Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Khám phá các nhân tố thuộc hệ thống KSNB và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tính hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VÕ THU PHỤNG
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ CẤU THÀNH HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM
Chuyên ngành Kế toán
Mã số: 62.34.03.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 2DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
1 Võ Thu Phụng (2013), Nhóm lợi ích gây tác động xấu đến nền
kinh tế và giải pháp điều chỉnh, Tạp chí Kinh tế-Kỹ thuật, Đại
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, khá nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã không hoàn thành hiệm vụ chính trị quan trọng nhất là kinh doanh hiệu quả, cũng như chưa thể hiện đúng vai trò là công cụ của nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân Khá nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng đến tính hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến nguyên nhân DNNN hoạt động kém hiệu quả là do yếu kém
từ hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) Do vậy, nghiên cứu này tập trung nghiên cứu các nhân tố thuộc thống KSNB tác động đến hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Khám phá các nhân tố thuộc hệ thống (KSNB) và đánh giá mức
độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tính hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)
Mục tiêu cụ thể:
Xác định các nhân tố thuộc hệ thống KSNB tác động đến hiệu quả hoạt động của EVN;
Đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố thuộc hệ thống KSNB tác động đến hiệu quả hoạt động của EVN
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Thực trạng về hiệu quả hoạt động EVN như thế nào?
Trang 4Câu hỏi 2: Nhân tố nào thuộc hệ thống KSNB ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động tại EVN?
Câu hỏi 3: Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố này đến tính hiệu quả của hoạt động tại EVN?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố thuộc hệ thống KSNB ảnh hưởng tính hiệu quả của hoạt động tại EVN
Phạm vi nghiên cứu: Chỉ tập trung nghiên cứu các nhân tố thuộc hệ thống KSNB ảnh hưởng tính hiệu quả của hoạt động tại EVN, không nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến các mục tiêu khác như tuân thủ, báo cáo tài chính
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp: kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, với mô hình khám phá nhân tố (Exploring Factor Analysis – EFA) Các nhân tố được xác định trong bước nghiên cứu định tính sẽ được sử dụng trong bước nghiên cứu định lượng để kiểm định mô hình
Phương pháp khảo sát được thực hiện qua phỏng vấn trực tiếp và gởi khảo sát qua mail, phương pháp chọn mẫu phi xác suất được lựa chọn Quá trình khảo sát được tiến hành thông qua hai bước:
Bước khảo sát sơ bộ: nhằm đánh giá độ tin cậy của thang đo (Cronbach‟s Alpha) và phân tích nhân tố khám phá (EFA), sau bước này tác giả điều chỉnh lại thang đo, và tiến hành bước khảo sát chính thức
Phương pháp kiểm định với mục tiêu khám phá nhân tố nên phương pháp bình phương nhỏ nhất với mô hình từng bước (STEPWISE) được sử dụng qua phần mềm xử lý thống kê SPSS 16.0 để lựa chọn
Trang 5mô hình xác định và đo lường ảnh hưởng của các nhân tố thuộc hệ thống KSNB đến tính hiệu quả hoạt động của EVN là phù hợp nhất Tác giả kiểm định sự phù hợp của mô hình thông qua hệ số R2
6 Đóng góp mới của luận án:
Giúp cho các nhà nghiên cứu tiếp tục bổ sung vào hệ thống thang đo
sử dụng cho các nghiên cứu tiếp theo trong các giai đoạn hoặc hoàn cảnh khác nhau
Về mặt thực tiễn
Khám phá 20 biến quan sát mới ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của EVN Đây cũng chính là các bất cập thuộc các nhân tố kiểm soát nội bộ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm cho hoạt động của EVN kém hiệu quả Tổng hợp hai mươi biến quan sát này kết hợp với 29 biến quan sát đã đề cập trong Báo cáo COSO có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của EVN
Qua kiểm định đã phát hiện được 49 biến đo lường thuộc 10 nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Từ đó, luận án xây dựng mô hình về các nhân tố đặc thù thuộc hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
VỀ CÁC NHÂN TỐ CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐƠN VỊ
1.1 Các nghiên cứu về các nhân tố của KSNB ảnh hưởng đến tính hiệu quả hoạt động của đơn vị
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Các dòng nghiên cứu tiêu biểu có thể kể ra bao gồm:
Ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp:
Các nghiên cứu đều cho thấy rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa KSNB và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được tính bằng lợi nhuận, doanh thu, tính thanh khoản, ROI, ROA [Beeler cùng các cộng sự (1999), Jensen (2003), Ittner (2003), Fadzil cùng các cộng sự (2005), Kenyon và Tilton (2006), Brown cùng các cộng sự (2008), Mawanda (2008), Nyakundi cùng các cộng sự (2014) Zipporah (2015)] Sự yếu kém hay thiếu sót của hệ thống KSNB đều ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Các yếu kém chung về KSNB như đơn vị không thiết kế biện pháp phòng ngừa rủi ro hoạt động, không phân tích rủi ro, thiếu thông tin thích hợp, và có vấn đề ủy nhiệm trong tổ chức [Kakucha (2009), França cùng các cộng sự (2010), Muraleetharan (2011), Dechow cùng các cộng sự (2011)]
Tác động của từng nhân tố đến tính hiệu quả của hoạt động như nghiên cứu của Hooks (1994), Ezzamel (1997), Lannoye (1999), Cohen (2002), Springer (2004), Rittenberg (2005), Hevesi (2005), Steihoff (2001) và Hevesi (2005) Các nghiên cứu cho thấy rằng môi
Trang 7trường kiểm soát là thành phần quan trọng nhất tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, trong đó nhân tố đạo đức và phong cách điều hành đóng vai trò động lực tác động đến hành vi của nhân viên, văn hoá của tổ chức Các thành phần còn lại bổ trợ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, mỗi bộ phận đều cần thiết cho việc đạt được cả ba nhóm mục tiêu: Hoạt động, báo cáo tài chính và tuân thủ của doanh nghiệp
Đặc điểm chung của các doanh nghiệp có hệ thống KSNB yếu kém: Nghiên cứu của Liu Xinmin (2005), Ge và McVay (2005), Ashbaugh-Skaife (2006), Lin và Wu (2006), Shenkir và Walker (2006), Doyle (2007b) cho thấy đặc điểm chung của các doanh nghiệp có hệ thống KSNB yếu kém thường là có quy mô lớn nhưng ở trong giai đoạn tái cấu trúc hay mới thành lập, hoặc mức độ tập trung quyền sở hữu cao Và các công ty này thiếu các chính sách nhận dạng doanh thu, thiếu sự tách bạch trong phân công nhiệm vụ, có nhiều sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức, thiếu hụt nhân sự đầu tư cho KSNB
Ảnh hưởng của hệ thống KSNB đến giá trị doanh nghiệp: nghiên cứu của Ohlson (2001), Doyle (2005), De Franco (2005), Beneish (2006), Cheh (2006), Doyle (2007) Ogneva (2007), Hammersley (2007) cho thấy các doanh nghiệp có khiếm khuyết về KSNB sẽ ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp và thị giá cổ phiếu, tác động xấu đến khả năng sinh lời, tình hình tài chính, chất lượng báo cáo tài chính, tốc độ tăng trưởng của doanh thu bán hàng và tác động tiêu cực đến đầu tư đối với doanh nghiệp
Cách thức đánh giá KSNB
Emby (1994): phương pháp tiếp cận kiểm toán là dựa vào các yếu kém KSNB thông qua đánh giá các chu trình cụ thể, như chu trình hàng tồn kho, bán hàng
Trang 8Louwers (2002): phương pháp đánh giá phù hợp nhất là phương pháp dựa vào 5 thành phần của báo cáo COSO, quan điểm này đã được đưa vào chuẩn mực kiểm toán
O‟Leary, Conor (2004): xây dựng mô hình ICE dựa vào 7 nhân tố thuộc 3 thành phần: Môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin và thủ tục kiểm soát
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến KSNB
Ngô Trí Tuệ và các cộng sự (2004) với đề tài cấp bộ “ Xây dựng
hệ thống KSNB với việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng công
ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam”
Phạm Bính Ngọ (2011), luận án Tiến Sĩ với đề tài “Tổ chức KSNB trong các đơn vị dự toán thuộc Bộ Quốc phòng”
Nguyễn Thu Hoài, luận án Tiến sĩ với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam”;
Bùi Thị Minh Hải, luận án Tiến Sĩ với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp may mặc Việt Nam”
Ngoài ra, còn có khá nhiều luận văn Thạc sĩ với các đề tài về hoàn thiện hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp cụ thể
Nhìn chung, các luận án, luận văn nêu trên dựa vào các yếu tố của báo cáo COSO, khảo sát đơn vị để đề xuất các kiến nghị hoàn thiện hệ thống KSNB
1.2 Các báo cáo về KSNB của các quốc gia trên thế giới
1.2.1 Báo cáo COSO và báo cáo COSO trong lĩnh vực công
COSO là một Ủy ban thành lập để hỗ trợ cho Hội đồng quốc gia Hoa
kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính Năm 1992 Ủy ban ban hành báo cáo COSO đầu tiên Đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới
Trang 9đưa ra định nghĩa và các nhân tố tạo thành kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống Báo cáo này đã thiết lập khuôn mẫu chung giúp đơn vị đạt được mục tiêu quan trọng nhất là nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động Hệ thống KSNB bao gồm 5 bộ phận
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông và Giám sát Năm 2013, COSO đã ban hành báo cáo mới thay thế báo cáo
COSO 1992
Báo cáo COSO vận dụng trong lĩnh vực công
Để duy trì hệ thống KSNB hiệu quả trong khu vực công, INTOSAI1
(International Organization of Supreme Audit Institutions) ban hành báo cáo kiểm soát nội bộ trong khu vực công vào năm 2001 Báo cáo này là sự tích hợp khuôn mẫu Báo cáo COSO 1992 vào tiêu chuẩn của INTOSAI với một số bổ sung, thay đổi trong đó đạo đức được đưa vào các mục tiêu KSNB, được xem là điều kiện tiên quyết để củng cố niềm tin công chúng và quyết định việc quản trị hiệu quả
1.2.2 Báo cáo Turnbull 1999
Ban hành năm 1999 tại Vương quốc Anh do ủy ban Cadbury và tương tự như Báo cáo COSO, báo cáo này cũng đưa ra định nghĩa, mục tiêu và các yếu tố của KSNB Hệ thống KSNB bao gồm hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát liên tục sự hữu hiệu của KSNB
1 INTOSAI được thành lập vào năm 1953, là tổ chức quốc tế về cơ quan kiểm toán tối cao, mà thành viên là các quốc gia thuộc Liên hợp quốc
Trang 101.2.3 Báo cáo CoCo (Criteria of Control committee) của
Canada
Ban hành năm 1995, tại Canada bởi Viện kế toán viên công chứng Canada (CICA – Canadian Institute of Chartered Accountants) Báo cáo CoCo được xây dựng dựa trên các tiêu chí vừa tương tự báo cáo COSO, vừa kết hợp với tiêu chuẩn MBNQA
1.2.4 Tiêu chuẩn MBNQA (The Malcoln Baldrige National
Quality Award)
Ban hành năm 1987 tại Hoa Kỳ do Viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia NIST (The National Institute of Standards and Technology) Tiêu chí của MBNQA được cụ thể qua 7 tiêu chí Các tiêu chí này giúp các doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro trong quá trình quản lý, giúp
đo lường các chỉ số, hiệu quả công việc, năng suất làm việc và sự quan tâm của khách hàng Các tiêu chí này cũng là cơ sở để xây dựng
hệ thống KSNB trong doanh nghiệp
1.3 Kết quả đạt được và những vấn đề tiếp tục nghiên cứu
1.3.1 Kết quả đạt được từ việc hệ thống hóa các nghiên cứu
trước đây của cá nhân và tổ chức
Nghiên cứu tính hữu hiệu KSNB thông qua các yếu tố của KSNB
Chỉ nghiên cứu ảnh hưởng KSNB đến việc đạt được 3 mục tiêu chung của tổ chức: hoạt động, tuân thủ và báo cáo tài chính
Các nghiên cứu ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động chỉ thực nghiệm tại một số các đơn vị như: trường học, bệnh viện và một vài loại hình doanh nghiệp
1.3.2 Các vấn đề tiếp tục nghiên cứu
Các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại xây dựng khuôn mẫu, nghiên cứu về đặc điểm của sự yếu kém của hệ thống KSNB đến giá trị
Trang 11doanh nghiệp và thị giá cổ phiếu, ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động của một vài loại hình doanh nghiệp
Chưa có nghiên cứu tác động của các nhân tố thuộc hệ thống KSNB ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có tác động lớn đến toàn xã hội (Điện, Nước, Dầu khí, Hàng Không )
Các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước Việt Nam có nguồn tài chính rất lớn, việc quản trị rủi ro phức tạp: những vấn đề thiên nhiên nhiên và môi trường, môi trường kinh doanh nhiều rủi ro, không hoàn thành các mục tiêu đề ra
Do vậy, việc xác định và đo lường các nhân tố thuộc hệ thống KSNB tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam rất quan trọng, có ý nghĩa về khoa học lẫn thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Tổng quan về KSNB
2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của KSNB
Các sự cố về tài chính và chính trị ở Hoa Kỳ vào những năm 70 (vụ Watergate 1973) dẫn đến sự ra đời của Luật chống hối lộ ở nước ngoài (1977)
AICPA thành lập một Ủy ban đặc biệt về kiểm soát nội bộ (1979) Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) đưa ra quy định bắt buộc các giám đốc phải đưa ra báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở doanh nghiệp2 (1979) bên cạnh các báo cáo tài chính
2
Statement of Management on Internal Accounting Control (SEC
Release No 34-15772)
Trang 12 Từ yêu cầu này, đã đưa đến việc thành lập Ủy ban nghiên cứu về KSNB đó chính là lý do Ủy ban COSO3
ra đời vào năm 1985 và đến năm 1992, Báo cáo COSO được ban hành Đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra Khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy
đủ và có hệ thống
2.1.2 Các khái niệm
2.1.2.1 Kiểm soát nội bộ
Có khá nhiều định nghĩa về kiểm soát nội bộ, đứng trên nhiều góc nhìn khác nhau Có hai dòng quan điểm chính về định nghĩa KSNB Quan điểm thứ nhất cho rằng KSNB là cấu trúc (lý thuyết Chaos), quan điểm thứ hai cho rằng KSNB là quá trình (Báo cáo COSO)
Lý thuyết Chaos: Theo lý thuyết này, kiểm soát nội bộ là sự
ghép nối của hai từ „kiểm soát‟ và „nội bộ‟ và 2 thuật ngữ này có mối quan hệ chặt chẽ Kiểm soát nội bộ có thể được xem như một động từ hoặc một danh từ Khi được xem là động từ, thuật ngữ này có thể được xem là những hành động được thực hiện, xem là danh từ nhằm chỉ kết quả đạt được
Báo cáo COSO: “ Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối
bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các
mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo, mục tiêu tuân thủ”
2.1.2.2 Hiệu quả hoạt động
Prasser (1985); Yamamoto & Watanabe, (1989); Jones & Pendlebury, (1992); Glynn (1985, 1997); O'Leary (1996); McCrae & Vada, (1997); Grendon, Cooper & Townley (2001), Nath (2011, 67),
3 The National Commission on Fraudulent Financial Reporting hay còn gọi
là Treadway Commission
Trang 13cho rằng tính hiệu quả là việc so sánh giữa các yếu tố đầu vào và đầu
ra, mục đích chính là quản lý các nguồn lực sao cho tối đa hóa kết quả đầu ra với nguồn lực không đổi
Yamamoto & Watanabe (1989) cho rằng tính hiệu quả được biết đến như là trách nhiệm của người quản lý về sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả khi họ được giao để kiểm soát chúng
Whittington và Kurt (2001) cho rằng, hiệu quả hoạt động thường xác định thông qua các chỉ số: Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Các nghiên cứu trước của nước ngoài đều cho thấy rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa KSNB và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được xem xét bằng lợi nhuận, doanh thu, tính thanh khoản, ROI, ROA [Beeler cùng các cộng sự (1999), Jensen (2003), Ittner (2003), Fadzil cùng các cộng
sự (2005), Kenyon và Tilton (2006), Brown cùng các cộng sự (2008), Mawanda (2008), Nyakundi cùng các cộng sự (2014) Zipporah (2015)]
Theo thông tư 200/2015/TT-BTC ngày 15/12/2015 của Bộ Tài Chính về việc giám sát tài chính đối với DNNN (điều 5, mục 1), hiệu quả sử dụng vốn được đo bằng: Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ
sở hữu (ROE) hay tỷ suất lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản (ROA)4…
2.2 Lý thuyết nền tảng về KSNB và hệ thống KSNB
2.2.1 Lý thuyết Chaos : các nhân tố trong mô hình KSNB luôn có tác
động tương tác lẫn nhau, một sai phạm ở một khâu, một bộ phận đều
có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng
4
Thông tư 200/2015/TT-BTC ngày 15/12/2015 của Bộ Tài Chính