Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo đại học theo 3 tiêu chí: “Trang bị cách học, phát huy tính chủ động của sinh viên; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
BÙI THỊ THU TRÍ
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA
TẠI ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
BÙI THỊ THU TRÍ
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA
TẠI ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực chƣa hề đƣợc sử dụng và công bố ở bất kỳ một công trình nào khác
Em xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 8 năm 2016
GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập nghiên cứu tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô và cán bộ, chuyên viên các phòng chức năng của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy, quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, khảo sát và triển khai đề tài: “Phát triển chương trình
đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên” em đã nhận được sự góp ý sâu sắc, chân
thành của các Thầy (Cô) trong Hội đồng khoa học của khoa Tâm lý giáo dục - Trường Đại học Sư phạm Đặc biệt em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ, người trực tiếp hướng dẫn luận văn đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ, góp ý để em hoàn thành luận văn này
Em xin được cảm ơn Ban Giám đốc, cùng các cán bộ quản lý, cán bộ giảng viên
và Trung tâm Đào tạo từ xa, gia đình đã luôn động viên, hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để em yên tâm học tập, nghiên cứu Mặc dù cố gắng rất nhiều trong việc nghiên cứu, song do thời gian và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong nhận được sự góp
ý của các Thầy (Cô), các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm đến đề tài này để luận văn của em được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Bùi Thị Thu Trí
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học của đề tài 3
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5.2 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA 6
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Phát triển 9
1.2.2 Chương trình……… … 11
1.2.3 Phát triển chương trình đào tạo 11
1.2.4 Đào tạo, đào tạo từ xa 12
1.2.5 Phát triển chương trình đào tạo từ xa 14
1.3 Một số vấn đề lý luận về phát triển chương trình đào tạo từ xa 15
1.3.1 Khái quát chung về chương trình, phát triển chương trình 15
Trang 61.3.2 Phát triển chương trình đào tạo từ xa 22
1.3.3 Quy trình phát triển chương trình đào tạo từ xa 24
1.3.4 Nguyên tắc phát triển chương trình đào tạo từ xa 28
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chương trình đào tạo từ xa 34
1.4.1 Các yếu tố khách quan 34
1.4.2 Các yếu tố chủ quan 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 37
2.1 Vài nét về Trung tâm Đào tạo từ xa - Đại học Thái Nguyên 37
2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 39
2.2.1 Mục đích khảo sát 39
2.2.2 Nội dung khảo sát 39
2.2.3 Công cụ, đối tượng khảo sát 40
2.2.4 Phương pháp khảo sát 40
2.3 Thực trạng về phát triển chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên 40
2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý và cán bộ giảng viên về phát triển chương trình đào tạo từ xa 40
2.3.2 Nhận thức của cán bộ quản lý và cán bộ giảng viên về quy trình phát triển chương trình đào tạo từ xa 41
2.3.3 Quy trình phát triển chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên 43
2.3.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên 54
2.3.5 Đánh giá chung về chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên 56
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 60
3.1 Các nguyên tắc chỉ đạo, định hướng cho việc đề xuất biện pháp 60
3.1.1 Đảm bảo tính phù hợp 60
3.1.2 Đảm bảo tính kế thừa 60
3.1.3 Đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ 60
3.1.4 Đảm bảo tính hiệu quả 60
3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 61
Trang 73.1.6 Định hướng phát triển chương trình đào tạo từ xa 61
3.2 Biện pháp phát triển chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên 61
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ giảng viên về phát triển chương trình đào tạo từ xa 61
3.2.2 Biện pháp 2: Bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình đào tạo cho đội ngũ giảng viên 63
3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện phát triển chương trình ……… …65
3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động phát triển chương trình đào tạo từ xa 68
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 70
3.4 Khảo sát về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 71
3.4.1 Mục đích khảo sát 71
3.4.2 Nội dung khảo sát 71
3.4.3 Đối tượng khảo sát 71
3.4.4 Phương pháp khảo sát 71
3.4.5 Kết quả khảo sát 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 83
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CTĐT: Chương trình đào tạo
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Nhận thức của cán bộ quản lý và cán bộ giảng viên về sự cần thiết của
phát triển chương trình đào tạo từ xa 41
Bảng 2.2 Nhận thức của cán bộ quản lý và cán bộ giảng viên về quy trình phát triển chương trình đào tạo từ xa 42
Bảng 2.3: Đánh giá về việc khảo sát tình hình, nhu cầu đào tạo từ xa 43
Bảng 2.4 Đánh giá về việc xác định mục đích, mục tiêu đào tạo từ xa 45
Bảng 2.5 Đánh giá về việc thiết kế chương trình đào tạo từ xa 48
Bảng 2.6 Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chương trình đào tạo từ xa 50
Bảng 2.7 Đánh giá về chương trình đào tạo từ xa 54
Bảng 3 8 Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất (n=50) 72
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Phát triển chương trình đào tạo 21 Biểu đồ 2.2: Hiện trạng sinh viên tham gia học tại ĐHTN 52
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Luật Giáo dục khẳng định “Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ
thống giáo dục quốc dân theo hình thức đào tạo từ xa tự học có hướng dẫn” [1]
Như vậy, cùng với GD đại học chính quy, GD đại học không chính quy (trong đó có đào tạo theo hình thức từ xa) đã đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến lược phát triển GD của đất nước Giáo dục cao đẳng, đại học hiện nay hướng đến đạt mục tiêu “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và qui mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Trong số nhiều nhiệm vụ và giải pháp dành cho giáo dục đại học, có giải pháp đổi mới nội dung, phương pháp và qui trình đào tạo Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo đại học theo 3 tiêu chí: “Trang bị cách học, phát huy tính chủ động của sinh viên; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học; khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên internet; lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước v.v ”.Tất cả những điều trên đều là thách thức không nhỏ đối với đào tạo đại học, trong đó có đào tạo từ xa
Thực tế đã cho thấy, công tác phát triển chương trình đào tạo trong các trường đại học ở Việt Nam chưa được chú trọng đúng mức, chưa có nhiều trường đầu tư vào công việc này, chương trình đào tạo cùng khối ngành thường có nhiều môn học giống nhau, không có đặc thù của từng trường, có trường tổ chức dạy những môn mà nhà trường có giảng viên chứ không phải dạy những môn học mà xã hội và sinh viên cần;
có trường quá tập trung vào lý thuyết; có trường lại quá tập trung vào trang bị kỹ năng thực hành, không có nền tảng kiến thức vững; chương trình đào tạo không theo kịp với sự phát triển, tức chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội… hoặc “…thiếu người được đào tạo chuyên sâu về xây dựng chương trình…”
Trang 12Từ những phân tích trên đây cho thấy, công tác phát triển chương trình đào tạo trong các trường đại học ở Việt Nam thực sự cần thiết phải thay đổi nhằm cải thiện nội dung, sửa đổi và bổ sung những nội dung mới, làm cho giáo dục đại học phù hợp hơn với hoàn cảnh và nhu cầu của đất nước và đảm bảo xu thế hội nhập, xóa đi những tồn tại hiện có trong chương trình đào tạo đại học Ngoài ra, những thay đổi trong xã hội có xu hướng đòi hỏi phải có những thay đổi tương ứng ngay trong chương trình đào tạo đại học bởi vì đó là giai đoạn cuối cùng của giáo dục chính quy và bước đệm quan trọng để sinh viên tham gia vào thế giới việc làm Việc đổi mới chương trình đào tạo có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Đại học Thái Nguyên (ĐHTN) là một trong ba Đại học vùng và nằm trong số mười bốn trường đại học trọng điểm của cả nước Trong những năm qua, với bề dày truyền thống của các trường thành viên thuộc ĐHTN đã đào tạo và cung cấp hàng chục nghìn cán bộ khoa học kỹ thuật cho các tỉnh trong khu vực, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng trung du và miền núi phía Bắc
Thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đào tạo theo nhu cầu xã hội, ngoài hình thức đào tạo chính quy và vừa học vừa làm đã triển khai có hiệu quả trong những năm qua, từ năm 2012, ĐHTN tiếp tục mở thêm hình thức đào tạo từ xa
để đáp ứng nhu cầu học tập, nâng cao trình độ cho đối tượng người sinh viên không
đủ quỹ thời gian để đáp ứng nhu cầu học tập, nâng cao trình độ cho mọi người
Công tác đào tạo từ xa là một nhiệm vụ quan trọng của ĐHTN cần phải được tổ chức tốt và không ngừng nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực Tuy nhiên, tổ chức đào tạo theo phương thức đào tạo từ xa còn mới nên còn nhiều hạn chế Mặt khác, nhìn từ góc độ khoa học quản lý đối với hình thức đào tạo từ xa, còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, hoàn thiện như: Chương trình đào tạo, thực thi chương trình đào tạo, phương pháp dạy-học, các hoạt động của giảng viên - học viên, quản lý quá trình kiểm tra - thi cử trong đó vấn đề phát triển chương trình đào tạo là một trong những vấn đề cốt lõi quyết định chất lượng đào tạo
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Phát triển chương
trình đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên” với hy vọng đề xuất được một số biện
pháp phát triển chương trình đào tạo từ xa tại ĐHTN nơi tác giả công tác
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng phát triển chương trình đào tạo từ xa từ đó đề xuất được một số biện pháp phát triển chương trình đào tạo từ
xa tại Đại học Thái Nguyên
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình phát triển chương trình đào tạo theo hình thức từ xa tại Đại học Thái Nguyên
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động phát triển chương trình đào tạo theo hình thức từ xa tại Đại học Thái Nguyên
4 Giả thuyết khoa học của đề tài
Đào tạo theo phương thức đào tạo từ xa là hình thức đào tạo mới được triển khai tại Đại học Thái Nguyên còn nhiều hạn chế về chất lượng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng đào tạo thấp do chưa được chú trọng đúng mức, chưa được đầu tư nhiều, trong đó có công tác xây dựng, đổi mới chương trình đào tạo Nếu đề xuất được một số biện pháp phát triển chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên thì sẽ nâng cao chất lượng công tác đào tạo từ xa và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Đại học Thái Nguyên
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển chương trình đào tạo từ xa
Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác phát triển chương trình đào tạo từ xa tại ĐHTN
Đề xuất một số biện pháp phát triển chương trình đào tạo từ xa tại ĐHTN góp phần nâng cao chất lượng công tác đào tạo từ xa tại ĐHTN
Trang 146 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài sử dụng nhóm phương pháp này để thu thập và tập hợp các thông tin lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, như:
- Phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Phân loại hệ thống lý thuyết
- Xây dựng các giả thuyết…
Nghiên cứu các công trình nghiên cứu, các nghị quyết, văn bản pháp luật, đường lối giáo dục của Ðảng và Nhà nước về đào tạo phi chính quy, trong đó có đào tạo từ xa
Sưu tập, tổng hợp các tài liệu, đề tài khoa học, công trình khoa học có liên quan đến vấn đề phát triển chương trình đào tạo
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng phiếu hỏi
- Tổng kết kinh nghiệm
- Lấy ý kiến chuyên gia (các nhà khoa học, các nhà giáo dục, các nhà quản lý giáo dục và giảng viên)
- Khảo nghiệm sư phạm các biện pháp đã đề xuất…
Thu thập những thông tin, dữ liệu thông qua những tài liệu khoa học, báo cáo, tổng kết, báo cáo thống kê, các cuộc hội thảo, tọa đàm về đào tạo từ xa qua đó nắm tình hình kinh tế - xã hội, nhu cầu đào tạo từ xa, các chương trình đào tạo từ xa… là
cơ sở thông tin bổ sung cho lý luận và thực tiễn của luận văn
Xây dựng bộ công cụ khảo sát nhằm đánh giá thực trạng công tác đào tạo từ xa tại ĐHTN và phát triển chương trình đào tạo
6.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu khác gồm phương pháp
- Thống kê toán học
- Chuyên gia
Sử dụng công thức, phần mềm để xử lý kết quả điều tra được Lấy ý kiến đánh giá, nhận xét của các nhà giáo dục, quản lý có kinh nghiệm trong đào tạo từ xa
Trang 157 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển chương trình đào tạo từ xa
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên
Chương 3: Biện pháp phát triển chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu chương trình đã trở thành một chuyên ngành trong hệ thống khoa học giáo dục của các nước Lý thuyết về chương trình, phát triển chương trình được ứng dụng có hiệu quả vào các quá trình đào tạo, các hệ và các bậc đào tạo Đặc trưng của chương trình giáo dục các nước là luôn đổi mới, tiếp cận thực tiễn, có khả năng chuyển đổi linh hoạt, liên thông dọc, liên thông ngang Tại các trường/ khoa giáo dục
ở các nước, hoạt động nghiên cứu phát triển chương trình được đảm bảo bằng tính chuyên nghiệp cao do các trung tâm học viện nghiên cứu đảm nhiệm Các nước có đội ngũ chuyên gia phát triển chương trình, có vai trò tích cực đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục Đối với các trường đại học, nghiên cứu chương trình còn được quan tâm đặc biệt không những bởi các thành phần bên trong nhà trường mà còn thu hút sự quan tâm của các nhà tuyển dụng, của các thành phần khác
Nghiên cứu về chương trình đào tạo đã được tiếp cận nhiều năm gần đây theo các lý thuyết phát triển, lý thuyết năng lực, nhưng để triển khai ứng dụng vào xây dựng chương trình đào tạo tại các trường đại học thì còn yếu Hiện nay, vẫn còn tồn tại quan niệm (ở các cấp quản lý giáo dục) cho rằng: Nếu chương trình nào cũng cần phải nghiên cứu và phát triển thì trong trường đại học, phải chi phí quá tốn kém và như vậy
là bất hợp lý Sự băn khoăn trên đây có 2 lý do: Đó là sự hiểu biết chưa đầy đủ về khoa học chương trình; hai là, thói quen suy nghĩ về chương trình như là một kết quả của công tác quản lý hành chính chứ không phải chương trình là kết quả của công trình nghiên cứu khoa học giáo dục công phu
Lịch sử vấn đề nghiên cứu đã cho thấy thời gian gần đây có khá nhiều công trình trong nước và ngoài nước về chương trình và phát triển chương trình Cụ thể, ở trong nước, có thể nói bất cứ tài liệu nào khi viết về giáo dục học, đi sâu vào lý luận dạy học đều tiếp cận vấn đề chương trình, nội dung Các giáo trình kinh điển của Hà
Thế Nữ, Đặng Vũ Hoạt (1987) [17] tác phẩm Giáo dục học và các tác giả đi sau và gần đây có tài liệu của tác giả Nguyễn Hữu Châu (2005) [3] tác phẩm Những vấn đề cơ bản
về chương trình và quá trình dạy học, đã viết khá rõ về các vấn đề cơ bản về chương
trình và phát triển chương trình có tính chất xác định các nội dung cơ bản làm nền tảng
Trang 17cho khoa học về chương trình và phát triển chương trình Tác giả Phạm Văn Lập
(1998) [16] với tác phẩm Phát triển chương trình đào tạo – Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Nguyễn Kim Dung (2006) [4] dịch tác phẩm Xây dựng chương trình học – Developing the Curriculum
Vấn đề đặt ra là cách tiếp cận theo phương pháp luận khoa học giáo dục hiện đại, tiếp cận xu hướng giáo dục mới của thời đại, các quan điểm của UNESCO về phát triển giáo dục và quản lý giáo dục được nhất quán ở 3 khâu cơ bản: Tiếp cận chương trình ở khâu thiết kế; Tổ chức quản lý quá trình thực hiện; Tổ chức thẩm định đánh giá
Cụ thể: Các chương trình giáo dục phải được tiếp cận từ cơ sở khoa học tương ứng và các điều kiện khác (người học, yêu cầu nghề nghiệp và mục tiêu của bậc học)
Lịch sử phát triển GD&ĐT đã có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo từ xa Theo thời gian, từ lúc sơ khai của đào tạo từ xa là đào tạo hàm thụ, thông qua việc giảng dạy cho các giáo sĩ nhà thờ bằng cách gửi thư trao đổi vào những năm 50 -60 sau công nguyên theo lối gửi thư (correspondence study) nhưng chỉ giới hạn tổ chức trong giáo hội Mãi cho đến những năm 1840 tại Anh, Isaas Pitman đã tổ chức đào tạo tốc ký theo hình thức hàm thụ, đây là lớp học hàm thụ đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử đào tạo từ xa [35]
Năm 1922, ở NewZeland đã bắt đầu nghiên cứu và tổ chức loại trường hàm thụ Giai đoạn này, đào tạo từ xa vẫn là dạng đào tạo từ xa cấp thấp, sinh viên chủ yếu vẫn thông qua tài liệu, sách vở Ở Canada cũng thế đến năm 1929, Vancouver sáng lập trường hàm thụ nhưng chỉ triển khai ở bậc sơ trung học [35]
Tiếp đến, vào năm 1927 lần đầu tiên ở Anh đã thực hiện chương trình giảng dạy đầu tiên trên đài BBC Giảng viên đến đài phát thanh để ghi âm bài giảng và sau đó phát song, đây vẫn chỉ là hình thức truyền thụ kiến thức chưa có tổ chức quản lý đào tạo
Năm 1939, tại trường đại học IOWA - Hoa Kỳ, người ta đã tổ chức giảng dạy
có sự hỗ trợ của các thiết bị kỹ thuật thông qua phương tiện điện thoại, kết hợp với biên tập và phát tài liệu hướng dẫn tự học cho sinh viên [35]
UNESCO từ những năm 1996 và 2009 [27] đã có những nhận định, đánh giá
về đào tạo từ xa: “Đào tạo từ xa là hình thức giáo dục có triển vọng nhất của thế kỷ
21 và là hình thức giáo dục sẽ ngự trị trong tương lai vì nó hỗ trợ tích cực xã hội học tập” vì “giáo dục là một quyền con người cơ bản và là một giá trị nhân bản phổ quát
và nó sẽ được làm cho hiện hữu trong cả cuộc đời của mỗi cá nhân”
Trang 18Ở Việt Nam, đứng trước yêu cầu đổi mới của đất nước, Đảng và Nhà nước đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, đóng vai trò động lực cho phát triển kinh tế - xã hội Trong một thời gian dài, các loại hình đào tạo phi chính qui: Vừa học vừa làm, chuyên tu… để lại những bất cập và chưa đáp ứng yêu cầu xã hội Phải có thêm loại hình đào tạo mới, phù hợp với số đông người dân có nhu cầu học tập, nhưng không
có thời gian tập trung, cần phải đưa giáo dục đại học tới vùng sâu, vùng xa, khó khăn của đất nước…Thì giáo dục đào tạo thường xuyên là giải pháp tối ưu và đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân
Tạo điều kiện cho người dân được học tập suốt đời, vấn đề liên quan đến đào tạo
từ xa trong đào tạo nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã được sự quan tâm của xã hội, là hướng nghiên cứu của giới khoa học với nhiều luận án, công trình nghiên cứu:
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (2001) [22] trong tác phẩm Tự đào tạo, tự học, tự
nghiên cứu, tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh khác nhau trong đào
tạo từ xa Tác giả nêu việc chú trọng chương trình đào tạo từ xa với quan điểm đây là hình thức đào tạo góp phần quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Đồng thời, tác phẩm cũng nêu rõ những điểm cơ bản để phát huy năng lực tự học
Tác giả Tạ Thế Truyền (2001) [25] đề tài Bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành
giáo dục và đào tạo theo hình thức giáo dục từ xa, tác giả đã đề cập đến vai trò giảng
viên về giảng dạy, hướng dẫn trong đào tạo từ xa, đào tạo từ xa được nhìn nhận và phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau như: Góc độ về kinh tế học giáo dục, góc độ
về giáo dục học Tác giả có những đánh giá tình hình chung về đào tạo từ xa ở Việt Nam, thực trạng triển khai đào tạo từ xa ở Việt Nam
Nước ta còn nghèo, cơ sở vật chất và các nguồn lực khác cho giáo dục - đào tạo
có hạn, các trường đào tạo theo phương thức truyền thống (dạy - học trực tiếp) bị quá tải nặng nề, không đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân Cho dù Nhà nước có chi phí để xây dựng thêm nhiều trường (theo mô hình truyền thống) nữa thì cũng không thể đáp ứng được nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân và nhu cầu về nguồn nhân lực có tri thức của nền sản xuất hiện đại Vấn đề đặt ra là phải phát huy tới mức cao nhất những nguồn lực có sẵn và sử dụng hiệu quả nhất nguồn trí tuệ của xã hội để đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của đông đảo nhân dân trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Phương châm “giáo dục cho mọi người”, “giáo
Trang 19dục liên tục”, “học suốt đời” phải trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục
- đào tạo Vì vậy, giáo dục - đào tạo cần phải được đổi mới cả về nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức Từ các công trình nghiên cứu kể trên, có thể khái quát được rằng: Đào tạo từ xa đã và đang được các nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới quan tâm nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn phát triển hệ thống giáo dục
và đào tạo, trong đào tạo nhân lực, việc triển khai đào tạo trên ngày càng được tổ chức khá rộng rãi với mục tiêu đáp ứng được các nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cho nhiều trình độ khác nhau
Trên cơ sở đó, đào tạo từ xa phải được ưu tiên thích đáng vì đó là giải pháp hữu hiệu để giải quyết bài toán về đáp ứng được nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân nhất
là sinh viên ở vùng sâu, vùng xa, những nơi có điều kiện kinh tế khó khăn; là giải pháp
để giải quyết bài toán về kinh phí hạn hẹp chi cho giáo dục - đào tạo vì đào tạo từ xa là hướng đầu tư rẻ nhất Từ đó việc phát triển chương trình đào tạo từ xa để đáp ứng nhu cầu của sinh viên là việc cấp thiết được Đảng và Nhà nước quan tâm, sao cho đến năm 2020, tất cả các chương trình đào tạo từ xa 100% có đủ học liệu, thiết bị hỗ trợ thực hiện theo tiêu chuẩn; tất cả các cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên đều được bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng về đào tạo từ xa Tuy nhiên để có được những kết quả nhất định trong thời gian tới thì về phương diện lí luận cũng như về thực tiễn vẫn còn những vấn đề phát triển, hoàn thiện Đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể
và chuyên sâu về vấn đề phát triển chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Thái Nguyên
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Phát triển
Trong thế giới khách quan, mọi sự vật không ngừng vận động nằm trong khuynh hướng chung là sự phát triển Các sự vật hiện tượng đó đều có mối liên hệ phổ biến và vận động, phát triển không ngừng Sự tồn tại, liên hệ, vận động và phát triển của sự vật hiện tượng bao giờ cũng xảy ra trong những hoàn cảnh cụ thể, trong không gian và thời gian xác định Song cùng một sự vật nhưng nếu tồn tại trong những điều kiện không gian, thời gian khác nhau thì tính chất của mối liên hệ và sự phát triển của nó cũng khác nhau
Phát triển học hay khoa học phát triển là một khoa học mới ra đời vào khoảng những năm 45, 50 và phát triển mạnh trong thập kỷ 60 Trong quá trình phát triển, phát triển học có những thay đổi về nội hàm
Trang 20Ở giai đoạn đầu, nội dung chủ yếu là kinh tế học phát triển và sau đó ngày càng phát triển theo hướng liên ngành Ở mức cao hơn, môn xã hội học phát triển và quản trị học phát triển ra đời, nhấn mạnh sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội có phần can thiệp của thể chế, chính trị
Vậy phát triển là gì? Có nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển:
- Phát triển được định nghĩa khái quát trong từ điển Oxford là: “Sự gia tăng
dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn…” [30]
- Trong từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được định nghĩa là:
“Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới…” [28]
- Theo triết học: “Phát triển là quá trình vận động theo hướng từ trình độ thấp
đến trình độ cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện” Phát triển có tính khách quan,
tính phổ biến, tính đa dạng phong phú [31]
Con người và mọi sự vật đều thay đổi theo thời gian, những sự phát triển bao hàm cả khái cạnh thay đổi theo hướng đi lên, hướng tốt hơn tương đối (sự phát triển theo hướng đi lên như vậy, trong sinh học gọi đó là sự phát triển tiến độ hay tiến hóa, ngược lại là sự phát triển thoái bộ - thoái hóa) Phát triển chính là quá trình tiếp thu những kiến thức nhằm mở ra cho cá nhân những công việc mới dựa trên cơ sở định hướng tương lai của tổ chức
- Phát triển bao hàm sự tăng trưởng về kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa - giáo dục, phát triển toàn diện con người, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm ổn định chính trị và giữ vững an ninh - quốc phòng của
Trang 21Trên cơ sở tìm hiểu một số quan niệm về phát triển như trên, ta thấy khái niệm phát triển có nội hàm và ngoại diên của nó:
+ Nội hàm: Phát triển tạo ra cái mới hoặc hoàn thiện, làm thay đổi về căn bản cái
đã có để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn Cái mới, cái được hoàn thiện (tức là sự phát triển)
có thể có hai khía cạnh chính: Phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng
+ Ngoại diên: Là tất cả hoạt động tìm kiếm
Như vậy, phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất lượng Nói cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai
1.2.2 Chương trình
- “Chương trình được định nghĩa là một loạt các hoạt động được thực hiện với
sự hỗ trợ của các nguồn lực nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể cho các nhóm khách hàng đã được định sẵn” [24]
- “Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà sinh viên cần đạt được Đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ, nội dung học tập, các phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức, đánh giá kết quả học tập… nhằm đạt được mục tiêu học tập đã đề ra” [24]
Như vậy: Chương trình là tổ hợp các kinh nghiệm và hoạt động được tổ chức trong một môi trường sư phạm nhất định nhằm hình thành và phát triển ở sinh viên những năng lực trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể lực và lao động Nó thể hiện mục tiêu giáo dục mà học sinh đạt được trong một khoảng thời gian xác định, đồng thời xác định rõ nội dung dạy học, các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, các hình thức đánh giá kết quả học tập cũng như những điều kiện nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã đề ra
1.2.3 Phát triển chương trình đào tạo
Phát triển chương trình là khái niệm đang được sử dụng còn khá mới mẻ đối với Việt Nam Do triết lí về chương trình của hệ thống giáo dục các nước khác với Việt Nam nên khi nghiên cứu chương trình các nước, chúng ta nhận được một bản đề cương hết sức vắn tắt, trong khi nhu cầu tìm hiểu những hệ thống tri thức cụ thể, chi tiết và tất nhiên là không thể có được trong các chương trình giáo dục nước ngoài Do
Trang 22vậy, tiếp cận khái niệm “phát triển chương trình” nhiều chuyên gia giáo dục Việt Nam (kể cả giáo viên các cấp) còn hồ nghi bởi trong quan niệm đã “ăn sâu bén rễ” trong đầu họ về chương trình là sự ổn định, lâu dài, được đóng gói cho mọi đối tượng,
do vậy không thể có việc “phát triển chương trình” được Lối tư duy này ảnh hưởng mạnh đến việc triển khai và viết sách giáo khoa đang làm hiện nay
Vậy, phát triển chương trình giáo dục là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng chương trình giáo dục cho phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế-xã hội, khoa học và công nghệ, của đời sống xã hội…
Như vậy, chương trình giáo dục không phải được thiết kế một lần và dùng mãi, mà luôn được phát triển bổ sung, hoàn thiện tùy theo sự phát triển kinh tế-xã hội của thị trường sử dụng lao động
1.2.4 Đào tạo, đào tạo từ xa
Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo
đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định
Như vậy: Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ
Có nhiều dạng đào tạo, tùy theo mục đích và cách thức đào tạo mà có các hình thức đào tạo như sau:Đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu, đào tạo nghề nghiệp, đào tạo từ xa, đào tạo dài hạn, đào tạo ngắn hạn
Bên cạnh đó, tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp Hai loại này gắn bó và hỗ trợ nhau với những nội dung do đòi hỏi của sản xuất, của các mối quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ, văn hóa của đất nước
Trong nhà trường, còn có thể thực hiện đào tạo chính quy và không chính quy
Về cơ bản nó là hoạt động giảng dạy của nhà trường, gắn việc tuyền thị tri thức với
Trang 23giáo dục đạo đức và nhân cách Kết quả và trình độ được đào tạo của một người ngoài việc phục thuộc vào hoạt động nêu trên còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia vào các hoạt động xã hội, lao động sản xuất, tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định Chỉ khi nào quá trình đào tạo biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao
1.2.4.2 Đào tạo từ xa
Về khái niệm “đào tạo từ xa” hay “giáo dục từ xa” vần còn nhiều quan điểm
và nhìn nhận khác nhau, nhiều cách gọi như giảng dạy hàm thụ, giảng dạy vô tuyến, truyền hình học đường, giảng dạy ngoài trường, việc truyền tài liệu sư phạm thực hiện qua vệ tinh, bằng mạng cáp thông tin,… đôi lúc đã gây nên sự không chính xác xung quanh khái niệm trên, đó là do cách tiếp cận, nhìn nhận vấn đề ở các khía cạnh khác nhau Nhiều quan điểm về đào tạo từ xa của một số tác giả tiêu biểu[2] như: Moore (1973); Keegan (1980); Holinberg (1981); Kaye và Rumble (1981); Wedemeyer (1982), theo đó một số tác giả quan niệm rằng đào tạo từ xa là đào tạo
“mặt không giáp mặt” trong quan hệ thầy trò, một số tác giả quan điểm đào tạo từ xa với vai trò tự học là chính nhưng bên cạnh đó có sự hỗ trợ, phụ đạo, hướng dẫn của giáo viên, nhưng cũng có một số tác giả quan niệm đào tạo từ xa chỉ là đào tạo thông qua việc sử dụng các phương tiện truyền thông và công nghệ thông tin (video, truyền hình, mạng máy tính, internet…)
Theo tác giả France Henri [18] đào tạo từ xa không chỉ là việc dạy đơn thuần
mà là một hệ thống phức tạp trong tổ chức và hoạt động sư phạm Học từ xa, dạy từ
xa đòi hỏi sự thay đổi triệt để cách thực hiện, các phương tiện, phương pháp sư phạm nhằm khắc phục khó khăn về khoảng cách, sự cách biệt nhất định giữa sinh viên và người dạy Từ đó dẫn đến thay đổi sâu sắc về vai trò và nhiệm vụ của giảng viên cũng như các bước tiến hành, phương pháp phù hợp với yêu cầu của học từ xa, đó là việc tự học có hỗ trợ
Theo Bộ GD&ĐT thì đào tạo từ xa hay còn gọi là giáo dục từ xa thuộc phương thức giáo dục không chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân Đào tạo từ
xa là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự giãn cách giữa người dạy và sinh viên về mặt thời gian và không gian Sinh viên theo đào tạo từ xa chủ yếu là tự
Trang 24học qua học liệu như: Giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, phần mềm vi tính, bằng việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn cá nhân, phát thanh, truyền hình, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng Internet dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà trường Đào tạo từ xa lấy tự học là chính, đòi hỏi sinh viên phải tự giác, kiên trì
và quyết tâm cao để hoàn thành chương trình học tập của mình Số giờ tập trung để nghe hướng dẫn, giải đáp thắc mắc, phụ đạo chiếm từ 15% đến 25% số giờ kế hoạch của toàn khóa Tùy theo tính chất và mức độ khó (cho sinh viên) của mỗi học phần, Hiệu trưởng các cơ sở đào tạo có thể quy định số giờ tập trung tăng thêm nhưng không vượt quá 30% số giờ kế hoạch dành cho học phần đó Tùy vào cách thức tổ chức, đào tạo từ xa phân thành nhiều hình thức khác nhau như đào tạo theo chương trình đại học có cấp bằng, theo chương trình cấp chứng chỉ, đào tạo các học phần, tín chỉ theo yêu cầu của sinh viên; đào tạo các chuyên đề bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhập kiến thức kỹ năng…nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, công việc
Như vây, khái niệm đào tạo từ xa được hiểu là đào tạo trình độ đại học, trong
đó vai trò tự học của sinh viên là chính cùng với sự hỗ trợ, hướng dẫn trực tiếp/mặt giáp mặt và gián tiếp của người dạy, với sự hỗ trợ của hệ thống nguồn học liệu mở
và các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại của các cơ sở đào tạo nhân lực
1.2.5 Phát triển chương trình đào tạo từ xa
Từ những phân tích trên thì phát triển chương trình đào tạo từ xa là một quá trình làm cho chương trình ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng tốt hơn so với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, thông qua việc thiết kế chương trình hoặc điều chỉnh chương trình; là quá trình liên tục, khép kín, tuần hoàn Trong đó thể hiện trình độ đào tạo, nội dung đào tạo, kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo, các điều kiện thực hiện chương trình…nhằm thực hiện mục tiêu của quá trình GD&ĐT Xác định rõ những kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi, khẳng định những năng lực lao động cụ thể mà sinh viên sẽ thực hiện được sau khi được đào tạo
Như vậy khái niệm về phát triển chương trình là xem xét chương trình đào tạo
từ xa như một quá trình phát triển và hoàn thiện nó hơn là một trạng thái hay là một
Trang 25giai đoạn cô lập, tách rời, là một quá trình thường xuyên, liên tục làm cho chương trình đào tạo từ xa ngày càng hoàn thiện; thực chất đó chính là các đợt cải cách giáo dục để đổi mới/điều chỉnh chương trình
Về cơ bản, phát triển chương trình là một kế hoạch xây dựng môi trường nhằm phối hợp các yếu tố thời gian, không gian, vật chất, thiết bị và con người theo một trật tự nhất định Hoạt động xây dựng chương trình là sự nghiên cứu thiết kế và quản lí các mối quan hệ của các yếu tố cấu thành chương trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu đề ra
1.3 Một số vấn đề lý luận về phát triển chương trình đào tạo từ xa
1.3.1 Khái quát chung về chương trình, phát triển chương trình
1.3.1.1 Chương trình
Chương trình đào tạo thể hiện trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của sinh viên khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình
Chương trình đào tạo được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: Giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp Đề cương chi tiết của từng học phần phải thể hiện rõ số lượng tín chỉ, điều kiện tiên quyết (nếu có), học trước, học song hành, nội dung lý thuyết và thực hành, cách thức đánh giá học phần, giáo trình, tài liệu tham khảo và điều kiện thí nghiệm, thực hành, thực tập phục vụ học phần
Chương trình đào tạo còn được xem xét ở đây tương đương với thuật ngữ curriculum trong tiếng anh Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chương trình đào tạo ở nước ta và ngay cả trong các văn bản tiếng anh
Theo từ điểm Giáo dục của Carter V.Good: “Curriculum là một nhóm có hệ
thống các khóa học hoặc trình tự các môn học đòi hỏi sự tốt nghiệp hay chứng nhận trong một lĩnh vực học tập, ví dụ như chương trình học xã hội, chương trình giáo dục thể chất…”.[29]
Franklin Bobbit cho rằng: “Hiểu curriculum như chuỗi những điều mà thanh
thiếu niên phải thực hiện và trải qua bằng cách triển khai các khả năng giải quyết tốt các vấn đề mà họ sẽ phải ứng xử khi trưởng thành”
Trang 26Hollis L.Caswell và Doak S.Campbell không xem curriculum như một nhóm các khoa học mà coi chương trình là “tất cả các kinh nghiệm mà trẻ em có được dưới
sự hướng dẫn của giáo viên”
J.Gaylen Saylor, William M.Alexander và Arthur J.Lewis đưa ra định nghĩa:
“Curriculum như một bản kế hoạch nhằm cung cấp tập hợp các cơ hội học tập cho
mọi người để họ được thụ hưởng nền giáo dục đó”
Ngoài ra, rất nhiều các tác giả đưa ra các quan niệm của mình xoay quanh khái niệm curriculum (Dẫn theo tài liệu Xây dựng chương trình học - Developing the Curriculum, Nguyễn Kim Dung dịch, NXB giáo dục, 2006) [17]
Theo từ điển Giáo dục học- NXB Từ điển bách khoa 2001 Khái niệm chương
trình đào tạo được hiểu là: „„Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu,yêu
cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ
và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo” [29]
Theo Wentling (1993): „„Chương trình đào tạo (Program of Training) là một
bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (khoá đào tạo) cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở sinh viên sau khoá đào tạo, phác thảo ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra,đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được
sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ” [33] (Wentling T - Planning for
effective training: A guide to curriculum development Published by Food and
Agricultural Organization of the United Nation, 1993)
Mô hình xây dựng chương trình do Ralph W Tyler đề xuất được nhiều chuyên gia giáo dục cho là một trong những mô hình nổi tiếng và toàn diện nhất Theo Tyler, qui trình xây dựng chương trình học nói chung gồm 6 bước:
1 Phân tích nhu cầu
2 Xác định mục tiêu giảng dạy
3 Lựa chọn nội dung giảng dạy
4 Sắp xếp nội dung
Trang 275 Thực hiện nội dung
Theo Taba, xây dựng chương trinh học theo trình tự 5 bước sau:
1 Đưa ra chương trình thử nghiệm
2 Kiểm tra các chương trình thử nghiệm, các đơn vị thực nghiệm
3 Sửa chữa và hoàn thiện chương trình thử nghiệm
4 Phát triển khuôn khổ
5 Áp dụng và phổ biến chương trình cho các đơn vị mới
Văn bản chương trình giáo dục phổ thông của Hàn quốc (The School Curriculum of the Republic of Korea) [41] bao gồm 4 thành phần cơ bản sau:
1 Định hướng thiết kế chương trình
2 Mục tiêu giáo dục của các bậc, cấp học phổ thông
3 Các môn, phần học và phân phối thời gian (nội dung, kế hoạch dạy học)
4 Chỉ dẫn về tổ chức thực hiện và đánh giá chương trình
Chương trình là hệ thông mở, không đóng khung vào nhà trường (được định hướng bởi nhà trường); có sự tham gia của nhiều thành phần vào chương trình; phạm
vi chương trình được hiểu rộng hơn, đa dạng hơn và linh hoạt hơn cách hiểu của chúng ta về: “chương trình là văn bản do Bộ GD&ĐT ban hàng, trong đó ghi rõ: Vị trí môn học, yêu cầu; nội dung chi tiết - thời gian thực hiện; hướng dẫn thực hiện chương trình”
Quan niệm khác nhau về curriculum nhưng có xu hướng mở rộng nội hàm khái
niệm này, ví dụ như Geneva Gay đã phát biểu: “Chúng ta phải mở rộng quan niệm
của mình bằng cách đưa vào nhà trường không chỉ nội dung của chủ đề môn học mà còn cả nền văn hóa”
Trang 28Theo Luật giáo dục 2005 chương trình giáo dục được quy định theo điều 6
Chương I là: ““Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục, quy định chuẩn
kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức
tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học
ở mỗi lớp, mỗi cấp học hay trình độ đào tạo” [1] Chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời lượng đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian giữa các môn học, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng, trường đại học xác định chương trình đào tạo của trường mình” (Điều 41- Luật Giáo
dục 2005) [1]
Từ đó có thể hiểu: Chương trình là tổ hợp các kinh nghiệm và hoạt động được
tổ chức trong một môi trường sư phạm nhất định nhằm hình thành phát triển ở học sinh những năng lực trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, thể lực và lao động Nó thể hiện mục tiêu giáo dục mà học sinh đạt được trong một khoảng thời gian xác định, đồng thời xác định rõ nội dung dạy học, các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học các hình thức đánh giá kết quả học tập cũng như những điều kiện nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã đề ra
Phân loại chương trình đào tạo: Chương trình đào tạo được phân loại như sau:
- Chương trình môn học: Là loại chương trình đào tạo mà cấu trúc, nội dung cơ bản được xây dựng hay thiết kế chủ yếu từ các môn học theo các lĩnh vực khoa học tự nhiên,
xã hội và kỹ thuật - nghề nghiệp Thông thường các chương trình môn học sử dụng theo học chế năm học (niên chế) ở giáo dục phổ thông là theo các lớp trong từng bậc, cấp học
và ở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học là theo từng năm đào tạo Chương trình môn học có thể được thiết kế theo các học phần, đơn vị học trình (15 tiết)
- Chương trình Modul: Một trong những phương hướng đáng chú ý trong quá trình nghiên cứu phát triển chương trình đào tạo là nghiên cứu thiết kế các chương trình đào tạo theo modul Hay nói cách khác là chương trình đào tạo được xác lập trên cơ sở lựa chọn và tổ hợp các modul đào tạo Modul là một đơn vị học tập trọn vẹn trong đó tổ hợp các kiến thức, kỹ năng liên quan cùng các chỉ dẫn, quy trình cụ
Trang 29thể để tạo ra một năng lực chuyên môn nhất định Có nhiều kiểu thiết kế modul Có kiểu modul cỡ lớn ở bậc đại học với thời lượng khoảng 300 tiết học bao gồm một
số môn học liên quan với một hướng khoa học nào đó cả về lý thuyết và thực nghiệm, kết thúc modul được đánh giá bằng một kỳ thi với nhiều môn thi: Thi viết, vấn đáp, thi thực tập Sinh viên thi đạt kết quả được cấp một chứng chỉ cho modul tương ứng Một chương trình đào tạo cử nhân bao gồm 5-6 modul lớn Cũng có loại chương trình modul kỹ năng hành nghề (MES) Chương trình đào tạo theo MES được thiết kế bao gồm nhiều modul tương đối độc lập hướng tới mục tiêu sau mỗi modul sinh viên có khả năng (năng lực) thực hiện được công việc cụ thể nào
đó Tuỳ thuộc và nhu cầu, khả năng của sinh viên và điều kiện của cơ sở đào tạo
mà chương trình được thiết kế mềm dẻo, linh hoạt với nhiều phương án tổ hợp các modul khác nhau Kết thúc một modul sinh viên được cấp một chứng chỉ hay tín chỉ hoàn thành modul đó
Modul có tính độc lập tương đối và do đó tạo khả năng thiết kế các chương trình đào tạo mềm dẻo và có tính linh hoạt cao Với quan điển đào tạo theo năng lực thực hiện (Competency based training) modul học tập trong chương trình đào tạo kỹ năng hành nghề (MES) có các đặc điểm sau:
1 Hướng vào mục tiêu thực hiện/thực hành tạo cho sinh viên có được khả năng, năng lực thực hiện công việc (hay năng lực hành nghề) sau khi hoàn thành modul tương ứng
2 Bao quát trọn vẹn một vấn đề, thể hiện tính độc lập tương đối của từng modul trong chương trình đào tạo và giải quyết một vấn đề trong lao động nghề nghiệp
3 Tích hợp nội dung lý thuyết và thực hành trong một modul, giữa lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề theo các công việc (task)
4 Đào tạo theo nhịp độ sinh viên Thể hiện khả năng cá nhân hoá sinh viên trong quá trình đào tạo Sinh viên có thể lựa chọn khối lượng, tốc độ học tập theo nguyện vọng và khả năng của mình
5 Thực hiện đánh giá liên tục và hiệu quả Thực hiện đánh giá trước, trong và khi kết thúc quá trình học tập của từng modul bằng nhiều hình thức và kỹ thuật khác nhau
6 Có khả năng lắp ghép đa dạng và phát triển Đáp ứng với nhu cầu thay đổi
Trang 30của kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất và thị trường lao động do có khả năng lựa chọn hoặc thay đổi các modul thích ứng
1.3.1.2 Phát triển chương trình đào tạo
Phát triển chương trình đào tạo là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng chương trình đào tạo Theo quan điểm này chương trình đào tạo là một thực thể không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi, mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tùy theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh tế - xã hội, của thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ, và cũng là theo yêu cầu của thị trường sử dụng lao động Nói cách khác, một khi mục tiêu đào tạo của nền giáo dục quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thì chương trình giáo dục cũng phải thay đổi theo, mà đây lại là quá trình diễn ra liên tục nên chương trình đào tạo cũng phải được không ngừng phát triển và hoàn thiện
Sau đây là 10 tiên đề mà các nhà phát triển chương trình giáo dục xem là tất yếu cần và có thể áp dụng cho ngành học “Phát triển chương trình đào tạo”
Thay đổi chương trình là cần thiết và không thể tránh được
Chương trình là sản phẩm của thời đại
Các thay đổi trong chương trình xảy ra ở giai đoạn đầu có thể cùng tồn tại và đan xen với những thay đổi ở giai đoạn sau
Thay đổi chương trình xảy ra chỉ khi nào mà con người bị thay đổi
Xây dựng chương trình là một hoạt động nhóm hợp tác
Xây dựng chương trình về cơ bản là một quá trình chọn lựa giữa nhiều khả năng thay thế
Xây dựng chương trình không bao giờ kết thúc
Xây dựng chương trình sẽ hiệu quả hơn nếu như đó là một quá trình toàn diện, chứ không phải là quá trình từng phần
Xây dựng chương trình sẽ hiệu quả hơn khi nó tuân theo một quá trình có hệ thống Xây dựng chương trình bắt đầu từ chương trình hiện hành
Nếu xem “Phát triển chương trình giáo dục” là một quá trình liên tục nó sẽ bao gồm các yếu tố sau
1 Phân tích nhu cầu ( Need analysis)
2 Xác định mục đích và mục tiêu ( Defining aims and objectives)
3 Thiết kế (curriculum design)
Trang 31Sơ đồ 1.1 Phát triển chương trình đào tạo
Theo sơ đồ này các yếu tố tác động qua lại lẫn nhau và phải xem xét từng yếu tố trong mối tác động của các yếu tố khác Khái niệm phát triển chương trình đào tạo có thể liên quan tới hai đối tượng:
- Phát triển chương trình giáo dục của một khoá đào tạo
- Phát triển chương trình của một môn học (course)
Có một vài quan điểm khác trong cách tiếp cận khái niệm “phát triển chương trình đào tạo”
Tim Wentling (1993) chia quy trình đào tạo thành 3 giai đoạn: Chuẩn bị, thực thi, đánh giá chương trình giáo dục Giai đoạn chuẩn bị được xem là phát triển chương trình đào tạo bao gồm:
1 Xác định nhu cầu đào tạo
2 Xác định mục tiêu đào tạo
3 Sắp xếp nội dung đào tạo
4 Lựa chọn phương pháp, kỹ thuật đào tạo
I Xác định nhu
cầu
II Xác định mục tiêu
IV Thực thi chương trình
V Đánh giá
III Thiết kế chương trình
Trang 325 Xác định nguồn lực cần cho quy trình đào tạo
6 Sắp xếp, lên kế hoạch cho các bài giảng
7 Lựa chọn, sáng tạo các vật liệu hỗ trợ quá trình đào tạo
8 Lựa chọn, xây dựng các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập
9 Thử nghiệm, chỉnh lý chương trình giáo dục (trước khi áp dụng đại trà) Như vậy theo T Wentling, phát triển chương trình đào tạo là quá trình thiết kế chương trình giáo dục Sản phẩm của quá trình này là một bản kế hoạch mô tả chương trình đào tạo đầy đủ từ mục tiêu (chi tiết cụ thể), nội dung (kiến thức, kỹ năng, thái độ), phương pháp đào tạo, các phương tiện hỗ trợ đào tạo, tới phương pháp, cách thức đo lường, đánh giá kết quả học tập của sinh viên (đối chiếu với hệ mục tiêu) Tuy nhiên, chương trình đào tạo sau khi được thực thi, được đánh giá thì những thông tin phản hồi đó luôn được sử dụng ngay trong các giai đoạn của quá trình đào tạo để hoàn thiện chương trình đào tạo Khi kết thúc một chu trình đào tạo thì việc đánh giá toàn bộ chương trình giáo dục, thông tin phản hồi, kết hợp với sự phân tích nhu cầu đào tạo sẽ làm cơ sở cho việc cải tiến hoặc thiết kế mới chương trình giáo dục cũng sẽ được hoàn thiện, phát triển không ngừng cùng với quá trình đào tạo [33]
1.3.2 Phát triển chương trình đào tạo từ xa
1.3.2.1 Đặc điểm chương trình đào tạo từ xa
Chương trình đào tạo từ xa chuyển giao có hệ thống, có phương pháp kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cần thiết
Đây là hoạt động mang tính phối hợp chủ thể dạy học, là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở đào tạo, được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện kỹ thuật, học liệu cũng như thời gian và đối tượng đào tạo cụ thể Được triển khai thực hiện theo một quá trình xuyên suốt từ đầu vào, quá trình cho đến đầu ra
Chương trình đào tạo từ xa phải dựa vào chuẩn đầu ra, tức vị trí việc làm của sinh viên từ đó tham khảo, xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo
Trang 33Các chương trình đào tạo từ xa phải đảm bảo đa dạng, phong phú ở nhiều lĩnh vực, ngành, chuyên ngành sâu…đáp ứng với nhu cầu đa dạng, phong phú của từng đối tượng người học trong một xã hội học tập, nhu cầu của từng cơ sở sử dụng lao động
và thị trường lao động trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển nhanh, nhiều ngành nghề cũ mất đi và nhiều ngành nghề mới xuất hiện
Chương trình đào tạo từ xa cần lưu ý đến việc tương thích giữa nội dung chương trình với các phương tiện kỹ thuật, học liệu, đảm bảo sự thuận tiện và tạo động lực trong học tập của sinh viên
Chương trình đào tạo được công bố công khai trên tất cả các đối tượng có liên quan, có nhu cầu về nội dung, thời gian, phương pháp đào tạo cũng như đảm bảo thực hiện đúng các nội dung của chương trình
1.3.2.2 Mục đích phát triển chương trình đào tạo từ xa
Xác định “cái đích hướng tới” của quá trình giáo dục - đào tạo nhằm hình thành
và phát triển nhân cách con người, những đức tính nghề nghiệp Phát triển chương trình đào tạo từ xa là một quá trình liên tục bao gồm các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau như: Phân tích tình hình, đánh giá nhu cầu; xác định mục đích và mục tiêu; thiết kế; thực thi và đánh giá Đối với chương trình đào tạo từ xa thì quá trình này được thực hiện theo một quy trình 3 năm, theo từng khóa học Từ đó quy trình phát triển chương trình đào tạo gắn liền với chuẩn đầu ra Mục đích phát triển chương trình đào tạo từ xa hướng tới quá trình điều chỉnh và thay đổi các yếu tố: Mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy và đánh giá được quan niệm mới hơn và hành độ thường xuyên, thiết kế chương trình theo các xu hướng mở, tạo cơ hội cho sự thay đổi, bổ sung và cơ cấu lại nội dung một cách khoa học, hợp lý để đạt được mục đích của việc phát triển chương trình là xây dựng chương trình đào tạo từ xa đáp ứng mục tiêu giáo dục đề ra
Công tác phát triển chương trình đào tạo từ xa thực sự cần thiết phải thay đổi nhằm cải thiện nội dung, sửa đổi và bổ sung những nội dung mới, làm cho chương trình đào tạo phù hợp hơn với hoàn cảnh và nhu cầu của đất nước và đảm bảo xu thế hội nhập, xóa đi những tồn tại hiện có trong chương trình đào tạo từ xa Ngoài ra, những thay đổi trong xã hội có xu hướng đòi hỏi phải có những thay đổi tương ứng ngay trong chương trình đào tạo từ xa bởi vì đó là giai đoạn cuối cùng của đào tạo và
Trang 34bước đệm quan trọng để người học tham gia vào thế giới việc làm Việc đổi mới chương trình đào tạo từ xa có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tri thức cho xã hội
1.3.3 Quy trình phát triển chương trình đào tạo từ xa
Nếu xem “Phát triển chương trình giáo dục” là một quá trình liên tục nó
sẽ bao gồm các yếu tố sau:
1 Phân tích tình hình, đánh giá nhu cầu
1.3.31 Phân tích tình hình đánh giá nhu cầu đào tạo từ xa
Khi bắt đầu thiết kế một chương trình đào tạo từ xa việc đầu tiên mà các nhà giáo dục cần làm là phân tích tình hình và đánh giá nhu cầu Trong thiết kế chương trình đào tạo từ xa, việc phân tích nhu cầu nhằm tới các đối tượng sau:
Trước hết là phải xem xét tất cả các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc đưa ra mục tiêu, cấu trúc và nội dung của chương trình đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa Xem xét mối quan hệ giữa các môn học với mục đích, mục tiêu của chương trình đào tạo: Mỗi môn học là một bộ phận cấu thành của cả chương trình đào tạo; những mối quan hệ giữa mỗi môn học với các môn học khác trong chương trình đào tạo, với các hoạt động của sinh viên
Những thông tin về sinh viên: Cần xem xét ở sinh viên các thông tin như: Kiến thức trước khi bắt đầu ở mỗi môn học, thái độ của sinh viên đối với môn học, những mong đợi của sinh viên đối với môn học
Các nhu cầu xã hội đối với sinh viên sau tốt nghiệp: Những thông tin thu được
từ cựu sinh viên, cơ sở sử dụng lao động, các công trình nghiên cứu liên quan về yêu cầu nghề nghiệp
Trang 35Những thông tin trên giúp người thiết kế chương trình đào tạo theo hình thức đào tạo từ xa sẽ xác định được sinh viên cần được trang bị kiến thức và kỹ năng gì? mức độ kiến thức như thế nào là phù hợp? Đảm bảo các kiến thức kĩ năng cần cung cấp cho sinh viên một cách chính xác nhất có thể Kết quả phân tích tình hình, đánh giá nhu cầu là căn cứ quan trọng trong việc xác định mục tích, mục tiêu của chương trình đào tạo
1.3.3.2 Xác định mục đích và mục tiêu đào tạo từ xa
Một chương trình giáo dục phải có mục đích chung cho cả khóa học, đồng thời phải xác định mục tiêu cụ thể cho từng nhóm môn học, từng môn học Và từ đây mỗi môn học lại được xác định mục tiêu chi tiết (kiến thức, kỹ năng, thái độ) tới từng chương, từng bài
Mục tiêu của việc phát triển chương trình đào tạo từ xa là đảm bảo cung cấp nội dung kiến thức, hoàn chỉnh các kỹ năng và phẩm chất của sinh viên sao cho: Sau quá trình đào tạo, sinh viên có thể đáp ứng chuẩn đầu ra, tức đáp ứng nhu cầu vị trí việc làm của cơ sở sử dụng nhân lực và xã hội; thỏa mãn được nhu cầu học tập của từng cá nhân
Khi xác định mục tiêu phát triển chương trình đào tạo từ xa, cơ sở đào tạo cần lưu ý đến khối lượng kiến thức cơ bản, kiến thức cơ sở, chuyên ngành cho sinh viên, đảm bảo chất lượng Cung cấp các kiến thức chung nhất và mang tính mở nhằm phát triển tối đa việc tự nghiên cứu, liên hệ ứng dụng trong thực tiễn của sinh viên
Xác định mục tiêu phát triển chương trình đào tạo từ xa cũng phải phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực có tri thức, có kỹ năng nghề nghiệp và thái độ đúng đắn với xã hội
1.3.3.3 Thiết kế chương trình đào tạo từ xa
Trên cơ sở mục tiêu của chương trình đào tạo được xác định ở mức khái quát, qui định những năng lực mà sinh viên phải có sau khi học xong môn học (hoặc một khoá đào tạo), công việc thiết kế chương trình đào tạo từ xa thực sự bắt đầu Công việc này đòi hỏi sự nỗ lực hợp tác của một tập thể những chuyên gia thiết kế chương trình đào tạo và các nhà giáo có kinh nghiệm Việc thiết kế chương trình đào tạo từ
xa cần đi vào những công việc cụ thể, chi tiết theo các bước:
Trang 36Lựa chọn và sắp xếp nội dung đào tạo: Lĩnh vực nội dung là mối quan tâm chính trong thiết kế chương trình một môn học Điều đầu tiên cần đảm bảo là nội dung của bất kì chương trình nào cũng phải cập nhật, mới nhất có thể, đáp ứng mục tiêu của môn học đã được xác định
Xác định các hình thức tổ chức dạy - học: Căn cứ vào mục tiêu và nội dung đã được xác định, lựa chọn và tổ chức như nói ở trên, việc tìm kiếm các hình thức tổ chức dạy học phù hợp cũng là một khâu quan trọng tác động lớn tới hiệu quả dạy - học Có các lựa chọn cơ bản về hình thức tổ chức dạy học như: Lên lớp lí thuyết, làm việc nhóm, làm việc tại phòng thí nghiệm, hoạt động ngoài lớp học, v.v Những hình thức tổ chức dạy học này sẽ qui định các phương pháp dạy - học tương ứng
Lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp: Việc lựa chọn phương pháp dạy học sẽ bị qui định bởi: Mục tiêu, nội dung dạy học (môn học, chương mục, bài học, từng nội dung cụ thể trong các giai đoạn triển khai giờ học v.v.); nguyên tắc dạy học; đặc điểm tâm, sinh lý, khả năng, trình độ, hứng thú của sinh viên; trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của người dạy Có thể nêu ra một vài phương pháp thường dùng sau:
Phương pháp thuyết trình - minh hoạ: Phương pháp này nhắm đến mục tiêu
làm cho sinh viên Biết (ghi nhớ) phù hợp với nội dung dạy học sự kiện, khái niệm
Phương pháp tái tạo: Phương pháp này nhắm đến mục tiêu làm cho sinh viên
Hiểu (bước đầu vận dụng), phù hợp với nội dung dạy học qui trình, quá trình
Phương pháp nêu vấn đề - tình huống: Phương pháp này nhắm đến mục tiêu
giúp sinh viên vận dụng được các kỹ năng để giải quyết những vấn đề của nội dung, phù hợp với dạy học các nguyên lý, nguyên tắc
Phương pháp khám phá sáng tạo: Phương pháp này nhắm đến mục tiêu giúp sinh viên
Phân tích được các vấn đề của nội dung đặt ra, phù hợp với dạy học sáng tạo
Phương pháp tự nghiên cứu (làm việc độc lập): Phương pháp này nhắm đến
mục tiêu giúp sinh viên phân tích, tổng hợp và đánh giá, đưa ra quan điểm, ý kiến riêng về những vấn đề của nội dung dạy học
Lựa chọn và sử dụng công nghệ: Việc lựa chọn và sử dụng công nghệ phụ thuộc rất nhiều vào hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học, để tiến tới mục đích cuối cùng là đạt mục tiêu dạy học Một công nghệ sử dụng kém hiệu quả sẽ
Trang 37không giúp giảng viên nâng cao chất lượng đào tạo, nó chỉ duy trì, thậm chí còn gia tăng sự kém hiệu quả nữa Có khi chỉ với công nghệ đơn giản, được sử dụng một cách thông minh, khéo léo vẫn có thể nâng cao chất lượng giảng dạy
Thiết kế công cụ và qui trình đánh giá kết quả học tập: Kiểm tra đánh giá nói chung cũng như kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong một qui trình giáo dục và đào tạo thể hiện sự cam kết của nhà trường, cũng như của từng giảng viên phụ trách môn học về chất lượng của sản phẩm đào tạo cũng như hiệu quả của quá trình đào tạo, và cung ứng cho xã hội nguồn nhân lực tương xứng với những nguồn lực mà nhà nước, học sinh và cha mẹ họ đầu tư cho giáo dục Trong một qui trình giáo dục và đào tạo, đánh giá liên tục là một hoạt động mà bất kì giảng viên nào cũng phải thực hiện, ngay cả khi không có bất kì áp lực nào từ bên ngoài
Qui trình đánh giá kết quả bao gồm các bước sau: Xác định những mục tiêu chi tiết ứng với từng đơn vị nội dung của môn học; lựa chọn các hình thức kiểm tra đánh giá; thiết kế các công cụ kiểm tra đánh giá
1.3.3.4 Thực thi chương trình đào tạo từ xa
Đưa chương trình đào tạo từ xa vào thử nghiệm và thực hiện
Quá trình thực thi chương trình đào tạo môn học gồm các bước sau:
- Xây dựng kế hoạch giảng dạy dạy, giáo án
- Thực hiện bài giảng theo kế hoạch
- Lập hồ sơ môn học, bao gồm: Kế hoạch giảng dạy, giáo án Các tài liệu học tập có liên quan kể cả các tài liệu của giảng viên Kết quả học tập của sinh viên sau khi học xong môn học Sổ nhận xét, đánh giá của giảng viên trong quá trình thực hiện chương trình; ý kiến của đồng nghiệp sau dự giờ; ý kiến phản hồi của sinh viên sau khi học xong môn học Một số bài thi, kiểm tra của sinh viên
1.3.3.5 Đánh giá chương trình đào tạo từ xa
Đánh giá chương trình đào tạo từ xa nhằm phát hiện xem chương trình đào tạo được thiết kế, phát triển và thực hiện có tạo ra hay có thể tạo ra những sản phẩm mong muốn hay không? Đánh giá giúp xác định điểm mạnh, điểm yếu của chương trình đào tạo trước khi thực hiện, hoặc để xác định hiệu quả của nó sau khi đã thực hiện qua một thời gian nhất định Mọi hoạt động đánh giá phải được căn cứ trên mục tiêu của chương trình đào tạo từ xa và phải trả lời được 2 câu hỏi sau:
Trang 38Chương trình đào tạo có đạt mục tiêu đã xác định của nó hay không? (kiến thức, kỹ năng, thái độ)
Làm thế nào để cải tiến chương trình đào tạo?
Một trong những mô hình đánh giá chương trình đào tạo từ xa được sử dụng nhiều là đánh giá định kỳ và đánh giá tổng kết
Đánh giá định kỳ nhằm thu thập thông tin để cải tiến chương trình đào tạo đang được thực thi Trong quá trình thử nghiệm chương trình đào tạo mới, cần thu thập các thông tin chi tiết, liên tục, đặc thù để giúp những người thiết kế chương trình thay đổi, chấp nhận hay loại bỏ một phần hoặc toàn bộ chương trình Phát triển chương trình đào tạo từ xa là một quá trình liên tục, nên việc đánh giá định kỳ đặc biệt hữu ích để cải tiến và hoàn thiện chương trình đào tạo Điều đó cho phép giảng viên và những người có liên quan không những xác định được hiệu quả mong muốn của chương trình đào tạo đang diễn ra thế nào, mà còn ghi nhận và đánh giá được những hiệu quả không mong muốn đang diễn ra Việc sử dụng các thông tin phản hồi
từ nhiều nguồn trong đánh giá định kỳ giúp cho quá trình phát triển chương trình đào tạo từ xa diễn ra không ngừng
Đánh giá tổng kết nhằm xác định một “bức tranh toàn cảnh” về chất lượng của một chương trình đào tạo đã thực thi, và thường được tiến hành sau khi chương trình đào tạo đã được thực hiện xong cho một khóa đào tạo Đánh giá tổng kết xác nhận hiệu quả của toàn bộ chương trình đào tạo, và cho phép những nhà quản lý rút
ra kết luận về mức độ đạt mục tiêu của chương trình đào tạo
1.3.4 Nguyên tắc phát triển chương trình đào tạo từ xa
1.3.4.1 Đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo từ xa
Về mục tiêu đào tạo theo Điều 39 của Luật giáo dục 2005: “Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo sinh viên có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ được đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kĩ năng thực hành có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo
Trang 39Về nội dung đào tạo theo Điều 40 của Luật giáo dục 2005 “Nội dung đào tạo đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn và các bộ môn khoa học Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc; tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới
Một trong các yêu cầu nhận thức quan trọng khi phát triển chương trình đào tạo
từ xa là khi thiết kế một chương trình đào tạo, chúng ta luôn luôn phải xây dựng mục tiêu của chương trình đào tạo Xác định mục tiêu, đó là yêu cầu tiên quyết của bất kỳ một việc làm nào Thông thường mục tiêu đào tạo của một chương trình (curriculum) gồm 3 nội dung sau:
Chuyên môn
Nghiệp vụ
Năng lực sau tốt nghiệp
Mục tiêu chuyên môn bao gồm bốn loại: Các kiến thức cơ bản, kiến thức cơ sở ngành, kiến thức chuyên ngành và kiến thức chuyên sâu; mục tiêu này nhằm trả lời cho các câu hỏi: Chương trình trang bị cho sinh viên những kiến thức gì? Khối lượng
và trình độ kiến thức ấy ra sao? Mục tiêu nghiệp vụ bao gồm hai loại: Nghiệp vụ vận hành và nghiệp vụ vận dụng; mục tiêu này nhằm trả lời cho các câu hỏi sau: Chương trình đào tạo rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng kỹ sảo nào? Khả năng vận hành
và vận dụng các kiến thức học được đến mức nào? Mục tiêu năng lực sau tốt nghiệp bao gồm hai loại: Năng lực thực hiện và năng lực đảm nhiệm công việc, nghề nghiệp; mục tiêu này nhằm trả lời cho các câu hỏi: Tốt nghiệp chương trình đào tạo sinh viên
có thể làm được những nghề nghiệp gì? ở những cơ sở sử dụng nguồn nhân lực nào?
và có thể đảm nhiệm được vai trò gì ở cơ sở tuyển dụng ấy?
1.3.4.2 Đảm bảo có sự phân định nội dung theo các khối kiến thức và trình độ kiến thức
Đảm bảo có sự phân định nội dung theo các khối kiến thức: Việc phân định nội dung kiến thức, tuỳ thuộc vào mục tiêu thiết kế chương trình đào tạo (curriculum), một chương trình môn học (syllabus) hay viết một giáo trình (textbook) mà có những cách phân định khác nhau, phổ biến nhất là các cách phân định sau đây:
Kiến thức chung bắt buộc (được quy định rõ tên học phần và thời lượng)
Trang 40Kiến thức ngành có thể liên thông trong đào tạo
Kiến thức chuyên nghiệp dành cho đặc thù nhòm ngành
Miễn học cho hai học phần kiến thức (giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng) Kiến thức tự chọn
Đảm bảo có sự phân định nội dung theo trình độ kiến thức: Trong khoa học phát triển chương trình (Curriculum Development), phần lớn người ta phân định nội dung theo trình độ từ 100 đến 700 cho các học phần, cụ thể:
Trình độ 100: Để tiếp thu trình độ 100 chỉ đòi hỏi các kiến thức đã học ở phổ thông trung học
Trình độ 200: Để tiếp thu trình độ 200 đòi hỏi phải có các kiến thức đã học ở phổ thông trung học và những kiến thức liên quan đã học ở trình độ 100 Kiến thức
100 và 200 chủ yếu là các kiến thức nền tảng (kiến thức cơ bản) của lĩnh vực
Trình độ 300: Để tiếp thu trình độ 300 đòi hỏi phải có các kiến thức liên quan đã học ở các trình độ 100 và 200 Kiến thức 300 chủ yếu dành cho các kiến thức cơ sở của ngành
Trình độ 400: Để tiếp thu trình độ 400 đòi hỏi phải có các kiến thức liên quan đã học ở các trình độ 100, 200, và 300 Kiến thức 400 chủ yếu là các kiến thức nhập môn chuyên ngành
Căn cứ vào sự phân định này, các cơ sở đào tạo thiết kế chương trình và xây dựng kế hoạch đào tạo
1.3.4.3 Đảm bảo có sự phân định theo năng lực nhận thức, năng lực tư duy và năng lực vận hành (kỹ năng, kỹ xảo)
Trong khoa học tâm lý giáo dục, ở một góc độ nào đó, người ta cũng có thể phân định nội dung kiến thức theo năng lực nhận thức, năng lực tư duy và năng lực vận hành (kỹ năng kỹ sảo) Cụ thể:
1) Phân định theo năng lực nhận thức: được phân thành 8 cấp độ như sau: Biết: Ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ và các nguyên lý dưới hình thức mà sinh viên đã được học
Hiểu: Hiểu các tư liệu đã được học, sinh viên phải có khả năng diễn giải, mô tả tóm tắt thông tin thu nhận được