1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người vợ lẽ trong ca dao việt nam

32 1,6K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 102,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ca dao viết về người phụ nữ trong đó có người vợ lẽ là một vấn đề hết sức hấp dẫn và lôi cuốn. Bởi qua đó, phần nào ta hiểu được đời sống tâm hồn, tình cảm của họ trong xã hội xưa và nay. Viết về người phụ nữ Việt Nam, đã có không ít nhà nghiên cứu quan tâm và những bài viết mang giá trị đặc sắc. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung vào hình ảnh người phụ nữ một cách khái quát trong ca dao và hầu như chưa có nhiều bài nghiên cứu đi sâu vào hình tượng phụ nữ riêng lẻ một cách cụ thể. Vì thế, trong bài niên luận này, tôi chọn đề tài về hình tượng người vợ lẽ trong ca dao với mong muốn đem đến một cái nhìn rõ hơn về hình tượng người phụ nữ nói chung và hình tượng nguời vợ lẽ trong ca dao nói riêng.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 3

1 Lý do, mục đích chọn đề tài………3

2 Lịch sử nghiên cứu……… 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 6

4 Phương pháp nghiên cứu ……… 6

5 Đóng góp của đề tài ……….7

6 Cấu trúc của niên luận……… 8

NỘI DUNG ……… 8

CHƯƠNG 1 Ca dao và hình tượng người vợ lẽ trong ca dao Việt Nam – Những vấn đề chung ………8

1.1 Ca dao……… 8

1.1.1 Đặc điểm……… 9

1.1.2 Ý nghĩa ……….10

1.2 Vai trò của hình tượng người vợ lẽ trong ca dao ……….10

Tiểu Kết ……… 12

CHƯƠNG 2: Hình tượng người vợ lẽ trong ca dao Việt Nam nhìn từ bình diện nội dung ……….14

2.1 Người vợ lẽ với các mối quan hệ trong gia đình ……….14

2.1.1 Bi kịch hôn nhân ……… 15

2.1.2 Thân phận đáng thương và đáng trách ……… 17

2.2 Người vợ lẽ với các mối quan hệ trong xã hội……… 20

Tiểu Kết……… 23

Trang 2

CHƯƠNG 3 Hình tượng người vợ lẽ trong ca dao Việt Nam nhìn từ phương

thức nghệ thuật……… …24

3.1 Biện pháp tu từ……… 24

3.1.1 Ẩn dụ, hoán dụ ……….24

3.1.2 So sánh ……… 27

3.2 Không gian, thời gian nghệ thuật……… 38

3.2.1 Không gian nghê thuật……… 29

3.2.2 Thời gian nghệ thuật……… 30

Tiểu Kết……… .31

KẾT LUẬN ……….………… 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….34

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do, mục đích chọn đề tài

Trong văn học dân gian, ca dao là khúc hát tâm tình, là “tiếng đàn muôn điệu” của tâm hồn người Việt được lưu truyền qua bao năm tháng Nó bồi đắp tâm hồn ta từ thời thơ ấu qua nhưng lời ru êm đềm của bà, của mẹ Nó giúp ta cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp làng quê Việt Nam qua những hình ảnh của cây đa, giếng nước, mái đình và nỗi nhọc nhằn cũng như vẻ đẹp khỏe khoắn của người lao động chân chất, mộc mạc, tình cảm gia đình thắm thiết, nghĩa vợ chồng tào khang Một trong những nét chủ đạo của ca dao truyền thống là

sự thể hiện hết sức phong phú tư tưởng tình cảm của con người nói chung, người phụ nữ nói riêng Bên cạnh những giai điệu tươi vui, rộn ràng ta còn nghe vọng không ít những khúc nhạc buồn thương ai oán Đó là nỗi lòng của những kiếp người bất hạnh, những cảnh đời trắc trở, éo le Nổi bật hơn cả là tiếng than của người phụ nữ và đặc biệt là những người chịu cảnh làm lẽ Bao nhiêu tâm sự, sầu đau, phiền muộn không thể tỏ bày cùng ai, người phụ nữ gửi trọn vào những câu hát than thân Có lẽ vì vậy, ca dao Việt Nam đã khắc họa một cách chân thực và đậm nét bi kịch của những thân phận phụ nữ trong xã hội ngày xưa Đến với ca dao, ta bắt gặp vô vàn những nỗi đau của người phụ nữ nhất là thân phận của những người vợ lẽ với những bi kịch về thân phận, tình duyên và hôn nhân Đó là những nỗi đau khó có thể diễn tả bằng lời

Ca dao viết về người phụ nữ trong đó có người vợ lẽ là một vấn đề hết sức hấp dẫn và lôi cuốn Bởi qua đó, phần nào ta hiểu được đời sống tâm hồn, tình cảm của họ trong xã hội xưa và nay Viết về người phụ nữ Việt Nam, đã có không ít nhà nghiên cứu quan tâm

và những bài viết mang giá trị đặc sắc Tuy nhiên các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung vào hình ảnh người phụ nữ một cách khái quát trong ca dao và hầu như chưa có nhiều bài nghiên cứu đi sâu vào hình tượng phụ nữ riêng lẻ một cách cụ thể Vì thế, trong bài niên luận này, tôi chọn đề tài về hình tượng người vợ lẽ trong ca dao với mong muốn đem đến một cái nhìn rõ hơn về hình tượng người phụ nữ nói chung và hình tượng nguwoif vợ lẽ trong ca dao nói riêng

Hơn nữa, thông qua việc tìm hiểu nội dung và nghiên cứu hình tượng người vợ lẽ trong ca dao, niên luận này cố gắng đưa ra những suy nghĩ về cuộc sống và số phận người

vợ lẽ Việt Nam Và hơn thế, chúng ta có thể có cái nhìn đúng hơn, đồng cảm hơn với số phận người phụ xưa dưới chế độ hôn nhân đa thê bất bình đẳng.Ngoài ra, trong số những tài liệu viết về ca dao hay viết về hình tượng người phụ nữ mà tôi có thể tiếp cận được từ trước đến nay Tôi thấy hiếm có đề tài nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này Vì lẽ đó tôi chọn

đề tài: Hình tượng người vợ lẽ trong ca dao Việt Nam để trao dồi thêm kiến thức hiểu biết

cho bản thân

Trang 4

2. Lịch sử nghiên cứu

Ca dao dân ca, xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương ánh xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về truyền thống dân tộc, quan hệ xã hội được phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau Nghiên cứu về ca dao dân ca không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam mà còn làm nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người thiết tha Ca dao dân ca là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam Do đó,

từ lâu các nhà nghiên cứu văn học dân gian nước ta đã đặt vấn đề và chú tâm nghiên cứu

về ca dao dân ca Hơn nữa, ca dao người Việt hết sức phong phú và đa dạng, nên từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

Năm 1957, khi đề cập đến vấn đề hình tượng người phụ nữ trong ca dao, với Tục

ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (đến năm 2016 đã tái bản nhiều lần), ông Vũ Ngọc Phan

khẳng định: Trong cuộc đời người phụ nữ phải chịu nhiều nỗi khổ quá và chịu nhiều thiệt

thòi quá Mặc dù công sức đóng góp cho xã hội và gia đình không thua kém gì đàn ông, nhưng trong thực tế người phụ nữ không có quyền lực gì Lý do đẩy người phụ nữ vào địa

vị thấp kém là vì “chế độ hôn nhân đã xây dựng trên cơ sở kinh tế của xã hội cũ.[11,

tr231] Về mặt nghệ thuật, ông Vũ Ngọc Phan nêu nhận xét rằng: những hình tượng ẩn dụ

như hoa quả, con cò thường được sử dụng để ví, để làm rõ nỗi khổ và vẻ đẹp của người phụ nữ một cách hết sức tế nhị và kín đáo.[11, tr254]

Năm 1973, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ biên và các

tác giả Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn cũng đã được tái bản bổ sung nhiều lần là một cuốn sách có đóng góp quan trọng cho việc học tập nghiên cứu văn học dân gian nói

chung, ca dao nói riêng Đặc biệt là chương 3: Các thể loại văn học dân gian Việt Nam

phần C; Các thể loại trữ tình dân gian (phần II: Lịch sử và xã hội, đất nước và con người

trong ca dao dân ca Việt Nam ) Ở phần này các tác giả đã đề cập đến những vấn đề có ý

nghĩa: Ca dao dân ca phản ánh lịch sử; Ca dao dân ca trữ tình về sinh hoạt gia đình

nhân vật chính là người phụ nữ lao động Việt Nam.[12, tr445]

Năm 1974, trong công trình nghiên cứu Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt

Nam, Cao Huy Đỉnh khẳng định rằng: Vấn đề thân phận con người, trước hết là số phận người dân nô lệ và người phụ nữ lao động là chủ đề chính của ca dao dân ca Cuộc đời người phụ nữ là một chuỗi những nỗi khổ đau dài dằng dặc Sống một mình cũng khổ, lấy chồng cũng khổ và khổ hơn nữa nếu như phải làm lẽ [5, tr64]

Về nghệ thuật, Cao Huy Đỉnh cũng nêu một nhận xét: Hình tượng con cò thường

được sử dụng để miêu tả hình ảnh người phụ nữ với một âm điệu buồn man mác [5, tr78]

Trang 5

Năm 1992, với Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã đi sâu nghiên cứu một cách có

hệ thống các yếu tố thi pháp về các mặt: Ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu thời gian không gian nghệ thuật, một số biểu tượng hình ảnh truyền thống trong ca dao [15] Đây là cuốn sách

có giá trị rất lớn, cung cấp cho độc giả những tri thức cụ thể và khái quát về nhiều vấn đề, giúp ích cho việc nghiên cứu ca dao

Qua các chuyên luận, các công trình kể trên, có thể rút ra những điểm sau: Hầu hết các tác giả nghiên cứu đều đề cập đến đề tài người phụ nữ trong ca dao nói chung và người vợ

lẽ trong ca dao nói riêng chủ yếu về phương diện nội dung phản ánh của hình tượng này Thân phận khổ đau của người phụ nữ trong xã hội cũ được đề cập nhiều nhất Qua ca dao, người phụ nữ Việt Nam hiện lên với một vẻ đẹp cao quý cả về phẩm chất lẫn tâm hồn Họ luôn phải chịu những bất công, khổ cực trong xã hội cũ Nhưng họ đã chủ động bảo vệ tình yêu, hạnh phúc, đấu tranh với những lề luật và những bất công mà chế độ phong kiến

đã gây ra Về phương diện nghệ thuật, ta thấy các tác giả đã chú ý đến các hình tượng để miêu tả người phụ nữ trong ca dao, những hình tượng này thường đẹp nhưng buồn

Trên đây là những công trình nghiên cứu tiêu biểu có đề cập một cách khái quát nhất

về hình tượng người phụ nữ trong ca dao cũng như có nhắc đến phần nào hình ảnh người

vợ lẽ trong ca dao Nhưng nhìn chung, rất ít tài liệu lấy hình tượng người vợ lẽ làm đối tượng nghiên cứu chính Như vậy, việc tìm hiểu về hình tượng người vợ lẽ trong ca dao người Việt là đề tài cần được khai thác để có một cái nhìn tường tận cụ thể về hình tương người phụ nữ trong ca dao

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: hình tượng người vợ lẽ được phản ánh trong ca dao Việt Nam

Hình tượng người vợ lẽ được bộ lộ dưới nhiều góc độ đa dạng nhưng trong bài nghiên cứu này chỉ đi sâu tìm hiểu hình tượng người vợ lẽ thông qua các mối quan hệ trong gia đình và xã hội để nhìn thấu rõ hơn về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu: là bộ phận ca dao của người Việt Cụ thể tư liệu khảo sát được khai

thác chủ yếu là: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (1957, xuất bản lần thứ 9 năm 1992) của

Vũ Ngọc Phan; Ngoài ra có tham khảo thêm Kho tàng ca dao người Việt(1995), 4 tập, do

Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên, Nxb văn hóa thông tin, Hà Nội Trong quá trình tiến hành thống kê và phân tích, đối chiếu, so sánh, trong bài nghiên cứu cũng có thể

sử dụng thêm một số tư liệu mạng, tư liệu có sẵn, được trích dẫn lại trong các công trình

có liên quan

4. Phương pháp nghiên cứu

Trang 6

Nhằm đạt được những mục đích đặt ra để triển khai đề tài này trong bài nghiên cứu chú ý đến các phương pháp chủ yếu sau :

Phương pháp thống kê, phân loại: Trước hết chúng tôi tiến hành thống kê toàn bộ số

lượng những lời ca nói về người vợ lẽ trong kho tàng ca dao Sau đó phân loại dựa vào nội dung của câu ca dao phản ánh hình tượng người phụ nữ trong mối quan hệ nào, trong trang thái tâm tư tình cảm nào,rồi đi vào khảo sát cụ thể Đó là cơ sở khoa học cho những nhận định, kết luận của bài nghiên cứu Qua kết quả thống kê phân loại chúng tôi có thể rút ra những nhận xét một cách chính xác, khách quan và khoa học

Phương pháp phân tích, tổng hợp và bình luận: Trên cơ sở của việc thống kê, phân

loại, chúng tôi tiến hành phân tích, hệ thống hóa Dựa vào kết quả của sự phân tích, sẽ tổng hợp để rút ra những kết luận khái quát Trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu có

sử dụng phương pháp bình luận Đây không phải là phương pháp chủ yếu mà đây chỉ là cách tiếp cận sâu hơn khi cần khái quát tư duy của các tác giả dân gian

5. Đóng góp của đề tài

Ca dao là tiếng hát trữ tình phản chiếu đời sống tâm hồn Nó chứa đựng nhiều nội dung khác nhau, phản ánh hiện thực đa dạng những tâm trạng, những tư tưởng và tình cảm của đời sống con người Vì vậy hình tượng nhân dân lao động trong ca dao nói chung

và hình tượng người vợ lẽ nói trong ca dao nói riêng luôn tìm được sự đồng cảm, và cảm thông sâu sắc từ phía người đọc Vì thế khi đi vào đề tài này, tôi mong muốn có được cánh nhìn nhận gần hơn về số phận người vợ lẽ trong một nhóm ca dao có vị trí không nhỏ trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Và cũng mong muốn góp thêm một phần nhận thức về cuộc sống, số phận của người phụ nữ trong xa hội cũ cũng như cho thấy hình ảnh người vợ lẽ dưới nhiều góc nhìn khác nhau được phản ánh trong ca dao Đồng thời cũng cho thấy sự hà khắc và nghiệt ngã của xã hội cũ, sự bất bình đẳng của chế độ đa thê, của lễ giáo phong kiến đã khiến những người vợ lẽ chịu nhiều bất công và thiệt thòiNgoài ra thông qua những bài ca dao đề cập đến số phận người vợ lẽ này chúng ta có thể thấy rõ hơn những đặc trưng thi pháp của thể loại ca dao

6. Cấu trúc của niên luận

Luận văn ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Ca dao và hình tượng người vợ lẽ trong ca dao Việt Nam – những vấn đề chung

Chương 2: Hình tượng người vợ lẽ trong ca dao Việt Nam nhìn từ bình diện nội dung

Trang 7

Chương 3: Hình tượng người vợ lẽ trong ca dao Việt Nam nhìn từ phương thức nghệ thuật.

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CA DAO VÀ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI VỢ LẼ

TRONG CA DAO VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1.Ca dao

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao có một vị trí hết sức quan trọng Hơn bất cứ một thể loại nghệ thuật dân gian nào khác, ca dao là tiếng nói tâm hồn của những người bình dân Việt Nam

Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: “Ca

dao là danh từ chung chỉ toàn bộ những bái hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu” và “do tác động của hoạt động sưu tầm nghiên cứu văn học dân gian, ca dao đã dần chuyển nghĩa Từ một thế kỉ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ ( phần lời thơ) của dân ca ( không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) Với nghĩa này, ca

dao là thơ ca dân gian truyền thống” Các tác giả của bộ sách Tổng tập Văn học dân gian

người Việt do Nguyễn Xuân Kính chủ biên đã xác định rõ thuật ngữ ca dao: Ca dao được hình thành từ dân ca Khi nói đến ca dao, người ta nghĩ đến lời ca Khi nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát nhất định [ 8, tr20]

Khi xem xét kho tàng ca dao cổ truyền trên một nguồn tư liệu rộng lớn, phong phú và

đa dạng, chúng ta sẽ thấy sự xác định nội dung khái niệm ca dao được giới thuyết như

trên về cơ bản là hoàn toàn có cơ sở thực tế Có thể nói: Ca dao là bộ phận chủ yếu và

quan trọng bậc nhất của thơ ca dân gian có phong cách riêng, có thi pháp riêng đặc trưng trong sự đối chiếu với thơ bác học Qua ca dao, đời sống tâm tư tình cảm của nguời lao

động hiện lên với một vẻ đẹp giản dị và sinh động.

1.1.1. Đặc điểm

Ca dao mạng đầy đủ các đặc trưng của văn học dân gian nói chung bên cạnh đó nó cũng mạng những đặc điểm riêng của thể loại ca dao Đầu tiên, ca dao mang tính tập thể: Một bài ca dao có thể là sáng tác của một người song khi được lưu truyền, việc này lại

Trang 8

được dùng bằng trí nhớ (không giữ được nguyên bản nội dung) Khi hát, nói mỗi người sẽ thêm bớt theo ý thích, mục đích của mình Thế là dù lúc đầu có thể do một cá nhân nhưng khi lưu truyền có thể trở thành sáng tác của tập thể.

Thứ hai, ca dao mang tính truyền miệng: Ca dao được lưu truyện trong dân gian dưới hình thức chủ yếu là truyền miệng từ đời này sang đời khác Chính tình truyền miêng đã làm nên nhiều dị bản khác nhau

Thứ ba, ca dao mang tính cộng đồng: Cadao là tiếng nói chung của một cộng đồng, không phải tiếng nói riêng của một tác giả

Thứ tư, ca dao mang những đặc trưng nghệ thuật riêng Về thời gian, không gian

trong ca dao: Thời gian trong ca dao là thời gian hiện tại ngắn gọn, cơ động phù hợp với nhịp sống và thị hiếu thưởng thức văn học nghệ thuật đương thời Không gian trong ca

dao là không gian trần thế, đời thường, bình dị, phiếm chỉ, gắn với môi trường sống thân

thuộc của người bình dân Về các biểu tượng phổ biến ca dao sử dụng nhiều biểu tượng

khác nhau từ những điều bình dị, gắn bó với đời sống thân thuộc đến những nhân vật kì

ảo như tiên, bụt Biểu tượng trong văn học viết thường theo nhiều phương diện khen, chê,

ca ngợi còn trong văn học dân gian và ca dao thường chỉ có một mô típ là ca ngợi hay

than trách Về mô hình câu từ trong ca dao thường sử dụng công thức câu từ thường lặp

lại trong nhiều bài ca dao:

- “Thân em như dải lụa đàoPhất phơ giữa chợ biết vào tay ai?”

- “Thân em như trái bần trôiGió dập, sóng dồi biết tắp vào đâu”

-“Rủ nhau xuống biền bắt cuaBắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi”

-“Rủ nhau đi cấy đi càyBây giờ khó nhọc, mai này phong lưu”

Về mặt thể loại, thể thơ lục bát được sử dụng trong phần lớn các bài ca dao, thể thơ lục bát được vận dụng một cách hồn nhiên, phóng túng và những biến thể của nó như đặc trưng riêng của ca dao Câu tứ theo lối ngẫu nhiên không có chủ đề nhất định, câu tứ theo lối đối thoại và theo lối phô diễn về thiên nhiên

Trang 9

Về mặt ngôn từ trong ca dao, từ ngữ trong ca dao thường giản dị, chất phát, ngắn gọn, gần với lời nói trong sinh hoạt đời thường, dễ nghe, dễ hiểu, dễ thuộc gần gũi với nhân dân lao động Lời nói không có chọn lọc mà là lời giản dị, mang đậm tính khẩu ngữ Tư tưởng tình cảm được bộc lộ một cách trực tiếp thông qua lời nói, câu chữ trong ca dao.

“Trâu ơi ta bảo trâu nàyTrâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.”

1.1.2. Ý nghĩa

Ca dao là tiếng hát trái tim của người lao động, là thơ trữ tình dân gian Đây là thể loại tiêu biểu về số lượng và chất lượng Ca dao có hàng mấy chục vạn bài và vẫn đang được tiếp tục sưu tầm Với hình thức ngắn gọn, có vần điệu, dễ nhớ, dễ thuộc dễ đi vào quần chúng

Ca dao có sự gắn bó trực tiếp với đời sống lao động của xã hội và gắn bó rất khăng khít giữa nhạc và lời Nó tồn tại như một mảnh cảm xúc, được cất lên trong hoàn cảnh nhất định, do ngẫu hứng mà sáng tác tại chỗ nên hồn nhiên, tươi mát

Giống như văn học dân gian nói chung, ca dao phản ánh toàn bộ cuộc sống của nhân dân lao động nhưng nghiêng về phản ánh đời sống tình cảm là chủ yếu Vì vậy có thể nói,

ca dao chính là thể loại trữ tình tiêu biểu nhất của dân gian Ngoài việc phản ánh một cách tinh tế đời sống tâm hồn phong phú của người lao động, ca dao còn đề cập đến một cách khá toàn diện đời sống sinh hoạt và tinh thần đấu tranh chống bất công xã hội, tinh thần yêu nước đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân

1.2.Vai trò của hình tượng người vợ lẽ trong ca dao

Để hiểu hơn về hình tượng người vợ lẽ trong ca dao, trước hết chúng ta hãy tìm hiểu

về khái niệm hình tượng nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật được định nghĩa là “sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởng tượng

và hư cấu nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Bằng chất liệu cụ thể nó làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng Hình tượng nghệ thuật có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận Nhưng nói đến hình tượng nghệ thuật, người ta thường nghĩ tới hình tượng con người với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú Đến với thế giới văn học, ta được gặp gỡ rất nhiều hình tượng: hình tượng người nông dân, hình tượng người phụ nữ, hình

Trang 10

tượng người anh hùng….Có khi đó là hình tượng nghệ thuật cụ thể như hình tượng nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao, hình tượng Thúy Kiều trong kiệt tác “Truyện Kiều” bất hủ”… [2, tr146–tr147].

Dưa vào cơ sở lý thuyết trên đây, chúng ta hãy cùng khái quát về hình tượng người vợ

lẽ trong ca dao

Ca dao cổ truyền còn miêu tả thật thấm thía tâm trạng đau đớn của những cô gái bị ép duyên, những người vợ bị phụ bạc, cảnh làm lẽ, cảnh những nàng dâu có mẹ chồng ác nghiệt v.v Chú ý đi sâu mô tả những nỗi niềm riêng, những khổ sở bất hạnh của người phụ nữ và trong đó ca dao cũng đặc biệt chú ý đến người vợ lẽ Trong ca dao, hình ảnh người vợ lẽ được nói đến với những con người đảm đang, có tính kiên nhẫn, và có sức chịu đựng cao:

“Lấy chồng làm lẽ khổ thay

Đi cấy đi cày chị chẳng kể côngĐến tối chị giữ mất chồngChi cho manh chiếu nằm không nhà ngoài

Đến sáng chi gọi: bớ hai!

Trở dậy nấu cám, thái khoai, băm bèo

Vì chưng bác mẹ tôi ngèoCho nên tôi phải băm bèo, thái khoai”

Dưới chế độ phong kiến với những hủ tục người phụ nữ phải chịu cảnh làm vợ lẻ, chịu sự thiệt thòi, không có quyền hưởng hạnh phúc - hạnh phúc đơn thuần đáng được có của một người vợ và còn chịu sự đối xử bất công của vợ lớn

Số phận người vợ lẽ cũng chiếm một số lượng không nhỏ trong kho tàng ca dao Hầu như hình ảnh họ hiện lên đều là những con người tần tảo, đảm đang và luôn cam chịu số phận Nhưng bên cạnh đó, trong ca dao nhắc đến hình tượng người vợ lẽ ở một khía cạnh hoàn toàn trái ngược, họ lại bị xem là nguyên nhân gây ra sự đổ vỡ, sự sứt mẻ tình cảm của những gia đình hạnh phúc

Và đặc biệt hơn nữa, trong ca dao cũng như trong tổng thể văn học dân gian còn ghi nhận không ít tác phẩm nhắc đến hình tượng người vợ lẽ ở một góc nhìn hoàn toàn khác, mang màu sắc phản diện Dân gian xây dựng hình ảnh họ là những người mẹ kế hay

Trang 11

người dì ghẻ ác nghiệt, chua ngoa, và đầy toan tính Với con của người chồng, họ không những chẳng yêu thương mà luôn cố tình chèn ép và đối xử tệ bạc

Ca dao phản ánh hình tượng người vợ lẽ một cách khách quan với nhiều thái độ từ đồng cảm, chia sẽ với những số phận đáng thương đồng thời lên án phê phán họ ở những khía cạnh: phá vỡ hạnh phúc của kẻ khác và vô trách nhiệm, nhẫn tâm với con chồng Qua đó hình tượng người vợ lẽ trong ca dao có vai trò như hình tương đại diện cho một tâp thể một bộ phận người phụ nữ trong dân gian Thông qua hình tượng người vợ lẽ, các tác giả dân gian đã phản ánh đầy đủ và rõ nét về cuộc sống, tâm tư tình cảm của nhưng người phụ nữ phải chịu cảnh làm lẽ Từ đó cho ta thấy được những thái độ của nhân dân lao động đối với những người vợ lẽ

Tiểu Kết

Từ khái niệm về ca dao ta hiểu rằng ca dao là những câu hát, bài hát dân gian được sáng tác theo phương thức tập thể, được lưu truyền và tái sáng tạo thông qua các hình thức diễn xướng ca hát khác nhau, để "phô diễn tâm tình" của quần chúng, theo quan điểm thẩm mỹ của nhân dân Là thứ nghệ thuật hướng nội, ca dao đã phản ánh, đã diễn tả một cách nhuần nhuyễn và tinh tế thế giới tâm hồn của con người Trong đó người phụ nữ

là đối tượng trữ tình chủ yếu của ca dao, chính vậy tâm tình, số phận người phụ nữ và cụ thể hơn là người vợ lẽ được phản ánh trong kho tàng ca dao một cách chân thực Bằng việc tìm hiểu những nét cơ bản hình tượng người phụ nữ nói chung và người vợ lẽ nói riêng trong văn học dân gian, ca dao cổ truyền người Việt đã cho thấy: Đối với pháp luật phong kiến cũng như lệ tục của làng xã, do ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo nên

vị trí và vai trò của người phụ nữ trong xã hội xưa là rất mờ nhạt, thậm chí họ phải chấp nhận sự đối xử bất bình đẳng so với nam giới và bị đẩy xuống địa vị thấp kém Các quan niệm cổ như "Tam tòng", "Tứ đức" đã xác định vị trí tối thượng của người cha, người chồng trong gia đình và trói buộc người phụ nữ vào một cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc, không có tự do và nhất là không được làm chủ chính cuộc đời mình Dưới những tầng tầng lớp lớp của những giáo điều những hủ tục ấy, người phụ nữ có một số phận nhiều bi thương và đặc biệt những người chịu nhiều đắng cay nhất vẫn là những con người chịu cảnh lẽ mọn

Trang 12

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NGƯỜI VỢ LẼ TRONG CA DAO VIỆT NAM NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NỘI DUNG

Ca dao ra đời từ ngàn xưa, gắn với cuộc sống trăm đắng ngàn cay nhưng đậm tình nặng nghĩa Những câu hát phản chiếu đời sống tâm hồn, đời sống tình cảm của người bình dân, chứa đựng những đạo lí dân gian sâu sắc Những đề tài ca dao bắt nguồn từ thực tế cuộc sống lao động sản xuất và những sinh hoạt đời thường, từ những rung động tinh tế trước thiên nhiên, từ đời sống thuần hậu chất phác của người lao động Chính vì thế, những hình ảnh ca dao mộc mạc nhưng mang theo bao hơi thở tâm tình , những nét đẹp tinh thần của con người và luôn chứa đựng nỗi niềm thân phận và đặc biệt nỗi niềm của người phụ nữ nói chung và người vợ lẽ nói riêng Hình tượng người vợ lẽ được bộc lộ trong nhiều hoàn cảnh, rất phong phú đa dạng và sâu sắc Ở phạm vi của niên luận, chúng tôi đi vào tìm hiểu hình tượng người vợ lẽ được xây dựng trong các mối quan hệ gia đình

Và chính việc mất đi quyền tự quyết ấy cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những cô gái phải chịu cảnh làm lẽ đáng thương Khi còn là con gái ở trong gia đình cùng

bố mẹ họ phải luôn sẵn sàng nghe theo lời dạy bảo của cha mẹ Vì công ơn sinh thành của

me cha, vì phận làm con phải biết đền đáp cho hết công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha

mẹ Cho nên lúc nào người phụ nữ cũng cố gắng giữ đạo làm con, luôn luôn kính yêu và vâng lời cha mẹ:

“Mẹ cha là biển là trờiNói sao hay vậy, đâu dám cãi lời mẹ cha.”

Họ phải luôn giữ trọn đạo lí của phận làm con cho nên khi bố mẹ đã nhận trầu cau của người ta thì số phận của cô gái coi như đã được định đoạt Họ không có quyền quyết định hôn nhân của mình, mọi thứ đều do cha mẹ sắp đặt “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”

Và rồi từ đó, người con gái có cảm giác hôn nhân là sự may rủi, là định mệnh trong đời mình Nếu gặp may mắn thì họ cũng có được những người chồng tốt, có một cuộc vui vẻ hạnh phúc, còn không may họ gặp phải cảnh làm lẽ thì cũng đành cam chịu

Trang 13

“Tham giàu thầy mẹ gả ép

Tưởng đâu mụ chính, hóa ra mụ hầu”

Khi đã trót mang phận làm lẽ, họ cũng tự ý thức được thân phận của mình, họ chẳng

có thể làm gì ngoài chấp nhận và cam chịu Từ lâu, luật lệ tam tòng đã triệt tiêu ý thức phản kháng trong cảm thức của họ Và mặc dù họ có muốn phản kháng, muốn giải thoát cho bản thân đi nữa thì người phụ nữ cũng không có quyền để thực hiện vì dưới xã hội cũ

ở bất kì hoàn cảnh nào người đàn bà đều không có quyền ly hôn Vì vậy họ đành chấp nhận cảnh chồng chung và dần đốt cháy tuổi thanh xuân của mình trong cuộc hôn nhân

“chồng chung vợ lẽ, mỗi người một nơi”

“Thân em làm lẽ chẳng nề

Có như chính thất mà lê giữa giường

Tối tới chị giữ mất buồngChị cho manh chiếu nằm suông chuồng bò

Mong chồng, chồng chẳng xuống choĐến khi chồng xuống, gà đã o o gáy dồn

Chém cha con gà kia, sao mày vội gáy dồnMày làm tao mất vía kinh hồn về nỗi chồng con.”

Lời ca dao cho thấy rõ sự bất công trong chế độ đa thê và cũng cho ta thấy được thái

độ cam chịu, an phận của người vợ lẽ Là thân lẽ mọn, họ không có quyền lợi như người

vợ cả, họ chịu thiệt thòi về mọi mặt Không có được cái quyền ngủ buồng nằm giường đã đành, họ lại còn không có cả tình thương yêu của người chồng, cũng như bao người phụ

nữ khác họ cũng khát khao tình yêu và sự chăm sóc của chồng Nhưng trái ngược với khao khát của họ những thứ họ, nhận được thật hời hợt để rồi đến lúc họ bừng tỉnh và bàng hoàng trước sự éo le về cảnh chồng con của mình Với người vợ lẽ, những quyền lợi của người vợ thì họ hoàn toàn không được hưởng mà trái lại họ phải làm lụng rất vất vả

và dường như họ chẳng hơn người làm, kẻ ở là mấy Chẳng những phải lao động vất vả, khổ cực mà họ còn chịu sự chèn ép của người vợ cả

-“ Lấy chồng làm lẽ khổ thay

Đi cấy đi cày chị chẳng kể công

Trang 14

Đến tối chị giữ mất chồngChi cho manh chiếu nằm không nhà ngoài

Đến sáng chi gọi: bớ hai!

Trở dậy nấu cám, thái khoai, băm bèo

Vì chưng bác mẹ tôi ngèoCho nên tôi phải băm bèo, thái khoai”

- “Một tay đun bảy bếp rơm

Một tay nạo mướp chị nhường chồng cho”.

Cảnh người làm lẽ phải chịu sự chèn ép, phải làm việc quần quật từ sáng cho đến tối diễn ra phổ biến đến mức người ta xem đó như là một điều hiển nhiên

“Mấy đời cơm nguội có hơi

Ai về làm bé thảnh thơi bao giờ”

Đã mang phần làm bé thì chẳng mấy ai được đầm ấm, hạnh phúc như những người

vợ bình thường và họ cũng chẳng có được cái quyền tự do hàng ngày mà được thảnh thơi bao giờ Với cảnh lẽ mọn đắng cay như thế, phần lớn những người trong số họ vẫn chỉ biết chấp nhận và cam chịu sự thiệt thòi, nhưng vẫn có một số ít những người vợ lẽ chọn cánh đứng dậy đấu tranh để giành lấy hạnh phúc, giành lấy sự thương yêu của người chồng Họ quyết định đấu tranh vì không có hạnh phúc, mất đi hạnh phúc liệu có đau hơn phải xé lẻ hạnh phúc, nhất là trong hôn nhân, nơi mà mỗi con người đều mong muốn được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, tuyệt đối?

“Măng non nấu với gà đồngChơi nhau một trận xem chồng về aiChồng về chị cả hay về chị haiChơi cho trận nữa về ai thì về”

Cùng là phận làm vợ nhưng người làm lẽ lại chịu quá nhiều thiệt thòi, bị dồn ép quá nhiều “già néo đứt dây” nên một số nhỏ trong họ đủ manh mẽ và can đảm họ cũng muốn đứng lên “chơi” một trân cho ra trò để mà giành lấy quyền lợi và hạnh phúc của mình

2.1.2 Thân phận đáng thương và đáng trách

Trang 15

Trong xã hội phong kiến, dưới cái bóng của chế độ nam quyền, người phụ nữ luôn bị coi thường Đàn bà, con gái chỉ đảm nhận vai trò của một người mẹ, người vợ, suốt ngày quẩn quanh nơi xó bếp, đồng ruộng với công việc nội trợ, đồng áng Thân phận người vợ

lẽ cũng thế, họ chẳng thể nào vượt ra khỏi những luân lí và quy củ của xã hội Trong xã hôi ấy, không chỉ riêng người vợ lẽ mà toàn bộ người phụ nữ đều sống phụ thuộc vào người đàn ông, cả cuộc đời của họ sống theo cái đạo tam tòng và mất hoàn toàn quyền tự quyết về cuộc đời mình Cuộc đời bị đẩy đưa một cách vô định ngoài tầm với của họ Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau không làm chủ được số phận của mình ? Cuộc đời của họ là những chuỗi ngày bất an, vô định, nhiều đắng cay Chẳng thể làm gì hơn họ gửi gắm nỗi lòng của mình vào các câu ca dao than khóc cho phận lẽ mọn của mình

“Thân em làm lẽ vô duyên

Mỗi ngày một trận đòn ghen tơi bời

Ai ơi ở vậy cho rồiCòn hơn làm lẽ, chồng người khổ ta”

Hay: “Chịu oan một tiếng có chồng,

Vắng vẻ loan phòng, có cũng như không”.

Nếu như những nỗi đau thân phận người phụ nữ chúng ta có thể dễ dàng nhân ra và

dễ được cảm thông chia sẽ thì nỗi đau về thân phận làm lẽ có lẽ chỉ họ mới thấu hết! Qua lời ca dao, ta mới nhận ra rằng cái “kiếp chồng chung”, “chồng người” lại đắng cay và khổ đau hơn bội phần số phận những người phụ nữ khác Thân phận đáng thương của người vợ lẽ do nhiều thứ gây nên nhưng nổi bật nhất trực tiếp nhất vẫn là do người chồng

và người vợ cả gây ra Người vợ lẽ trong gia đình không có quyền lợi gì, họ chỉ được xem như phận người ở làm trăm công nghìn việc

“Lấy chồng làm lẽ khổ thay

Đi cấy đi cày chị chẳng kể côngTối tối chị giữ mất chồngChi cho manh chiếu nằm không nhà ngoài

Đến sáng chi gọi: bớ hai!

Trở dậy nấu cám, thái khoai, băm bèo

Trang 16

Vì chưng bác mẹ tôi ngèoCho nên tôi phải băm bèo, thái khoai”.

Sư bất hạnh của phận người vợ lẽ lên đến tột cùng khi trong chính gia đình của mình

họ lại bị xem thường và khinh rẻ một cánh quá đáng

“Vợ lẽ như giẻ chùi chânChùi rồi lại vứt ra sânGọi ông hàng xóm đem chân đến chùi”

Những người như họ dù là phận “mụ hầu” đi chăng nữa thì ít ra họ cũng phải được tôn trọng vì những đống góp, nhưng ở đây ta thấy họ bị chà đạp một cách nhẫn tâm Hình ảnh “giẻ chùi chân”, một vật dụng hạ đẳng cho thấy thân phận những người làm bé bị ruồng bỏ, khinh bỉ đến mức rẻ mạt Bên cạnh những bài ca dao bày tỏ sự đồng cảm chia

sẻ với người phụ nữ, kho tàng ca dao người Việt cũng có một bộ phận không ít những câu

ca dao chỉ ra những mặt tiêu cực đáng trách của người vợ lẽ Dân gian xưa khi thể hiện nỗi đau của những thân gái phải chịu kiếp “chồng chung”, bên cạnh đề cập đến nỗi đau của người vợ lẽ, họ còn đề cập đến nỗi đau của người vợ cả Đồng cảm với nỗi đau của người vợ cả, nhân dân chỉ trích người làm lẽ vì họ là người đến sau, là kẻ phá vỡ hạnh phúc của người khác Xét cho cùng thì dù cho thế nào, việc là kẻ thứ ba xen vào hay nói nặng hơn là kẻ cướp chồng người khác thì cũng là một điều đáng trách

“Thấy anh tôi cũng yêu đời,Biết rằng vợ cả có rời anh không?”

Cho dù ở thời đại nào, xã hội nào thì việc chen vào hạnh phúc của người khác thì cũng đều phải chịu sự trách móc và phê phán của mọi người Và không ai khác chính những người vợ cả và con chồng là những người chỉ trích họ nhiều nhất

“Gió đưa bụi chuối sau hè

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơCon thơ tay ẵm tay bồngTay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông.”

Hay: “Gió đưa bụi trúc ngã thùy

Thương cha con phải lụy dì, dì ơi!”

Ngày đăng: 08/12/2016, 21:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w