1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giá trị nôi dung và nghệ thuật của tác phẩm hạnh thục ca

33 1,5K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 85,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lí do chọn đề tài Xét trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc Việt Nam, văn học trung đại có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi trong suốt hàng nghìn năm phát triển, văn học trung đại đã phản ánh rõ nét về đất nước, con người Việt. Nền văn học ấy đã nảy sinh từ chính quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, đồng thời văn học còn tham gia vào quá trình đấu tranh này. Qua đó, những truyền thống lớn trong văn học dân tộc đã hình thành, phát triển và ảnh hưởng rõ nét đến sự vận động của văn học hiện đại. Cho nên, việc nghiên cứu văn học trung đại chính là tìm về với quá khứ hào hùng của dân tộc, bên cạnh đó còn giúp chúng ta hiểu thêm về những nét đặc sắc trong đời sống vật chất và tinh thần của người xưa, góp phần lý giải các quy luật phát triển của văn học dân tộc. Chính điều đó, chúng tôi đã chọn tác giả Nguyễn Thị Bích với tác phẩm Hạnh Thục ca, đây là một thiên hồi kí lịch sử bằng thơ, dài hơn 1000 câu, là một áng văn chương viết về một giai đoạn lịch sử nước nhà.. Là một người vốn yêu thích văn học, nhất là văn học Việt Nam, tôi hi vọng rằng niên luận này sẽ phần nào giúp người đọc hiểu hơn về tác giả và tác phẩm Hạnh Thục ca, cũng như tình hình xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử từ năm 1885 đến 1900. 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài Nền văn học Việt Nam là một trong những nền văn học có nhiều đóng góp cho kho tàng văn học nhân loại. Văn học trung đại mang trên mình sứ mệnh cao cả, phản ánh một cách đầy đủ mọi bước đi của dân tộc. Chính vì thế khi nghiên cứu văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng, người nghiên cứu phải có những hiểu biết về lịch sử và văn chương, phải đặt văn học trung đại trong mối quan hệ với văn học dân gian và văn học hiện đại để tìm ra sự kế thừa, phát triển. Mặt khác kho tàng văn học trung đại đã mất mát khá nhiều theo thời gian do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như do chiến tranh, loạn lạc, sách vở bị thiêu hủy, hay do công tác bảo tồn, sưu tầm tư liệu chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế việc tiếp cận, đánh giá tác phẩm khó tránh khỏi suy diễn, áp đặt do thiếu tư liệu để kiểm chứng. Về tác phẩm Hạnh Thục ca đã có không ít nhà nghiên cứu, bạn đọc sử dụng làm sử liệu, nghiên cứu và nhận xét…Tuy nhiên trên thực tế đây là cái tên khá mới mẻ với đa số độc giả. Những công trình nghiên cứu tác phẩm này vẫn còn hết sức khiêm tốn. Có những lời nhận xét, đánh giá về tác phẩm của bà như: Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Phạm Thế Ngũ),… Ngoài ra, kể từ khi hoàn thành, mãi cho đến năm 1950, Hạnh Thục ca mới được nhà xuất bản Tân Việt cho ấn hành tại Sài Gòn. Người có công phát hiện, biên dịch và chú thích tác phẩm là Trần Trọng Kim. Kể lại điều này, ông viết: ...Tôi tìm được quyển sách này ở Huế, tôi liền đưa cho trường Bác cổ sao lấy một bản, tôi lại cho ban văn học ở Khai trí tiến đức sao lấy một bản. Còn bản của tôi giữ, thì đem dịch ra làm mấy bản bằng quốc ngữ, phòng khi ở chỗ này mất, thì ở chỗ khác hãy còn. Ấy cũng nhờ vậy mà sau cuộc binh lửa cuối năm Bính Tuất (1946) bao nhiêu sách vở của tôi bị đốt cháy, mà còn có người giữ được một bản... Nay tôi đem chú thích những tiếng khó bằng chữ nho và những tiếng tối nghĩa, rồi chia nguyên văn ra từng đoạn, có đề mục nhỏ ở cạnh rìa, để người ta xem cho dễ hiểu.. 2 Theo các nhà nghiên cứu, đây là một tác phẩm có giá trị về mặt sử liệu. Chính vì vậy tôi muốn nghiên cứu những nét độc đáo riêng biệt, những giá trị về nội dung và nghệ thuật tác phẩm Hạnh Thục ca của bà cũng như mong muốn hiểu rõ hơn về nữ tác giả này. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác phẩm Hạnh Thục ca của Nguyễn Thị Bích. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Hạnh Thục ca của Nguyễn Thị Bích. 4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Về phương pháp nghiên cứu, người viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, diễn dịch để trình bày một cách có hệ thống vấn đề mà niên luận đã đặt ra. Phương pháp được người viết chú ý là phương pháp phân tích . Người viết sẽ sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau. Đó là các nguồn tư liệu từ sách báo, các tạp chí nghiên cứu khoa học, tác phẩm Hạnh Thục ca cũng như những tư liệu trên internet để tiến hành việc nghiên cứu. 5. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, niên luận gồm có 3 chương: Chương 1: Nguyễn Thị Bích và tác phẩm Hạnh Thục ca Chương 2: Giá trị nội dung của tác phẩm Hạnh Thục ca Chương 3: Giá trị nghệ thuật của tác phẩm Hạnh Thục ca

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài niên luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy hướngdẫn niên luận – Ths Lê Văn Thi đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ Mặc dù rất bận rộn, songthầy vẫn nhiệt tình truyền đạt, sửa bài, cung cấp cho tôi nhiều kiến thức giúp tôi học hỏiđược nhiều kinh nghiệm và hoàn thành trọn vẹn bài niên luận này

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

A PHẦN MỞ ĐẦU……… ……… ……… 3

1 Lý do chọn đề tài……… ……….……3

2 Lịch sử nghiên cứu……… ………….…….3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… …….………… 4

4 Phương pháp nghiên cứu……… ….………4

5 Kết cấu của niên luận……… ……… 4

B PHẦN NỘI DUNG……….……… …5

CHƯƠNG 1 : NGUYỄN THỊ BÍCH VÀ TÁC PHẨM HẠNH THỤC CA 1.1 Cuộc đời……… ….….……5

1.2 Tác phẩm Hạnh Thục ca……… … 6

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM HẠNH THỤC CA 2.1 Giá trị hiện thực……….… …….… 9

2.1.1 Diện mạo của tầng lớp quý tộc trong thời kì loạn lạc……….…… 9

2.1.2 Dấu ấn văn hóa, nghi lễ cung đình thời bấy giờ……….… 14

2.2 Giá trị lịch sử ……… …… … 15

2.2.1 Những biến cố lịch sử trong triều đại cuối cùng ……… … …… 15

2.2.1.1 Pháp lần đầu tấn công nước ta……….16

2.2.1.2 Tứ nguyệt tam vương……… 16

2.2.1.3 Sự kiện thất thủ kinh đô và phong trào Cần Vương……… 18

2.2.1.4 Các sự kiện khác……… 19

2.2.2 Thái độ của tác giả trước những biến loạn của thời cuộc……….… 20

2.2.3 Giá trị sử liệu……… … 22

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM HẠNH THỤC CA 3.1 Thể thơ ……… ……… …22

3.2 Ngôn ngữ ……… ………….…… 24

3.3 Không gian và thời gian nghệ thuật……… ……… ………….25

3.3.1 Không gian nghệ thuật……….… ………25

3.3.2 Thời gian nghệ thuật……… ……….….……… 29

C PHẦN KẾT LUẬN……… … ………….….……… 31

D TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… ……32

Trang 3

và ảnh hưởng rõ nét đến sự vận động của văn học hiện đại Cho nên, việc nghiên cứu vănhọc trung đại chính là tìm về với quá khứ hào hùng của dân tộc, bên cạnh đó còn giúpchúng ta hiểu thêm về những nét đặc sắc trong đời sống vật chất và tinh thần của ngườixưa, góp phần lý giải các quy luật phát triển của văn học dân tộc.

Chính điều đó, chúng tôi đã chọn tác giả Nguyễn Thị Bích với tác phẩm Hạnh Thục

ca, đây là một thiên hồi kí lịch sử bằng thơ, dài hơn 1000 câu, là một áng văn chương

viết về một giai đoạn lịch sử nước nhà

Là một người vốn yêu thích văn học, nhất là văn học Việt Nam, tôi hi vọng rằng niên

luận này sẽ phần nào giúp người đọc hiểu hơn về tác giả và tác phẩm Hạnh Thục ca, cũng

như tình hình xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử từ năm 1885 đến 1900

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nền văn học Việt Nam là một trong những nền văn học có nhiều đóng góp cho khotàng văn học nhân loại Văn học trung đại mang trên mình sứ mệnh cao cả, phản ánh mộtcách đầy đủ mọi bước đi của dân tộc Chính vì thế khi nghiên cứu văn học Việt Nam nóichung và văn học trung đại nói riêng, người nghiên cứu phải có những hiểu biết về lịch sử

và văn chương, phải đặt văn học trung đại trong mối quan hệ với văn học dân gian và vănhọc hiện đại để tìm ra sự kế thừa, phát triển

Mặt khác kho tàng văn học trung đại đã mất mát khá nhiều theo thời gian do nhiềunguyên nhân khách quan và chủ quan như do chiến tranh, loạn lạc, sách vở bị thiêu hủy,hay do công tác bảo tồn, sưu tầm tư liệu chưa được quan tâm đúng mức Vì thế việc tiếpcận, đánh giá tác phẩm khó tránh khỏi suy diễn, áp đặt do thiếu tư liệu để kiểm chứng

Về tác phẩm Hạnh Thục ca đã có không ít nhà nghiên cứu, bạn đọc sử dụng làm sử

liệu, nghiên cứu và nhận xét…Tuy nhiên trên thực tế đây là cái tên khá mới mẻ với đa sốđộc giả Những công trình nghiên cứu tác phẩm này vẫn còn hết sức khiêm tốn Có những

Trang 4

lời nhận xét, đánh giá về tác phẩm của bà như: Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Phạm Thế Ngũ),…

Ngoài ra, kể từ khi hoàn thành, mãi cho đến năm 1950, Hạnh Thục ca mới được nhà

xuất bản Tân Việt cho ấn hành tại Sài Gòn Người có công phát hiện, biên dịch và chúthích tác phẩm là Trần Trọng Kim Kể lại điều này, ông viết:

Tôi tìm được quyển sách này ở Huế, tôi liền đưa cho trường Bác cổ sao lấy một bản, tôi lại cho ban văn học ở Khai trí tiến đức sao lấy một bản Còn bản của tôi giữ, thì đem dịch ra làm mấy bản bằng quốc ngữ, phòng khi ở chỗ này mất, thì ở chỗ khác hãy còn Ấy cũng nhờ vậy mà sau cuộc binh lửa cuối năm Bính Tuất (1946) bao nhiêu sách vở của tôi bị đốt cháy, mà còn có người giữ được một bản Nay tôi đem chú thích những tiếng khó bằng chữ nho và những tiếng tối nghĩa, rồi chia nguyên văn ra từng đoạn, có đề mục nhỏ ở cạnh rìa, để người ta xem cho dễ hiểu [2]

Theo các nhà nghiên cứu, đây là một tác phẩm có giá trị về mặt sử liệu Chính vìvậy tôi muốn nghiên cứu những nét độc đáo riêng biệt, những giá trị về nội dung và nghệ

thuật tác phẩm Hạnh Thục ca của bà cũng như mong muốn hiểu rõ hơn về nữ tác giả này.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác phẩm Hạnh Thục ca của Nguyễn Thị Bích.

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm

Hạnh Thục ca của Nguyễn Thị Bích.

4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Về phương pháp nghiên cứu, người viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, sosánh, quy nạp, diễn dịch để trình bày một cách có hệ thống vấn đề mà niên luận đã đặt ra.Phương pháp được người viết chú ý là phương pháp phân tích

Người viết sẽ sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau Đó là các nguồn tư liệu từ

sách báo, các tạp chí nghiên cứu khoa học, tác phẩm Hạnh Thục ca cũng như những tư

liệu trên internet để tiến hành việc nghiên cứu

5. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, niên luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Nguyễn Thị Bích và tác phẩm Hạnh Thục ca

Chương 2: Giá trị nội dung của tác phẩm Hạnh Thục ca

Chương 3: Giá trị nghệ thuật của tác phẩm Hạnh Thục ca

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NGUYỄN THỊ BÍCH VÀ TÁC PHẨM HẠNH THỤC CA

1.1 Cuộc đời

Nguyễn Thị Bích (1830-1909), tự là Lang Hoàn; là tác giả bài Hạnh Thục

ca trong văn học Việt Nam Bà là một phi tần của hoàng đế Tự Đứcnhà Nguyễn, là mộtcung phi có tài danh, đức độ

Nguyễn Thị Bích sinh tại làng Đông Giang, huyện An Phước, đạo Ninh Thuận (naythuộc tỉnh Ninh Thuận), là con gái thứ 4 của Nguyễn Nhược Sơn (nguyên là Bố chínhtỉnh Thanh Hóa) và bà Thục nhân họ Nguyễn

Nguyễn Nhược Sơn là một nhân tài hiếm hoi của vùng Chiêm Thành, Ninh Thuận.Ông có tính tình khẳng khái, không chịu ràng buộc trong khuôn phép, gặp việc gì đánglàm là làm không cần suy nghĩ và cũng không sợ hậu quả xấu đến với mình Bởi thế,trong quãng đời làm quan, ông không ít lần bị bãi chức Cũng nhờ tài trí thông minh và sựphóng khoáng của người cha mà bà Nguyễn Thị Bích đã được ăn học và bộc lộ tài năngcủa mình Bà đi theo cha nhiều nơi nhưng bất cứ ở nơi nào bà cũng được mọi người cangợi

Nhờ được học hành tử tế cùng với tư chất thông minh, ngay từ nhỏ bà đã sớm nổitiếng về tài văn chương Vừa có tài sắc, lại được Phụ chính đại thần Lâm Duy Nghĩa tiến

cử, năm 18 tuổi (Tự Đức nguyên niên, 1848), Nguyễn Thị Bích được tuyển vào cung.Trong một buổi ngâm vịnh, Vua Tự Đức xướng đề thơ Tào Mai (Hoa mai sớm nở) và bàihọa của bà được nhà vua khen tặng 20 nén bạc, đồng thời cho sung chức Thượng NghiViên Sư, để dạy học trong nội cung Lịch sử đã ghi chép, các bà vợ chính của Vua TựĐức phần lớn là con gái các đại thần có thế lực nhất trong triều Nhiều bà Nhất nhị giaiphi được phong chức là nhờ chức tước của các vị thân sinh chứ không phải do tài sắc mà

có Có thể tìm được cung tần mỹ nữ đẹp nhưng tìm được người tài trí thông minh thìkhông phải chuyện dễ Nguyễn Thị Bích là một trường hợp đặc biệt như vậy.[8]

Sau đó, bà lần lượt được phong: Tài nhân (1850), Mỹ nhân (1860), rồi Quý nhân.Năm 1868, bà được tấn phong là Lục giai Tiệp dư Theo sử nhà Nguyễn, thì trong khoảngthời gian bà được cử làm thầy dạy "kinh điển và dạy tập nội đình" cho Đồng Khánh khiông chưa lên ngôi Vì thế, trong cung người ta còn gọi bà là Tiệp Dư Phu Tử Chính bởi

Trang 6

vậy bà Tiệp dư được Tự Đức tin cậy, yêu mến, thường cho cùng đi trong những buổi vuađến vấn an mẹ và những cuộc trao đổi riêng với Hoàng thái hậu Từ Dụ về công việc trongtriều, trong hoàng tộc, những diễn biến của đất nước Một thời gian sau, Tiệp dư NguyễnThị Bích trở thành Bí thư cho Thái hậu Từ Dụ, nhờ vậy mà bà nghe được nhiều điều traođổi giữa thái hậu và vua, bởi những lúc đó chỉ mình bà được ở gần hầu hạ.[8]

Sau khi vua Tự Đức qua đời (1883), mọi ý chỉ sắc dụ của Lưỡng Tôn cung (chỉHoàng thái hậu Từ Dụ và Chính phi Trang Ý) đều do một tay bà soạn thảo

Trong thời kỳ "tứ nguyệt tam vương" (bốn tháng ba vua), cũng như những người ở

nội cung, Tiệp dư Nguyễn Thị Bích phải chịu sự chuyên chế của hai phụ chính đại thần

là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường trong việc phế lập các vua Dục Đức,Hiệp Hòa,Kiến Phúc

Tháng 5 năm Ất Dậu (tức tháng 7 năm 1885), cuộc phản công của phe chủ chiến

ở Kinh thành Huế thất bại Phụ chính Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi chạy

ra Quảng Trị, bà hộ giá Tam cung chạy ra Quảng Trị (đoàn chỉ đến đây rồi trở lại KhiêmLăng Huế) Nhưng không lâu sau, vì hoàn cảnh quá khó khăn nên bà rước Tam cung trởlại Huế, đến lánh ở Khiêm Lăng (Lăng vua Tự Đức) rồi trở về hoàng cung, chịu sự quản

chế của Pháp Nhân sự kiện này, bà sáng tác bài Hạnh Thục ca (còn có tên Loan dư Hạnh thục quốc âm ca) bằng chữ Nôm kể lại sự kiện lịch sử ấy, mượn tích truyện vua ĐườngHuyền Tông ở Trung Quốc bỏ kinh đô, chạy vào đất Thục để tránh loạn An Lộc Sơnmàqua đó nói về tình hình đất nước với những biến cố từ khi quân Pháp xâm lược.[8]

Khi Nguyễn Thị Bích theo Tam cung (Lê Ngọc Bình) hồi loan về Huế, lúc này ngườicon nuôi và cũng là học trò của bà, hoàng tử Ưng Kỷ, đã lên ngôi, lấy hiệu là ĐồngKhánh Cũng trong khoảng thời gian đó, bà hết lòng hầu hạ, làm mọi việc do Thái HoàngThái hậu Từ Dụ giao cho, những lúc rảnh rỗi bà vẫn sáng tác văn thơ Năm ThànhThái thứ 4 (1892), bà được Thái hoàng thái hậu Từ Dụ tấn phong làm Tam giai Lễ tần

Tháng 11 (âm lịch) năm Duy Tân thứ 3 (1909), Nguyễn Thị Bích qua đời tại Huế,thọ79 tuổi Lăng mộ bà hiện ở làng Dương Xuân Thượng, thành phố Huế, tỉnh ThừaThiên Huế

1.2 Tác phẩm Hạnh Thục ca

Tác phẩm của Nguyễn Thị Bích có một số bài thơ chữ Hán và một tác phẩm có tên là

Loan dư Hạnh thục quốc âm ca (còn gọi là Hạnh thục ca) bằng chữ Nôm, dài 1016 câu

theo thể thơ lục bát, phần lớn kể lại mọi biến cố xảy ra từ khi quân Pháp sang đánh chiếmViệt Nam cho đến khi Thành Thái lên nối ngôi vua

Trang 7

Theo các nhà nghiên cứu, thì đây là một tác phẩm rất có giá trị về mặt sử liệu.Tuynhiên, qua nó cũng đã cho thấy tác giả là một người quen sống trong cung cấm, có tầm

nhìn hẹp, có tâm lý sợ khổ và nặng tư tưởng cầu an Lời thơ trong Hạnh Thục ca có một

âm điệu nhẹ nhàng, phảng phất một nỗi buồn man mác Mặc dù nhìn nhận sự việc trongtriều đình với nhãn quan của một bà hoàng trong cung cấm nhưng Hạnh Thục ca vẫnđược lịch sử Việt Nam đánh giá là nguồn sử liệu có ý nghĩa lịch sử và văn học quý giá.Không phải là một người thông minh, có tài thơ văn, có lòng yêu nước thì không ai có thểviết được tác phẩm ấy

Hạnh Thục ca được Nguyễn Thị Bích khởi sự viết sau khi Kinh thành Huế thất

thủ vào tháng 7 năm 1885, và hoàn thành sau năm 1900, tức sau lễ bát tuần của Tháihậu Từ Dụ (1810-1892) Đây là áng văn chương thời thế, kể lại một giai đoạn lịch

sử nhiều biến động của nước Việt

Sở dĩ bà Nguyễn Thị Bích lại đề nhan sách của mình với tên Hạnh Thục ca là vì bà

thấy triều Nguyễn lúc ấy phải bỏ kinh thành chạy ra Quảng Trị, giống như cái hoàn cảnhtriều đình nhà Đường bên Tàu ngày xưa Vua Minh Hoàng bị giặc An Lộc Sơn đánh phải

bỏ kinh thành Trường An chạy vào đất Thục để lánh nạn.[7]

Bên cạnh đó theo nghĩa chữ Nho, khi vua đi đến đâu gọi là hạnh Hạnh Thục là vì vua

đi đến đất Thục Vì có cái hoàn cảnh hơi giống nhau như thế nên bà đã lấy hai chữ ấy màđặt tên cho cuốn sách của mình

Nguyên tác là bài thơ lục bát không phân đoạn nhưng Trần Trọng Kim đãphân chia và đặt tên từng phần như sau:

1. Lời mở đầu nói sự kế truyền ở nước Việt Nam

2. Vua Gia Long ra đời

3. Pháp sang lấy Nam Việt

4. Giặc ở Bắc Việt

5. Pháp đánh Bắc Việt lần thứ nhất

6. Pháp đánh Bắc Việt lần thứ hai

7. Vua Dực Tông mất

8. Từ Dụ Thái hậu thương con

9. Đức độ của vua Dực Tông

10. Không có con nuôi cháu làm con

11. Tường và Thuyết bỏ tự quân

Trang 8

12. Tường, Thuyết xin lập vua Hiệp Hòa

13. Phan Đình Phùng can, bị giam

14. Vua Hiệp Hòa lên ngôi

15. Quân Pháp vào đánh Thuận An

16. Thái độ vua Hiệp Hòa đối với vua Dực Tông

17. Tường và Thuyết tâu bà Thái Hậu bỏ vua Hiệp Hòa

18. Giết vua Hiệp Hòa đã thoái vị và ông Trần Tiễn Thành

19. Lập vua Kiến Phúc

20. Làm lễ Ninh Lăng cho vua Dực Tông

21. Pháp sách nhiễu mọi điều ở Huế

22. Quyền thần hoành hành trong Kinh

23. Vua Kiến Phúc mất

24. Tường và Thuyết nói có di chiếu lập ông Ưng Lịch

25. Vua Hàm Nghi lên ngôi

26. Giết ông Dục Đức và các hoàng thân

27. Làm lễ tấn tôn bà Từ Dụ Thái hậu

28. Pháp lại uy hiếp, Tôn Thất Thuyết định chống lại

29. Lập đồn Tân Sở

30. Thống tướng De Courcy vào Huế

31. Tôn Thất Thuyết đánh quân Pháp

32. Xa giá xuất ngoại

33. Xa giá đến Quảng Trị

34. Tôn Thất Thuyết để các bà ở lại và đem vua Hàm Nghi đi

35. Được tin Nguyễn Văn Tường

36. Xa giá tam cung trở về Khiêm lăng

37. Nguyễn Văn Tường xin Thái hậu hãy tạm thính chính

38. Quân Cần Vương nổi lên ở mọi nơi

39. Sai người đi tìm vua Hàm Nghi

40. Nguyễn Hữu Độ ở Bắc vào Huế bất hòa với Nguyễn Văn Tường

41. Định lập vua khác

42. Nguyễn Văn Tường bị bắt đi đầy

43. Nguyễn Hữu Độ và Phan Đình Bình vào Huế giữ triều chính

44. Khâm sứ Pháp vào yết kiến bà Thái hậu

45. Vua Đồng Khánh lên ngôi

Trang 9

46. Gia tôn bà Thái hậu

47. Vua Đồng Khánh ra Quảng Trị

48. Vua Đồng Khánh mất

49. Vua Thành Thái lên ngôi

50. Lễ bát tuần bà Thái hậu

CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM HẠNH THỤC CA

2.1 Giá trị hiện thực

Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù Nó cùng với các bộ môn nghệ thuậtkhác tạo nên diện mạo tinh thần của một dân tộc Nếu như phương thức phản ánh của hộihọa là màu sắc, của âm nhạc là giai điệu, của kiến trúc là hình khối,…thì của văn họcchính là ngôn từ nghệ thuật Vì thế cho nên, bản thân văn học gắn bó chặt chẽ với ngônngữ dân tộc và là một trong những kênh quan trọng để nuôi dưỡng và phát triển hệ thốngvốn từ tiếng Việt cùng với các quy tắc sử dụng nó Mặt khác, văn chương cũng như tất cảcác loại hình nghệ thuật khác đều hướng tới việc phản ánh hiện thực, tái tạo hiện thựchoặc xây dựng một hiện thực viễn tưởng Như thế, đối tượng phản ánh của nó chính làcon người, cuộc đời và mục đích hướng tới cũng chính là cải tạo xã hội, hướng con ngườiđến những giá trị tốt đẹp của cuộc sống Nhiều tác phẩm văn học mang giá trị hiện thực

và giá trị lịch sử sâu sắc, tiêu biểu như Hạnh Thục ca của Nguyễn Thị Bích Trước hết là

giá trị hiện thực, vậy giá trị hiện thực là gì? Có thể hiểu là giá trị nói lên những bộ mặthiện thực của cuộc sống mà từ đó khi nhìn vào đấy người ta biết rằng hiện thực nước talúc bấy giờ phải sống như thế nào

2.1.1 Diện mạo của tầng lớp quý tộc trong thời kì loạn lạc

Khi vận mệnh đất nước gặp nguy nan thì cảm hứng chủ đạo của văn học là cảmhứng yêu nước và văn học trung đại luôn bám sát lịch sử dân tộc, phản ánh những sự kiệntrọng đại liên quan đến vận mệnh đất nước Cảm hứng yêu nước luôn gắn liền với tưtưởng trung quân như là một tất yếu trong lịch sử xã hội phong kiến, bởi xã hội phongkiến quan niệm nước là vua, vua là nước Do đó văn học thời phong kiến quan niệm: yêunước là phải trung với vua và trung với vua tức yêu nước Cảm hứng yêu nước được thểhiện phong phú, đa dạng qua mọi thời kì lịch sử, khi đất nước có giặc ngoại xâm

Bàn về tác phẩm Hạnh Thục ca, nhà nghiên cứu Nguyễn Tường Phượng có phê

bình quan niệm lịch sử "trị loạn xoay dần" của tác giả, vì quan niệm ấy thần bí và lạc hậu.Ông lại công kích thái độ thiên vị chủ quan của tác giả, như quan niệm hẹp hòi của nhàNguyễn về nhà Tây Sơn, mạt sát nhà Tây Sơn:

Trang 10

Đến sau chính sự đãi hoang Ngụy Tây thiết cứ bạo cuồng ngược dân (21 -22)

hay quá đề cao vua Tự Đức:

Trị vì sáu sáu năm chầy Lòng nhân tính hiếu đức tày Thuấn Nghiêu.(127-128)

có ác cảm với phong trào Cần Vương :

Thừa cơ phá huyện cướp châu Làm cho lê thứ lo âu nghiêng nghèo.(821-822)

Và ông Nguyễn Tường Phượng kết luận rằng đây là một tác phẩm ghi đúng tâmtrạng của lớp quý tộc trên bước đường cùng, đi tìm an ủi trong cái triết lý thần bí và lạchậu của họ Tuy nhiên, theo giáo sư Phạm Thế Ngũ thì:

Công bình hơn, có lẽ ta nên nói rằng tư tưởng của tác giả chỉ nằm trong hệ thống

ý thức cổ truyền của lớp Nho gia làm quan khi ấy Thêm vào đó là quan điểm của một phụ nữ có tầm nhìn hẹp, suy xét bằng thiên vị và tình cảm Lại từ nhỏ, tác giả sống nơi khuê các, chân yếu tay mền, bỗng dưng bị đẩy vào cơn phong trần, nên có tâm lý sợ khổ, ghét loạn và cầu an Với con người như vậy, dĩ nhiên không thể đòi hỏi một thái độ tranh đấu tích cực, một quan niệm ái quốc sáng suốt, một áng văn truyên truyền cho chủ nghĩa quốc gia [7]

Đúng vậy, Hạnh Thục ca phản ánh rất thực xã hội lúc bấy giờ Tác phẩm được viết

theo khuynh hướng về chủ nghĩa quốc gia Theo sự phân chia của Trần Trọng Kim, sáuphần đầu tác giả kể về tình hình đất nước lúc bấy giờ rơi vào tay thực dân Pháp Trongkhoảng hai mươi lăm năm trời, từ năm 1778 là năm Nguyễn Nhạc xưng vương đến năm

1802 là năm vua Gia Long lên ngôi mà trong nước thay ngôi đổi chủ đến mấy lần, vì thếlòng người cũng phân vân Sau khi Tây Sơn dứt họ Trịnh, cựu thần nhà Lê và các sĩ phungoài Bắc kẻ thì ra phò tân triều người thì đi ẩn lánh các nơi, trong Nam cũng có nhiềungười không chịu ra làm quan với nhà Tây Sơn Ngay sau khi vua Gia Long đã thống nhấtthiên hạ mà ngoài Bắc cũng còn nhiều người tưởng nhớ nhà Lê không chịu ra thờ triềuNguyễn hoặc miễn cưỡng phải ra làm quan

Vua Gia Long là hoàng đế thành lập nhà Nguyễn, đề cao Nho học, cho lập VănMiếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinhthành Huế để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học,

có hạnh ra làm quan cho nên được nhân dân xem là “thánh nhân”:

Cứu đời mừng có thánh nhân Hoàng triều khải vận dẹp quân hung tàn

Trang 11

Mở mang bờ cõi phong cương Thay Lê diệt Trịnh sửa sang mối giường (12-15)

Vua Gia Long làm vua được 18 năm thì qua đời Đến đời thứ tư thì vua Tự Đứclên nối ngôi Ông là con thứ 2 của vua Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng, Vua Tự Đức lênngôi tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), làm vua được 36 năm (1847-1883) Cuối thế kỷXIX đầu thế kỉ XX là khoảng thời gian chủ nghĩa thực dân ở Âu Tây đang lên mạnh.Những nước Châu Á như Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và Xiêm đều là những nước cóvăn hóa tối cổ, có nền chính trị phân minh, có kỷ cương, có chế độ rõ ràng, nhưng vì kémhèn về đường vũ bị, cho nên đều thành ra những miếng mồi của những nước thực dân nhưnước Anh, Pháp, Đức, Nga,…

Song mỗi một nước trong những nước suy nhược ấy có một hoàn cảnh, một tìnhthế đặc biệt, cho nên có nước như Nhật Bản, chóng thoát khỏi sự uy hiếp của các nướcthực dân Có nước như Trung Hoa và Xiêm tuy không đến nỗi mất nước, nhưng cũng bị

uy hiếp khá nặng Còn nước như Việt Nam ta thì không những mất cả quyền tự chủ màcòn bị người ta làm tiêu ma mất cả tinh thần quốc gia Số phận nước Việt Nam tuy đếnnăm Nhâm Ngọ (1882) mới thật quyết liệt, nhưng cái dự án của người Pháp định lấy nướcViệt Nam làm thuộc địa đã có từ lâu, mãi tới cuối đời Thiệu Trị, tức vào khoảng 1847mới thực hiện ra một cách rõ ràng hơn trước.[2, tr5]

Lạ thay cái nước Pháp lan Băng ngàn vượt biển lướt sang giòm hành Thẳng vào Gia Định tung hoành Cậy nghê tàu súng phá thành như chơi (35-38)

Trong giai đoạn này đất nước chúng ta đang phải đối mặt với cuộc xâm lược từquân Pháp và nhiều cuộc nổi loạn ở phía Bắc cùng với đó là triều đình rối ren xảy nhiều

sự thay đổi lớn Việc triều đình không có sự ổn định là một vấn đề hết sức nghiêm trọng,trong khi giặc ngoài lăm le xâm phạm, những tầng lớp quan lại quý tộc lại không có được

sự đoàn kết mà luôn đấu đá, hãm hại lẫn nhau làm cho tình hình đất nước ngày càng nguycấp Từ đó về sau nước Pháp chỉ chờ có cơ hội thuận tiện là vào đánh lấy đất đai và uyhiếp đủ mọi đường Cái phương sách của người Pháp là đi từ từ từng bước một, trước lấymột nửa Nam Việt, sau lấy cả Nam Việt Trong khi đó triều đình không kiên quyết chốnggiặc, cầm chừng, mà chủ yếu thiên về thương thuyết, nghị hòa Triều đình bỏ dân, quanlại hèn nhát kháng chiến của nhân dân mang tính tự phát Triều đình nhu nhược, đườnglối kháng chiến không đúng đắn, không đoàn kết với nhân dân:

Cầu hòa ba tỉnh cắt giao,

Trang 12

Hãy còn ba tỉnh lẻn vào cướp không.(45-46)

Khi công cuộc ở Nam Việt đã xếp đặt đâu ra đấy rồi, bấy giờ mới tìm cách ra lấy BắcViệt:

Tây, Tàu ỷ thế dọc ngang Thêm đoàn Bắc Khấu quân ngoan cùng dòng.(55-56)

Lần đầu vào năm Quí Dậu (1873) quân Pháp ra lấy thành Hà Nội rồi lại trả lại, đểmười năm sau là năm Nhâm Ngọ (1882) lại đánh lấy lần nữa Qua năm Quí Tị (1883)quân Pháp xuống lấy thành Nam Định, rồi tháng tư năm ấy, người thống suất quân Pháp

là đại tá Henri Rivière bị quân cờ đen giết ở gần Ô Cầu Giấy:

Bắc Kỳ gắm ghé bấy nay Quyết lòng trở mặt ra tay cướp vầy (65-66)

Dâng công An nghiệp tài hèn

Bị Lưu Vĩnh Phúc giết liền, rất ưng.(73-74)

Các phần về sau tác giả chủ yếu kể về những việc xảy ra trong triều đình, ngườingoài khó lòng biết được hoặc nếu có biết cũng không thể hơn người trong cuộc Trongbuổi đầu pháp xâm lược nước ta triều đình cũng có quyết tâm trong việc chống giặc, cửNguyễn Tri Phương ra đốc quân chống giặc, cử Hoàng Diệu làm tổng đốc Hà nội để giữlấy Bắc Kì Nhưng rồi hai vị tướng này đều lần lượt hi sinh Nguyễn Tri Phương thất thủ

ở Gia Định, còn Hoàng Diệu cũng quyên sinh ở Long Thành:

Long Thành pháo lửa đùng đùng, Một gươm Hoàng Diệu gan trung ai bì.(85-86)

Trong khi quân Pháp vào đánh phá, việc nước rối loạn, thì vua Dực Tông băng hà

ở Huế Từ đó về sau, trong khoảng năm sáu năm, biết bao nhiêu đau buồn xảy ra ở đấtViệt Nam:

Tôi con đều dạ âu lo Hết lần cầu khấn xin cho thọ trường Trời kia sao nỡ chẳng thương

Xe rồng vội giục vân hương tếch vời.(103-106)

Pháp đã định đánh lấy nước ta, thì lẽ tất nhiên là ta phải đánh lại, song vì sứckhông đủ, phải nhờ quân Tàu sang cứu viện, thành ra trong khoảng từ năm Quí Tị (1883)đến năm Ất Dậu (1885) đất Bắc Việt khắp nơi bị tàn phá Quân Pháp thấy tình thế khókhăn, bèn sai Hải quân thiếu tướng Courbet sang đánh thành Phúc Châu và vây đảo ĐàiLoan Thế bất đắc dĩ, triều đình nhà Thanh phải ký hòa ước ngày 27 tháng 04 năm Ất Dậu

Trang 13

(1885) ở Thiên Tân, cam đoan rút quân Tàu ở Bắc Việt về và nhận để nước Pháp đượcquyền tổ chức cuộc bảo hộ ở Việt Nam Bảo hộ là một chính sách rất khôn khéo Khiquân Pháp đã chinh phục được cả nước rồi, cứ để nguyên chế độ và các danh vị cũ, chỉcốt đem những người thân tín hay tôi tớ của mình vào giữ các chức vị quan trọng để dễ bềsai khiến Dần dần người Pháp thu hết cả thực quyền vào tay mình Những việc như binh

bị, tài chính, cai trị và giáo dục v.v đều do người Pháp chủ trương và điều khiển Ngườibản xứ từ vua quan trở xuống hoặc chỉ được giữ cái hư vị, hoặc chỉ được làm những chức

vụ thừa hành ở dưới quyền chỉ huy của người Pháp Theo cái chính sách ấy thì dân khítrong những xứ bảo hộ mỗi ngày một suy nhược đi, lâu dần thành ra một hạng người làmtôi tớ rất giỏi, mà không có cái tư cách làm người tự chủ nữa.Việc triều chính lúc ấy rốiloạn do hai người quyền thần muốn thừa cơ mà chuyên quyền lộng hành là Nguyễn VănTường và Tôn Thất Thuyết, một người coi tiền tài và quan lại, một người giữ hết cả binhquyền ở trong tay Hai người thoạt đầu tiên đổi di chiếu của vua Dực Tông, phế bỏ DụcĐức:

Văn Tường, Tôn Thuyết chẳng lơ Bắt chưng lỗi ấy phiến từ dâng tâu.(163-164)

Và cáchchức quan ngự sử Phan Đình Phùng:

Dẫn ra ngục thất giam vây

Uy dường sấm sét, ai rày dám phân.(205-206)

Sau khi lập vua Hiệp Hòa được hơn bốn tháng, hai người lại bỏ vua Hiệp Hòa rồiđem giết đi, giết cả quan nguyên Phụ chính Trần Tiễn Thành và lập vua Kiến Phúc Lúcbấy giờ TônThất Thuyết mộ quân Phấn nghĩa để giữ mình và thường hay tiếm dùng nghi

vệ của vua; Nguyễn Văn Tường thì lấy tiền hối lộ của lũ khách buôn, cho chúng đem mộtthứ tiền đúc ở bên Tàu, theo niên hiệu Tự Đức, gọi là tiền sềnh, tiền rất xấu và rất mỏng,bắt dân ở kinh kỳ phải tiêu.Vua Kiến Phúc lên làm vua được sáu tháng thì mắc bệnh, mấtmột cách khả ngờ.[2, tr5]

Nương mây phút sớm tếch vời Năm thân tháng sáu rụng rời cành xuân.(403-404)

Tường và Thuyết lập ông Ưng Lịch mới 12 tuổi lên làm vua, tức là vua Hàm Nghi.Triều đình lúc ấy việc gì cũng do hai người quyền thần ấy quyết định tất cả Bọn quyềnthần lúc này đắc ý, lập thiếu chúa để được giữ quyền bính Ông Dục Đức đã bị truất,không được làm vua, đến bấy giờ cũng bị giết Hoàng thân quốc thích ai làm điều gì trái ýhai người ấy đều bị giết hay bị đày.Những việc ấy đều là việc bí mật ở trong triều, người

Trang 14

ngoài khó mà biết được rõ ràng May nhờ lúc ấy có bà Lễ tần Nguyễn Nhược Thị đemnhững sự bà đã tai nghe mắt thấy mà kể ra:

Mừng đà quốc bính quyền đương Lăm phò thiếu chúa chi màng trường quân.(426-427)

Toàn bộ giới quan lại quý tộc bấy giờ trong hết sức nháo nhác, triều đình chia ba

xẻ bảy, để mặc sự lộng hành của quyền thần và bọn nịnh thần:

Chẳng qua gặp buổi suy vi, Hoàng thân quốc thích gian nguy khôn cùng.

Ở đời chẳng giữ đạo trung,

Xu viêm phụ nhiệt những mong sang quyền (343-346)

Vua trẻ thì bất lực, quan lại thì bất tài, vô dụng lại còn đưa ra kế tìm Pháp cầu an

để chống lại quyền thần để dẫn đến họa sát thân: Ngạnh cường chẳng khứng phục tòng,

Kỳ anh Công cũng theo vòng chết oan Thương thay lá ngọc cành vàng, Vì sao nên nỗi lạc ràng khổ thay? Quý tộc quan lại bất tài vô dụng đã đành lại còn thêm cái bệnh nhà

quan tham nhũng, hối lộ làm cho cái sự rối càng thêm rối, dân khổ càng thêm khổ:

Gẫm xem việc nước suy vi, Cũng vì hối hóa tiền kia thông đồng.

Làm tôi chẳng giữ sạch trong, Phì gia ích kỷ thửa lòng làm sao,

Vả rằng nhà nước tổn hao, Chưng nay tế tự thể nào cũng nên (385-390)

Là phận quần thần trụ cột của đất nước nhưng khi gặp phải cơ sự bất lợi ,nguy cấp

thì chỉ biết run rẩy trông chờ vào người khác: Cả triều kinh hãi lo ba, Nay mà chẳng thuận ắt ra sự rầy Trong lúc việc nước nguy nan, triều thần chủ chốt lại bất đồng trách

móc lẫn nhau, mà không biết cùng nhau nghĩ kế, tìm cách cứu nguy xã tắc Có quan Tổng

đốc Bắc Kỳ, Tên là Trần Hữu Độ, bôn trì vào kinh Trách rằng: "Đến nỗi mất thành, Làm tôi như vậy nghĩ mình phải chưa” Thông qua sự quan sát và ghi chép của tác giả mà ta có

thể tường tận về bộ mặt của quan lại quý tộc trong những năm tháng mạt vận của chế độphong kiến Quý tộc đủ các thói xấu, tham ô, xu nịnh, hạch sách với dân chúng, nhunhược, hèn yếu, sợ hãi mang tâm lí cầu hòa trước kẻ thù

2.1.2 Dấu ấn văn hóa, nghi lễ cung đình thời bấy giờ

Văn hóa vốn là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau,liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Nhưng ở đây ta chỉxét khái niệm văn hóa ở một nghĩa hẹp Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa

Trang 15

được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính vănhóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Vănhóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa

Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hộicủa con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiệntrong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như tronggiá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra

Trong tác phẩm Hạnh Thục ca này dấu ấn để lại không chỉ là những sự kiện lịch sử

được ghi lại một cách đầy đủ và chân thực nhất mà đó còn là những dấu ấn về văn hóa.Tác phẩm lưu giữ được phần nào những đặc trưng văn hóa triều Nguyễn trong thời buổiloạn lạc và cho ta thấy từ những lễ nghi cung đình đến những tính ngưỡng và lối sốngthường ngày Dưới cái nhìn của tác giả từ những sự kiện lớn lao đến những câu chuyệnhàng ngày trong cung cấm đều được ghi lại một cách khách quan Qua đó chúng ta có thểkhái quát được một số đặc sắc về tư tưởng văn hóa, tập tục sinh hoạt, tín người, và đặcbiệt là lễ nghi cung đình Thời đại phong kiến là nơi hệ tư tưởng Nho giáo đặc biệt pháttriển nên ý thức suy tôn và sung bái đức Vua và triều đại là rất phổ biến điều đố có thể dễ

dàng nhận ra Bài Hạnh Thục ca có kể lại một số lễ nghi như: Làm lễ ninh lăng cho vua Dực Tông Âu lo việc nước hãy nhiều, Ninh lăng đại lễ phải điều trước toan Đến tuần tháng chạp công thoan, Mồng hai hiệp cát nghinh sang bảo thành; Làm lễ Tấn tôn bà Từ

Dụ Thái hậu: Dụ rằng: Bày việc thêm buồn, Rằng noi lề trước nhìn tuồng đa nghi Các nơi lễ phẩm tha đi, Lễ lòng cũng chẳng chút gì dụng đâu Hay lễ bát tuần bà Thái Hậu: Kính dâng lễ lớn cử hành, Doãn cho cháu chắt tấc thành chút thân Vừa đương thánh thọ bát tuần, Tôn dâng khang thọ, chúc mừng muôn xuân

Các nghi lễ, lễ hội là sinh hoạt văn hóa tinh thần của một cộng đồng người Nó đãđược hình thành và phát triển từ lâu trong lịch sử nhân loại Nghi lễ, lễ hội phản ánh mộtcách rõ nét những đặc trưng về lịch sử và văn hóa của mỗi địa phương và của từng quốc

gia Tác phẩm Hạnh Thục ca đã đưa bạn đọc quay về với quá khứ, tìm về lịch sử về cội

nguồn của dân tộc Việt Qua những dòng thơ lục bát giản dị Nguyễn Thị Bích đã khắchọa một cách chân thực những dấu ấn văn hóa, nghi lễ cung đình nói chung và triều đìnhnhà Nguyễn nói riêng

2.2 Giá trị lịch sử

2.2.1 Những biến cố lịch sử trong triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến nước ta

Trang 16

Triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, đã tồn tại trong suốthơn 143 năm (1802-1845) với 13 đời vua Nguyễn Thông thường các vua Nguyễn sau khimất, bài vị được đưa vào thờ tại Thế Miếu, có Miếu hiệu ứng với tên của các đỉnh đồngđúc dưới thời Minh Mạng (1835), trừ các vua bị phế truất và các vua bị Pháp đày ra khỏinước Riêng vua Dục Đức (phế đế) có Miếu hiệu Cung Tôn Huệ Hoàng đế là do con trai

là vua Thành Thái truy phong, nhưng bài vị không được đưa vào thờ tại Thế Miếu Các vịvua yêu nước Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân vào năm 1959 đã được Hội Đồng NguyễnPhước Tộc làm lễ và đưa bài vị vào thờ tại Thế Miếu

Tác phẩm này được đánh giá cao bởi giá trị lịch sử của nó, là chuổi các sự kiện lịch

sử của nhà Nguyễn trong khoảng thời gian từ khi Pháp sang xâm chiếm nước ta cho đến

lúc làm “Lễ bát tuần bà Thái Hậu” Theo Lệ Thần Trần Trọng Kim thì đây là áng văn chương thời thế, kể lại một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của nước Việt Thông qua

tác phẩm này chúng ta có thể khái quát được những biết cố lịch sử trong triều đại phongkiến cuối cùng của nước ta

2.2.1.1 Pháp lần đầu tấn công nước ta

Biến cố đầu tiên được ghi nhận đó cũng là biết cố lớn nhất trong lịch sử dân tộcgiai đoạn này, là sự kiện Pháp nổ súng xâm lược nước ta vào năm 1858 tương ứng với sựkiện này trong tác phẩm có phân đoạn “ Pháp sang lấy Việt Nam”:

Lạ thay cái nước Pháp lan, Băng ngàn vượt biển lướt sang giòm hành.

Thẳng vào Gia định tung hoành, Cậy nghê tàu súng phá thành như chơi.

Ngăn ngừa không mặt hùng tài, Cát lầm, thương bấy dân trời một phương.(35 -40)

Sau đó lần lượt các sự kiện xâm chiếm đất Bắc của Pháp cũng được tác phẩm diễn tả cụthể trong các phân đoạn : “Pháp đánh Bắc Việt lần thứ nhất”, “Pháp đánh Bắc Việt lần thứhai” nó tương ứng với hai cuộc tiến đánh Bắc Kì lần thứ nhất năm 1873 và lần thứ hai

1882 của thực dân Pháp được ghi lại trong lịch sử

2.2.1.2 Tứ nguyệt tam vương

Sau khi vua Tự Đức băng hà (19.7.1883), triều đình Nguyễn lâm vào thế rối ren.Chỉ trong bốn tháng (từ tháng 7 đến tháng 11.1883), ngai vàng triều Nguyễn đã ba lần đổichủ: Dục Đức - Hiệp Hòa - Kiến Phúc Lợi dụng tình hình này, thực dân Pháp mở cuộctấn công vào cửa biển Thuận An (do thiếu tướng Courbet chỉ huy) Quan quân triều

Ngày đăng: 08/12/2016, 21:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w