TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC MA THỊ HUYỀN THIẾT KẾ BÀI HƯỚNG DẪN HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2 TRONG MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI THEO HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
MA THỊ HUYỀN
THIẾT KẾ BÀI HƯỚNG DẪN HỌC MÔN
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2 TRONG MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI THEO HƯỚNG PHÁT HUY
NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
TS PHẠM QUANG TIỆP
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, rèn luyện và nghiên cứu tại trường Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Quang Tiệp, người đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, động viên giúp tôi từng bước hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Trong quá trình thực hiện và trình bày đề tài tôi đã cố gắng và nỗ lực hết sức mình nhưng không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được
sự đóng góp quý báu của quý thầy, cô và các bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Ma Thị Huyền
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các nội dung có liên quan đến đề tài tôi có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu, một số tác giả khác Tuy nhiên, việc sử dụng các tài liệu đó mang đúng ý nghĩa tham khảo
Hà Nội, tháng 5 năm 2016 Sinh viên
Ma Thị Huyền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 2
6 Các phương pháp nghiên cứu đề tài 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 4
1.1 Bài hướng dẫn học 4
1.1.1 Khái niệm bài hướng dẫn học 4
1.1.2 Đặc điểm của bài hướng dẫn học trong mô hình trường học mới 4
1.1.3 Phân biệt bài hướng dẫn học và giáo án 6
1.2 Năng lực tự học của học sinh 8
1.2.1 Khái niệm về năng lực 8
1.2.2 Năng lực tự học 9
1.2.3 Dạy học theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh 10
1.3 Mô hình trường học mới 11
1.3.1 Nguyên tắc chung để dạy học theo VNEN 11
1.3.2 Tổ chức lớp học theo VNEN 12
Trang 61.3.3 Cơ cấu các môn học và HĐGD trong mô hình VNEN 13
1.3.4 Ưu thế của mô hình VNEN trong phát triển năng lực tự học cho học sinh Tiểu học 14
1.4 Dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới 15
1.4.1 Mục tiêu môn Tự Nhiên Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới 15
1.4.2 Nội dung môn Tự Nhiên Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới 16
1.4.3 Đặc điểm môn Tự Nhiên Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới 18 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI 21
2.1 Thực trạng về chương trình, tài liệu hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới 21
2.2 Thực trạng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới 23
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP THIẾT KẾ BÀI HƯỚNG DẪN HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI 26
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 26
3.1.1 Đảm bảo tính logic, hợp lí của bài học Tự nhiên và Xã hội 26
3.1.2 Bài thiết kế phát triển năng lực tự học của học sinh 26
3.1.3 Phù hợp với đặc trưng của mô hình trường Tiểu học mới 27
3.1.4 Phù hợp với đặc trưng của môn Tự nhiên và Xã hội 27
3.1.5 Phù hợp với đặc điểm học sinh lớp 2 27
Trang 73.2 Thiết kế bài hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 theo mô hình
trường học mới 28
3.2.1 Thiết kế mục tiêu 28
3.2.2 Thiết kế các hoạt động 29
3.2.3 Thiết kế đồ dùng, phương tiện hỗ trợ 31
3.3 Bài học thiết kế theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
1 Kết luận 58
2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 8
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định: “Giáo dục
và đào t o à quốc sách hàng đ u à sự nghi p củ Đ ng Nhà nước và củ toàn dân”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang đổi mới đồng bộ giáo dục và
đào tạo trong đó có đổi mới chương trình dạy học ở các cấp nói chung ở bậc Tiểu học nói riêng với mục đích chung là phát huy năng lực của học sinh
Mô hình trường học mới (VNEN) theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, mô hình này kế thừa các mặt tích cực của mô hình truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy học, cách đánh giá… cho thấy mô hình trường học mới có rất nhiều ưu điểm để phát triển năng lực con người Mô hình trường học mới giống như bước chạy đà của Giáo dục Tiểu học, dự kiến sau năm 2015 giáo dục Việt Nam sẽ đổi mới lớn theo hướng VNEN
Ở bậc Tiểu học nội dung các môn học phong phú, mỗi môn học đảm nhận một vai trò khác nhau, cùng với các môn học khác như Toán, Tiếng Việt thì môn
Tự nhiên và Xã hội là môn học có tính tích hợp cao những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những phẩm chất năng lực,góp phần phát triển toàn diện nhân cách của học sinh
Vì vậy việc dạy học môn Tự nhiên và Xã hội cũng quan trọng như việc dạy học môn Toán và Tiếng Việt Với môn học này giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hướng tới hoạt động tự chiếm lĩnh kiến thức và hình thành, rèn luyện kĩ năng học tập của học sinh Học sinh phải được hoạt động, tự bộc lộ mình và phát triển tối đa khả năng thông qua hoạt động học tập Mục tiêu này đòi hỏi cần có cách dạy mới trong đó mô hình trường học mới đã phát huy được tính tích cực,
chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập
Trên thực tế việc áp dụng mô hình trường học mới trong dạy học ở Tiểu học và dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 2 đã được triển khai rộng rãi trên cả nước, một số nơi đã thực hiện tốt nhưng có những nơi vẫn gặp nhiều khó khăn, các tài liệu hướng dẫn học đưa ra trong chương trình học chưa được hợp lí, chưa
Trang 9thực sự đem lại hiệu quả Với những cơ sở trên tôi chọn đề tài: “Thiết kế bài
hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 trong mô hình trường học mới theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh” để tìm hiểu và nghiên cứu
trong khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm thiết kế bài hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 trong mô hình trường học mới theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Việc thiết kế bài hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội trong mô hình trường học mới theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh
3.2 Khách thể nghiên cứu :
Quá trình dạy học Tự nhiên và Xã hội lớp 2 ở Tiểu học theo mô hình trường học mới (VNEN)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế bài hướng dẫn học
môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 trong mô hình trường học mới theo hướng phát
huy năng lực tự học của học sinh
- Thiết kế bài hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 trong mô hình trường học mới theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh
5 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế bài hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội trong mô hình trường học mới theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh thì sẽ phát huy được tính tự tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình học Đồng thời nâng cao hiệu quả, chất lượng môn Tự nhiên và Xã hội trong thực tiễn
Trang 106 Các phương pháp nghiên cứu đề tài
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của để tài bản than tôi đã thu thập tài liệu từ các nguồn tài liệu khác nhau như: đọc sách báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu khoa học, thông tin tài liệu trên internet, tài liệu giáo dục và các tài liệu liên quan như SGK, sách hỏi đáp, sách hướng dẫn học, SGV, tài liệu hướng dẫn giáo viên
6.2 Phương pháp điều tra
Để nâng cao hiệu quả nghiên cứu và tính chính xác của đề tài, tôi có sử dụng phương pháp điều tra để thu thập kết quả từ đó phân tích, so sánh với nội dung tôi đang tìm hiểu
6.3 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và tính chính xác của đề tài
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Bài hướng dẫn học
1.1.1 Khái niệm bài hướng dẫn học
Bài hướng dẫn học là một đơn vị bài học nằm trong sách “ Hướng dẫn
học” Sách “Hướng dẫn học” là bộ sách viết cho học sinh Tiểu học khi theo học
mô hình VNEN Học sinh có tài liệu hướng dẫn học thay cho sách giáo khoa Tài liệu hướng dẫn học được xây dựng trên cơ sở sách giáo khoa, vở bài tập và sách hướng dẫn của giáo viên Tài liệu được viết dưới dạng các hoạt động học tập: hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành, hoạt động ứng dụng Tài liệu được dùng chung cho học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh
Là bài học được viết ra với những câu lệnh, lôgô phù hợp với nội dung của bài học để học sinh nhìn vào đó như một hướng dẫn cụ thể và hiểu được công việc của mình
Trong sách hướng dẫn học các môn học: Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên và
Xã hội, Khoa học, lịch sử và địa lí có các phiếu học tập, phiếu bài tập cho học sinh thực hành Nội dung của sách vẫn giữ nguyên chương trình hiện hành và chỉ thay đổi về các hình thức tổ chức (hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân, hoạt động chung cả lớp), qua đó tạo hứng thú hơn cho học sinh khi tham gia quá trình học tập
1.1.2 Đặc điểm của bài hướng dẫn học trong mô hình trường học mới
Tài liệu hướng dẫn học tập được thiết kế cho học sinh hoạt động, học nhóm, tự học; dùng chung cho giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh Trong tài liệu, cấu trúc các hoạt động học tập theo các chủ đề; cung cấp kiến thức học kết hợp hướng dẫn phương pháp, hình thức học và phương pháp tư duy; nội dung học lồng ghép với các bước của các hoạt động học tập
Cấu tr c bài học mô hình VNEN:
Trang 12Mô hình VNEN giữ nguyên nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng và kế hoạch dạy học theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Như vậy nội dung, yêu cầu và thời lượng học các môn không thay đổi
Bài học mô hình VNEN được cấu trúc theo một đơn vị kiến thức hoàn chỉnh, nhằm giải quyết trọn vẹn, liên tục một vấn đề: hình thành, cũng cố, vận dụng, ứng dụng kiến thức vào thực tế
Mô hình VNEN biên soạn SGK Toán,Tiếng Việt, TN XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí) thành Hướng dẫn học Toán,Tiếng Việt, TN XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí) cho học sinh
Như vậy Hướng dẫn học Toán ,Tiếng Việt, TN XH, Khoa học, Lịch sử
và Địa lí là tài liệu học của học sinh và tài liệu dạy của giáo viên
Thông thường, một bài học Toán, TN XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí học trong hai tiết, bài học môn Tiếng Việt học trong ba tiết, các bài kiểm tra bố trí một tiết; với bài học bố trí hai tiết, hết tiết một là hết hoạt động cơ bản và đã đáp ứng cơ bản mục tiêu của bài học Tuy nhiên không bắt buộc mọi tiết học mọi giáo viên phải thực hiện máy móc điều này Giáo viên có toàn bộ quyền bố trí thời gian để học sinh đạt được mục tiêu bài học, nắm được bài
Mỗi bài học được thiết kế khoảng từ 12 đến 15 hoạt động với các nội dung chính sau:
Phần hoạt động thực hành thể hiện các hoạt thực hành của HS nhằm củng
cố, rèn luyện, phát triển các kiến thức, kĩ năng vừa học
Trang 13Phần hoạt động ứng dụng khuyến khích HS bước đầu biết vận dụng kiến thức trong thực tế cuộc sống Nhấn mạnh sự quan tâm, hỗ trợ HS học tập từ phía gia đình và cộng đồng Khuyến khích HS mở rộng vốn kiến thức qua các nguồn thông tin khác nhau từ gia đình, cộng đồng, thôn xóm, làng bản, …)
Bắt đầu của mỗi hoạt động đều có một hình vẽ lô gô) cùng với những
“Lệnh” thực hiện để HS dễ dàng nhận ra yêu cầu và các hình thức tổ chức thực hiện hoạt động học tập học cá nhân, theo cặp, nhóm nhỏ hoặc toàn lớp) Cụ thể ở trang đầu của tài liệu hướng dẫn các môn)
Trong thiết kế bài học, trước mỗi hoạt động đều có các lô gô chỉ dẫn HS nhìn lô gô biết hoạt động đó thực hiện cá nhân, hay nhóm đôi, nhóm lớn hoặc chung cả lớp
Giáo viên nên hiểu lô gô hướng dẫn chỉ có tác dụng định hướng cho các nhóm HS hoạt động, không máy móc mà có thể điều chỉnh để hoạt động học của học sinh đạt hiệu quả
Lô gô làm việc cá nhân hiểu là cá nhân làm việc là chính Nhưng khi làm xong có thể đổi vở cho bạn để kiểm tra bài làm của nhau, hoặc báo cáo với nhóm kết quả mình đã làm được
Lô gô làm việc nhóm chủ yếu nhắc nhở HS hoạt động theo nhóm có sự tương tác trong nhóm để cùng giải quyết môt nhiệm vụ học tập nào đó Có lô gô hoạt động nhóm, thì mỗi học sinh vẫn phải suy nghĩ, phải làm việc cá nhân, nhóm không làm thay, học thay cá nhân Như vậy rất cần sự điều chỉnh linh hoạt của giáo viên để hoạt động học diễn ra tự nhiên, hiêu quả
1.1.3 Phân biệt bài hướng dẫn học và giáo án
Trong bài học truyền thống, GV đóng vai trò chủ đạo Vì vậy, trước khi dạy GV cần chuẩn bị xem mình sẽ tổ chức các hoạt động học tập nào để đạt được mục tiêu bài học đề ra? Tổ chức các hoạt động đó như thế nào? Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nào? Cần những phương tiện dạy học gì? Tuy nhiên, phần lớn câu trả lời cho các câu hỏi trên có trong SGV Song SGV cũng không phải là tài liệu bắt buộc, GV có thể thực hiện hoặc thay đổi theo sự sáng tạo của mình Ngoài ra, GV cũng phải cân nhắc tính toán sao
Trang 14cho các hoạt động mình tổ chức không thừa hay thiếu so với thời lượng một tiết học quy định
Trong bài học theo mô hình VNEN, các hướng dẫn dạy học đã chỉ rõ cho
HS cần phải làm gì với mỗi hoạt động, như: liên hệ thực tế, đọc, quan sát, thảo luận với bạn hay trả lời câu hỏi, làm việc cá nhân hay theo cặp hoặc theo nhóm… Vì vậy, GV không phải suy nghĩ nhiều về việc tổ chức các hoạt động học tập như thế nào mà tập trung vào việc sẽ giám sát, hỗ trợ HS trong quá trình các em thực hiện nhiệm vụ và nhận xét, đánh giá kết quả học tập của học sinh Vậy, GV cần chuẩn bị gì cho bài học mới?
Trước khi giờ học bắt đầu, GV cần nghiên cứu trước xem:
+ Có những hoạt động nào là hoạt động cá nhân, theo cặp hay theo nhóm? Lưu ý về cách bố trí bàn ghế trong lớp học và dự kiến cách để hỗ trợ từng đối tượng HS
+ Trong quá trình học, HS cần những phương tiện dạy học nào? Số lượng
là bao nhiêu? Trong góc học tập của lớp đã có đủ các phương tiện đó chưa? Nếu chưa thì cần bổ sung cho đầy đủ
+ Trong quá trình học, HS cần tham khảo thêm sách tham khảo nào? Sách
đó đã có trong thư viện lớp chưa? Nếu chưa cần bổ sung cho đầy đủ
+ HS có cần trưng bày sản phẩm nào không hoặc xây dựng cam kết nào không? Nếu có, cần chuẩn bị chỗ để HS trình bày những sản phẩm hoặc cam kết
đó
+ Những nội dung học tập nào có thể nảy sinh nghi vấn, tình huống có vấn
đề đối với HS? Nếu có, cần tìm hiểu và nghiên cứu kĩ hơn những nội dung này
Trang 15+ Hoạt động nào trong bài học có thể cần được hướng dẫn cụ thể hơn đối với HS yếu kém hoặc cần bổ sung những câu hỏi bài tập nào đối với HS khá giỏi
…
Như vậy, việc chuẩn bị bài học theo mô hình VNEN của giáo viên cũng có những điểm khác so với việc chuẩn bị cho một bài học truyền thống
1.2 Năng ực tự học của học sinh
1.2.1 Khái niệm về năng lực
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực như:
* Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao
* Khái niệm năng lực theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên) thì năng lực có thể được hiểu theo hai nét nghĩa: 1) Chỉ một khả năng, điều kiện
tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó 2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao Hiểu theo nét nghĩa thứ nhất, năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó của người học Hiểu theo nét nghĩa thứ hai, năng lực là một một cái gì đó sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống Như vậy, từ hai nét nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là một cái gì đó vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc
lộ thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống Khía cạnh hiện thực của năng lực là cái mà nhà trường phổ thông có thể tổ chức hình thành và đánh giá học sinh [5, tr 157]
* Theo quan niệm của chương trình giáo dục phổ thông của Quebec Canada) thì “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức,
kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” Với cách hiểu này thì việc học sinh chỉ có kiến thức, kĩ năng và thái độ không được xem như là
Trang 16có năng lực mà cả ba yếu tố này phải được người học vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển thành năng lực Có thể tham khảo thêm một
số cách hiểu về khái niệm “năng lực” như sau: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” “Năng lực là các kĩ năng và khả năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm
xã hội để có thể sử dụng thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi” Có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm “năng lực” chính là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng
và thái độ để giải quyết một tình huống có thực trong cuộc sống
Từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: Năng lực là khả năng vận
dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng th để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của việc học tập
và cuộc sống
1.2.2 Năng lực tự học
Khả năng tự học tiềm ẩn trong mỗi con người, năng lực tự học chính là nội lực phát triển bản thân người học Năng lực tự học là những thuộc tính tâm lý hoặc kỹ năng mà nhờ chúng người học tự mình xử lý các thông tin, các vấn đề được đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống nhằm biến kiến thức của nhân loại thành sở hữu riêng của mình một cách hiệu quả nhất
Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học Quan niệm về tự học, Người cho rằng: “Tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học tập” Theo Người: “tự động học tập” tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch
kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình
Năng lực tự học là khả năng tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (sử dụng các phương tiện) cùng các phẩm chất, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan,
Trang 17thế giới quan, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê…để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó, biến lĩnh vực khoa học nào đó thành
sở hữu của mình
1.2.3 Dạy học theo hướng phát huy năng lực tự học của học sinh
Phát huy năng lực tự học của HS có nghĩa là phải thay đổi cách dạy và cách học Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc – chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy HS làm trung tâm hay còn được gọi là dạy
và học tích cực Trong cách dạy này, HS là chủ thể của hoạt động, GV là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học Dạy học theo hướng phát huy năng lực tự học của HS là điều kiện tốt nhất khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc lập của HS vào quá trình học tập
Phương pháp dạy học phát huy năng lực tự học không phải là phương pháp dạy học cụ thể, chuyên biệt nào đó, cũng không phải là sự phủ nhận các phương pháp dạy học truyền thống mà là muốn nhấn mạnh một hướng khai thác tích cực của các phương pháp dạy học hiện có, thể hiện ở những đặc điểm sau:
Thứ nhất, dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của HS Nét đặc thù của hoạt động dạy học là: HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình dạy học HS không chỉ tiếp thu những kiến thức từ người dạy mà phải thông qua hoạt động tự học để chiếm lĩnh nó và làm biến đổi bản thân Tâm lí học sư phạm cũng khẳng định rằng: nhân cách của trẻ em được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động có ý thức của chủ thể Vì vậy có thể nói, hoạt động học là cách tốt nhất để làm biến đổi chính người học Dạy học không còn là
sự truyền thông tin từ thầ sang trò, thầy không còn là người truyền thông tin mà phải là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển các hoạt động học tập của HS
Thứ hai, chú trọng rèn luyện phương pháp tự học hơn là việc truyền thụ kiến thức Câu nói: “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lí, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lí” là hoàn toàn chính xác Rèn luyện cho HS phương pháp
tự học không chỉ là biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Con người được đào tạo trước hết phải là con người năng động, có tính tích cực, có khả năng tự học, tự nghiên cứu để tự hoàn thiện mình Mặt
Trang 18khác, trong một thời gian ngắn nhà trường phổ thông không thể kịp trang bị cho
HS những kiến thức cần thiết trong kho tàng kiến thức của nhân loại đang ngày một phong phú thêm Do vậy, người thầy phải tìm cách hình thành ở HS phương pháp và năng lực tự học, tự nghiên cứu để có thể tự chiếm lĩnh kiến thức và hoàn thiện bản thân sau này
Thứ ba, tăng cường năng lực tự học của HS đồng thời chú trọng phối hợp tương tác thầy và tương tác nhóm Phương pháp dạy học phát huy năng lực tự học đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực của mỗi HS trong quá trình tự chiếm lĩnh kiến thức mới Vì vậy, phải chú ý đến vai trò của từng cá nhân trong hoạt động dạy học Tuy nhiên, vai trò cá nhân chỉ có thể phát huy tốt thông qua sự tương tác giữa GV và HS, giữa HS và HS và tương tác giữa các nhóm với nhau, đó chính
là phương pháp học tập hợp tác Trong phương pháp này người ta đề cao vai trò giao tiếp giữa HS và HS Để phát huy vai trò của HS người ta thường tổ chức việc học tập hợp tác theo nhóm, tổ từ 4 đến 6 người Học tập nhóm, tổ tạo cho
HS có nhiều cơ hội bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết và thái độ của mình, cũng như biết cách bảo vệ ý kiến của mình Đó là cách tốt nhất để hình thành cho HS năng lực
tự học, tính tích cực, độc lập và sáng tạo trong suy nghĩ cũng như hành động
Thứ tư, kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS Quá trình dạy học bao gồm hai hoạt động dạy và học, với hai chủ thể GV và HS Trong quá trình này luôn có sự điều chỉnh và sự tự điều chỉnh Vì vậy, ngoài sự đánh giá của GV, phải có tự đánh giá của HS Qua tự đánh giá, HS sẽ đưa ra được những nhận định về bản thân và tự điều chỉnh được cách học của mình cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả học tập Trong phương pháp dạy học phát huy năng lực
tự học cho HS, người ta chú trọng đến việc dạy cho HS cách tự học đi kèm theo
là năng lực tự đánh giá của HS Thiếu năng lực này HS không thể tự điều chỉnh cách học của mình và không hoàn thành được phương pháp tự học Như vậy, năng lực tự học luôn gắn liền với năng lực tự đánh giá, tự điều chỉnh
1.3 Mô hình trường học mới
1.3.1 Nguyên tắc chung để dạy học theo VNEN
Mô hình trường học mới VNEN được điều chỉnh từ chương trình 2000 với những nguyên tắc sau:
Trang 19- Giữ nguyên chương trình các môn học
- Giữ nguyên mục tiêu môn học, bài học
- Giữ nguyên nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên, vở bài tập của học sinh
- Thay đổi cấu trúc bài học phù hợp mô hình dạy học VNEN
- Tăng cường khả năng tự học của học sinh
- Sử dụng và kết hợp các phương pháp dạy học tích cực lấy HS làm trung tâm
- Đa dạng hoá các hoạt động, hình thức dạy và học
- Đổi mới cách đánh giá: kết hợp đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của HS Khuyến khích và tăng cường tự đánh giá của HS
1.3.2 Tổ chức lớp học theo VNEN
Khi quan sát lớp học truyền thống và lớp học mô hình VNEN, chúng ta thấy có sự khác biệt rất cơ bản đó là các hoạt động về tổ chức và quản lí lớp học, bao gồm: Tổ chức học theo nhóm; tổ chức Hội đồng tự quản của học sinh; Tổ chức thư viện lớp học; Xây dựng và sử dụng các góc theo chủ đề, các góc học tập và góc cộng đồng; Xây dựng và sử dụng bản đồ cộng đồng Đặc trưng tổ chức và quản lí lớp học, đã thay đổi về “Chất” trong các nhà trường, nó không chỉ phù hợp về quan điểm, định hướng lớn của giáo dục hiện đại, mà còn là công cụ hỗ trợ học tập đắc lực trong lớp học và rộng hơn là trong các hoạt động đổi mới sư phạm của mô hình VNEN
- Tổ chức lớp học theo hình thức học nhóm là hoạt động ứng dụng có hiệu quả nhất của hầu hết các phương pháp dạy học, các phương pháp học tập đổi mới
- Tổ chức Hội đồng tự quản của học sinh, thực chất là cách trao quyền tự quyết cho người học, đồng thời sớm đưa người học thích nghi, hòa nhập với cuộc sống xã hội sau này Học sinh bắt đầu cuộc sống công dân với tinh thần dân chủ công bằng
Trang 20Sơ đồ : Tổ chức Bộ máy Hội đồng tự quản học sinh
Với sự hướng dẫn của GV, sự hỗ trợ của phụ huynh, học sinh sẽ tự bầu Hội đồng tự quản của lớp theo hình thức dân chủ, tự nguyện Sau đó thành lập các ban và tự xây dựng kế hoạch hoạt động, sau đó tổ chức thực thi các hoạt động theo kế hoạch đã được vạch ra Trong hoạt động này, nhà trường nên khuyến khích sự tham gia của phụ huynh HS nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các em
1.3.3 Cơ cấu các môn học và HĐGD trong mô hình VNEN
Cấu trúc môn học và hoạt động giáo dục của các lớp học theo dự án VNEN có sự thay đổi:
Thứ nhất: HS theo học theo lớp thông thường chương trình năm 2000) phải học theo 9 môn bắt buộc (Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Tự nhiên và Xã hội (1, 2 , 3) hoặc khoa học khối 4, 5; Thể dục; Âm nhạc; Mĩ thuật; Lịch sử và Địa
lý khối 4, 5; Thủ công khối 1, 2, 3 hoặc Kĩ thuật khối 4, 5) Ngoài ra, còn học các môn tự chọn (Ngoại ngữ, tin học), tham gia các hoạt động tập thể (02 tiết/tuần) và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (04 tiết/tháng)
Thứ hai: Khi học theo các lớp dự án, HS chỉ còn học 4 môn bắt buộc (Tiếng Việt; Toán; Ngoại ngữ (chỉ học từ lớp 3); Tự nhiên và Xã hội khối 1, 2, 3;
B n văn ngh , TDTT
Ban sức khỏe,
v sinh Ban nề
nếp
Trang 21Khoa học, Lịch sử và Địa lý khối 4, 5 Các môn học khác ở chương trình hiện hành chuyển sang hoạt động giáo dục (hoạt động giáo dục lối sống; hoạt động giáo dục thể chất; hoạt động giáo dục nghệ thuật - thẩm mĩ)
Với sự thay đổi cơ cấu các môn học, hoạt động giáo dục theo hướng trên
HS không mất cơ hội phát triển toàn diện, mặt khác việc tham gia các hoạt động học tập, giáo dục tại nhà trường trở nên nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn; Dự án góp phần “giảm tải” cho HS từ sự thay đổi cơ cấu các môn học Giáo dục Tiểu học với vị trí là cấp học nền tảng, có nhiệm vụ chuẩn bị cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất và thẩm mĩ để HS tiếp tục học lên trung học cơ sở Trường Tiểu học dạy âm nhạc không có mục đích nhằm đào tạo các em thành các ca sĩ mà để giáo dục thẩm mĩ cho các em, giáo dục lòng yêu thích cái đẹp, cái chân, thiện, mĩ qua hoạt động giáo dục âm nhạc
Với tư cách là một hoạt động giáo dục, GV có quyền hoặc sử dụng tài liệu hiện hành hoặc không sử dụng ví dụ: tập cho HS hát một dân ca địa phương Hoặc tổ chức cho HS xem ca sĩ biểu diễn qua video clip) ; có thể tổ chức dạy học trong lớp, nhà đa năng, Tuy nhiên, các hoạt động giáo dục của GV không tùy tiện mà phải có kế hoạch đăng kí, tổ chức qua lịch báo giảng
1.3.4 Ưu thế của mô hình VNEN trong phát triển năng lực tự học cho học sinh Tiểu học
- Mô hình VNEN thực hiện đổi mới PPDH theo nguyên tắc lấy HS làm trung tâm, học tập mang tính tương tác và phù hợp với từng cá nhân HS Chuyển việc truyền thụ của GV thành việc hướng dẫn HS tự học
- Thiết kế của bài học VNEN được xây dựng 3 trong 1, mỗi bài học được chia làm 3 hoạt động cụ thể: hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành, hoạt động ứng dụng điều đó rất thuận tiện cho GV và HS trong hoạt động dạy và học HS hiểu rõ ràng ý nghĩa của kiến thức và kĩ năng mình đã học từ đó dễ dàng vận dụng vào cuộc sống hằng ngày
- Kênh hình, kênh chữ rõ ràng, dễ hiểu giúp HS tiếp cận bài học một cách
dễ dàng
Trang 22- Lớp học do HS tự quản và tổ chức theo các hình thức, như: Làm việc theo cặp, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm; trong đó hình thức học theo nhóm là chủ yếu
- HS được học trong một môi trường thân thiện, thoải mái không bị gò bó, luôn được gần gũi với bạn bè với thầy cô, được sự giúp đỡ của bạn bè trong lớp, trong nhóm được phát huy; HS còn hạn chế, yếu kém được HS trong nhóm và
GV giúp đỡ kịp thời ngay tại lớp
- Lớp học sinh động với nhiều góc theo chủ đề: Góc sinh nhật, góc cộng đồng, hộp thư góp ý để các em chia sẽ ý kiến của mình Chính những góc này tạo điều kiện cho các em chủ động tìm tòi tài liệu, thông tin được trình bày, biểu diễn kết quả học tập Vì vậy việc học không chỉ đơn giản là đọc chép mà có học,
có nghiên cứu, có trình bày, có báo cáo
- Tài liệu sách, vở cho dạy và học được thiết kế, biên soạn rất phù hợp để
HS có thể tự đọc, tự tìm hiểu tiếp cận kiến thức trong mỗi giờ học tại lớp dưới sự
- Cách tổ chức lớp học được bố trí ngồi học theo nhóm, ngồi quay mặt vào nhau để cùng trao đổi tự học
- Quản lý lớp học là “Hội đồng tự quản HS” do các em bầu ra và đảm nhiệm, đây là biện pháp giúp HS được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập
- Dạy học theo mô hình VNEN GV gần như thoát ly khỏi bảng phấn, mà
là người tổ chức các hoạt động cho HS theo nhóm
1.4 D y học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới
1.4.1 Mục tiêu môn Tự Nhiên Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới
Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 giúp HS:
Trang 23* Về kiến thức:
- Biết sơ lược về hoạt động của cơ quan vận động và cơ quan tiêu hóa ở cơ thể người; phòng chống cong vẹo cột sống; giữ vệ sinh ăn uống; phòng nhiễm giun
- Biết về công việc của các thành viên trong gia đình, nhà trường và một
số nghề nghiệp trong xã hội ở địa phương; giữ sạch nhà ở, trường học; giữ an toàn khi ở nhà, ở trường và khi đi trên đường
- Biết cây cối và con vật có thể sống ở khắp nơi: trên cạn, dưới nước; biết quan sát bầu trời ban ngày, ban đêm; có hiểu biết sơ lược về hình dạng và đặc điểm của Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì sao
* Về kĩ năng:
Bước đầu hình thành và phát triển ở hoc sinh những kĩ năng như:
-Tự chăm sóc sức khoẻ bản thân, biết ứng xử và đưa ra nhưng quyết định hợp lí trong đời sống để phòng tránh một số bệnh tật và tai nạn,
- Biết quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, diễn đạt những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tương đơn giản trong tự nhiên và xã hội
* Về thái độ:
Giúp học sinh hình thành và phát triển thái độ và hành vi như:
- Có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng
- Biết yêu thiên nhiên, yêu gia đình, yêu nhà trường, yêu quê hương đất nước
1.4.2 Nội dung môn Tự Nhiên Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới
Hướng dẫn học TN&XH 2 được biên soạn theo nội dung chương trình của môn
TN&XH lớp 2 Những nội dung đó là:
Chủ đề: Con người và sức khỏe
Trang 24- Cơ quan vân động: Cơ, xương, khớp xương; một số cử động vận động;
phòng chống cong vẹo cột sống; tập thể dục và vận động thường xuyên để cơ, xương phát triển
- Cơ quan tiêu hóa: Nhận biết trên sơ đồ; vai trò của từng cơ quan trong hoạt động tiêu hóa; ăn sạch, uống sạch, phòng nhiễm giun
Chủ đề: Xã hội
- Gia đình: Công việc của các thành viên trong gia đình; cách bảo quản và
sử dụng một số đồ dùng trong nhà; giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở và khu vệ sinh, chuồng gia súc; an toàn khi ở nhà phòng tránh ngộ độc)
- Trường học: Các thành viên trong nhà trường và công việc của họ; cơ sở vật chất của nhà trường; giữ vệ sinh trường học; an toàn khi ở trường
- Huyện hoặc quận nơi đang sống: Cảnh quan thiên nhiên; nghề chính của nhân dân; đường giao thông, phương tiện giao thông, một số biển báo giao thông; an toàn giao thông quy tắc đi những phương tiện giao thông công cộng)
*Nội dung cụ thể của tài liệu Hướng dẫn học TN&XH 2
Khác với SGK TN XH 2 được biên soạn thành 35 bài, mỗi bài có thời
lượng 1 tiết học, mỗi bài học trong tài liệu Hướng dẫn học TN&XH 2 có thời lượng 2 hoặc 3 tiết học Nội dung dạy học theo Hướng dẫn học TN&XH 2 gồm 3 chủ đề, chia thành 14 bài, cụ thể như sau:
Chủ đề: Con người và sức khỏe
- Bài 1: Vì sao chúng ta vận động được? (2 tiết)
- Bài 2: Làm gì để xương và cơ phát triển? (2 tiết)
- Bài 3: Thức ăn được tiêu hóa như thế nào? 2 tiết)
Trang 25- Bài 4: Ăn uống thể nào để cơ thể khỏe mạnh? (2 tiết)
- Bài 5: Vì sao chúng ta phải ăn, uống sạch sẽ? (2 tiết)
Chủ đề: Xã hội
- Bài 6: Gia đình thân yêu của em (2 tiết)
- Bài 7: Em cần làm gì khi ở nhà? 2 tiết)
- Bài 8: Trường học của chúng em 2 tiết)
- Bài 9: Làm gì để trường học sạch sẽ và an toàn? 2 tiết)
- Bài 10: An toàn khi đi trên các phương tiện giao thông 2 tiết)
- Bài 11: Cuộc sống xung quanh em (3 tiết)
Chủ đề : Tự nhiên
- Bài 12: Cây sống ở đâu? 3 tiết)
- Bài 13: Loài vật sống ở đâu? 3 tiết)
- Bài 14: Bầu trời ban ngày và ban đêm 3 tiết)
Như vậy so với SGK hiện hành thì tên các bài học ở đây đã thay đổi.Hầu hết các bài học đề có tên dưới dạng một câu hỏi để kích thích hứng thú của HS Các bài học còn lại cũng rất gần gũi với các em
Ngoài 14 bài học, còn có 3 tiết ôn tập để HS tự kiểm tra xem các em đã học được những gì từ mỗi chủ đề
1.4.3 Đặc điểm môn Tự Nhiên Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới
Môn Tự nhiên và Xã hội 2 trong mô hình trường học mới về cơ bản giống chương trình hiện hành nhưng dưới dạng tích hợp gọn gàng hơn
Tài liệu Hướng dẫn học TNXH 2 có một số thay đổi so với SGK hiện
hành, đó là: tăng thêm 1 tiết cho nội dung ăn uống đầy đủ và 1 tiết cho nội dung cuộc sống xung quanh, bỏ bớt 1 tiết ở nội dung về thực vật, động vật và 1 tiết ôn tập ở chủ đề tự nhiên
Mỗi bài học được chia thành 3 nhóm hoạt động:
Trang 26- Hoạt động cơ bản: giúp HS học qua trải nghiệm, học qua việc làm thực
tế, học qua tìm tòi, khám phá, phát hiện với sự hỗ trợ, giúp đỡ thích hợp với GV
- Hoạt động thực hành: thể hiện các hoạt thực hành của HS nhằm củng cố, rèn luyện, phát triển các kiến thức, kĩ năng vừa học
- Hoạt động ứng dụng: khuyến khích HS bước đầu biết vận dụng kiến thức trong thực tế cuộc sống Nhấn mạnh sự quan tâm, hỗ trợ HS học tập từ phía gia đình và cộng đồng Khuyến khích HS mở rộng vốn kiến thức qua các nguồn thông tin khác nhau từ gia đình, cộng đồng, thôn xóm, làng bản, …)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Bài hướng dẫn học là nhân tố cơ bản nằm trong hợp phần chương trình học của hệ thống Escuela Nueva Các nội dung học tập có tính tương tác tạo điều kiện giúp trẻ phát huy khả năng học độc lập, tích cực và hoà đồng lấy học sinh làm trung tâm Các tài liệu có đưa ra và đề xuất các hoạt động mà học sinh có thể
tự thực hiện và hoàn thành theo cá nhân, theo nhóm hoặc theo cặp và do vậy phát huy khả năng học tích cực và năng động Giáo viên cũng tạo điều kiện để phát huy tính năng của quy trình này
Năng lực tự học là khả năng tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (sử dụng các phương tiện) cùng các phẩm chất, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê…để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó, biến lĩnh vực khoa học nào đó thành
sở hữu của mình
Trong giai đoạn hiện nay, nhiều tư tưởng, mô hình và phương pháp dạy học tích cực hướng vào việc hình thành và phát triển năng lực cho người học được triển khai thử nghiệm thành công, trong đó có mô hình trường học mới đã phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS trong học tập
Môn Tự nhiên và Xã hội 2 là môn học cung cấp cho HS một số kiến thức
cơ bản, ban đầu và thiết thực về cơ thể người, các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và mối quan hệ của chúng với con người Với môn học này, GV cần hướng dẫn cho HS hướng tới hoạt động tự chiếm lĩnh kiến thức và hình
Trang 27thành, rèn luyện kĩ năng học tập của HS HS phải được hoạt động, tự bộc lộ mình và phát triển tối đa khả năng thông qua hoạt động học tập
Do đó, thiết kế bài hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 trong
mô hình trường học mới theo hướng phát huy năng lực tự học của HS sẽ phát huy được tính tích cực, tự lực của HS trong quá trình học Đồng thời nâng cao hiệu quả, chất lượng môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 trong thực tiễn
Trang 28CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
Để nắm được thực trạng dạy học môn Tự nhiên vã Xã hội lớp 2 theo mô
hình trường học mới tôi đã dựa vào báo cáo tổng kết về thực hiện mô hình
trường học mới Việt Nam của một số trường Tiểu học đã và đang được triển khai
việc áp dụng mô hình VNEN trong dạy học trên địa bàn thị xã Phúc Yên Vĩnh Phúc), thành phố Vĩnh Yên Vĩnh Phúc) và một số trường trên cả nước được đăng tải trên internet; tiến hành quan sát, trò chuyện và trao đổi với các giáo viên tại trường Tiểu học Định Trung – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
2.1 Thực tr ng về chương trình tài i u hướng dẫn học môn Tự nhiên và
Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới
2.1.1 Thực trạng chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới
- Về thời lượng: Tổng thời lượng dạy học môn TNXH 2 không thay đổi Tuy nhiên, mỗi bài học theo mô hình VNEN được thiết kế để dạy trong 2 hoặc 3 tiết nên phải ghép các bài hiện hành vào với nhau Để việc ghép các bài hợp lí và
đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng, tài liệu Hướng dẫn học TNXH 2 có một số
thay đổi so với SGK hiện hành, đó là: tăng thêm 1 tiết cho nội dung ăn uống đầy
đủ và 1 tiết cho nội dung cuộc sống xung quanh, bỏ bớt 1 tiết ở nội dung về thực vật, động vật và 1 tiết ôn tập ở chủ đề tự nhiên
- Về nội dung: Chú trọng khai thác và sử dụng những kinh nghiệm của HS trong đời sống hằng ngày Gắn kết giữa nội dung dạy học với đời sống thực tiễn của HS, của cộng đồng
Môn TNXH lớp 2 theo mô hình VNEN được kết cấu theo bài học, mỗi bài học có thể gồm 2 hoặc 3 tiết học thông thường trong đó mỗi tiết học kéo dài từ
35 đến 40 phút), nên tùy theo điều kiện cụ thể của lớp học, GV có thể tổ chức
HĐ học tập cho HS trong từng bài học một cách linh hoạt, Với những bài học 2 tiết, tiết học đầu tiên sau 35 đến 40 phút) nên kết thúc ở phần HĐ cơ bản
2.1.2 Thực trạng tài liệu hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 theo
mô hình trường học mới
Trang 29Nội dung trong tài liệu Hướng dẫn học TN&XH 2 được phát triển từ gần
đến xa, dẫn dắt HS mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân đến gia đình, trường học;
từ cuộc sống xã hội xung quanh đến thiên nhiên rộng lớn; từ cây cối, con vật thường gặp đến Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì sao
Tài liệu Hướng dẫn học TN&XH 2 được xây dựng 3 trong 1, mỗi bài học
được chia làm 3 hoạt động cụ thể: hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành, hoạt động ứng dụng điều đó rất thuận tiện cho GV và HS trong hoạt động dạy và học Mỗi hoạt động được thiết kế chú ý đến quy trình để đưa ra các chỉ dẫn từng bước nhằm giúp HS tự học HS hiểu rõ ràng ý nghĩa của kiến thức và kĩ năng mình đã học từ đó dễ dàng vận dụng vào cuộc sống hằng ngày Kênh hình, kênh chữ
trong tài liệu Hướng dẫn học TN&XH 2 rõ ràng, dễ hiểu giúp HS tiếp cận bài học
một cách dễ dàng
Tài liệu học tập “ba trong một” Tài liệu hướng dẫn học dùng cho cả ba đối tượng : giáo viên, học sinh, phụ huynh) đã mang lại những ưu điểm nổi bật : Học sinh tự học, hiểu và làm được như sách hướng dẫn, giáo viên hiểu để tổ chức tốt cho học sinh học, cha mẹ hiểu con học những gì và học như thế nào
Bên cạnh những mặt tích cực, tài liệu Hướng dẫn học TN&XH 2 còn có
một số hạn chế như:
- Nhiều hoạt động, bài tập có câu lệnh quá dài nên thời gian để HS đọc yêu cầu là quá lâu đặc biệt đối với lớp 2) phần nào ảnh hưởng đến nhịp độ học của HS
- Bài tập ứng dụng quá khó Nếu giáo viên không hướng dẫn sẽ không làm được
- Nhiều ngữ liệu chưa phù hợp với các vùng, miền
- Các logo có khi không phù hợp
- Chưa khai thác được trí thông minh của học sinh
- Một số nội dung chưa phù hợp trong tài liệu Hướng dẫn học
Những hạn chế trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học VNEN Rất cần thiết phải có những điều chỉnh kịp thời
Trang 302.2 Thực tr ng d y học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới
- Học sinh hứng thú, tích cực học tập khi tổ chức theo mô hình này Không những thế việc ứng dụng mô hình VNEN còn hình thành cho các em thái độ tự làm việc cá nhân, trao đổi nhóm những vấn đề chưa hiểu để cùng nhau giải quyết, tích cực chủ động, sáng tạo và khả năng cộng tác cao giữa các thành viên trong nhóm
- Việc ứng dụng mô hình VNEN góp phần nâng cao chất lượng dạy học
mô Tự nhiên và Xã hội nói chung và hình thành cách học tập, nhân cách con người nói riêng Khi giáo viên ứng dụng mô hình VNEN trong dạy học thì các
em hào hứng tham gia, qua đó các em nắm được kiến thức bài học một cách chủ động
- Thiết kế của bài học VNEN được xây dựng 3 trong 1 tức là SGK, SGV
và VBT cùng trong một quyển, điều đó rất tiện cho GV và HS trong hoạt động dạy và học
- Mô hình dạy học của VNEN chuyển cơ bản từ hoạt động dạy của GV sang hoạt động học của HS Tức là chuyển từ phương pháp dạy truyền thống sang phương pháp học tích cực
- Dạy học theo nhóm đã được GV sử dụng khá phổ biến và thường xuyên:
Từ khi có chủ trương đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường sự tham gia của HS, phát huy tối đa vai trò chủ động, tích cực của các em thì dạy học theo nhóm đã được coi là phương pháp dạy học hữu hiệu và bước đầu đã làm thay đổi bộ mặt phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông GV đã nhận thức được những ích lợi của dạy học nhóm: GV đã thấy rõ tác dụng của dạy học theo nhóm trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, tăng cường sự tham gia của HS như: mọi HS đều được trình bày ý kiến, HS tự tìm ra tri thức, nắm bài chắc hơn, hứng thú với học tập hơn.v.v và phát triển những kĩ năng xã hội cho HS, như biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của bạn, biết trình bày ý kiến của mình cho các bạn nghe và hiểu, biết thống nhất ý kiến,v.v ; Còn đối với GV thì dạy học nhóm giúp
họ không phải nói nhiều trên lớp, nhưng chuẩn bị bài cần kỹ lưỡng hơn; hiểu khả năng của HS hơn.v.v GV đã có kiến thức và một số kỹ năng để tiến hành dạy học theo nhóm: Qua dự giờ của một số giáo viên đều cho thấy về cơ bản GV biết sử
Trang 31dụng phương pháp dạy học nhóm phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, mục tiêu và nội dung bài học GV bước đầu đã biết lựa chọn hình thức và cơ cấu nhóm Khâu chuẩn
bị của GV cho HS trong nhóm làm việc theo 10 bước học tập cũng rất tốt
- HS bước đầu đã có kĩ năng làm việc theo nhóm: Các em đã biết nhanh chóng gia nhập vào nhóm, bầu nhóm trưởng, thư kí,: bước đầu biết bày tỏ quan điểm, ý kiến và trình bày mạch lạc kết quả làm việc chung của cả nhóm
- Bên cạnh những kết quả tích cực như trên, vẫn còn những tồn tại nhất định, cụ thể là:
Khi tiến hành tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, GV chủ yếu hướng vào HS nhằm mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ học tập cụ thể mà nhóm HS cùng nhau thực hiện chứ chưa chú trọng giáo dục cho HS những kĩ năng xã hội quan trọng mà làm việc nhóm có ưu thế
Sau khi các nhóm thảo luận GV ít quan tâm chốt lại kiến thức, kết luận chung làm cho HS không biết kiến thức nào là phù hợp Còn đơn điệu trong việc
sử dụng các hình thức tiến hành và nhiệm vụ giao cho nhóm Nhiệm vụ giao cho nhóm còn đơn giản, ít phương án trả lời, không cần huy động nhiều kinh nghiệm của từng cá nhân và thiếu định hướng để HS buộc phải phân chia công việc hay phải trưng cầu ý kiến của từng người trong nhóm
Một lớp học đông với thời gian giảng dạy từ 35 đến 40 phút học một tiết là một trở ngại rất lớn cho dạy học nhóm thành công Nếu như GV không kiểm soát cẩn thận tương tác giữa HS trong nhóm thì một vài HS có thể lãng phí thời gian vào việc thảo luận những vấn đề không liên quan hoặc có thể xảy ra trường hợp
là một HS phụ trách nhóm theo kiểu độc đoán, đa số các thành viên trong nhóm không tham gia thảo luận mà lại quan tâm đến vấn đề khác… trong nhóm và giữa các nhóm có thể phát sinh tình trạng đối địch, ganh đua quá mức Thường khó để đánh giá từng HS một cách công bằng và một vài em có thể cảm thấy không thoải mái với việc đánh giá dựa trên sự nỗ lực của nhóm và bình xét của các bạn
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
* Qua quá trình tìm hiểu tôi thấy rằng GV Tiểu học đã cố gắng rất nhiều trong việc dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo mô hình trường học mới song vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế như:
- Là cách dạy và học mới nên khiến GV không khỏi bỡ ngỡ do vẫn còn quen với phương pháp dạy học truyền thống nên khả năng tổ chức hoạt động nhóm, kiểm tra, hướng dẫn và theo dõi tiến độ học tập của HS còn gặp nhiều khó khăn
- GV phải làm việc nhiều hơn, vất vả hơn do phải hỗ trợ kịp thời đối với từng nhóm, thậm chí cá nhân HS trong nhóm, vừa phải bao quát toàn bộ các em
HS trong lớp để phát hiện các nhóm, các cá nhân cần hỗ trợ, giúp đỡ
- Đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt, nhanh nhẹn, uyển chuyển, làm chủ thời gian dành cho việc hỗ trợ từng cá nhân hoặc từng nhóm để không em nào cảm thấy mình không được thầy cô quan tâm
* Từ những kết quả tìm hiểu được tôi nhận thấy:
- GV Tiểu học đã có sự quan tâm đến việc dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo mô hình VNEN
- GV bước đầu đã có những kiến thức, kĩ năng trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 2 theo mô hình VNEN Tuy nhiên vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế
Trang 33CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP THIẾT KẾ BÀI HƯỚNG DẪN HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI 3.1 Nguyên tắc đề xuất bi n pháp
3.1.1 Đảm bảo tính logic, hợp lí của bài học Tự nhiên và Xã hội
Tự nhiên và Xã hội là môn học có tính tích hợp cao những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội được phân phối theo 3 chủ đề: Con người và sức khoẻ, xã hội, tự nhiên Nội dung kiến thức trong toàn bộ Tự nhiên và Xã hội lớp 2 được phát triển theo nguyên tắc từ gần đến xa, dẫn dắt học sinh mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân đến gia đình, trường học, từ cuộc sống xã hội xung quanh đến thiên nhiên rộng lớn, từ những cây cối, con vật thường gặp đến Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao Bài học thiết kế phải phù hợp với nội dung cơ bản của từng chương, từng bài, từng phần và theo một trình tự nhất định để sau bài học, học sinh lĩnh hội được kiến thức trọng tâm Thiết kế bài học phải tuân theo chương trình giáo dục của môn học, đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình Tiểu học hiện hành
và sách giáo khoa chính thức
3.1.2 Bài thiết kế phát triển năng lực tự học của học sinh
Trong phương pháp dạy học theo mô hình VNEN, người được giáo dục trở thành người tự giáo dục, là nhân vật tự giác, chủ động có ý thức về sự giáo dục bản thân mình Trong học tập thì cốt lõi là phương pháp tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Nếu rèn luyện cho học sinh có được những phương pháp, kĩ năng, thói quen tự học, biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện, đặt
ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho các em lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của các em Vì những lẽ đó, bài hướng dẫn học phải được thiết kế theo hướng phát huy năng lực tự học của HS để tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động