Trong các phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp dạy học hợp tác là một phương pháp dạy học mới và hiện đại, phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động cho học sinh mà hiện nay đa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC GIÁO DỤC
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HOÀNG LÊ MINH
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS
TS Hoàng Lê Minh – Người đã tận tình, chu đáo, động viên và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các cán bộ phòng đào tạo sau đại học, các thầy, cô khoa Toán – Lí – Tin trường Đại Học Tây Bắc đã giúp đỡ và trang bị cho em những kiến thức quan trọng, quý báu trong suốt quá trình học tập của mình
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến ban giám hiệu và các thầy, cô giáo trường THPT Mường Giôn đã nhiệt tình, giúp đỡ để em học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng , em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình em học tập và thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Lò Mạnh Khương
Trang 5Trong mỗi giai đoạn của lịch sử tình hình kinh tế, chính trị,văn hóa – xã hội luôn có sự biến chuyển Do đó nền giáo dục cũng phải luôn tự đổi mới để phù hợp với tình hình chung của đất nước Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đất nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp và hội nhập cộng đồng quốc tế Mà nhân tố quyết định thẳng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nguồn nhân lực phát triển cả về số lượng và chất lượng, việc này cần được bắt đầu từ phổ thông Đó là một hệ thống phẩm chất và năng lực được hình thành trên một nền tảng kiến thức và kĩ năng đầy đủ, chắc chắn Trên tinh thần đó Đảng và nhà nước ta rất quan tâm và chú trọng đến việc đổi mới giáo dục Điều đó được thể hiện như sau:
- Theo quyết định số 16/2006/QĐ –BGDĐT ngày 05/05/2006 của bộ giáo dục và đào tạo đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm, đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS”
- Theo nghị quyết hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
Trang 62
khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức,
kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”; “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kì, cuối năm; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội”
Như vậy: Đồng thời với việc đổi mới phương pháp dạy học là phải đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá Bởi kiểm tra đánh giá có vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục, điều đó được nêu trong giáo trình “Kiểm tra đánh giá trong giáo dục” – PGS.TS Nguyên Công Khanh (chủ biên) như sau:
- Kiểm tra, đánh giá là một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học Bởi vì đối với giáo viên khi tiến hành quá trình dạy học, họ phải xác định rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp cũng như kĩ thuật tổ chức quá trình dạy học sao cho phù hợp với đối tượng người học và đạt chất lượng hiệu quả cao theo mục tiêu đã đề ra Muốn biết quá trình dạy - học có chất lượng hiệu quả hay không, Người giáo viên phải thu thập thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá và qua đó điều chỉnh phương pháp dạy, kĩ thuật dạy của mình cũng như giúp học sinh điều chỉnh các phương pháp học
- Kiểm tra đánh giá là công cụ hành nghề của giáo viên
Giáo viên là người trực tiếp tác động tạo ra những thay đổi ở người học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục Muốn xác định người học - sản phẩm của quá trình giáo dục đáp ứng như thế nào so với mục tiêu giáo dục đã đề ra thì người giáo viên phải tiến hành kiểm tra đánh giá Kết quả kiểm tra đánh giá
Trang 73
trên cơ sở tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin do sử dụng đa dạng các loại hình kiểm tra đánh giá là vô cùng quan trọng để đi đến những nhận định, những quyết định đánh giá khách quan, điều chỉnh kịp thời nội dung, phương pháp giáo dục
- Kiểm tra đánh giá là một bộ phận quan trọng của quản lí giáo dục, quản lí chất lượng dạy và học Kiểm tra đánh giá luôn được xem là phương thức quan trọng để giám sát, quản lí con người trong một lớp học, trong tổ chức vận hành nhà trường
Trong các phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp dạy học hợp tác là một phương pháp dạy học mới và hiện đại, phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động cho học sinh mà hiện nay đang được rất nhiều giáo viên vận dụng trong quá trình giảng dạy Muốn đạt hiệu quả cao khi vận dụng phương pháp dạy học hợp tác thì người giáo viên phải biết cách tổ chức các hoạt động đánh giá sao cho phù hợp với từng nội dung giảng dạy của từng chương, từng bài và từng tiết học
Tuy nhiên, việc tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác còn
là một vấn đề mới, khiến nhiều giáo viên lúng túng khi tiến hành tổ chức các giờ dạy học trên lớp, từ đó dẫn đến kết quả của hoạt động dạy và học chưa cao Với mong muốn cải thiện tình hình đó và xây dựng một tài liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh trung học phổ thông về tổ chức hoạt động đánh
giá trong dạy học hợp tác Đề tài được chọn nghiên cứu là “Tổ chức hoạt
độngđánh giá trong dạy học hợp tác nội dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng - hình học lớp 10 trung học phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác nội dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 trung học phổ thông
Trang 84
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác chương trình hình học lớp 10
Phạm vi nghiên cứu: Tổ chức hoạt động giá trong dạy học hợp tác nội dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 trung học phổ thông
4 Mẫu khảo sát
Trường trung học phổ thông Mường Giôn - Quỳnh Nhai, Sơn La
5 Câu hỏi nghiên cứu
Cần tổ chức hoạt động đánh giá như thế nào khi dạy học hợp tác nội dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 trung học phổ thông để đem lại hiệu quả và nâng cao chất lượng dạy học?
6 Giả thuyết khoa học
Nếu biết cách tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác nội dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 trung học phổ thông sẽ nâng cao hiệu quả dạy học, đạt được các mục tiêu dạy đã đề
ra, qua đó vừa rèn luyện kĩ năng hợp tác, vừa bồi dưỡng năng lực xã hội cho học sinh
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận về phương pháp dạy học hợp tác
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức hoạt động đánh giá trong giáo dục toán
Tìm hiểu nhu cầu và hiểu biết của giáo viên và học sinh về tổ chức hoạt động đánh giá trong giáo dục toán
Tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác nội dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 trung học phổ thông
Tiến hành thực nghiệm sư phạm
Trang 95
8 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học hợp tác, các tài liệu về tổ chức hoạt động đánh giá trong giáo dục và trong giáo dục toán, chương trình hình học lớp 10 trung học phổ thông
Phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn: Tiến hành dự giờ, trảo đổi và tham khảo ý kiến của các thầy, cô có kinh nghiệm trong giảng dạy môn toán
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức hoạt động đánh giá nội dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 ở một số trường trung học phổ thông để kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghi, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn sẽ được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Tổ chức hoạt động đánh giá khi dạy học hợp tác nội phương trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 106
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Đánh giá trong giáo dục toán
1.1.1 Tổng quan về đánh giá
1.1.1.1 Khái niệm, mục tiêu và vai trò của đánh giá
Khái niệm Đánh giá : Đánh giá là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện
trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ
sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo nhằm phát huy kết quả, sửa chữa thiếu sót
Trong dạy học toán, Đánh giá là quá trình thu thập các chứng cứ về kiến thức của một HS về:
Khả năng sử dụng toán học và khuynh hướng toán học
Việc đưa ra các kết luận từ chứng cứ đó cho nhiều mục đích khác nhau
Đánh giá có thể thực hiện ở mức độ định tính hoặc định lượng Khái niệm
“Đánh giá” rộng lớn hơn “Đo lường”, hai HS có thể nhận được cùng một kết quả đo lường (như điểm số bài kiểm tra) nhưng có thể được đánh giá khác nhau [3, tr.13-14]
Mục tiêu đánh giá
Trong việc dạy học, việc đánh giá HS nhằm các mục tiêu sau:
Đối với HS việc đánh giá kích thích hoạt động học tập, cung cấp cho họ những thông tin phản hồi về quá trình học tập của bản thân mình để tự họ điều chỉnh quá trình học tập, khuyến khích họ phát triển năng lực tự đánh giá
Về mặt tri thức và kĩ năng, việc đánh giá chỉ cho mỗi HS thấy mình lĩnh hội những điều vừa được học đến mức nào, còn những lỗ hổng nào cần phải
bổ khuyết
Việc đánh giá, nếu được khai thác tốt sẽ kích khích học tập không nhữngvề mặt lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng mà còn cả về mặt phát triển năng lực trí tuệ, tư duy sáng tạo và trí thông minh
Về mặt giáo dục việc kiểm tra đánh giá nếu được tổ chức nghiêm túc sẽ giúp HS nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý chí vươn lên đạt
Trang 117
những kết quả học tập cao hơn, củng cố lòng tự tin và khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan tự mãn và đặc biệt là phát triển năng lực tự đánh giá, một năng lực quan trọng đối với việc học tập không chỉ khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn cần thiết cho việc học tập suốt đời
Đối với GV việc đánh giá HS cung cấp những thông tin cần thiết giúp người thầy xác định đúng điểm xuất phát hoặc điểm kế tiếp của quá trình dạy học, phân nhóm HS, chỉ đạo cá biệt và kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học Trước hết là những thông tin sau đây:
- Trình dộ và kết quả học tập của lớp cũng như từng HS đối chiếu với những mục tiêu học tập về các phương diện nhận thức, kĩ năng và thái độ
- Những sai sót điển hình của HS và nguồn gốc của sai sót đó
- Những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân GV, hiệu quả của những phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học mà mình đang thực hiện
Đối với cán bộ quản lí giáo dục, việc đánh giá HS cung cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạy học trong một số cơ sở, đơn vị giáo dục để
có thể chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, khuyến khích những hỗ trợ sáng kiến Đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu giáo dục.[6, tr.303]
Vai trò của đánh giá trong giáo dục
Đánh giá và ra quyết định giúp nâng cao chất lượng học tập Đánh giá giúp quyết định việc dạy sẽ được tiến hành như thế nào, HS học cái gì và học như thế nào, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học như thế nào để đạt hiệu quả, nên kết hợp phương pháp dạy học gì trong một bài học cụ thể, HS thực hiện những khảo sát nào để hình thành tri thức toán [3, tr 16]
1.1.1.2 Phân loại đánh giá
Phân chia đánh giá theo mục đích đánh giá:
Đánh giá chẩn đoán
Trang 128
Đánh giá chẩn đoán (ĐGCĐ) được hiểu là tiền đánh giá nhằm cung cấp cho nhà đánh giá những nền tảng tri thức, kĩ năng và tư duy của HS trước khi bắt đầu một quá trình học tập Kết quả của đánh giá cũng cung cấp những thông tin cơ sở cho việc xác định trình độ của học sinh đang ở mức độ nào
sau một hoạt động hoặc một quá trình học tập hoàn tất
ĐGCĐ giúp đưa ra những phán xét kiểu như HS đáp ứng những tiêu chí đặt ra như thế nào để làm cơ sở tiến hành một quá trình giáo dục mới Tuy nhiên không có kết quả ĐGCĐ nào là hoàn toàn chính xác Giáo viên nên cân bằng một kết quả đã đánh giá của HS với những đánh giá riêng của giáo viên
về HS đó
ĐGCĐ được thực hiện trước và có thể trong suốt quá trình dạy học để xác định:
- Những kiến thức, kĩ năng, tư duy, thái độ, sở thích,…hiện có của HS
- Khoảng cách khác biệt giữa các HS
- Chỉnh sửa các kế hoạch dạy học để phù hợp với trình độ của HS
ĐGCĐ có thể nhận được từ:
- Đánh giá tổng kết của hoạt động hoặc một quá trình học tập trước đó
- Các đánh giá nhanh tập trung vào những tri thức và khái niệm cốt lõi phục vụ cho các hoạt động học tập sắp thực hiện
Trang 13ĐGĐH là Hình thức đánh giá nhằm cung cấp thông tin về những gì HS
đã học được, vạch ra hành động tiếp theo của một quá trình dạy học nào đó (Nội dung nào nên dạy, cách tiếp cận nào nên vận dụng) Việc sử dụng thông tin để theo dõi sự tiến bộ và hỗ trợ các bước tiếp theo trong kế hoạch dạy và học được gọi là quá trình đánh giá định hình
ĐGĐH là một phần của quá trình dạy học Khi được kết hợp chặt chẽ vào thực hành dạy học, nó cung cấp thông tin cần thiết để điều chỉnh việc dạy và việc học sao cho tiến tới hiệu quả hơn Theo ngữ cảnh, kết quả của ĐGĐH thông tin cho cả HS và GV về mức độ hiểu biết của các em ở thời điểm đánh giá Với mục đích chính của việc đánh giá là nâng cao chất lượng học tập thì ĐGĐH được hiểu là thực hành đánh giá quan trọng nhất
Nhiệm vụ của HS trong việc thực hiện ĐGĐH:
- HS phải hiểu rõ nhiệm vụ của mình trong đánh giá
- HS hiểu rõ cách các em được đánh giá
- HS hiểu được mục tiêu đánh giá và làm thế nào để đạt mục tiêu đó
- HS hiểu được kết quả đánh giá sẽ giúp mình học tốt hơn như thế nào
- HS biết được những thay đổi cần thực hiện để có thể đạt mục tiêu học tập
Trang 1410
Các kết quả của ĐGĐH nên được GV:
- Thông báo kịp thời cho HS
- Cung cấp cho HS những gì các em đã đạt được và những thay đổi để các em ho àn thành mục tiêu học tập
- Hạn chế bình luận về nó mà tập trung vào việc đưa ra những lời khuyên cụ thể, chẳng hạn làm thế nào để đạt mục tiêu học tập.[3, tr.30]
Đánh giá tổng kết (ĐGTK)
Cuối mỗi giai đoạn học tập thành quả của HS sẽ được đánh giá và tổng kết một cách có hệ thống ĐGTK không góp phần cải thiện kết quả học tập của chính giai đoạn dạy học này Mặc dù nó góp phần quan trọng để cung cấp chứng cứ để lập kế hoạch giảng dạy trong tương lai
Mối quan hệ giữa ĐGĐH và ĐGTK
ĐGĐH phải góp phần phát huy tác dụng mạnh mẽ của ĐGTK ĐGĐH thường dùng để cải thiện một quá trình giáo dục nhiều hơn là để định giá sản phẩm hoặc tổng kết một quá trình giáo dục
Nói cách khác, ĐGĐH là kiểu đánh giá góp phần vào cải thiện kết quả học tập hơn là chỉ tập trung vào thành tích cuối khóa học
Còn ĐGTK cung cấp các thông tin phản hồi về thành tích học tập và hiệu quả của hoạt động giảng dạy vào cuối mỗi chu trình dạy và học
Tuy vậy, ĐGĐH và ĐGTK không phải là hai hình thức đánh giá hoàn toàn tách rời, chúng đều phải đảm bảo các chức năng của mình có thể ngay trong một bài học, một phần học, một chương hoặc một khóa học.[3, tr.31]
Sử dụng đánh giá định hình và đánh giá tổng kết:
Với ĐGĐH, trước hết cần phải phân tích tài đã được cung cấp sau đó dựa vào sơ đồ cấu trúc hoạt động học tập mà thiết kế bộ kiểm tra đánh giá thành tích thường xuyên trong suốt quá trình triển khai thành tích khóa học
Trang 1511
Với ĐGTK, căn cứ vào hệ thống mục tiêu đã được thao tác hóa đến mức có thể đo lường được, cứ sau một giai đoạn học tập dự định, thiết kế bài kiểm tra đánh giá thành tích sau khi HS hoàn thành giai đoạn hay khóa học đó
Các công trình nghiên cứu đều khẳng định chung những vấn đề sau:
- Cần thiết tăng cường ĐGĐH trong hoạt động giảng dạy bởi chính nó
sẽ góp phần cải thiện đáng kể thành tích học tập của HS, chứ không đơn thuần chỉ là kết quả cuối cùng mà ĐGTK đem lại
- Hoạt động học tập sẽ có hiệu quả hơn rất nhiều khi HS, GV và những người có liên quan hiểu rõ những gì cần học được và đạt được HS càng nên biết các yêu cầu đó là gì và khi nào thì đạt được, điều này sẽ thúc đẩy các em thay đổi để tiến bộ
- Đánh giá HS của GV là một quá trình liên tục, nếu hành động đưa ra dựa trên kết quả đánh giá có hiệu quả thì thông tin cung cấp cho hành động đó
sẽ trở nên lỗi thời khi đứa trẻ có sự tiến bộ nhiều hơn sau đó
- Kết quả đối với các yêu cầu học tập được kết hợp lại thành kết quả phân môn, kết quả phân môn được tổng hợp thành kết quả môn học theo những nguyên tắc nhất định
- Cuối cùng, thông tin cơ bản với các chi tiết khác nhau được chuẩn bị cho những đối tượng sử dụng khác nhau như HS, phụ huynh, GV giảng dạy tiếp theo của trẻ,…[3, tr.35]
Phân chia theo căn cứ để so sánh thành tích
Đánh giá theo chuẩn
Đánh giá theo chuẩn hay còn gọi là đánh giá thông qua chuẩn điểm là
so sánh thành tích của các đối tượng của các đối tượng được đánh giá Có hai cách để so sánh:
Trang 16Có hai đặc trưng trong đánh giá theo chuẩn:
Một là: Phương tiện (Công cụ) là bài kiểm tra chuẩn hóa – có khả năng suy rộng do sự thay đổi trong thành tích, thường dự đoán các cách thức phổ biến và các dấu hiệu phân tán
Hai là: Bài kiểm tra càng phân biệt một cách hiệu quả những người làm trắc nghiệm với các năng lực khác nhau thì tính chuẩn càng được hiểu chính xác bấy nhiêu.[3, tr.35 – 36]
Đánh giá theo tiêu chí
Trong đánh giá thông qua tiêu chí hay đánh giá dựa trên tiêu chí hoạt động học tập của HS được so sánh với các mục tiêu học tập cố định, ở đó xác định rõ ràng những gì HS cần biết, cần hiểu và có thể làm
Đánh giá theo tiêu chí không so sánh mức độ thể hiện của HS này với
HS khác Các tiêu chí là cơ sở đánh giá thành công và tiến bộ trong học tập của HS.[3, tr 29]
1.1.2 Quá trình đánh giá trong giáo dục toán
(Phần này trình bày theo [3, tr.23 – tr 25])
1.1.2.1 Quá trình đánh giá trong giáo dục toán
Quá trình đánh giá trong giáo dục toán gồm bốn thành phần có liên hệ nội tại với nhau, đó là lập kế hoạch đánh giá, thu thập chứng cứ, lí giải chứng
cứ và sử dụng kết quả để ra quyết định Những thành phần này nhấn mạnh các điểm chính cần phải đưa ra quyết định có phê phán
Trong thực tế các thành phần này tương tác qua lại lẫn nhau và sự phân hóa chúng đôi khi không rõ dàng.Các thành phần này không xảy ra theo thứ
tự, mỗi thành phần có thể đặc trưng bằng những quyết định và hành động xảy
ra trong thành phần đó như sau:
Lập kế hoạch đánh giá
Đánh giá phục vụ cho mục đích gì?
Mô hình nào được sử dụng để tập trung và cân bằng các hoạt động?
Trang 17Chất lượng của chứng cứ được xác định như thế nào?
Việc hiểu các thể hiện rút ra từ chứng cứ là như thế nào?
Tiêu chí cụ thể nào được áp dụng để nhận định các thể hiện?
Tiêu chí có được áp dụng phù hợp không?
Làm thế nào để các nhận định được tổng kết lại thành các kết quả?
Sử dụng kết quả
Những kết quả được tường trình như thế nào?
Từ các kết quả thì những kết luận được rút ra như thế nào?
Dựa vào kết quả thu được hành động nào sẽ được tiến hành?
Làm thế nào để bảo đảm những kết quả này sẽ được sử dụng trong việc dạy và đánh giá sau này?
1.1.2.2 Xu hướng đánh giá mới trong giáo dục toán
(Phần này trình bày theo [3, tr 19-20])
Mọi HS đều có khả năng học toán và việc hoc của các em có thể được đánh giá Chương trình giáo dục toán luôn đặt ra những mục đích phù hợp
Trang 1814
cho mọi đối tượng HS Những mục đích này đưa ra dựa trên giả thuyết: “Mọi
HS đều có khả năng học toán và đó là tiêu chí của các đổi mới về chương trình và đánh giá”
Những xu hướng đánh giá mới trong giáo dục toán đưa ra những quan điểm sau:
- Đánh giá HS phải gắn liền và nhất quán với phương pháp dạy học
- Những thông tin đa nguồn từ các đánh giá khác nhau phải được sử dụng
- Các phương pháp đánh giá phải phù hợp với mục đích của đánh giá
- Tất cả các khía cạnh của tri thức toán học và các mối liên quan của nó được đánh giá
- Phương pháp dạy học và sách giáo khoa được xem xét một cách bình đẳng với việc đánh giá trong một chương trình giáo dục toán
1.1.3 Một số phương pháp đánh giá trong dạy học toán
(Phần này trình bày theo [3, tr 148 -193])
1.1.3.1 Phương pháp sử dụng câu hỏi kết thúcmở
Khái niệm:
Trong quá trình dạy học hay biên soạn các đề kiểm tra môn toán hầunhư
GV chỉ sử dụng các bài tập với loại câu hỏi đóng vì chúng dễ biên soạn và thống kê Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của loại câu hỏi này là hạn chế khả
năng tư duy, dự đoán năng lực sáng tạo của HS
Câu hỏi (vấn đề) mở có kết thúc là loại câu hỏi trong đó GV đưa ra một tình huống mở và yêu cầu HS hoàn thành (có thể trao đổi với HS khác) câu trả lời Nó có thể là những câu hỏi đơn giản hoặc là những câu hỏi có liên quan đến những vấn đề đòi hỏi HS phải đặt giả thuyết, giải thích mô tả rồi rút ra kết luận Vấn đề mở có kết thúc cho phép HS trả lời một cách phù hợp tùy theo mức độ tư duy của HS Mức độ “mở” trong mỗi câu hỏi phụ thuộc vào số lượng các điều kiện dàng buộc trong câu hỏi
Thang đánh giá chung
Trang 1915
Thang đánh giá có thể chia thành các mức sau:
Mức 1: Lời giải tốt
Mức này bao gồm hai loại:
Loại 1: Lời giải hoàn chỉnh: Loại A – 6 điểm
Đưa ra lời giải đúng, đầy đủ, rõ ràng, mạch lạc
Có các biểu đồ, sơ đồ minh họa, giải thích
Chứng tỏ hiểu rõ ràng tất cả nội dung toán học trong câu hỏi
Trình bày lập luận chặt chẽ, có các ví dụ và phản ví dụ
Có ý tưởng mở rộng, khám phá xa hơn vấn đề nêu ra
Loại 2: Lời giải có năng lực: Loại A, 5 điểm
Đưa ra lời giải đúng, rõ ràng với những giải thích hợp lí
Hiểu được các nội dung quan trọng của vấn đề
Trình bày các lập luận đúng, chắc chắn
Mức 2: Lời giải thỏa đáng Gồm hai loại:
Loại 1: Lời giải gồm những lỗi nhỏ nhưng vẫn thỏa đáng: Loại B, 4 điểm
- Hoàn thành lời giải nhưng các lập luận còn có thể lúng túng, không đầy đủ
- Sơ đồ, biểu đồ không rõ ràng
- Chỉ hiểu được các nội dung chính, một số liến thức phụ liên quan chưahiểu
- Sử dụng các khái niệm, thuật ngữ toán học hiệu quả
Loại 2: Lời giải còn những lỗi quan trọng những cũng gần đạt yêu cầu: Loại B, 3 điểm
- Chưa hoàn thành những phần quan trọng của vấn đề
- Không hiểu một cách đầy đủ nội dung toán trong vấn đề
Trang 2016
- Sử dụng sai hoặc không sử dụng được một số thuật ngữ
- Lời giải cho thấy một phương pháp không hợp lí trong giải quyết vấn
đề
Mức 3: Đáp án không thỏa đáng Gồm hai loại:
Loại 1: Có giải nhưng không hoàn thành bài toán: Loại C, 2 điểm
- Các lập luận và sơ đồ không rõ ràng
- Không hiểu tình huống bài toán, còn mắc những lỗi nghiêm trọng Loại 2: Không thể tiến hành giải bài toán hiệu quả: Loại C, 1 điểm
- Ngôn ngữ không phản ánh được nội dung toán học của câu hỏi
- Trình bày sai tình huống bài toán
- Không đưa ra được thông tin cần thiết cho bài toán
Mức 4: không thể giải bài toán: Loại D, 0 điểm
1.1.3.2 Phương pháp quan sát, phỏng vấn
Khái niệm
Đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan chỉ kiểm tra được mức độ nhận thức như: Nhận biết, hiểu, vận dụng và một phần tư duy bậc cao GV chỉ biết kết quả của quá trình tư duy mà không thấy được chính quá trình tư duy đó Hình thức kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận vẫn chưa thể cho biết chinh xác quá trình tư duy, đặc biệt là thái độ, hứng thú của HS Muốn đánh giá được yếu tố này GV phải kết hợp nhiều phương pháp đánh giá khác nhau trong đó phương pháp quan sát, phỏng vấn rất cần được vận dụng
Việc quan sát quá trình học toán của HS bao gồm: các quan sát trong giờ dạy của GV, các buổi làm việc theo nhóm, làm việc cá nhân khi giải quyết vấn đề bài toán Quan sát trực tiếp và đặt câu hỏi cho HS trong quá trình giải quyết vấn đề là phương pháp rất hiệu quả để đánh giá một vài mục tiêu nào
đó Phương pháp này cũng có thể được dùng để đánh giá thái độ, niềm tin
Trang 21Chọn nhiệm vụ phù hợp
Một lớp học đánh giá thân thiện
Một phương pháp gọn gàng và hiệu quả để ghi lại những điểm đặc sắc
từ việc quan sát HS
Khung cảnh của đánh giá quan sát có thể như sau:Lớp học được chia thành những nhóm nhỏ Một nhiệm vụ được giao, đặc biệt là loại nhiệm vụ có kết thúc mở và đòi hỏi nhiều hơn là việc nhắc lại các bướcgiải toán đã được học Mỗi nhóm làm việc một cách hợp tác về nhiệm vụ của mình và hoàn thành lời giải vấn đề đặt ra
Kỹ thuật quan sát
Lập kế hoạch chi tiết trước khi tiến hành quan sát
GV nên quan sát tập trung vào một số ít các kĩ năng, thái độ nào đó Thông thường đó là các kĩ năng khó đánh giá bằng kĩ thuật khác
Tại mỗi thời điểm nhất định, GV chỉ chọn một số ít HS để quan sát và lựa chọn các kĩ năng cần quan sát ngay tứ đầu
Cần linh hoạt ghi lại các kết quả quan sát và đặt câu hỏi đối với HS
Trọng điểm quan sát
- Khả năng tư duy toán:
Để quan sát được khả năng tư duy toán của HS trong giải quyết vấn đề,
GV cần chú ý những điểm sau:
HS có thể phân tích những dữ liệu đã cho để hiểu được vấn đề hay không?
Trang 22Biết phân chia vấn đề thành các bước thích hợp không?
- Cách giải quyết vấn đề của học sinh:
HS chủ động, quan tâm đến nhiệm vụ giải quyết vấn đề hay trở nên xao lãng một cách dễ dàng?
HS cố gắng giải thích các lập luận, ý tưởng toán học của mình không?
HS làm việc độc lập hay hợp tác, trao đổi với HS khác?
Xem xét và sử dụng những gợi ý của HS khác hay của GV như thế nào?
- Khả năng làm việc theo nhóm:
Biết chia sẻ nhiệm vụ giữa các thành viên
Khả năng trao đổi, đưa ra và bảo vệ lập luận của bản thân trước nhóm Thường xuyên đề xuất các ý tưởng cho nhóm không?
- Thái độ:
Chủ động trong việc tiếp cận bài toán hay không?
HS tỏ ra quan tâm, sẵn sàng, hứng thú trong việc giải quyết vấn đề hay không?
Chứng tỏ sự tự tin của bản thân hay không?
Biết cố gắng vượt qua khi gặp khó khăn trong giải quyết vấn đề không?
HS có thường xuyên kiểm tra lại lời giải hay không, hay phải có sự nhắc nhở của GV
Kĩ thuật đánh giá thông qua quan sát
- Các mặt quan trọng của đánh giá thường xuyên cần chú ý:
Quá trình đánh giá thông qua quan sát
Trang 2319
Thu thập chứng cứ để hỗ trợ đánh giá của GV
Xây dựng hệ thống ghi chép có thể quản lí được
Cân bằng giữa đánh giá của GV với các đánh giá khác
- Các lựa chọn cần thực hiện:
Phương pháp quan sát
Trọng tâm quan sát – các nhân hay nhóm
Vai trò của GV – tham dự hay không tham dự
Cách ghi chép quan sát – miêu tả, đánh dấu hay gạch chéo vào mã số
cá nhân
Kĩ thuật đặt câu hỏi phỏng vấn
Câu hỏi đặt ra phải giúp GV đánh giá được khả năng tư duy, kĩ năng giải quyết vấn đề và thái độ của HS Vì vậy các câu hỏi phải được chuẩn bị trước, phân loại cụ thể theo nội dung tình huống và sắp xếp theo một trình tự thích hợp
Giai đoạn 1: Tiếp cận bài toán
Khi HS mới tiếp cận và đang cố gắng hiểu các yêu cầu bài toán, GV nên đặt các câu hỏi dạng:
Khi gặp bài toán, điều đầu tiên em làm gì?
Câu hỏi bài toán đặt ra là gì? Đâu là dữ kiện, điều kiện quan trọng của bài toán?
Có điều gì em không hiểu về bài toán không?
Giai đoạn 2: Tìm hướng giải quyết vấn đề
Khi HS đang suy nghĩ, tìm tòi lời giải bài toán, GV nên đặt các câu hỏi dạng:
Em đang dùng phương pháp nào? Em có cho rằng phương pháp đó sẽ
đi đến kết quả của bài toán không? Em có nghĩ đến việc dùng phương pháp khác không? Đó là những phương pháp nào?
Em đang gặp khó khăn ở điểm nào của bài toán? Những khó khăn này là
do đâu?
Trang 2420
Giai đoạn 3: Giải quyết vấn đề
Khi HS tìm được lời giải cho bài toán, GV nên quan sát những cách mà
HS kiểm tra lời giải và những lập luận GV có thể đặt ra những câu hỏi như:
Em có chắc chắn đây là lời giải đúng cho bài toán? Tại sao?
Em có nghĩ rằng việc kiểm tra lại lời giải cho bài toán là cần thiết?
Giai đoạn 4: Đánh giá
Sau khi HS giải được bài toán GV nên đặt các câu hỏi dạng:
Em có thể mô tả lời giải, làm thế nào mà em tìm được lời giải đó?
Bài toán này có giống với một bài toán nào đó em đã giải không? giống thế nào? Hay là một trường hợp đăc biệt của một bài toán đã gặp?
Em nghĩ rằng bài toán có thể giải được bằng cách khác không?
Bài toán có thể được tổng quát không? theo hướng nào?
1.1.3.3 Phương pháp tự đánh giá của HS
Khái niệm
Để đánh giá chính xác quá trình tư duy toán trong giải quyết vấn đề của
HS, GV phải sử dụng phối hợp nhiều kĩ thuật khác nhau như quan sát, phỏng vấn, câu hỏi mở có kết thúc Tự đánh giá cũng là một kênh thu thập dữ liệu hữu ích đối với GV trong việc góp phần đánh giá quá trình tư duy và thái độ
HS Tất nhiên mức độ chính xác phụ thuộc nhiều vào tính trung thực của HS
HS có thể học cách để đánh giá công việc của mình HS học để chia sẻ trách nhiệm về quá trình đánh giá khi các em hiểu được và đưa ra những phán xét về chất lượng công việc của mình
HS cũng học cách tìm kiếm những giải pháp trong những tình huống toán phức tạp mà các em khám phá ra có thể cung cấp thông tin giúp các em xác định xem con đường đi đến lời giải của mình có lí hay không khi so sánh với các phương pháp khác mà các em có thể chọn
Thiết kế các mẫu tự đánh giá
Trang 2521
Mẫu tự đánh giá của HS về khả năng giải quyết vấn đề: Khoanh tròn
một trong các chữ số 1, 2, 3, 4 tương ứng với mức độ phù hợp với bản thân khi giải quyết vấn đề
Giai đoạn 1:
Hiểu vấn đề
1 Em không hiểu nhiệm vụ đặt ra
2 Em hiểu một phần nhiệm vụ đặt ra của bài toán
3 Em hiểu nhiệm vụ đặt ra
4 Em hiểu rõ ràng nhiệm vụ và xác định được các yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến định hướng giải
Giai đoạn 2:
Giải bài toán
1 Em không biết vận dụng các kiến thức đã học liên quan đến bài toán
2 Em biết vận dụng một phần kiến thức đã học liên quan đến bài toán
3 Em vận dụng được kiến thức đã học có liên quan đến bài toán
4 Em vận dụng thành thạo các kiến thức đã học liên quan đến bài toán và định hướng giải
1 Em lập luận sai hoặc không có căn cứ
2 Em lập luận không chặt chẽ, căn cứ không chính xác
3 Em lập luận khá chặt chẽ và có căn cứ
4 Em lập luận chặt chẽ, có căn cứ và giải thích rõ ràng
1 Hướng tiếp cận của em không giải được bài toán
2 Hướng tiếp cận của em chỉ giải được một phần bài toán
3 Hướng tiếp cận của em giải được bài toán
4 Hướng tiếp cận của em hiệu quả và hay
1 Em giải xong bài toán rồi dừng lại
2 Em giải xong bài toán rồi đưa ra những nhận xét liên
Trang 2622
Giai đoạn 3:
Sau khi giải
xong
quan đến bài toán và lời giải
3 Em giải xong bài toán và có liên hệ lời giải với các kiến thức toán khác hoặc đưa ra một áp dụng với bài toán đã cho
4 Sau khi giải xong, em đưa ra quy tắc tổng quát bài toán, mở rộng bài toán hoặc lời giải cho bài toán phức tạp hơn
1.2 Đánh giá trong dạy học hợp tác
1.2.1 Tổng quan về phương pháp dạy học hợp tác
1.2.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học hợp tác
Hợp tác theo nghĩa từ điển là chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm một mục đích chung
Dạy học hợp tác là một chiến lược dạy học tích cực, trong đó các thành viên tham gia hoạt động và học tập cùng nhau trong các nhóm nhỏ (mỗi nhóm bao gồm các thành viên có trình độ và khả năng khác nhau) nhằm mục đích phát triển sự hiểu biết và chiếm lĩnh nội dung học tập nào đó
Dạy học hợp tác không những giúp học sinh lĩnh hội tri thức mà còn đạt được mục đích cao hơn là dạy cho học sinh cách sống Đặc điểm của dạy học hợp tác là nó tạo nên sự chấp nhận, tôn trọng và sự tin tưởng lẫn nhau giữa các đối tượng trong giáo dục Dạy học hợp tác khẳng định tầm quan trọng của sự ủng hộ về mặt xã hội Trong học tập hợp tác, sức ép thành tích luôn đặt ra phù hợp và cân bằng với mức độ của sự ủng hộ về mặt xã hội Mỗi khi sự tăng cường học tập đòi hỏi cao thì cũng là lúc phát triển sự ủng hộ nhau một cách tích cực Để đạt được thành tích trong học tập, học sinh cần cùng nhau tìm hiểu và khai thác thông tin Chính việc dạy học hợp tác giúp học sinh làm được điều đó
Trang 2723
Theo PGS.TS Hoàng Lê Minh: “DHHT là một PPDH, trong đó mỗi
HS được học tập trong một nhóm, có sự cộng tác giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm để đạt đến mục đích chung Trong phương pháp DHHT, vai trò của GV là người tổ chức điều khiển việc học của HS thông qua học tập hợp tác bằng việc thiết kế các giờ học hợp tác, vai trò của HS là người học tập trong sự hợp tác”[10,tr 18]
Hợp tác vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu dạy học Hoạt động trong giờ dạy học tác bao gồm: Hợp tác giữa các HS trong một nhóm, hợp tác giữa các nhóm và hợp tác giữa HS với GV
Như vậy: Phương pháp DHHT là một mắt xích quan trọng trong quá trình dạy học GV có thể khai thác, sử dụng phương pháp DHHT trong nhiều tình huống dạy học môn toán nói chung và dạy học giải bài tập về phương trình đường thẳng trong mặt phẳng nói riêng Với phương pháp học tập này
HS được tham gia làm việc trong các nhóm học tập Điều đó sẽ thúc đẩy quá trình học tập và tạo nên hiệu quả cao trong học tập, tăng tính chủ động, tư duy sáng tạo và khả năng ghi nhớ của học sinh trong quá trình học tập, tăng thêm hứng thú học tập đối với người học, giúp HS phát triển kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, nâng cao lòng tự trọng và sự tự tin của HS, giúp thúc đẩy những mối quan hệ cạnh tranh học tập mang tính tích cực
1.2.1.2 Các yếu tố cơ bản của dạy học hợp tác
(Phần này được trình bày dựa theo [10,tr 21-24])
DHHT bao gồm 5 yếu tố cơ bản là: Sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực, sự tương tác trực tiếp tác động đến sự thành công của nhau, trách nhiệm của cá nhân và tập thể, kỹ năng giao tiếp nhóm và điều chỉnh nhóm
Yếu tố 1: Sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính tích cực: là mối quan hệ dẫn đến cùng thành công hay thất bại, Sự phụ thuộc này khuyến khích các cá nhân
Trang 28Yếu tố 2: Sự tương tác trực tiếp tác động đến sự thành công của nhau: Trong học tập hợp tác, HS làm việc với nhau trong những nhóm nhỏ, cùng phấn đấu vì mục đích chung gắn liền với mục đích tự thân của mỗi thành viên Vì vậy HS dành cho nhau những sự hỗ trợ, cộng tác có ý nghĩa và hiệu quả, trao đổi thông tin, kiến thức và cách lập luận về kiến thức
Yếu tố 3: Trách nhiệm của cá nhân và tập thể
Trong học tập hợp tác, mỗi thành viên trong nhóm được phân công những nhiệm vụ khác nhau nhưng có liên quan phụ thuộc lẫn nhau vì mục tiêu chung của cả nhóm Vì vậy mỗi cá nhân phải hết sức nỗ lực để đóng góp công sức, nhằm đạt mục tiêu chung của nhóm Khi mà trách nhiệm cá nhân và tập thể không hòa quyện vào nhau thì hợp tác chỉ còn là hình thức, phát sinh tâm lí ỷ lại, đùn đẩy trách nhiệm cho một vài cá nhân, sớm muộn gì sự hợp tác đó cũng tan rã
Yếu tố 4: Các kĩ năng giao tiếp trong nhóm nhỏ Trong DHHT, các năng lực và kinh nghiệm xã hội có xu hướng được nâng cao Qua các bài tập xây dựng tinh thần làm việc nhóm, HS có thể cùng nhau tạo nên một
Trang 2925
điềugì đó, suy nghĩ về một chủ đề cùng quan tâm hoặc giải quyết vấn đề
HS có thể thực hành các kĩ năng làm việc nhóm cần thiết Các hoạt động này giúp thiết lập các quy tắc ứng xử đúng đắn và cung cấp các phản hồi cần thiết cho các nhóm
Yếu tố 5: Điều chỉnh nhóm
Điều chỉnh nhóm được hiểu như việc rút kinh nghiệm hoạt động của nhóm để lần sau đạt kết quả cao hơn Rút kinh nghiệm cho nhóm có thể dựa trên những thông tin phản hồi từ các thành viên trong nhóm(Tự nhận xét), từ
GV hoặc từ các nhóm khác
1.2.1.3 Tình huống dạy học hợp tác
(Phần này được trình bày dựa theo [10, tr 50-53])
Khái niệm tình huống dạy học hợp tác
Một tình huống DHHT là tình huống dạy học trong đó xác định rõ mục tiêu học tập cho mỗi HS trong một nhóm, phù hợp với nhận thức của HS và tạo nhu cầu hợp tác trong học tập Thực chất đó là một dạng tình huống gợi vấn đề
mà GV đưa ra với dụng ý tạo ra hoạt động học tập hợp tác cho HS [10, tr 50]
Đặc điểm khác biệt nhất của tình huống dạy học hợp tác với tình huống dạy học khác là phải tạo cơ hội cho HS thảo luận và từng bước đạt kết quả học tập
Một tình huống dạy học hợp tác phải đồng thời thỏa mãn ba tiêu chí sau: Tiêu chí 1: Tình huống phải có tác dụng gợi vấn đề
Tiêu chí 2: HS thấy có nhu cầu hợp tác, trao đổi với nhau và hy vọng sự hợp tác đó sẽ có tác dụng tốt
Tiêu chí 3: Tạo ra môi trường hợp tác thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa vai trò cá nhân và vai trò tập thể
Quy trình thiết kế tình huống dạy học hợp tác
Có thể thiết kế tình huống dạy học hợp tác theo quy trình 4 bước như sau:
Trang 3026
Bước 1: Xác định mục tiêu, ngoài mục tiêu chiếm lĩnh kiến thức cụ thể trong hoạt động học tập cần chú trọng mục tiêu rèn luyện cách học và cách giao tiếp cho HS
Trong DHHT mục tiêu đề ra là dạy cho HS phương pháp hợp tác và rèn luyện tư duy hội thoại, phê phán
Bước 2: Chọn nội dung : Cần chọn những nội dung có nh cầu và tác dụng hình thành hợp tác, những nội dung kích thích sự tranh luận
Bước 3: Thiết kế tình huống cụ thể, bao gồm những nhiệm vụ sau:
- Đề ra nhiệm vụ cho HS: Có thể thông qua phiếu học tập, sử dụng máy chiếu để thiết kế tình huống như một đoạn phim, những câu chuyện dẫn đến nghịch lí
- Dự kiến các cách nghĩ khác nhau và phương hướng giải quyết
- Dự kiến những mâu thuẫn trong thảo luận nhóm
- Dự kiến cách xác nhận kiến thức và cách đánh giá HS
Bước 4: Tổ chức học hợp tác
Trong bước này GV tổ chức cho HS học tập theo nhóm Nhiệm vụ chính của HS là vận dụng những kĩ năng hợp tác và kĩ năng tư duy hội thoại, phê phán để tìm ra kiến thức Tổng hợp kết luận vấn đề và phát triển vấn đề
Tổ chức dạy học hợp tác
Lập kế hoạch cho bài dạy học hợp tác [10, tr 38-42]
- Xác định mục tiêu bài dạy:
Khi tiến hành DHHT, GV cần xác định rõ hai loại mục tiêu:
Một là mục tiêu về kiến thức, bao gồm: kĩ năng, tư duy thía độ
Hai là mục tiêu về kĩ năng hợp tác
Để đạt được hai mục tiêu trên, GV cần lập một kế hoạch, chuẩn bị cho bài dạy thật cẩn thận, chu đáo Kế hoạch này bao gồm những phần thảo luận
có trọng tâm trước và sau bài giảng (Theo chiều hướng đi lên), đó là những
Trang 3127
vấn đề, những câu hỏi xung quanh bài giảng; Những phiếu học tập để HS trao đổi, thảo luận, thực hành trong suốt quá trình học tập
- Chuẩn bị cho phần thảo luận:
Căn cứ vào mục tiêu và nội dung tri thức cần truyền thụ, GV thiết kế các nhiệm vụ học tập phù hợp
Những câu hỏi đưa ra cho HS thảo luận cần xoay quanh những vấn đề cần làm rõ trong mục tiêu dạy học
Chia bài học ra theo từng đơn vị kiến thức, chuẩn bị nhiệm vụ cho thảo luận ngắn cho từng nhóm HS sau mỗi phần của bài học
Chuẩn bị thảo luận để tóm tắt lại những kiến thức mà HS học được từ bài học Phần thảo luận này giúp HS gắn kết những kiến thức vừa học vào vốn kiến thức đã có hoặc chỉ ra cho HS thấy nhiệm vụ ở nhà sẽ đề cập tới vấn
đề gì, có liên hệ gì với bài sau Sau đó kết thúc bài học
Các nhiệm vụ đề ra cho HS có thể qua phiếu học tập, sử dụng bảng hoặc máy chiếu
- Chuẩn bị khâu tổ chức lớp học hợp tác:
Tạo ra các nhóm HS
Phân công cho mỗi nhóm thực hiện nhiệm vụ ban đầu
Thực hiện phần hai của bài giảng là đưa ra nhiệm vụ thứ hai Lặp lại trình tự này cho tới khi hoàn thành bài học
Kết thúc bài học và đưa ra nhiệm vụ cuối cùng
Trang 3228
Nhóm chính thức là những nhóm HS được tổ chức chặt chẽ và được duy trì cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ
Nhóm không chính thức là những nhóm học sinh học tập tồn tại trong thời gian ngắn và có tổ chức lỏng lẻo
Nhóm cơ sở là nhóm học tập có thời gian hợp tác lâu dài cùng giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập
- Xác định quy mô nhóm, số lượng nhóm, thành viên trong mỗi nhóm
- Phân công trách nhiệm: Nhóm trưởng, thư kí, quan sát viên,
- Xác định vị trí làm việc nhóm, thời gian duy trì nhóm
Để thành lập được nhóm tốt GV cần nắm vững đặc điểm, tính cách, năng lực học tập của từng HS Mỗi nhóm cử ra người giữ vai trò nhóm trưởng, thư kí, quan sát viên, báo cáo và thành viên để thực hiện nhiệm vụ đạt kết quả tốt Các vai trò này nên thay đổi luôn phiên để HS được trải nghiệm các chức năng trong hợp tác, qua đó tự khẳng định mình
Các bước tiến hành dạy học hợp tác
Một tình huống dạy học hợp tác dựa trên hoạt động của các nhóm được tiến hành qua các bước sau:
Các bước Hoạt động của GV Hoạt động của HS
Bước 1 Thành lập nhóm từ 5
đến 10 em một cách ngẫu nhiên
Nắm bắt năng lực của các thành viên trong nhóm để phân công nhiệm vụ phù hợp theo mỗi nội dung của nhiệm vụ
Bước 2 Giao nhiệm vụ cho từng
nhóm
Thực hiện nhiệm vụ cá nhân
Trang 3329
Bước 3
Định hướng sự hoạt động cho nhóm
Hợp tác thảo luận, trao đổi trong nhóm
Bước 4 Tổ chức thảo luận trên
Bước 6 Nhận xét, rút kinh
nghiệm về hoạt động của từng nhóm
Rút kinh nghiệm nhóm
Rèn luyện kĩ năng hợp tác cho HS
Tập trung vào 5 kĩ năng cơ bản: Kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng kèm cặp lẫn nhau, kĩ năng xây dựng và duy trì bầu không khí tin tưởng lẫn nhau, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy phê phán [10, tr 43]
Các bước rèn luyện kĩ năng hợp tác cho HS:
Bước 1: Tạo bối cảnh hợp tác, tức là làm cho HS nhận thức được sự phụ thuộc lẫn nhau và quan tâm đến nhau
Bước 2: Xây dựng và tổ chức các cuộc tranh luận về kiến thức, tạo ra những mâu thuẫn về nhận thức để HS có cơ hội rèn luyện tư duy phê phán Bước 3: Dạy HS cách thỏa thuận
Bước 4: Dạy HS cách hòa giải
1.2.2 Đánh giá trong dạy học hợp tác
1.2.2.1 Khái niệm đánh giá trong dạy học hợp tác
Trang 3430
Đánh giá trong dạy học hợp tác không chỉ tập trung vào đánh giá về mặt kiến thức mà còn đánh giá các năng lực cơ bản như năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác Hình thức đánh giá có thể định tính (quan sát, phỏng vấn) hoặc định lượng (quy về thang điểm)
Các năng lực cơ bản trong dạy học hợp tác bao gồm: Năng lực phát hiện
và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực sáng tạo, năng lực tư duy phế phán,…Tuy nhiên trong giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung đánh giá hai năng lực cơ bản nhất là: Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề và năng lực hợp tác
Tiêu chí đánh giá năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề:
- Phát hiện kiến thức trọng tâm để giải quyết bài toán
- Phát hiện nhiều cách giải cho bài toán
- Phát hiện những sai lầm và sửa chữa sai lầm trong lời giải
Tiêu chí đánh giá năng lực hợp tác:
- Khả năng phân chia nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm
- Khả năng trao đổi và giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động
- Thời gian hoàn thành nhiệm vụ học tập của nhóm
- Kết quả chung của nhóm sau khi hoạt động kết thúc
1.2.2.2 Sự giống và khác nhau giữa đánh giá thông thường và đánh giá trong dạy học hợp tác.[8, tr.84]
Sự giống nhau: Đánh giá thông thường và đánh giá trong dạy học hợp tác đều nhằm mục đích thu
thập thông tin về mức độ hoạt động nhận thức và kết quả hoc tập của mỗi học sinh, tập thể học sinh và mức
độ giáo dục của nhà trường
Sự khác nhau: Giữa đánh giá thông thường (Đánh giá trong dạy học truyền thống) và sự đánh giá
trong dạy học hợp tác có những điểm khác biệt được thể hiện trong bảng sau:
Đánh giá trong dạy học
truyền thống Đánh giá trong dạy học hợp tác
Quan tâm đến kết quả cuối cùng Đánh giá cả quá trình
Các kĩ năng riêng lẻ Các kĩ năng tổ hợp
Trang 3531
Các sự kiện riêng lẻ Áp dụng kiến thức
Bài tập phi ngữ cảnh Bài tập ngữ cảnh hóa
Một câu trả lời đúng duy nhất Nhiều câu trả lời đúng
Các tiêu chí giữ kín Các tiêu chuẩn công khai
Đánh giá riêng từng cá nhân Đánh giá thông qua nhóm học tập Đánh giá sau giờ học Đánh giá trong khi học
Ít thông tin phản hồi Rất nhiều thông tin phản hồi
Các bài kiểm tra chuẩn hóa Các bài kiểm tra không chính thức Giáo viên đánh giá học sinh Học sinh tự đánh giá
Những đánh giá đơn lẻ Đánh giá đa dạng
Đánh giá không thường xuyên Đánh giá liên tục
Có tính khẳng định, kết luận Mang tính đệ quy
1.2.3 Tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác
Theo PGS TS Hoàng Lê Minh việc tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác có thể được thực hiện theo 3 bước cơ bản sau:
Bước 1: Thiết kế tình huống và tổ chức dạy học hợp tác
Bước 2: Đo lường và đánh giá
Bước 3: Xử lí và phản hồi kết quả
1.3 Dạy học nội dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng – Hình học lớp 10 THPT
1.3.1 Mục tiêu và nội dung dạy học phương trình đường thẳng trong mặt phẳng
Về kiến thức: Cần hình thành ở HS kiến thức về lập phương trình đường thẳng trong mặt phẳng bao gồm các dạng: Tổng quát, tham số, chính tắc; Tính khoảng cách từ một điểm đến một đường thẳng; Xét
vị trí tương đối của hai đường thẳng trong mặt phẳng; Góc giữa hai đường thẳng
Về kĩ năng: Cần rèn cho HS kĩ năng viết phương trình đường thẳng; Kĩ năng tính khoảng cách từ một điểm đến một đường thẳng; Kĩ năng xét vị trí tương đối của hai đường thẳng trong mặt phẳng; Kĩ năng xác định góc giữa hai đường thẳng
Thái độ: Nghiêm túc, chủ động, sáng tạo trong học tập
Trang 3632
1.3.2 Thuận lợi và khó khăn khi dạy học nội dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng
Những thuận lợi:
- Các kiến thức của nội dung phương trình đường thẳng – chương trình
hình học lớp 10 tương đối cơ bản, cách trình bày, diễn đạt của sách giáo khoa tương đối dễ hiểu và phù hợp với đa số HS
- Hệ thống bài tập sách giáo khoa vừa phải và được chọn lọc cẩn thận giúp HS củng cố lí thuyết
Chúng tôi đã nghiên cứu khái quát lí luận về phương pháp dạy học hợp tác, chương trình hình học lớp 10, việc dạy học giải bài tập hình học lớp 10,…Việc thông hiểu và nắm vững những kiến thức này sẽ giúp cho GV và
HS tổ chức thành công các giờ dạy và học trên lớp theo tiến trình dạy học hợp tác
Trang 3733
Trên đây chính là những cơ sở lí luận và thực tiễn để chúng tôi tiến hành
xây dựng chương 2: Tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác nội
dung phương tŕnh đường thẳng trong mặt phẳng - Hình học lớp 10 THPT
Chương 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TRONG
DẠY HỌC HỢP TÁC NỘI DUNG PHƯƠNG TRÌNH ĐƯỜNG THẲNG
TRONG MẶT PHẲNG - HÌNH HỌC LỚP 10 THPT
2.1 Quy trình tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác
2.1.1 Cơ sở của quy trình tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác
Quy trình tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác được xây dựng trên cơ sở :
- Quan điểm chỉ đạo của đảng và nhà nước về đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong giáo dục
- Quy định về đánh giá trên lớp của bộ giáo dục và đào tạo
- Dựa trên yêu cầu của phương pháp dạy học hợp tác
- Dựa vào chuẩn kiến thức kĩ năng bộ môn toán
- Dựa vào các tiêu chí để đánh giá năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; Tiêu chí đánh giá năng lực hợp tác
- Dựa vào các mức độ thảo luận nhóm
2.1.2 Các bước tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác
Tổ chức hoạt động đánh trong dạy học hợp tác gồm 3 bước:
Bước 1: Thiết kế tình huống và tổ chức dạy học hợp tác
- GV cần lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu đánh giá và có thể vận dụng phương pháp dạy học hợp tác
- Thiết kế các tình huống dạy học hợp
- Tổ chức thực hành giờ học hợp tác trên lớp
Bước 2: Đo lường và đánh giá
Đo lường có thể tiến hành bằng nhiều biện pháp như:Thiết kế bài kiểm tra, thực hiện quan sát, phỏng vấn trong quá trình hợp tác của HS, thiết kế các phiếu tự đánh giá của HS
Trang 3834
Trong dạy học hợp tác cần đánh giá HS trên các phương diện sau: Kiến thức, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực sáng tạo, năng lực tự đánh giá
Bước 3: Xử lí và phản hồi kết quả
Những thông tin thu thập được thông qua quá trình đánh giá sẽ phản ánh chất lượng của quá trình dạy và học cũng như hiệu quả của phương pháp dạy học đang được vận dụng Từ đó định hướng cho GV có những điều chỉnh
về nội dung và mức độ phức tạp của kiến thức, sự phân hóa kiến thức phù hợp với từng đối tượng HS, nhóm HS; điều chỉnh hình thức và cách thức tổ chức dạy học Đồng thời những thông tin đánh giá cũng giúp HS thấy được kết quả học tập và mức độ nhận thức của bản thân từ đó có điều chỉnh cách học để cải thiện kết quả học tập theo xu hướng tốt hơn
2.2 Tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác nội dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng
2.2.1 Tổ chức hoạt động đánh trong dạy học hợp tác nội dung viết trình đường thẳng trong mặt phẳng
Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng viết phương trình đường thẳng, cách viết phương trình của các đường đặc biệt trong tam giác (Đường cao, phân giác, trung bình, trung trực)
Nội dung phiếu học tập
Hãy nhắc lại các dạng của phương trình đường thẳng trong mặt phẳng?
Trên cơ sở kiến thức ở đó hãy thực hiện yêu cầu bài toán sau:
Cho ABC có A(3;2), B(1;1) và C(-1;4) Viết phương trình:
Trang 3935
a) Lập phương trình các cạnh của tam giác ABC
b) Lập phương trình các đường cao của tam giác ABC
c) Lập phương trình các đường trung bình ứng với cạnh AC, AB, BC
Tổ chức dạy học hợp tác
- Thành lập nhóm học tập hợp tác
- Giao nhiệm vụ cho các nhóm
- Các nhóm nhận nhiệm vụ và tổ chức thảo luận
- Các nhóm thống nhất phương án trả lời và báo cáo kết quả hoạt động
Dự kiến tình huống thảo luận:
Ý kiến 1: AB 2; 1 phương trình của cạnh AB là: