Mục đích Giáo dục cách thức thức sử dụng an toàn điện thông qua chương an toàn điện Môn công nghệ lớp 8 Thông qua bài giảng lí thuyết và bài giảng thực hành an toàn điện môn công nghệ lớp 8 Giúp học sinh có kiến thức cơ bản về tác hại của dòng điện đối với cơ thể người, có kĩ năng sử dụng điện an toàn. Giáo dục ý thức sử dụng điện an toàn cho học sinh, nhằm hạn chế những tai nạn rủi ro khi sủ dụng điện, thông qua các bài học trong chương VI an toàn điện. Môn Công Nghệ lớp 8
Trang 1MỤC LỤC
Nội dung Trang
PHẦN I MỞ ĐẦU 2
I Lý do chọn đề tài 2 II Mục đích nghiên cứu 4 III Nhệm vụ nghiên cứu 5 IV Đối tượng nghiên cứu 5 V Phương pháp nghiên cứu 5 VI Những đóng góp của đề tài 5 PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ 7 Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 7
I Cơ sở lý luận của đề tài 7
II Cơ sở thực tiễn của đề tài 8
Chương II: Một số giải pháp an toàn 12
I Các giải pháp an toàn 12 II Phương pháp cứu người bị điện giật 13
Chương III: Một số biện pháp nhằm nâng cao ý thức sử dụng điện an toàn 14
KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, môn côngnghệ lớp 8 trang bị cho học sinh một số kiến thức cơ bản về Vẽ kĩ thuật,Cơkhí, Kĩ thuật điện Trên tinh thần giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp,thể hiện sự liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp gắnliền với cuộc sống lao động sản xuất của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi điạphương cũng như trên cả nước
Công nghiệp điện năng là ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
và là nguồn động lực chủ yếu đối với sản xuất và đời sống Nhờ điện năng,năng suất lao động được nâng cao, góp phần cải thiện đời sống, thúc đẩy cáchmạng khoa học kĩ thuật
Điện năng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong sản xuất và sinh hoạtthì vấn đề an toàn khi vận hành và sử dụng điện càng trở nên cần thiết vớinhững sự cố, tai nạn điện xảy ra rất nhanh và vô cùng nguy hiểm Pháp lệnh
Bảo hộ lao động cũng đã quy định: “mọi người lao động có tiếp xúc với dụng
cụ, thiết bị điện đều phải được học tập, huấn luyện để có hiểu biết về sự nguy hiểm của dòng điện và biết cách sơ cứu người bị tai nạn điện” Trong
thực tế đã có những trường hợp chỉ vì một sơ xuất nhỏ trong quản lí vận hành
và sử dụng điện năng đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng như tai nạn đedọa tính mạng con người, gây hư hỏng hoặc làm tan rã hệ thống điện, gâythiệt hại lớn với người và tài sản kinh tế xã hội
Theo Cục Kỹ thuật An toàn và Môi trường công nghiệp, Bộ Công thương cho biết: “Hàng năm cả nước xảy ra khoảng 400, 500 vụ tai nạn do điện, làm 350 đến 400 người thiệt mạng, hàng trăm người khác bị thương”.
“70% số vụ tai nạn có nguồn gốc từ mất an toàn trong quy trình sử dụng điện tại gia đình, sinh hoạt và 15% do trục trặc trong khâu sản xuất, 5% còn lại
Trang 3thuộc về các vi phạm khác trên các công trường xây dựng, tai nạn lao động
và bất cẩn để điện giật chiếm tới 26,70% tổng số vụ và 19,1% tổng số người chết.
Phát biểu tại Hội thảo “An toàn điện trong lĩnh vực xây dựng điện dân dụng và công nghiệp” diễn ra ngày 5/5/2008 tại Hà Nội, Thượng tá Nguyễn Việt Cường, Cục Cảnh sát phòng cháy Chữa cháy (PCCC) cho biết trung bình mỗi năm toàn quốc phát sinh hơn 1.000 vụ cháy, trong đó nguyên nhân
do sử dụng điện đứng hàng thứ hai sau những sơ xuất từ lửa, xăng dầu, khí đốt
Cá biệt, có những giai đoạn, tác nhân gây cháy do điện đã đứng hàng đầu Năm 2008, 38,1% các vụ cháy xuất phát từ lý do chập điện, trong khi cháy do liên quan đến xăng dầu, khí đốt chỉ chiếm 35,4% gây nên những tổn thất khó lòng tính đến
Theo nhận định của Cục Cảnh sát PCCC, nguyên nhân tai nạn về điện của Việt Nam có phần trái ngược với các nước trên thế giới Còn tại Pháp, hầu hết các tai nạn về điện xảy ra do thiết bị điện bị lỗi, trong khi đó, tai nạn điện ở Việt Nam chủ yếu do bất cẩn và thiếu ý thức trong sử dụng và đảm bảo
an toàn về điện
Hiện đơn vị chịu trách nhiệm cung ứng điện (ngành điện lực) mới chủ yếu lo khâu an toàn từ lưới điện đến cầu dao hoặc máy ngắt tổng Tuy nhiên, bên trong hộ tiêu thụ, hệ thống điện lại được câu mắc và sử dụng tùy tiện, không có hướng dẫn cụ thể nào của các cơ quan chuyên môn
Nhiều khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, cột điện được tận dụng bằng cây cối hoặc lợi dụng địa hình, địa vật để câu móc, cáp dẫn, dây dẫn cũng lại sử dụng bằng những vật liệu gia công, rẻ tiền nên rất nguy hiểm, dễ gây chập cháy
Thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cho thấy năm
2010, cả nước xảy ra trên 5000 vụ tai nạn lao động, trong đó, tai nạn về điện
Trang 4là 1 trong 2 nguyên nhân dẫn đến tử vong hàng đầu trong tai nạn lao động và hoạt động dân dụng Tử vong do điện giật chiếm 22,64% số người chết do tai nạn và chiếm 26,7% tổng số vụ tai nạn
Là một giáo viên kĩ thuật công nghiệp, được giảng dạy môn công nghệlớp 8 nhiều năm, tôi thấy học sinh hầu hết các em chưa có ý thức hoặc kiếnthức sử dụng điện một cách an toàn, các em sử dụng một cách tùy tiện tùy ýtheo thói quen mà không biết sự nguy hiểm của dòng điện đối với cơ thể conngười như thế nào Qua quá trình khảo sát ý thức sử dụng điện an toàn bằngnhững câu hỏi trắc nghiệm tôi thu được kết quả sau:
60% học sinh không nắm được gì về sử dụng điện an toàn
30% học sinh hiểu được đại khái về sự an toàn điện
10% học sinh hiểu được sự nghuy hiểm của dòng điện nhưng chưa đầyđủ
Vì vậy giáo dục ý thức an toàn điện vừa là mục tiêu của ngành điện lànhận thức cần thiếtvới người sử dụng điện và là những nhận thức không thểthiếu đối với học sinh trung học cơ sở khi học kĩ thuật điện, đặc biệt với hocsinh là con em đang sinh sống học tập trên địa bàn xã Đông Sơn một xã nằm
ở phìa đông của huyện Yên Thế Tỉnh Bắc Giang Là xã miền núi xa trung tâm
có hai thôn bản Hố Rích và Ao Cạn là hai thôn bản đặc biệt khó khăn, có một
số hộ ở xa vẫn chưa kéo được điện lưới Nên việc hiểu biết và sử dụng điệncủa một số học sinh và gia đình của các em còn hạn chế Đây chính là lí do
để tôi chọn đề tài này
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài nhằm khẳng định việc giáo dục ý thức sử dụng điện an toàn làcần thiết Những trang bị cho học sinh ý thức bảo vệ tính mạng, tài sản giađình các em và cho toàn xã hội khi sử dụng điện năng Giúp các em học sinhhiểu một số tác hại của dòng điện đi qua cơ thể người nguy hiểm như thế nào,các nguyên nhân gây ra tai nạn điện, một số biện pháp sử dụng điện an toàn
Trang 5Từ đó các em học sinh sẽ có ý thức sử dụng điện một cách an toàn, tránhđược một số nguyên nhân gây ra tai nạn điện đáng tiếc xảy ra.
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
1 Khái niệm chung
2 Tác dụng của ḍòng điện đối với cơ thể người
3 Các giải pháp an toàn điện
4 Phương pháp cấp cứu người bị điện giật
5 Qua các bài học giáo dục ý thức sử dụng điện an toàn
6 Kết quả
7 Bài học kinh nghiệm
IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Giáo dục cách thức thức sử dụng an toàn điện thông qua chương antoàn điện Môn công nghệ lớp 8
- Học sinh khối lớp 8, Trường PTCS Đông Sơn Huyện Yên Thế TỉnhBắc Giang
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1.Phương pháp nghiên cứu lí thuyết :
Đọc tài liệu để hệ thống hóa lý luận làm cơ sở cho nghiên cứu thực tế
2 Phương pháp điều tra viết.
Làm một số trắc nghiệm điều tra ý thức sử dụng điện an toàn ở học sinh
3 Phương pháp quan sát đàm thoại.
Thông qua bài giảng lí thuyết và bài giảng thực hành trong chương VI
an toàn điện môn công nghệ lớp 8
4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
VI NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:
Giúp học sinh có kiến thức cơ bản về tác hại của dòng điện đối với cơthể người, có kĩ năng sử dụng điện an toàn
Trang 6Giáo dục ý thức sử dụng điện an toàn cho học sinh, nhằm hạn chếnhững tai nạn rủi ro khi sủ dụng điện, thông qua các bài học trong chương VI
an toàn điện Môn Công Nghệ lớp 8
Trang 7PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
Khoa học hiện nay đã phân tích đầy đủ các tác hại của dòng điện khi điqua cơ thể con người
Những tai nạn điện thường xảy ra là do hồ quang điện gây bỏng và do
dòng điện truyền qua cơ thể người (điện giật) Các trường hợp trấn thương
nặng hoặc tử vong khi sử dụng điện năng là rất nhiều, phần lớn là do bị điệngiật:
76,4% tai nạn xảy ra ở điện áp dưới 1000V
23,6% tai nạn xảy ra ở điện áp trên 1000V
Khi phân loại các nạn nhân tai nạn do điện giật thấy rằng:
- Những nạn nhân làm việc trong ngành điện bị điện giật chiếm: 42,2%
- Những nạn nhân không có chuyên môn về điện bị điện giật chiếm:57,8%
Khi phân loại nạn nhân bị điện giật theo nguyên nhân thấy rằng:
+ Tai nạn do chạm trực tiếp vào vật mang điện hay các phần có
dòng điện chạy qua chiếm 55,9% trong đó:
- Chạm vào dây dẫn điện không phải do yêu cầu công việc phải tiếp xúcvới dây dẫn điện chiêm: 30,6%
-Chạm vào dây dẫn điện do yêu cầu công việc phải tiếp xúc với dây dẫnđiện chiếm: 1,7%
-Đóng nhầm điện lúc đang sửa chữa kiểm tra hệ thống máy móc vàthiết bị điện chiếm: 23,6%
+ Tai nạn do chạm vào các bộ phận bằng kim loại của thiết bị có
mang điện áp chiếm 22,8% trong đó :
- Thiết bị có nối đất chiếm : 0,6%
Trang 8- Thiết bị không có nối đất chiếm: 22,2%
+ Tai nạn do chạm phải vật không phải là kim loại có mạng điện áp
(tường, nền nhà các vật cách điện khác) chiếm 20,1% trong đó:
- Bị chấn thương do hồ quang lúc thao tác đóng ngắt mạch điện hoặcthiết bị điện chiếm; 1,12%
- Bị chấn thương do cường độ điện trường cao ở môi trường hay trạmbiến áp cao áp, siêu cao áp chiếm: 0,08%
Như vậy phần lớn các trường hợp bị tai nạn về điện là do chạm phảivật mang điện, dẫn điện hoặc do vật có điện áp xuất hiện bất ngờ, những tainạn này thường xảy ra đối với những người không có chuyên môn và xảy ra
ở các mạng điện có điện áp thấp (380V/220V, 220V/127V)
II CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Dòng điện đi qua cơ thể người gây nên các phản ứng sinh lí phức tạpnhư:
- Điện giật tác động tới hệ thần kinh và cơ bắp:
Dòng điện tác động vào hệ thần kinh trung ương sẽ gây rối loạn hoạt động của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, co giật cơ bắp Người bị điện giật nhẹ thường thở hổn hển, tim đập nhanh, trường hợp điện giật nặng, trước hết là phổi sau đó đến tim ngừng hoạt động, nạn nhân chết trong tình trạng ngạt
- Hồ quang điện phát sinh khi có sự cố điện, (có thể gây bỏng chongười hay gây cháy do bọt kim loại bắn vào vật dễ cháy) Hồ quang điệnthường gây thương tích ngoài da, có khi phá hoại cả phần mềm, gân vàxương
Các yếu tố gây nguy hiểm khi bị tai nạn điện đối với con người là:
* Cường độ ḍòng điện chạy qua cơ thể:
Mức độ nguy hiểm của dòng điện với cơ thể người tùy thuộc vào chỉ sốcường độ dòng điện và loại nguồn điện một chiều hay xoay chiều
* Đường đi của dòng điện qua cơ thể
Trang 9* Thời gian dòng điện qua cơ thể, độ lớn của điện áp, điện trở môitrường làm việc và tình trạng sức khỏe của người
2.1: Mức độ nguy hiểm của ḍng điện đối với cơ thể người.
Không rút tay khỏi điện cực, xương bàn tay, cánh tay cảm thấy đaunhiều trạng thái này có thể chịu được
từ 5 _10 giây
Tay tê liệt ngay không thể rútkhỏi điện cực Rất đau, khóthở Trạng thái này chịu được 5 giâytrở lại
Tê liệt hô hấp Bắt đầu rungcác tâm thất
Tê liệt hô hấp khi không dài 3giây và hơn thất tâm thất rungmạnh.Tê liệt tim
Không có cảm giác giật
Không có cảm giác giật
Ngứa, cảm thấy nóng
Nóng tăng lên
Càng nóng hơn Bắpthịt tay hơi bị co giật Cảm thấy rất nóng, bắp thịt tay co giật , khó thở.Tê liệt hô hấp
Tê liệt hô hấp
Trang 10Qua bảng trên ta thấy đối với dòng điện xoay chiều tần số 50Hz có chỉ
số 10mA được coi là dòng điện giới hạn bắt đầu nguy hiểm đối với cơ thể conngười
2.
2 Đường đi của dò ng điện qua cơ thể người
Bất cứ bộ phận nào của cơ thể khi có dòng điện chạy qua đều nguyhiểm, nhưng tỉ lệ dòng điện qua tim quyết định mức độ nguy hiểm hơn đốivới con người
Mức độ nguy hiểm này thể hiện qua bảng dưới đây:
Đường đi của
dòng điện
Tỷ lệ dòng điệnqua tim (%)
Tỷ lệ nạn nhân bibất tỉnh (%)
Tay phải qua
Nhận xét : Mức độ nguy hiểm nhất là khi dòng điện đi vào đầu rồi đi
từ đầu qua tay xuống đất Dòng điện đi từ chân này qua chân kia xuống đất ítnguy hiểm hơn
2.3
Thời gian dòng điện qua cơ thể.
Thời gian càng dài, lớp da bị phá hủy trở nên dẫn điện mạnh hơn, rốiloạn hoạt động chức năng của hệ thần kinh càng tăng nên mức độ nguy hiểmcàng tăng
2.4: Tần số của dòng điện qua người
Khi tần số của dòng điện qua người lớn thì điện kháng của người giảm
và dòng điện sẽ tăng lên Vì vậy mức độ nguy hiểm sẽ tăng theo tần số củadòng điện
Trang 11thực tế, mức độ nguy hiểm của dòng điện sẽ tăng trong tần số từkhoảng 50Hz - 60Hz Khi tần số lớn hoặc bé hơn mức độ nguy hiểm sẽ lớnhoặc bé hơn.
2 5: Điện áp an toàn.
Điện trở người không phải là một hằng số mà phụ thuộc vào hàng loạt yếu tốnhư tình trạng sức khỏe, mức độ mồ hôi, môi trường làm việc Mức độ nguy hiểmcàng tăng khi:
+ Da ẩm, bẩn hoặc mất lớp da ngoài,+ Diện tịch tiếp xúc với vật mang điện tăng
+ Tiếp xúc với điện áp cao
Lấy mức dòng điện 20mA (là dòng điện làm cho con người
không thể
tách khỏi nguồn điện) làm cơ sở để tính điện áp an toàn :
- Vùng ít nguy hiểm: Khô ráo, độ ẩm thấp, không có bụi dẫn điện, điện
Là diện áp giữa hai bàn chân đứng ở hai điểm trên đất gần nơi có dòng
điện xuống đất (dây dẫn, thiết bị có điện chạm đất) để dảm bảo an toàn phải
tuân theo khoảng cách sau:
+ Từ 4m đến 6m đối với thiết bị trong nhà
+ Từ 8m đến 10m đối với thiết bị ngoài trời
+ Ngoài 20m đối với dây điện cao áp
ChươngII: MỘT SỐ GIẢI PHÁP AN TOÀN.
I CÁC GIẢI PHÁP AN TOÀN:
Trang 121.1: Kiểm tra cách điện của thiết bị
Khi chế tạo các thiết bị dùng điện, người ta đã chú ý đến độ cách điệngiữa các phần mang điện với vỏ để đảm bảo an toàn cho người và thiết bị.Trường hợp phần cách điện bị rò điện, sự cách điện bị giảm nghiêm trọng cóthể do nhiều nguyên nhân:
+ Do thiết bị quá cũ
+Phần cách điện bị già hóa, hư hỏng
+ Làm việc quá áp
Vì vậy phải kiểm tra độ cách điện trước khi vận hành và cần kiểm tra
độ cách điện định kỳ cho máy móc thiết bị từ 1- 2 lần/ năm
1.2: Không dùng dây dẫn điện vào những mục đích khác ngoài mục đích dẫn điện.
- Không dùng dây dẫn điện để phơi quần áo Cần tình toán và chọn tiếtdiện, loại dây dẫn thỏa mãn yêu cầu dẫn điện và môi trường làm việc để đảmbảo độ bền, chống tổn thất điện năng
1.3: Dùng rào chắn biển báo.
Đây là biện pháp tốt nhất để ngăn ngừa cho người khỏi tiếp xúc nhữngphần tử mang điện, hoặc không đến gần những nơi có điện áp nguy hiểm Các
biển báo như: "Cấm vào, điện cao thế nguy hiểm chết người" ; " Cấm trèo ,
nguy hiểm chết người"
Biển báo cắt điện
1.4:Phương pháp phòng hộ cá nhân:
Để đảm bảo an toàn khi làm việc với thiết bị đang mang điện, người tadùng các phương tiện phòng hộ cá nhân như: Sào thao tác, Bút thử điện caothế, Bút thử điện hạ thế , kìm cách điện, ủng, Găng tay cao su trong sửachữa
Chú ý khi sử dụng các phương tiện an toàn :
Trang 13+ Thường xuyên kiểm tra chất lượng, thử độ cách điện , thử độ bền cơhọc.+ Kiểm tra, sử dụng đúng loại phương tiện theo đúng điện áp định mức sửdụng.
1.5: Nối trung tính vỏ máy:
Khi vận hành gặp trường hợp vỏ máy bằng kim loại đặt yên một chỗ, cóthể bị dò điện ra vỏ máy, điện truyền đến gây tai nạn về điện đặc biệt là đốivới vỏ máy cần nối tiếp đất hoặc nối với dây trung tính đã tiếp đất.Để đảmbảo an toàn trong quà trình vận hành
II PHƯƠNG PHÁP CẤP CỨU NGƯỜI BỊ ĐIỆN GIẬT:
2.1: Tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện :
* Để tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện: Cần phải nhanh chóng chính
xác quan sát xung quanh để đưa ra các phương án sủ lí
* Nếu cắt được nguồn điện : Đây là trường hợp thuận lợi nhất nhưng
phải bảo đảm nhanh chóng, chính xác
* Nếu không cắt được nguồn điện:
+ ở mạng hạ thế: Tìm các vật dụng cách điện như gỗ khô, đi dép, ủng
cao su, lót tay bằng vải khô tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện
+ ở mạng cao thế: Phải có biện pháp an toàn hoặc làm ngắn mạch bằngvật dẫn điện và khẩn trương báo cho trạm điện hoặc chi nhánh điện cắt điện
từ các cầu dao trước, sau đó mới được tới gần nạn nhân và tiến hành sơ cứu
2.2: Cấp cứu nạn nhân :
Căn cứ hiện tượng cụ thể của nạn nhân mà có biện pháp cấp cứu:
* Tách nạn nhân ra khỏi nơi chạm điện một cách nhanh chóng và an
toàn cho người cấp cứu nạn nhân, (sơ cứu nạn nhân, đưa nạn nhân đến trạm
y tế gần nhất).
* Nếu nạn nhân bị ngất: Để nạn nhân nơi khô ráo thoáng gió, nới áo quần của nạn nhân ra
Trang 14* Nếu nạn nhân ngừng thở, tim ngừng đập: Phải tìm mọi cách hô hấp
và làm cho tim nạn nhân đập trở lại, trường hợp này nạn nhân phải được cứuchữa ngay, càng nhanh càng nhiều hy vọng cứu sống
Cấp cứu thường dùng một trong các phương pháp như: Phương pháp hôhấp sấp đặt nạn nhân nằm sấp đầu nghiêng sang một bên, miệng và mũikhông chạm đất cậy miệng và kéo lưỡi để họng nạn nhân mở ra người cứuquỳ gối hai bên đùi nạn nhân, đặt hai lòng bàn tay vào hai mạng sườn, độngtác 1 đẩy hơi ra lấy tay ấn xuống lưng nạn nhân và bóp tay vào chỗ xươngsườn cụt để hoành cách mô dồn lên nén phổi đẩy hơi ra, động tác 2 hút khívào nới tay ngả lưng về phía sau và hơi nhấc nạn nhân lên để lồng ngực rãnrộng phổi nở ra hút không khí vào ( cứ làm động tác 1, động tác 2 lặp đi lặplại nhiều lần)
Phương pháp hô hấp hà hơi thổi ngạt, phương pháp này dễ thực hiện và kiểm tra được luồng thở của nạn nhân.Thổi vào mũi, quỳ bên cạnh nạn nhân, đặt một tay lên trán đẩy ngửa đầu nạn nhân cho thông luồng thở, tay kia nắm cằm, ấn mạnh lên giữ mồm nạn nhân ngậm chặt Hít một hơi dài miệng mở tongậm lên mũi nạn nhân, ép chặt rồi thổi mạnh, không khí đi vào phổi làm ngực nạn nhân phồng nên Tiếp tục ngẩng đầu lên hít hơi khác, lúc này ngực nạn nhân xẹp xuống sẽ tự đẩy hơi ra Tiếp tục như vậy khoảng 16-20 lần/phút cho đến khi nận nhân hồi tỉnh hẳn Thổi vào mồm, một tay đặt lên trán ấn ngửa đầu nạn nhân ra, tay kia giữ chặt lấy cằm, ngón tay cái đặt mồm đẻ mở thông đường thở nạn nhân, cách lấy hơi thổi tương tự như thổi vào mũi
Chương III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO Ý THỨC
SỬ DỤNG ĐIỆN AN TOÀN
I.QUA BÀI HỌC GIÁO DỤC Ý THỨC SỦ DỤNG ĐIỆN AN TOÀN