Nước là tài nguyên quý báu và hết sức thiết yếu đối với sự sống trên trái đất. Thực tiễn chỉ ra rằng quốc gia nào quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường trong đó có việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước thường xuyên đảm bảo cho nguồn nước trong sạch thì hạn chế được nhiều dịch bệnh, chất lượng cuộc sống được nâng lên. Bởi vậy ở nước ta, một mặt khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất, xây dựng nhưng mặt khác cần coi trọng việc đảm bảo nguồn nước sinh hoạt sạch. Nhà nước có chiến lược phát triển bền vững nguồn nước, nhưng tổ chức, cá nhân trong cộng đồng, cần nâng cao ý thức sử dụng hợp lý và bảo vệ, giữ gìn sự trong sạch của nguồn nước sinh hoạt, hạn chế tình trạng nguồn nước bị nhiễm bẩn không đáng có. Đối với người dân vùng lũ lụt, sau khi nước rút môi trường sống nhất là nguồn nước bị ô nhiễm nặng. Đi liền vói công tác vệ sinh, dọn sạch bùn đất, ngành y tế cung cấp đầy đủ cloramin B cho các hộ gia đình diệt khuẩn, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt. Điều đó cũng có nghĩa góp phần loại trừ các dịch bệnh nguy hiểm, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cộng đồng.
Trang 1MỤC LỤC
I ĐẶC VẤN ĐỀ
II TỔNG QUANG TÀI LIỆU
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
IV KẾT QỦA - BÀN LUẬN
V KẾT LUẬN
VI KIẾN NGHỊ
VII TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước là tài nguyên quý báu và hết sức thiết yếu đối với sự sống trên trái đất Thực tiễn chỉ ra rằng quốc gia nào quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường trong
đó có việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước thường xuyên đảm bảo cho nguồn nước trong sạch thì hạn chế được nhiều dịch bệnh, chất lượng cuộc sống được nâng lên Bởi vậy ở nước ta, một mặt khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất, xây dựng nhưng mặt khác cần coi trọng việc đảm bảo nguồn nước sinh hoạt sạch Nhà nước
có chiến lược phát triển bền vững nguồn nước, nhưng tổ chức, cá nhân trong cộng đồng, cần nâng cao ý thức sử dụng hợp lý và bảo vệ, giữ gìn sự trong sạch của nguồn nước sinh hoạt, hạn chế tình trạng nguồn nước bị nhiễm bẩn không đáng có Đối với người dân vùng lũ lụt, sau khi nước rút môi trường sống nhất là nguồn nước bị ô nhiễm nặng Đi liền vói công tác vệ sinh, dọn sạch bùn đất, ngành y tế cung cấp đầy đủ cloramin B cho các hộ gia đình diệt khuẩn, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt Điều đó cũng có nghĩa góp phần loại trừ các dịch bệnh nguy hiểm, bảo
vệ và nâng cao sức khoẻ cộng đồng
Tuy nhiên, hiện nay nguồn nước ngày càng có nguy cơ thiếu trầm trọng do nguồn nước sinh hoạt trên hành tinh bị ô nhiễm Ô nhiễm nước do ngẫu nhiên cũng
có thể do sử dụng các loại phân và hoá chất trong canh tác, hoặc do hậu quả tăng dân số quá mức dẫn đến lượng nước thải sinh hoạt tăng
Để đánh giá tình hình ô nhiễm nước và các bệnh liên quan đến các hộ người dân vùng nông thôn, đặc biệt tại Thôn 3 – Phường Thuỷ Phương – Thị Xã Hương Thuỷ - Tỉnh Thừa Thiên Huế, nhằm góp phần vào công tác quản lý, chăm sóc giáo dục người dân phòng bệnh, tác động vào người dân ở địa phương nhằm làm thay đổi hành vi sinh hoạt không có lợi cho sức khoẻ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt và các bệnh lý liên quan đến ô nhiễm nước tại các hộ gia đình Phường Thuỷ Phương – Thị Xã Hương Thuỷ - Tỉnh Thừa Thiên Huế ” với hai mục tiêu sau:
Trang 31. Tìm hiểu nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình.
2 Tìm hiểu về tình hình mắc các bệnh liên quan đến ô nhiễm nước tại các
hộ gia đình năm 2011 – 2012
Trang 4II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Khái niệm về ô nhiễm nước.
Vấn đề ô nhiễm nước là một trong những thực trạng đáng ngại nhất của sự hủy hoại môi trường tự tự nhiên do nền văn minh đương thời Môi trường nước rất dễ bị
ô nhiễm, các ô nhiễm từ đất, không khí đều có thể làm ô nhiễm nước, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người và các sinh vật khác
Do sự đồng nhất của môi trường nước, các chất gây ô nhiễm gây tác động lên toàn bộ sinh vật ở dưới dòng, đôi khi cả đến vùng ven bờ và vùng khơi của biển
2 Nguyên nhân ô nhiễm nước:
Sự ô nhiễm các nguồn nước có thể xảy ra do ô nhiễm tự nhiên và ô nhiễm nhân tạo
Ô nhiễm tự nhiên là do quá trình phát triển và chết đi của các loài thực vật, động vật có trong nguồn nước, hoặc là do nước mưa rửa trôi các chất gây ô nhiễm từ trên mặt đất chảy vào nguồn nước
Ô nhiễm nhân tạo chủ yếu là do xả nước thải sinh hoạt và công nghiệp vào nguồn nước
3 Dấu hiệu đặc trưng của nguồn nước bị ô nhiễm:
- Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáy nguồn
- Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ…)
- Thay đổi thành phần hoá học (pH, hàm lượng của các chất hữu cơ và vô cơ, xuất hiện các chất độc hại…)
- Lượng oxy hoà tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hoá để oxy hoá các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào
- Các vi sinh vật thay đổi về loài và về số lượng Có xuất hiện các vi trùng gây bệnh
Trang 5Nguồn nước bị ô nhiễm có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thuỷ sinh vật và việc sử dụng nguồn nước vào mục đích cấp nước hoặc mỹ quan của thành phố
4 Tình trạng ô nhiễm nước
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các
đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ra ở nhiều nơi với các mức độ nghiêm trọng khác nhau Riêng tại xã Thủy Phương Nghề thủ công và nông nghiệp là hai ngành sử dụng nhiều nước, dùng để tưới lúa và hoa màu Việc
sử dụng nông dược và phân bón hoá học càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nông thôn
- Công nghiệp là ngành chưa phát triển tại xã nên chưa góp phần làm ô nhiễm nước
- Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do tăng dân số và các đô thị Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của xã Thủy Phương
5 Các loại ô nhiễm nước
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước Hoặc dựa vào nguồn gốc gây ô nhiễm, như ô nhiễm do công nghệp, nông nghiệp hay sinh hoạt
Sự ô nhiễm do các chất thải vào nước các chất khác dùng trong nông nghiệp và các chất thải từ các ngành công nghiệp Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lửng, tức làm tăng độ đục của nước Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn Nhiều chất thải công nghiệp
có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước
về mặt y tế cũng như thẩm mỹ
6 Biện pháp khắc phục
Ngoài các biện pháp khoa học để xử lý nước thải trước khi được thải ra như: phương pháp lý học (dùng để lắng cát), phương pháp sinh học (dùng vi sinh, các ao
hồ lọc chất thải), phương pháp hóa học (trung hòa nước thải, khử trùng…), phương
Trang 6pháp quá trình tự nhiên (cánh đồng lọc, dùng thủy sinh vật…) thì việc quan trọng nhất là giáo dục ý thức giữ gìn nguồn nước sạch cho mọi người dân như: không xả nước và rác thải sinh hoạt xuống kênh rạch ao hồ, không phóng uế bừa bãi, xây cầu tiêu ngay trên ao nuôi cá, lắp đặt ống nước ngay trong hố ga, trong ống cống Ban hành những quy định chặt chẽ, nghiêm khắc về xử lý chất thải và thực hiện những chương trình hành động thiết thực nhằm phục hồi môi trường đang bị xâm hại nghiêm trọng, tăng cường tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người dân nhất là những người dân sống ở ven và trên kênh rạch Mỗi con người cần ít nhất 1 – 1,5 lít nước trong 1 ngày để uống và khoảng 2 lít nước để nấu ăn,
100 – 150 ml nước cho sinh hoạt (vệ sinh, tắm giặt) Do đó mọi người phải nhận thức được vai trò quan trọng của nước uống và phải biết lo ngại, quan tâm đến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước từ nước thải chứa hóa chất độc hại gây biến dị sinh lý lâu dài theo hệ di truyền, những vi khuẩn gây bệnh như thương hàn, dịch tả v.v… đang có khuynh hướng gia tăng trong nước để có ý thức giữ gìn và bảo vệ nguồn nước, một tài nguyên không phải là vô hạn của trái đất
Trang 7III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu: 60 hộ gia đình độc lập.
2 Địa điểm: Thôn 3 Phường Thủy Phương – Thị Xã Hương Thủy – Tỉnh
Thừa Thiên Huế
3 Thời gian nghiên cứu: Từ 14/03/2012 đến 23/03/2012
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên mẫu
- Chọn ngẫu nhiên 60 hộ gia đình
- Phỏng vấn đối tượng qua bộ câu hỏi thiết kế sẵn
5 Chỉ tiêu nghiên cứu:
- Tình hình sử dụng nước tại các hộ gia đình:
+ Nguồn nước đang sử dụng
+ Số lượng nước sử dụng
+ Nhận thức về nguồn nước hợp vệ sinh
- Kiến thức về các bệnh có liên quan đến nguồn nước không hợp vệ sinh:
+ Liên quan giữa ô nhiễm nước và sức khỏe
+ Các bệnh gây ra do sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh + Đường gây truyền của bệnh tiêu chảy và các bệnh về mắt
6 Phương pháp xử lý:
- Thống kê thông thường, trình bày trên máy tính
Trang 8IV KẾT QUẢ - BÀN LUẬN
1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Trình độ văn hóa (n = 60)
Nghề nghiệp (n=60)
>Cấp
III
Cấp III
Cấp II
Cấp I
Mù chữ
Cán
bộ
Thủ công
Làm ruộng Khác
Số
Tỷ lệ % 11,6 36,7 30 21,7 0 30 11,7 23,3 11,6
Nhận xét:
Về trình độ văn hóa: Nhìn chung trình độ văn hóa của người dân ở Thôn 3 đạt mức trung bình Số người học từ cấp II trở lên chiếm đa số (78,3%) Do vậy ý thức của người dân ở đây rất cao Bên cạnh đó do được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã đưa nước sạch đến tận người dân Chính vì vậy mà vấn đề ô nhiễm nước ở đây đã được giảm nhiều nên đẩy lùi được bệnh tật
Về nghề nghiệp: Nhóm cán bộ công nhân viên chứcchiếm tỷ lệ tương đối so với nhóm dân làm nghề thủ công và làm ruộng Hiện nay, nhóm thủ công và làm ruộng được trang bị phương tiện, kỹ thuật hiện đại nên thu nhập của họ tương đối
ổn định, khả năng để chi trả sử dụng nước sạch không còn là vấn đề mà người dân
lo lắng Do đó hầu hết người dân ở đây đều sử dụng nước sạch
2 Tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại các hộ gia đình:
Trang 9Bảng 2: Nguồn nước đang sử dụng tại các hộ gia đình
Nước máy Nước mưa Nước giếng Nước sông hồ Khác
55 91.6 0 0 05 6.6 01 1.6 01 1,7
Nhận xét:
Như vậy đa số người dân sử dụng nước máy để ăn uống và sinh hoạt Tuy nhiên một số ít gia đình sử dụng thêm nguồn nước giếng và nước sông để dùng cho chăn nuôi và tưới cây quanh vườn Do trình độ văn hóa và thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao nên số hộ gia đình sử dụng nước máy cũng được tăng lên (91,6%) So với năm 2010 của nhóm YTCC đã điều tra là (80%), đây là con số đáng mừng đối với người dân Phường Thủy Phương Chính vì người dân sử dụng nguồn nước sạch để sinh hoạt nên đã làm giảm đáng kể các bệnh có liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm, như tiêu chảy, bệnh ngoài da, các bệnh về mắt … (thống
kê các tỷ lệ mắt bệnh trên địa bàn của trạm y tế)
Bảng 3: Lượng nước sinh hoạt sử dụng/ người/ ngày.
Trang 10100 lít 40 lít 20 lít < 20 lít
02 3,3 26 43,3 25 41,7 07 11.7
Nhận xét:
Theo quan sát của chúng tôi tỷ lệ người dân sử dụng lượng nước 100 lít/ ngày/ người đạt 3,3% do tình trạng phát triển dân số cao, vì vậy làm thu hẹp diện tích nhà ở, lượng ao hồ giảm rõ rệt, cùng với việc phải trả một phần kinh phí sử dụng nước máy Việc tích trữ nguồn nước được người dân chú ý, có đến 95% các
hộ gia đình được hỏi đều trả lời có dụng cụ chứa nước Mặt khác, việc sử dụng nước máy để sinh hoạt tại nông thôn gây tốn kém cho những người có thu nhập thấp, dẫn đến người dân tiết kiệm nước để sinh hoạt Chính vì vậy có 11,7% các hộ gia đình chỉ sử dụng lượng nước hạn chế < 20 lít/ ngày/ người Điều này không phù hợp với tiêu chuẩn quy định ở Việt Nam về số lượng nước cần thiết cho một người/
24 giờ theo từng vùng (cụ thể: Thành phố: 100lít/ người/ 24 giờ; Thị trấn: 40lít/ người/ 24 giờ; nông thôn 20lít/ người/ 24 giờ) (Trần Giữu – Vệ sinh môi trường nước)
Bảng 4: Nhận thức về nguồn nước hợp vệ sinh
Trang 11Nước máy Nước mưa Nước giếng Nước sông hồ Khác
Nhận xét:
Việc đánh giá nước máy và nguồn nước hợp vệ sinh nhất được đông đảo người dân đồng tình chiếm 83,3% Tuy nhiên vẫn còn một số ý kiến cho rằng nước mưa là nước hợp vệ sinh chiếm 3,3% và không có người nào được hỏi không đồng
ý với các loại nước mà chúng tôi đưa ra Lý do mà những người này đưa ra là thỉnh thoảng họ thấy nước máy vẫn có màu vàng và nặng mùi clo khi sử dụng
3 Nhận thức của người dân về các bệnh tiêu chảy và các bệnh về mặt:
Bảng 5: Nhận thức về tác hại của các bệnh có liên quan đến sử dụng nước.
Có biết tác hại Không biết tác hại Không rõ
Nhận xét:
Qua bảng trên ta thấy người dân biết tác hại về việc sử dụng nước không hợp
vệ sinh chiếm tỷ lệ cao 93,4% Tuy nhiên số người không biết tác hại của việc sử dụng nước không hợp vệ sinh và không trả lời là 13,4% điều này có thể giải thích
là do tỷ lệ người học cấp III trở lên của Thủy Phương thấp Việc người dân ở đây chưa biết hết tác hại của việc sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh có liên quan đến trình độ văn hóa và nhận thức của cả cộng đồng
Trang 12Bảng 6: Các bệnh gây ra do sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh
Tiêu chảy Bệnh về mắt Giun sán Ngoài da Không rõ
24 40 20 33,3 04 6,7 09 15 03 05
Nhận xét:
Mặt dù tỷ lệ người biết về sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh sẽ gây ra những bệnh nguy hiểm chiếm tỷ lệ cao (tiêu chảy 40%; mắt hột 33,3%; ngoài da 15,5%,…) nhưng tỷ lệ người dân ở Thôn sử dụng nước máy chiếm 33,3% Việc người dân biết được sự nguy hại khi sử dụng nước không hợp vệ sinh tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền về các biện pháp sử lý nước và dung nước hợp
vệ sinh Đặt biệt nhìn vào bản thống kê cho thấy có đối tượng được phỏng vấn đã biết được việc sử dụng không hợp vệ sinh có thể gây từ hai bệnh trở lên Nhưng cũng có 3 đối tượng không rõ về sự hguy hại của các bệnh mắc phải khi sử dụng nước không hợp vệ sinh, có thể đây là do nguyên nhân của tình trạng ít tìm hiểu qua các phương tiện thong tin đại chúng Điều này đòi hỏi cần phải có sự quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền địa phương, các cán bộ y tế cơ sở, các phương tiện thong tin đại chúng tăng cường tuyên truyền để người dân sử dụng nguồn nước sinh hoạt đúng theo tiêu chuẩn về chất lượng và số lượng
Bảng 7: Nhận thức về đường lây của bệnh tiêu chảy
SD nước ô TA không hợp Không rửa tay Không rõ
Trang 13nhiễm VS
26 43,3 14 23,4 16 16,6 04 6,7
Nhận xét:
Nguyên nhân gây ra bệnh tiêu chảy rất nhiều, có thể do mắc các loại vi khuẩn truyền qua nước hoặc do thực phẩm chế biến bằng nước bị ô nhiễm trong đó những loại vi sinh vật có thể gây nên tiêu chảy là: tả, lỵ, trực khuẩn, thương hàn, ỉa chảy ở trẻ em,… (Đào Ngọc Phong – Ô nhiễm nguồn nước) Tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi không đi sâu vào tìm nguyên nhân mà chỉ nghiên cứu về
tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở địa phương trong vòng một năm qua có liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng bởi môi trường nước bị ô nhiễm
Theo thống kê có tới 24 gia đình trong năm vừa qua có người bị mắc bệnh tiêu chảy chiếm 40% trong số 60 hộ gia đình, đây là một tỷ lệ tương đối lớn đối với cộng đồng trong thời gian tương đối ngắn Khi được hỏi bệnh tiêu chảy có lây lan không, có 38 hộ gia đình nói có lây chiếm tỷ lệ 63,3%; 6 hộ gia đình nói không lây chiếm tỷ lệ 10%; còn lại là không rõ Nhìn vào bảng trên, ta thấy việc người dân nhận thức về đường lây của bệnh tiêu chảy tương đối đầy đủ với 93,3%, trong đó việc người dân cho rằng việc sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm tiêu chảy chiếm đa số chiếm 43,3%
Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để công tác tuyên truyền vận động người dân giữ nếp sống, sinh hoạt vệ sinh, tăng cường phòng các bệnh gây ra không chỉ đối với bệnh lây truyền theo nguồn nước mà còn tất cả các bệnh với các con đường lây khác nhau
Bảng 8: Nhận thức về đường lây của các bệnh về mắt (mắt đỏ, mắt hột).
Trang 14Sử dụng
nước bị ô
nhiễm
Dùng chung chậu rửa mặt
Dùng chung khăn lau mặt
Không uống thuốc bổ Không rõ
Nhận xét:
Tuy có khả quan hơn nhận thức so với việc mắc bệnh tiêu chảy do không có đối tượng nào không rõ về đường lây của bệnh về mắt, chỉ có 6,7% số đối tượng vẫn nhận thức sai lầm về đường lây của các bệnh về mắt Tuy chưa có nghiên cứu nào chính thức khẳng định việc dùng chung chậu rửa mặt không có khả năng lây lan các bệnh về mắt Nhưng theo suy luận của chúng tôi, việc dung chung chậu rửa mặt (đặc biệt là ở vùng nông thôn) khi không được rửa kỹ trước mỗi lần dùng có thể được đưa vào một trong những nguyên nhân gây nên các bệnh về mắt Nhìn chung việc có đến 93,3% số đối tượng được phỏng vấn trả lời đúng đường lây của các bệnh về mắt là yếu tố rất tốt để chúng ta tác động về việc phòng chống lây lan trong những đợt có dịch bệnh xảy ra
V KẾT LUẬN
Trong thời gian nghiên cứu ngắn, số đối tượng được phỏng vấn không nhiều, nhưng chúng tôi đã quan sát và điều tra được về cơ bản tình hình sử dụng nước sạch ở Thôn 3 phường Thủy Phương – Thị xã Hương Thủy – Tỉnh Thừa Thiên Huế Trong số 60 đối tượng từ cấp II trở lên chiếm 78,3%, số đối tượng được