làm tiền đề cho việc nghiên cứu thẩm quyền quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm theo quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt nam và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An trong Chương 2

Trang 23

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ THẨM QUYỀN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM VÀ THỰC

TIỄN TẠI TỈNH LONG AN 2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Theo quy định tại khoản 2 Điều 248 BLTTHS, Hội đồng xét xử phúc thẩm có các quyền sau:

- Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;

2.1.1 Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản

án, quyết định sơ thẩm

Trước hết việc giữ nguyên bản án sơ thẩm là trường hợp toàn bộ bản án

sơ thẩm đều được giữ nguyên, không thay đổi Trong trường hợp một bản án

có nhiều kháng cáo, kháng nghị, việc Tòa án không chấp nhận một số kháng cáo, kháng nghị và các quyết định sửa án thì được coi là trường họp sửa án sơ thẩm chứ không phải là trường hợp giữ nguyên bản án sơ thẩm Do đó, cần phải hiểu giữ nguyên bản án sơ thẩm là giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm, chứ không thể có trường hợp giữ nguyên một phần bản án sơ thẩm

BLTTHS năm 2003 hiện nay không quy định cụ thể trường hợp nào thì

Trang 24

HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, giữ nguyên bản

án sơ thẩm Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác xét xử thì việc Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị được chia làm hai trường hợp chính đó là không chấp nhận về hình thức và không chấp nhận về nội dung

Thứ nhất, không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị về hình thức nếu

kháng cáo, kháng nghị không đảm bảo các điều kiện thụ lý mà Toà án không phát hiện được khi nhận và xử lý kháng cáo, kháng nghị Điều kiện thụ lý kháng cáo, kháng nghị gồm các điều kiện chủ thể, giới hạn và thời hạn kháng cáo, kháng nghị Toà án cấp sơ thẩm phải kiểm tra các điều kiện thụ lý kháng cáo, kháng nghị Toà án cấp phúc thẩm phải kiểm tra tính chính đáng của lý

do kháng cáo quá hạn Việc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị tại khâu kiểm tra điều kiện thụ lý thể hiện ở việc Toà án cấp sơ thẩm trả lại đơn kháng cáo hoặc Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định không chấp nhận kháng cáo quá hạn

Trong trường hợp tại phiên toà phúc thẩm mới phát hiện kháng cáo, kháng nghị không đảm bảo các điều kiện thụ lý thì Toà án cấp phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm

Thứ hai, không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị về nội dung khi các

yêu cầu trong kháng cáo, kháng nghị không có căn cứ pháp luật Tòa án cấp

sơ thẩm đã xét xử chính xác, khách quan không có lý do gì để làm thay đổi bản án hoặc quyết định của Tòa án

Theo nguyên tắc thì Tòa án cấp phúc thẩm khi đã không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị thì phải giữ nguyên bản án Tuy nhiên, thực tế cho thấy có trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị nhưng không ra quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm vì có lý do sửa hay hủy bản án này Ví dụ, trong một vụ án đồng phạm, Hội đồng xét xử bác

Trang 25

kháng nghị của Viện Kiểm sát hoặc của người bị hại tăng nặng hình phạt đối với bị cáo này, nhưng lại giảm hình phạt đối với bị cáo khác không có kháng cáo Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 248 thì Tòa án cấp phúc thẩm khi không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị thì phải quyết định giữ nguyên bản án, nhưng theo quy định về phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm tại Điều 241 BLTTHS thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể được xem xét các phần khác không được kháng cáo, kháng nghị của bản án Vì thế, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn có quyền không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, đồng thời vẫn có thể quyết định sửa bản án, hủy bản án để điều tra lại hoặc hủy bản án và đình chỉ vụ án đối với những phần khác của bản án không bị kháng nghị, kháng cáo nếu quyết định đó có đủ căn cứ pháp luật

2.1.2 Sửa bản án sơ thẩm

Sửa bản án sơ thẩm là quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm để thay đổi về nội dung của bản án sơ thẩm như: Thay đổi về việc định tội danh, quyết định hình phạt, bồi thường thiệt hại và các biện pháp tư pháp (nếu có) theo hướng bất lợi hoặc có lợi cho bị cáo

Có thể thấy đây là quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm với ý nghĩa đưa ra nhưng phán quyết cuối cùng nhằm giải quyết trực tiếp về nội dung của một vụ án chứ không chỉ giải quyết gián tiếp qua hủy án để điều tra lại hoặc xét xử lại Đây cũng là quyền năng tạo nên điểm khác biệt trong thẩm quyền của Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm và tái thẩm không có Quyền hạn này xuất phát từ tính chất của cấp xét xử phúc thẩm là không chỉ xét lại về tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm mà còn xét xử lại vụ án Trong đó, cả hai thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm chỉ là xét lại tính có căn cứ và tính hợp pháp trong những phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà không xét xử lại vụ

án, mặc dù phát hiện ra những sai lầm thiếu sót nhưng không thể sửa nội dung

Trang 26

bản án theo bất kì hướng nào Qua đó cho thấy, việc sửa án chỉ được ghi nhận dưới hình thức bản án của Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm [12, tr.4]

Theo quy định tại Điều 249 BLTTHS năm 2003 thì HĐXX phúc thẩm

có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo

Trường hợp sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo

Việc sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo là trường hợp sửa bản án

mà HĐXX phúc thẩm không bị phụ thuộc vào nội dung của kháng cáo, kháng nghị HĐXX phúc thẩm có quyền sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo ngay cả khi kháng cáo, kháng nghị có yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo nhưng có căn cứ giảm hình phạt Đối với bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị, nếu có căn cứ, HĐXX phúc thẩm vẫn có thể sửa bản án theo hướng giảm nhẹ hình phạt hoặc giảm mức bồi thường thiệt hại cho bị cáo Tuy nhiên, khi HĐXX phúc thẩm sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo thì không được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng khác như người bị hại, nguyên đơn dân sự Những quyết định của HĐXX phúc thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo như sau:

Miệc sửamiễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt cho bị cáo

Miễn trách nhiệm hình sự là việc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã có đủ dấu hiệu cấu thành một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS, lẽ ra họ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng do có những sự kiện, tình tiết nhất địnhHội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng họ không bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự nữa và việc không buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự vẫn bảo đảm được các yêu cầu của đấu tranh phòng ngừa tội phạm cũng như răn đe người khác phạm tội Căn cứ của quyết định là khi bị cáo thuộc một trong những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại các Điều 19; Điều 25; khoản 2

Trang 27

Điều 69; khoản 3 Điều 80; khoản 6 Điều 289; khoản 3 Điều 314 của BLHS

Miễn hình phạt được hiểu là với việc đã bị Tòa án kết tội, đáng lẽ bị cáo phải chịu hậu quả là bị áp dụng hình phạt nhưng vì có cáclýdo được quy định tại BLHS mà Tòa án quyết định miễn việc chịu hình phạt cho bị cáo.Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự (Điều 54 BLHS); hoặc là người không tố giác có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm theo quy định tại khoản 3 Điều 314 BLHS

Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ quyết định miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo khi xét thấy việc truy cứu trách nhiệm hình sự

và buộc người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu các biện pháp chế tài là không cần thiết, không đạt được mục đích của hình phạt hoặc trái với các nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam[12, tr.5]

Hai là, áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn

Trong quá trình xét xử, nếu xét thấy việc định tội danh và quyết định hình phạt áp dụng đối với bị cáo là quá nặng so với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền quyết định sửa án theo hướng áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn Đây chính là thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm về phần xác định tội danh của Hội đồng xét xử phúc thẩm Áp dụng điều khoản nhẹ hơn có thể là tuyên

bị cáo một tội danh khác nhẹ hơn so với tội danh đã tuyên trong bản án sơ thẩm hoặc chuyển từ khung hình phạt ban đầu sang khung hình phạt nhẹ hơn trong cùng một tội hoặc chuyển từ cấu thành tội phạm tăng nặng sang cấu thành tội phạm giảm nhẹ dựa vào việc thêm một hoặc một số tình tiết giảm nhẹ theo Điều 46 BLHS hoặc bớt đi một hoặc một số tình tiết tăng nặng qui định tại Điều 48 BLHS, kể cả các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt[12,

Trang 28

tr.4] Ví dụ: HĐXX phúc thẩm xác định bị cáo có thêm tình tiết tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại mà Tòa án cấp sơ thẩm bỏ qua hoặc bỏ đi tình tiết vì động cơ đê hèn mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đối với bị cáo

Theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao thì để xác định tội nào nhẹ hơn, tội nào nặng hơn thì cần thực hiện theo thứ tự như sau:

Trước hết xem xét hình phạt chính đối với hai tội phạm, nếu tội nào điều luật có quy định loại hình phạt nặng nhất nặng hơn thì tội đó nặng hơn.Ví dụ: Đối với tội cố ý gây thương tích (Điều 104 BLHS), điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất là tù chung thân, còn đối với tội giết người (Điều 93 BLHS), điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất là tử hình; do

đó, tội giết người nặng hơn tội cố ý gây thương tích

Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội là tù có thời hạn (không quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù chung thân) thì tội nào, điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất đối với tội ấy cao hơn là tội đó nặng hơn Ví dụ: Đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97 BLHS), điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất

là mười lăm năm, còn đối với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99 BLHS), điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất là mười hai năm; do đó, tội làm chết người trong khi thi hành công vụ nặng hơn tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều tử hình hoặc đều tù chung thân hoặc đều tù có thời hạn và mức hình phạt tù cao nhất đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật quy định mức hình phạt tù khởi điểm cao hơn là tội đó nặng hơn Ví dụ: Đối với tội hiếp dâm (Điều 111 BLHS) và đối với tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112

Trang 29

BLHS), điều luật đều quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù chung thân và hình phạt tù có thời hạn có mức cao nhất là hai mươi năm, nhưng mức hình phạt tù khởi điểm đối với tội hiếp dâm là hai năm, còn đối với tội hiếp dâm trẻ em là bảy năm; do đó, tội hiếp dâm trẻ em nặng hơn tội hiếp dâm

Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều là tù có thời hạn và mức hình phạt tù khởi điểm, mức hình phạt tù cao nhất như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn (cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo) thì tội đó nhẹ hơn

Trong trường hợp điều luật quy định các loại hình phạt chính đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là tội đó nặng hơn Nếu điều luật cùng quy định hình phạt bổ sung như nhau, nhưng đối với tội này thì hình phạt bổ sung là bắt buộc, còn đối với tội khác hình phạt bổ sung có thể áp dụng, thì tội nào điều luật quy định hình phạt bổ sung bắt buộc là tội đó nặng hơn

Hội đồng xét xử phúc thẩm không chỉ áp dụng điều khoản Bộ luật hình

sự về tội nhẹ hơn đối với bị cáo có kháng cáo, kháng nghị mà nếu có căn cứ HĐXX phúc thẩm có thể áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn cho cả những bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị Đây cũng là một nguyên tắc tố tụng, đồng thời cũng là nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình

sự và nguyên tắc có lợi cho bị cáo

Ba là, giảm hình phạt cho bị cáo

Giảm hình phạt cho bị cáo là việc Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định một hình phạt nhẹ hơn hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyênđối với

bị cáo, bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung Ví dụ: Tòa án cấp

sơ thẩm phạt bị cáo 3 năm tù và phạt tiền 2.000.000đồng về tội đánh bạc theo khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự, Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt tù cho bị cáo xuống còn 2 năm và hình phạt tiền xuống còn 1.000.000 đồng

Trang 30

Việc HĐXX phúc thẩm giảm hình phạt cho bị cáo cần phải nêu được lý

do của việc giảm và phải giảm đúng với quy định của pháp luật Thực tiễn xét

xử, không ít bản án phúc thẩm, HĐXX phúc thẩm giảm hình phạt cho bị cáo

mà không nêu được lý do hoặc lý do không đúng pháp luật Thông thường việc HĐXX phúc thẩm giảm hình phạt cho bị cáo không đúng pháp luật là do xác định sai các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với

bị cáo, nhất là tình tiết giảm nhẹ[23, tr 328,329]

Bốn là, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn

Đây là quy định mới bổ sung so với Điều 221 BLTTHS năm 1988 cho phù hợp với thực tiễn xét xử và hướng dẫn của Liên ngành trung ương Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là từ hình phạt thuộc loại nặng hơn mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo chuyển sang hình

phạt khác thuộc loại nhẹ hơn

Trong hệ thống hình phạt được quy định tại Điều 28 BLHS bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung Hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính

Đối với hình phạt chính, tuy chưa có giải thích chính thức loại hình phạt nào nhẹ hơn loại hình phạt nào, nhưng căn cứ vào các loại hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 28 BLHS thì có thể hiểu rằng: Nhà làm luật sắp xếp theo một thứ tự từ nhẹ đến nặng Ví dụ: Trục xuất nặng hơn cải tạo không giam giữ Tuy nhiên, đối với hình phạt bổ sung thì không thể căn cứ vào sự sắp xếp để xác định hình phạt nào nhẹ hơn hình phạt nào, vì việc áp dụng hình phạt bổ sung còn tùy thuộc vào tội phạm mà bị cáo thực hiện và điều luật

Trang 31

quy định về tội phạm đó có hình phạt bổ sung hay không Vì vậy, không có việc Tòa án cấp phúc thẩm chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn đối với hình phạt bổ sung, vì hình phạt bổ sung tuy có nhiều loại nhưng không thể xác định loại hình phạt nào nặng hơn loại hình phạt nào[23, tr.330]

Năm là, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo

Giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo là không buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có điều kiện Đây cũng là quy định mới so với Điều 221 BLTTHS năm 1988

Hội đồng xét xử phúc thẩm không chỉ giữ nguyên hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo có kháng cáo, kháng nghị mà đối với cả bị cáo khác không có kháng cáo hoặc kháng nghị

Thực tiễn xét xử không ít trường hợp HĐXX phúc thẩm giảm hình phạt

và cho bị cáo hưởng án treo, thậm chí tăng hình phạt tù và cho bị cáo hưởng

án treo Vậy quyết định này của HĐXX phúc thẩm có vi phạm tố tụng không? Nếu căn cứ vào các quy định tại Điều 249 BLTTHS thì Tòa án cấp phúc thẩm

có thể giảm hình phạt và cũng có thể tăng hình phạt đối với bị cáo, còn việc

có cho bị cáo hưởng án treo hay khônglại phải căn cứ vào quy định tại Điều

60 BLHS, nên không thể hiểu một cách máy móc rằng, Điều 249 BLTTHS quy định “giữ nguyên hình phạt tù và cho hưởng án treo” là chỉ được giữ nguyên hình phạt tù chứ không được giảm hoặc tăng hình phạt tù và cho hưởng án treo[23, tr.331]

Sáu là, giảm mức bồi thường thiệt hại

Giảm mức bồi thường thiệt hại là quyết định một mức bồi thường ít hơn mức mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo và những ngườicó liên quan.Khi Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giảm mức bồi thường thiệt hại phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, các quy định này được quy định từ Điều

Trang 32

609 đến Điều 625 BLDS về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Mặt khác, việc giảm bồi thường thiệt hại còn phải tuân theo các quy định của BLTTHS Tòa án cấpphúcthẩm khôngthể giảmbồithường thiệt hại nếu như người bị hạihoặcđạidiện hợpphápcủahọhoặc nguyên đơn dân sự kháng cáo yêu

cầutăngbồi thường và họ vắngmặt tại phiên tòa có lý do chính đáng

Khi quyết định giảm mức bồi thường thiệt hại, HĐXX phúc thẩm không bị ràng buộc bởi việc vụ án có kháng cáo hoặc kháng nghị về phần trách nhiệm dân sự hay không? HĐXX phúc thẩm xét nếu có căn cứ để giảm bồi thường thiệt hại thì quyết định trong phạm vi pháp luật cho phép Việc giảm bồi thường thiệt hại cũng không phụ thuộc vào việc HĐXX phúc thẩm miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn, giảm hình phạt hoặc cho bị cáo hưởng án treo, tức là không phải cứ giảm hình phạt cho bị cáo thì phải giảm mức bồi thường hoặc ngược lại mà HĐXX phúc thẩm có thể miễn trách nhiệm hình sự nhưng vẫn giữ nguyên quyết định về khoản bồi thường thiệt hại hoặc tăng hình phạt nhưng lại giảm mức bồi thường thiệt hại

Trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng mức bồi thường, nhưng HĐXX phúc thẩm thấy không những không tăng mà phải giảm mức bồi thường thì vẫn có thể giảm mức bồi thường[23, tr 332]

Bảy là, sửa quyết định xử lý vật chứng

Theo quy định tại Điều 74 BLTTHS thì vật chứng là những vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và những vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội.HĐXX xử phúc thẩm căn cứ vào các quy định về xử lý vật chứng quy định tại khoản 2 Điều 76 BLTTHS, nếu thấy Tòaán cấp sơ thẩm quyết định không đúng thì có quyền sửa lại cho đúng pháp luật Việc sửa quyết định xử lý vật chứng của HĐXX phúc thẩm không phụ

Trang 33

thuộc vào việc có hay không có kháng cáo, kháng nghị về việc xử lý vật chứng của Tòa án cấp sơ thẩm[23, tr 333]

Trường hợp sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo

Theo quy định tại khoản 3 Điều 249 BLTTHS "Trong trường hợp Viện

kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự"

Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản của BLHS về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp; chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn; không cho hưởng án treo trong trường hợp người bị hại kháng cáo hoặc VKS kháng nghị HĐXX phúc thẩm cũng có thể tăng mức bồi thường thiệt hại

Việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo phải tuân thủ các điều kiện sau:

Một là, phải có kháng cáo của bị hại, kháng nghị của VKS yêu cầu tăng

nặng trách nhiệm hình sự hoặc có kháng cáo của người bị hại yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại

Hai là, Việc sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo không

được vượt quá nội dung yêu cầu kháng cáo, kháng nghị Ví dụ: Nếu kháng cáo, kháng nghị chỉ yêu cầu tăng mức hình phạt thì chỉ được tăng hình phạt trong giới hạn của khung hình phạt Tòa sơ thẩm đã tuyên HĐXX phúc thẩm không được sửa bản án theo hướng bất lợi cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa trừ trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng

Ba là,Nếu chỉ có kháng cáo, kháng nghị theo hướng có lợi cho bị cáo

thì HĐXX phúc thẩm chỉ có thể y án hoặc sửa án theo hướng có lợi cho bị cáo

Trang 34

chứ không được sửa bản án theo hướng tăng nặng hoặc hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo

Những trường hợp HĐXX phúc thẩm áp dụng theo hướng không có lợi cho bị cáo đó là:

Một là, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn HĐXX

phúc thẩm có thể áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn đối với bị cáo nếu có kháng cáo của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ hoặc kháng nghị của VKS, vì chỉ có những người này mới có quyền kháng cáo hoặc

kháng nghị theo hướng tăng nặng đối với bị cáo.Việc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn bao gồm:

Áp dụng thêm tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 BLHS Ví dụ: Bị

cáo phạm tội có tình tiết “Xúi giục người chưa thành niên phạmtội”, nhưng

Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng nên HĐXX phúcthẩm áp dụng

Chuyển khung hình phạt có mức hình phạt nhẹ sang khung hình phạt có mức hình phạt nặng hơn Ví dụ: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều

104 BLHS, nhưng HĐXX phúc thẩm thấy bị cáo phạm tội có tình tiết “để cản

trở người thi hành công vụ” nên HĐXX phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều

104 BLHS

Chuyển tội danh từ tội nhẹ sang tội danh nặng hơn Ví dụ: Tòa án cấp

sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” HĐXX phúc thẩm kết án bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Hai là, tăng hình phạt đối với bị cáo Tăng hình phạt đối với bị cáo là

Tòa án cấp phúc thẩm quyết định một hình phạt nặng hơn so với hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định

Nếu kháng nghị của VKS yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo thì HĐXX phúc thẩm có thể tăng cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo bị kháng

Trang 35

nghị, nhưng chỉ được tăng mức hình phạt chứ không được chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn Ví dụ: Tòa án cấp sơ thẩm phạt bị cáo một năm cải tạo không giam giữ, nếu kháng nghị của VKS chỉ yêu cầu tăng hình phạt thì HĐXX phúc thẩm có thể tăng hình phạt cải tạo không giam giữ lên

trên một năm, chứ không được chuyển sang loại hình phạt tù

Tuy nhiên, đối với trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt tù trong cùng một khung hình phạt với tù chung thân hoặc tử hình mà VKS kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt thì HĐXX phúc thẩm có thể áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình Ví dụ: Tòa án cấp sơ thẩm phạt bị cáo 20 năm tù về tội giết khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình

sự, VKS kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo thì HĐXX phúc thẩm có thể áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, vì hình phạt tù 20 năm đối với tội giết người cùng một khung hình phạt với tù chung thân hoặc tử hình Nhưng nếu hình phạt tù đó lại không cùng khung hình phạt với hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì HĐXX phúc thẩm không có quyền áp dụng hình phat tù chung thân hoăc tử hình nếu kháng nghị của VKS không đồng thời yêu cầu áp dụng điều khoản của BLHS về tội nặng hơn Ví dụ: Tòa án cấp sơ thẩm phạt bị cáo 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 139 BLHS, VKS kháng nghị chỉ yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt mà không đồng thời yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng khoản 4 Điều 139 BLHS thì HĐXX phúc thẩm chỉ có thể tăng mức hình phạt đối với

bị cáo lên tối đa không quá 15 năm tù[23, tr 333- 336]

Vì vậy, khi kháng nghị phúc thẩm người kháng nghị cần nêu yêu cầu cụ thể, tăng mức hình phạt hay chuyển sang loại hình phạt khác thuộc loại nặng hơn, hay áp dụng điều khoản của BLHS về tội nặng hơn

Ba là, tăng mức bồi thường thiệt hại.Việc HĐXX phúc thẩm quyết định

tăng mức bồi thường thiệt hại cũng như việc kháng nghị theo hướng tăng mức

Trang 36

bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự là một việc rất phức tạp, vì nó không chỉ liên quan đến các quy định của BLHS, BLTTHS mà còn liên quan đến các quy định của BLDS và BLTTDS Việc tăng mức bồi thường thiệt hại không chỉ đối với bị cáo mà còn có thể đối với người giám hộ của bị cáo hoặc bị đơn dân sự Vì vậy, những người này là những người bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị họ phải được HĐXX phúc thẩm triệu tập đến phiên toà, nếu họ vắng mặt

có lý do chính đáng thì HĐXX phúc thẩm không được tăng mức bồi thường đối với họ Nếu xét thấy việc tăng mức bồi thường là cần thiết và có căn cứ thì phải hoãn phiên toà để triệu tập họ tham gia phiên tòa Vì vậy, cùng với việc kháng nghị tăng mức bồi thường thiệt hại người kháng nghị phúc thẩm cần nêu rõ lý do của việc tăng mức bồi thường thiệt hại, tăng bao nhiêu và theo quy định nào của BLHS hay BLDS Mặt khác, phải xác định khả năng tham gia phiên toà của những người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại để kháng nghị của mình đạt được mục đích

Tóm lại, việc kháng cáo, kháng nghịtheo hướng bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng là quyền của VKS và của người bị hại hoặc người tham gia tố tụng khác trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật, nhưng cần chú ý rằng không phải trong trường hợp nào VKS kháng nghị theo hướng bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng đều thuộc thẩm quyền quyết định của HĐXX phúc thẩm Vì vậy, khi quyết định kháng nghị theo hướng bất lợi cho bị cáo và người tham gia tố tụng, người kháng nghị cần xác định thẩm quyền quyết định của Toà án cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 249 BLTTHS 2003 như phân tích ở trên

2.1.3 Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại

Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại là việc HĐXX phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để tiến hành lại giai đoạn tố tụng là điều tra lại hoặc xét xử sơ thẩm lại vụ án đó nhằm đảm bảo tính hợp pháp và tính có

Trang 37

căn cứ của bản án sơ thẩm, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, đảm bảo quyền kháng cáo, kháng nghị

Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại

Theo quy đ sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại là việc HĐXX phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để tiến hành lại giai đoạn tố tụng là điều tra lại hoặc xét xử sơ thẩm lại vụ án đó nhằm đảm bảo tính hợp pháp và tính cóTuy nhiên, vi t xác định như thế nào là điều tra không đầy đủ là vấn đ nhiên, vi t xác định như thế nào là điều tra không đầy đủ là vúc thẩm hủy toàn

bộ bản án sơ thẩm để tiến hành lại giai đoạn tố tụng là điều tra lại hoặc xét xử

sơ thẩm lại vụ án đó nhằm đảm bảo tính hông ít bản án của Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm không đúng bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để xét xử lại phúc thẩm

Muốn biết thế nào là điều tra không đầy đủ thì trước hết phải biết những vấn đề cần điều tra đối với một vụ án hình sự Mục đích của việc điều tra là để chứng minh tội phạm và người phạm tội, do đó những vấn đề cần phải điều tra chính là đối tượng chứng minh Đối tượng chứng minh là những

sự kiện, tình tiết của vụ án cần được xác định bằng các chứng cứ Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra cần phải làm sáng tỏ, khẳng định nhóm các sự kiện trong vụ án[23, tr 339]

Việc điều tra không đầy đủ dẫn tới bản án sơ thẩm phải bị hủy để điều tra lại, chủ yếu là do điều tra không đầy đủ sự kiện chính (cơ bản) gồm các yếu tố như: Sự việc phạm tội (có hành vi phạm tội xảy ra hay không), ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, lỗi cố ý hay vô ý, các tình tiết định khung hình phạt, các tình tiết có liên quan đến nhân thân người phạm tội mà những tình tiết này có ý nghĩa xác định họ có hay không

có năng lực trách nhiệm hình sự Việc điều tra không đầy đủ làm cho việc

Trang 38

xác định sự thật của vụ án không chính xác mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được thì bản án sơ thẩm mới bị hủy, nếu Tòa án cấp phúc thẩm có khả năng bổ sung thì bản án sơ thẩm không bị hủy mà Tòa án cấp phúc thẩm phải bổ sung.Đồng thời, HĐXX phúc thẩm chỉ hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại khi việc điều tra không đầy đủ mà những vấn đề chưa đầy đủ đó có ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án, nếu những vấn đề điều tra không đầy đủ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án thì HĐXX phúc thẩm không được hủy bản án sơ thẩm[23, tr 340, 341]

Hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại

Theo quy định tại khoản 2 Điều 250 BLTTHS thì HĐXX phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần hội đồng xét

xử mới trong những trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng

luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng với luật định là không đúng với quy định tại Điều 46 BLTTHS quy định về trường hợp Thẩm phán hoặc Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi, tức là thành viên của Hội đồng xét xử sơ thẩm là người mà theo quy định của BLTTHS họ không được là thành viên HĐXX sơ thẩm vụ án đó

Cũng coi là thành phần HĐXX không đúng luật định nếu vi phạm Điều

185 BLTTHS về số người tham gia Theo quy định tại Điều 185 BLTTHS thì HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trường hợp vụ

án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì HĐXX có thể gồm 2 Thẩm phán

và 3 Hội thẩm Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì HĐXX sơ thẩm gồm 2 Thẩm phán và

3 Hội thẩm Ví dụ: Bị cáo bị đưa ra xét xử về tội giết người theo khoản 1 Điều

93 BLHS, nếu HĐXX sơ thẩm không đúng và không đủ số lượng gồm 2

Trang 39

Thẩm phán và 3 Hội thẩm thì đây là căn cứ để HĐXX phúc thẩm hủy bán án

sơ thẩm

HĐXX phúc thẩm có thể hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại trong trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng Đây cũng là vấn đề khá phức tạp, vì trong quá trình điều tra truy tố hoặc xét xử, những vi phạm thủ tục tốtụng không phải là ít, nhưng chỉ những vi phạm nghiêm trọng thì HĐXX phúc thẩm mới hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần HĐXX mới HĐXX phúc thẩm chỉ hủy bản

án sơ thẩmđể xét xử sơ thẩm lại, nếu việc vi phạm thủ tục tố tụng đó là của Tòa án cấp sơ thẩm, còn trong trường hợp Cơ quan điều tra hoặc VKS có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thì HĐXX hủy bảnán sơthẩm để điều tra lại

Việc xác định thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cũng chưa được thống nhất Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử, thì thông thường HĐXX xử phúc thẩm chỉ hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại trong trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng dẩn đến việc xác định

sự thật của vụ án không chính xác hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tố tụng của những người tham gia tố tụng Những vi phạm về thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm bao gồm cả chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, cũng như một số việc cần làm sau phiên tòa; những vi phạm cũng đa dạng, nhưng

có thể nêu một số vi phạm thường xảy ra dẫn đến bản án sơ thẩm bị hủy để xét xử lại như:Xét xử sai thẩm quyền; không tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo và những người mà theo quy định của pháp luật; vẫn tiến hành xét xử trong trường hợp theo quy định của pháp luật phải hoãn phiên tòa; không triệu tập những người mà theo quy định của pháp luật phải được triệu tập đến phiên tòa; việc xét xử không liên tục, biên bản phiên tòa không đúng với qui định tại Điều 200 BLTTHS;Chủ tòa phiên tòa điều khiển phiên

Trang 40

tòa không đúng với quy định tại Điều 201 BLTTHS;…[23, tr 342, 343]

Trường hợp thứ hai, người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố không

phạm tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội Đây là trường hợp mới được sửa đổi, bổ sung vào BLTTHS năm 2003 mà BLTTHS năm 1988 chưa quy định Trước khi BLTTHS năm 2003 được ban hành, từ thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn Tòa án cấp phúc thẩm khi xét xử phúc thẩm nếu gặp trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội, nhưng VKS kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội và Tòa án cấp phúc thẩm cũng xác định Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội là không đúng thì giữ y án sơ thẩm và kiến nghị cấp giám đốcthẩm xét lại vụ án Saukhi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thì việc kháng nghị phúc thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo hướng tuyên bố bị cáo có tội nói chung không có vấn đề vướng mắc.Tuy nhiên, về lý luận cũng như thực tiễn xét xử có trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tuyên

bố bị cáo phạm tội như cáo trạng VKS truy tố, nhưng đã bỏ lọt một hoặc một

số hành vi phạm tội.Liên quan đến việc bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo có thể thuộc một trong các trường hợp sau:

Một là, VKS truy tố bị cáo nhiều tội danh khác nhau, nhưng Tòa án cấp

sơ thẩm tuyên bố bị cáo không phạm một hoặc một số tội danh như VKS truy

tố

Hai là, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về nhiều hành vi phạm tội về nhiều

tội danh khác nhau trong cùng một điều luật (tội ghép), nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ kết án bị cáo một hoặc một số hành vi phạm tội về một hoặc một sốtội mà VKS đã truy tố

Ba là, VKS truy tố bị cáo về nhiều hành vi phạm tội khác nhau cùng

một tội danh, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không kết án bị cáo tất cả các hành

Ngày đăng: 09/12/2016, 15:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Thị Ánh (2007), Giới hạn xét xử trong Luật tố tụng hình sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới hạn xét xử trong Luật tố tụng hình sự
Tác giả: Ngô Thị Ánh
Năm: 2007
2. Thái Chí Bình (2013), Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về xét xử phúc thẩm, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, số 3 (301), tr. 55-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về xét xử phúc thẩm
Tác giả: Thái Chí Bình
Nhà XB: Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Năm: 2013
3. Đỗ Văn Chỉnh (2006), Bàn về một số vướng mắc trong xét xử phúc thẩm hình sự, Tạp chí TAND (số 23), tr.38-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một số vướng mắc trong xét xử phúc thẩm hình sự
Tác giả: Đỗ Văn Chỉnh
Nhà XB: Tạp chí TAND
Năm: 2006
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 48-QN/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 48-QN/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Chỉ thị 48/CT-TW ngày 22/10/2010 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 48/CT-TW ngày 22/10/2010 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
7. Mai Thanh Hiếu (2011), Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự
Tác giả: Mai Thanh Hiếu
Năm: 2011
8. Nguyễn Đình Huề (2010), Tòa án cấp phúc giải quyết như thế nào khi Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập sai tư cách người tham gia tố tụng, Tạp chí Tòa án nhân dân (số 10), tr.17-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án cấp phúc giải quyết như thế nào khi Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập sai tư cách người tham gia tố tụng
Tác giả: Nguyễn Đình Huề
Năm: 2010
9. Nguyễn Văn Huyên (2002), Thẩm quyền của Tòa án các cấp trong tố tụng hình sự, Luận án tiến sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của Tòa án các cấp trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 2002
10. Vũ Gia Lâm (2008), Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Vũ Gia Lâm
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2008
12. Nguyễn Đức Mai (2003), Phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện hàn lâm khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Nhà XB: Viện hàn lâm khoa học xã hội
Năm: 2003
13. Phan Thị Thanh Mai (1998), Phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Thanh Mai
Năm: 1998
15. Đinh Văn Quế (1998), Thủ tục phúc thẩm trong 1uật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục phúc thẩm trong 1uật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
16. Đinh Văn Quế (2006), Tòa án cấp phúc thẩm có xét kháng nghị quá hạn?, Tạp chí TAND số 23, tr.14-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án cấp phúc thẩm có xét kháng nghị quá hạn
Tác giả: Đinh Văn Quế
Năm: 2006
17. Đinh Văn Quế (2007), Bàn thêm về căn cứ kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự, Tạp chí Kiểm sát (Số 15, 17) tr 36 và 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về căn cứ kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2007
18. Đinh Văn Quế (2007),Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự(xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm), Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự(xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm)
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
19. Đinh Văn Quế (2007), Một số vấn đề về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự, Tạp chí kiểm sát (số 17), tr. 45 -50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Tạp chí kiểm sát
Năm: 2007
20. Đinh Văn Quế (2010), Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Bài viết “Thẩm quyền và phạm vi quyết định của Toà án cấp phúc thẩm”), Nxb. Phương Đông, Tp. Hồ Chí Minh, tr.331-339 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb. Phương Đông
Năm: 2010
21. Đinh Văn Quế (2010), Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Bài viết “Toà án cấp phúc thẩm áp dụng Điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn”), Nxb. Phương Đông, Tp. Hồ Chí Minh, tr.340-344 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb. Phương Đông
Năm: 2010
22. Đinh Văn Quế (2011), Trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình sự, Sách kỹ năng, Nxb. Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình sự
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb. Hải Phòng
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w