Chất thải rắn: Chất thải rắn CTR được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
BÁO CÁO KĨ THUẬT MÔI TRƯỜNG
MỤC LỤC
Trang 2Contents
Trang 3DANH MUC HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Trang 41.1. Khái niệm chất thải rắn và tình hình chất thải rắn ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải:
Chất thải là bất kỳ loại vật liệu nào mà cá nhân không còn dùng nữa, hoặc chúng không còn tác dụng gì nữa với cá nhân đó, chúng cũng không còn tác dụng gì trong bất cứ hoạt động nào cho sản xuất hoặc dịch vụ , kinh doanh……
Ví dụ: giấy báo, rác sân vườn, đồ đạc đã sử dụng, bì nhựa, rác sinh hoạt và bất cứ những gì mà con người loại ra môi trường
Chất thải rắn:
Chất thải rắn (CTR) được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn sử dụng nữa, bao hàm tất cả các chất rắn hỗn hợp thải ra
từ cộng đồng dân cư đô thị cũng như các chất thải rắn đặc thù từ các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng
1.1.2. Tình hình chất thải rắn ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển kinh tế, gia tăng dân số và sự lãng phí tài nguyên trongthói quen sinh hoạt của con người, lượng rác thải ngày một tăng, thành phần ngày càng phức tạp và tiềm ẩn ngày càng nhiều nguy cơ độc hại với môi trường và sức khỏe con người
Tình hình rác thải rắn phát sinh trong cả nước [1]:
CTR thông thường phát sinh trong cả nước: 28 triệu tấn/năm, trong đó:
- CTR công nghiệp thông thường: 6,88 triệu tấn/năm
- CTR sinh hoạt ≈ 19 triệu tấn/năm
- CTR y tế thông thường ≈ 2,12 triệu tấn/năm
CTR nguy hại: phát sinh tại 35/63 tỉnh/thành phố khoảng 700 nghìn tấn/năm
Trang 5Hình 1 1 Tình hình CTR trong cả nước
Tỷ trọng CTR năm 2008
- CTR phát sinh từ các đô thị ≈ 46%
- CTR phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp ≈ 17%
- CTR nông nghiệp, nông thôn và Y tế ≈ 34%
Hình 1 2 Tỷ trọng CTR năm 2008
Dự báo đến năm 2015, tỷ trọng:
- CTR phát sinh từ các đô thị≈ 51%;
- CTR phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp ≈ 22%
- CTR phát sinh từ nông nghiệp, nông thôn, y tế ≈ 27%
Hình 1 3 Tỷ trọng CTR năm 2015
Tình hình thu gom và xử lý CTR:
Ở nông thôn:
Tỷ lệ thu gom CTR: 40 – 50%
- Không quy hoạch được các bãi rác tập trung, không có bãi rác công cộng
- Khoảng 60% thôn, xã có tổ chức thu gom định kỳ, trên 40% có tổ thu gom rác
tự quản;
- Chất thải chăn nuôi chủ yếu được xử lý bằng các hình thức: hầm Biogas, phâncompost, làm thức ăn tận dụng nuôi thuỷ sản;
Trang 6Khoảng 19% chất thải chăn nuôi không được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường xung quanh
Tình hình chất thải rắn sinh hoạt hiện nay [2]:
Tình trạng rác thải rắn ở nông thôn hiện nay:
Tình hình chung hiện nay là từng gia đình tự xử lý lấy tùy thuộc vào nhận thức và điều kiện của từng người Một số gia đình ở gần sông hồ hoặc có mương nước đi qua thì lợi dụng đêm tối đem vứt rác xuống, hậu quả thế nào đã có người khác chịu Nhiều gia đình thì gom rác vào các bao bì rồi chở đi đổ vào một nơi nào
đó xa nhà Những địa điểm đổ rác của các xóm, làng, các cụm dân cư hiện nay là rất tùy tiện Đi dọc hai bờ một số dòng sông và các đường quốc lộ, các đường liên
huyện… sẽ bắt gặp nhiều điểm đổ rác rất khó chịu
Thực tế đó đặt ra vấn đề cấp bách là cần có những giải pháp tích cực đối với môi trường nông thôn, nơi có đến hơn 70% số người sinh sống Điều đầu tiên là cần tăng cường tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức của người dân và đi kèm là nhữngbiện pháp giáo dục cảnh cáo, xử phạt Mặt khác cũng cần trang bị cho họ những thóiquen phân loại rác
Tình hình rác thải rắn ở thành thị:
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%)… Các
Trang 7đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%).
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y
tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị
Kết quả điều tra tổng thể mới nhất cho thấy, lượng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2 đôthị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm)
chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế – xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm
(chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị
là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếpđến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất làTP.Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSHphát sinh ít nhất là Bắc Kạn – 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP.Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP.Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã
Hà Giang 37,1 tấn/ngày
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt
và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có
tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 –0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày
Trang 8Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát
triển du lịch như TP.Hạ Long 1,38kg/người/ngày; TP.Hội An 1,08kg/người/ngày;
TP.Đà Lạt 1,06kg/người/ngày; TP.Ninh Bình 1,30kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệphát sinh CTRSH tính bình quân đầu người thấp nhất là TP Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon
Tum 0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ
phát sinh bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là0,73kg/người/ngày
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao
(10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Tổng lượng phát sinh CTRSH
tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm
(năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả các đô thị Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm) Dự báo tổng đến năm 2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm Để quản lý tốt
nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa
đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ
xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTRSH gây
ra
Bảng 1 1 Dự báo lượng CTR sinh hoạt đến năm 2025
1.2. Nguồn gốc, thành phần, tính chất của chất thải rắn
Nguồn gốc, thành phần, tính chất cũng như dự báo tốc độ phát sinh của chất thải rắn là cơ sở quan trọng trong thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các
chương trình quản lý chất thải rắn thích hợp.
1.2.1. Nguồn gốc rác thải rắn
Trang 9Cùng với những hoạt động sản xuất của con người và sự phát triển của các nghành đã tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu của con người ngày càng tăng lên, cùng với đó lượng rác thải sinh hoạt cũng tăng lên
Các nguồn phát sinh CTR bao gồm:
- Khu dân cư
- Khu thương mại (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ,…)
- Cơ quan, công sở (trường học, trung tâm và viện nghiên cứu, bệnh viện,…)
- Khu xây dựng và phá hủy các công trình xây dựng
- Khu công cộng (nhà ga, bến tàu, sân bay, công viên, khu vui chơi,
Phân loại chất thải rắn:
Phân theo nguồn phát sinh:
- Chất thải sinh hoạt: phát sinh hằng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân cư, các trung tâm dịch vụ, công viên
- Chất thải công nghiệp: phát sinh từ trong quá trình sản xuất công
nghiệp và thủ công (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí)
- Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra
- Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồngtrọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch
- Chất thải y tế: phát sinh từ các bệnh viên, cơ sở khám chữa bệnh, phế thải phẫu thuật, bông, gạc, chất thải bệnh nhân, chất phóng xạ, hóa chấtđộc hại, thuốc quá hạn,…
Phân loại theo mức độ nguy hại:
- Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng các chất thải này tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe dọa sức khỏe con người và sự phát triển của động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí
Trang 10- Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất có các tính chất nguy hại Thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, đô thị…
Phân loại theo thành phần:
- Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vậtliệu xây dựng như gạch, vữa, thủy tinh, gốm sứ, một số loại phân bón,
đồ dùng thải bỏ gia đình
- Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ như thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ và các loại thuốc bảo vệ thực vật
1.2.2. Thành phần của rác thải rắn
Thành phần cơ học:
- Các chất dễ phân hủy sinh học: thực phẩm thừa, cuống, lá rau, lá cây, xác động vật chết, vỏ trái cây…
- Các chất khó bị phân hủy sinh học: gỗ, cành cây, cao su, túi nilon
- Các chất hoàn toàn không bị phân hủy sinh học: kim loại, thủy tinh,
mảnh sành, gạch ngói, vôi, vữa khô, đá, cát, sỏi, vỏ ốc hến…
Thành phần hóa học: trong các chất hữu cơ của rác thải sinh hoạt, thành phần
hóa học của chúng chủ yếu là: C, H, O, N, S và các chất tro
Bảng 1 2 Thành phần chất thải từ các nguồn thải khác nhau
Khu dân cư và thương mại
-Chất thải thực phẩm, giấy, carton, chựa, vải, cao su, rác vườn, gỗ, kim loại
Chất thải đặc biệt -Chất thải thề tích lớn, đồ điện gia dụng, pin,
dầu, lốp xe chất thải nguy hại
Chất thải từ viện nghiên cứu , công sở -Giống như trong mục chất thải khu dân cư và
Trang 111.2.3. Tính chất của rác thải rắn
1.2.3.1. Tính chất vật lý
Khối lượng riêng
Khối lượng riêng của chất thải rắn được định nghĩa là trọng lượng của một đôn vị vật chất tính trên 1 đôn vị thể tích chất thải (kg/m3) Bởi vì khối lượng riêng của chất thải rắn thay đổi tuỳ thuộc vào những trạng thái của chúng như: xốp, chứa trong các thùng chứa container, không nén, nén… nên khi báo cáo dữ liệu về khối lượng hay thể tích chất thải rắn, giá trị khối lượng riêng phải chú thích trạng thái (khối lượng riêng) của các mẫu rác một cách rõ ràng vì dữ liệu khối lượng riêng rất cần thiết được sử dụng để ước lượng tổng khối lượng và thể tích rác cần phải quản
lý
Khối lượng riêng thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: vị trí địa lý, mùa trong năm, thời gian lưu giữ chất thải Do đó cần phải thận trọng khi lựa chọn giá trị thiết kế Khối lượng riêng của chất thải đô thị dao động trong khoảng 180 – 400 kg/m3, điển hình khoảng 300 kg/m3
Trong đó: a: độ ẩm, % khối lượng
W: khối lượng mẫu ban đầu, kg
d: khối lượng mẫu sau khi sấy khô ở 105 0C, kg
Bảng 1 3 Tính chất vật lý của rác thải
Trang 12———
100.0
23238
Kích thước và cấp phối hạt
Kích thước và cấp phối hạt của các thành phần trong chất thải rắn đóng vai trò rất quan trọng trong việc tính toán và thiết kế các phương tiện cơ khí như: thu hồivật liệu, đặc biệt là sử dụng các sàng lọc phân loại bằng máy hoặc phân chia loại bằng phương pháp từ tính Kích thước của từng thành phần chất thải có thể xác định bằng một hoặc nhiều phương pháp như sau:
Trang 13h: chiều cao, (mm)
Khi sử dụng các phương pháp khác nhau thì kết quả sẽ có sự sai lệch Do đó tuỳ thuộc vào hình dáng kích thước của chất thải mà chúng ta chọn phương pháp đo lường cho phù hợp
Khả năng giữ nước thực tế
Khả năng giữ nước thực tế của chất thải rắn là toàn bộ lượng nước mà nó có thể giữ lại trong mẫu chất thải dưới tác dụng của trọng lực Khả năng giữ nước của chất thải rắn là một chỉ tiêu quan trọng trong việc tính toán xác định lượng nước rò
rỉ từ bãi rác Nước đi vào mẫu chất thải rắn vượt quá khả năng giữ nước sẽ thoát ra tạo thành nước rò rỉ Khả năng giữ nước thực tế thay đổi phụ thuộc vào áp lực nén
và trạng thái phân huỷ của chất thải Khả năng giữ nước của hỗn hợp chất thải rắn (không nén) từ các khu dân cư và thương mại dao động trong khoảng 50-60%
Độ thấm (tính thấm) của chất thải đã được nén
Tính dẫn nước của chất thải đã được nén là một tính chất vật lý quan trọng,
nó sẽ chi phối và điều khiển sự di chuyển của các chất lỏng (nước rò rỉ, nước ngầm, nước thấm) và các khí bên trong bãi rác
Hệ số thấm được tính như sau:
Trong đó:
K: hệ số thấm, m2/s
C: hằng số không thứ nguyên
d: kích thước trung bình của các lỗ rỗng trong rác, m
γ: trọng lượng riêng của nước, kg.m2/s
Những tính chất cơ bản
Trang 14Những tính chất cơ bản cần phải xác định đối với các thành phần cháy được trong CTR bao gồm:
• Độ ẩm (phần ẩm mất đi khi sấy ở 105 0C trong 1h)
• Thành phần các chất cháy bay hơi (phần khối lượng mất đi khi nung ở
950 0C trong tủ nung kính)
• Thành phần cacbon cố định (thành phần có thể cháy được còn lại sau khi thải các chất có thể bay hơi)
• Tro (thành phần khối lượng còn lại sau khi đốt trong lò hở)
Điểm nóng chảy của tro
Điểm nóng chảy của tro là nhiệt độ mà tại đó tro tạo thành từ quá trình đốt cháy chất thải bị nóng chảy và kết dính tạo thành dạng rắn (xỉ) Nhiệt độ nóng chảy đặc trưng đối với xỉ từ quá trình đốt rác sinh hoạt thường dao động trong khoảng từ
2000 đến 22000F (100 0C đến 1200 0C)
Các nguyên tố cơ bản có trong chất thải rắn
Các nguyên tố cơ bản trong CTR sinh hoạt cần phân tích bao gồm C, H, O,
N, S và tro.Thông thường các nguyên tố nhó halogen cũng được xác định do các cácdẫn xuất của clo thường tồn tại trong thành phần khí thải khi đốt rác Kết quả xác định các nguyên tố cơ bản này được sử dụng để xác định công thức hóa học của thành phần chất hữu cơ có trong chất thải rắn sinh hoạt cũng như xác định tỷ lệ C/N thích hợp cho quá trình làm phân compost
Chất dinh dưỡng và các nguyên tố khác
Nếu thành phần chất hữu cơ có trong CTR sinh hoạt được sử dụng làm nguyêliệu sản xuất các sản phẩm thông qua quá trình chuyển hóa sinh học (phân compost, methane, ethanol) Số liệu về chất dinh dưỡng và những nguyên tố cần thiết khác trong chất thải đóng vai trò quan trọng nhằm bảo đảm dinh dưỡng cho vi sinh vật cũng như yêu cầu của sản phẩm sau quá trình chuyển hóa sinh học
1.2.3.3. Tính chất sinh học
Khả năng phân hủy sinh học của các thành phần chất hữu cơ
Hàm lượng chất rắn bay hơi (VS), xác định bằng cách nung ở nhiệt độ
550oC, thường được sử dụng để đánh giá khả năng phân hủy sinh học của chất hữu
cơ trong CTR sinh hoạt Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ tiêu VS để biểu diễn khả năng phân hủy sinh học của phần chất hữu cơ có trong chất thải rắn sinh hoạt là không chính xác vì một số thành phần chất hữu cơ rất dễ bay hơi nhưng rất khó bị phân hủysinh học
Sự hình thành mùi
Trang 15Mùi sinh ra khi tồn trữ CTR trong thời gian dài giữa các khâu thu gom, trung chuyển và thải ra bãi rác nhất là ở những vùng khí hậu nóng do quá trình phân hủy
kỵ khí các chất hữu cơ dễ bị phân hủy có trong CTR sinh hoạt Ví dụ, trong điều kiện kỵ khí, sulfate có thể bị khử thành sulfide (S2-), sau đó sulfide kết hợp với hydrotạo thành H2S
Màu đen của CTR đã phân hủy kỵ khí ở bãi chô lấp chủ yếu là do sự hình thành các muối sulfide kim loại Nếu không tạo thành các muối này, vấn đề mùi của bãi chôn lấp sẽ trở nên nghiêm trọng hơn
Các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh khi bị khử sẽ tạo thành những chất có mùi hôi như methyl mercaptan và aminobutyric acid
Sự sinh sản ruồi nhặng
Vào mùa hè cũng như tất cả các mùa của vùng có khí hậu ấm áp, sự sinh sản ruồi ở khu vực chứa rác là vấn đề đáng quan tâm Quá trình phát triển từ trứng thànhruồi thường ít hơn 2 tuần kể từ ngày đẻ trứng Thông thường chu kỳ phát triển của ruồi ở khu dân cư từ trứng thành ruồi có thể biểu diễn như sau:
Trứng phát triển: 8-12 giờ
Giai đoạn đầu của ầu trùng: 20 giờ
Giai đoạn thứ 2 của ấu trùng: 24 giờ
Giai đoạn thứ 3 của ấu trùng: 3 ngày
1.3. Các phương pháp xử lý chất thải rắn
Xử lý chất thải rắn là một hoạt động không thể thiếu và chiếm vai trò quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tổng hợp CTR sau hàng loạt các hoạt động giảm thiểu tại nguồn, thu gom, trung chuyển và vận chuyển chất thải Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp xử lý chất thỉa phù hợp là một yếu tố quyết định sự thành công của công tác quản lý chất thải Phương pháp xử lý chất thải rắn được lựa chọn phải đảm bảo 3 mục tiêu:
- Nâng cao hiệu quả của việc quản lý CTR , bảo đảm an toàn vệ sinh môitrường
- Thu hồi vật liệu để tái sử dụng, tái chế
- Thu hồi năng lượng rác cũng như các sản phẩm chuyển đổi
Trang 16Bảng 1 4 Các phương pháp xử lý CTRSTT Chi tiết phương pháp
Cơ học Giảm
kích thước
Phân loại theokích thước
Phân loại theoKLR
Phân loại theođiện/từ trường
Trang 17Chương 2: PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHÔN LẤP
2.1 Khái niệm bãi chôn lấp
Chôn lấp là hành động đổ chất thải vào khu đất đã được chuẩn bị trước Quá trình chôn lấp bao gồm cả coogn tác giám sát chất thải chuyển đến, thải bỏ, nén ép chất thải và lắp đặt các thiết bị giám sát chất lượng môi trường xung quanh
Chôn lấp là phương pháp thải bỏ CTR kinh tế và chấp nhận được về mặt môi trường Ngay cả khi áp dụng các biện pháp giảm thiểu lượng chất thải hay tái sinh, tía sử dụng và cả kỹ thuật chuyển hóa chất thải, việc thải bỏ phần chất thải còn lại ra bãi chôn lấp (BCL) vẫn là một khâu quan trọng trong chiến lược quản lý tổng hợp CTR Công tác quản lý BCL kết hợp chặt chẽ với quy hoạch, thiết kế, vận hành, đóng cửa và kiểm soát khi đóng cửa BCL
Ưu nhược điểm của phương pháp chôn lấp:
Ưu điểm:
- Phù hợp với những nơi có diện tích đất rộng
- Xử lý được tất cả các loại CTR kể cả các CTR mà những phương pháp khác không thể xử lý triệt để hoặc không thể xử lý được
- BCL sau khi đóng cửa có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như: bãi
đổ xe, sân chơi, công viên,…
- Thu hồi năng lượng từ khí gas
- Không thể thiếu dù áp dụng bất kì phương pháp xử lý chất thải nào
- Linh hoạt trong quá trình sử dụng (khi khối lượng CTR gia tăng có thể tăng cường thêm công nhân và thiết bị cơ giới), trong khi các phương pháp khác phải được mở rộng quy mô công nghệ để tăng công suất
- Đầu tư ban đầu và chi phí hoạt động của BCL thấp hơn so với những phương pháp khác
Nhược điểm:
- Tốn nhiều diện tích đất chôn lấp, nhất là những nơi tài nguyên còn khan hiếm
- Lây lan các dịch bệnh do sự hoạt động của ruồi muỗi, nhặng và các loại côn trùng
- Gây ô nhiễm môi trường nước, đất, khí xung quanh BCL
Trang 18- Có nguy cơ xảy ra sự cố cháy nổ, gây nguy hiểm do sự phát sinh khí CH4 và
H2S
- Công tác quan trắc chất lượng môi trường BCL và xung quanh vẫn phải được tiến hành sau khi đóng cửa
- Ảnh hưởng cảnh quan
Bãi chôn lấp CTR và bãi chôn lấp hợp vệ sinh
Bãi chôn lấp chất thải rắn là một diện tích hoặc một khu đất được quy hoạch, lựa chọn, thiết kế, xây dựng
Bãi chôn lấp hợp vệ sinh (sanitary landfill) là sự tách riêng rác ra khỏimôi trường cho đến khi rác không còn độc hại thông qua các quá trìnhsinh học, hóa học và vật lý tự nhiên
Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa trong quá trình phân hủy sinhhọc bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như: axithữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí CO2, CH4
Bãi chôn lắp hợp vệ sinh phải thỏa mãn 3 điều kiện cơ bản sau:
• Rác thải trong bãi phải được đầm nén
• Hằng ngày rác phải được che phủ (bằng đất hoặc các vật liệu khác) để
tránh không bị môi trường bên ngoài ảnh hưởng
• Kiểm soát và ngăn ngừa các những tác động xấu đến sức khỏe cộngđồng và môi trường (chẳng hạn như mùi, làm nguồn nước cấp bị ô nhiễm…)
2.2 Phân loại bãi chôn lấp
2.2.1 Phân loại theo địa hình
Phương pháp đào rãnh (trench method)
Phương pháp đào rãnh chôn lấp chất thải rắn là phương pháp lý tưởng chonhững khu vực có độ sâu thích hợp, vật liệu che phủ sẵn có và mực nước không gần
bề mặt Chất thải rắn được đổ vào các hố hoặc mương đã đào đất Đất đào đượcdùng làm vật liệu che phủ hàng ngày hoặc che phủ cuối cùng Các hố đào hay cácmương này được lót lớp màng địa chất tổng hợp (geomembrane), lớp đất sét có độthẩm thấu thấp hoặc kết hợp cả hai loại này để hạn chế sự lan truyền của cả khí bãirác và nước rò rỉ
Trang 19Ô chôn lấp thường có dạng hình vuông với kích thước mỗi cạnh có thể lênđến 1000 ft (305 m) và độ dốc mặt bên dao động trong khoảng 1,5 : 1 đến 2 : 1
Mương có chiều dài thay đổi từ 61 m – 305 m, sâu 0,9 – 3,0 m, và chiều rộng
từ 4,6 - 15,2 m
Tính ổn định của thành bên là một yếu tố được xem xét kỹ trong việc thiết kế
ô chôn lấp Sự ổn định của thành phụ thuộc vào độ bền của đất, độ sâu của ô,khoảng cách giữa các ô và độ dốc của thành bên Với đất sét, đất sét tảng hay cácloại đất có độ nén chặt, đất mịn độ sâu và độ nghiêng của dốc thành bên có thể đạtcực đại Đối với đất yếu hơn, độ sâu của thành bên sẽ thoải hơn Nên duy trì mộtkhoảng cách thích hợp giữa đáy ô chôn lấp và mực nước ngầm, độ sâu của ô chônlắp bị hạn chế phải phù hợp với việc bảo vệ nguồn nước ngầm
Theo lý thuyết ô chôn lắp càng hẹp càng tốt vì khối lượng vật liệu che phủcần thiết phụ thuộc vào chiều rộng của ô Chiều rộng cần thiết của ô nên gấp đôichiều rộng của bộ phận lớn nhất của thiết bị làm việc trong ô Hướng gió thổi trongkhu vực nên được xét đến khi sắp xếp vị trí các hàng ô chôn lấp vì gió ảnh hưởng rấtlớn đến lượng rác bị thổi bay chúng ta nên đặt hàng ô chôn lắp thẳng góc với hướnggió thổi
Để đảm bảo thoát nước tốt đáy của ô nên được tạo dốc, hướng dòng nước rangoài khu vực đang hoạt động chôn lấp, nước được tích lũy dưới ô nên được bơm rakhỏi ô chôn lấp Nước bề mắt có thể được chuyển hướng không cho chảy vào ô bằngcách xây dựng những gờ chặn tạm thời trên các cạnh hố đào
Phương pháp trải trên mặt bằng (erea)
Ngược với phương pháp đào rãnh, phương pháp trãi trên mặt bằng không cầnphải đào ô Thay vào đó là một lớp chất thải được ban ra và đầm nén trên mặt đất(trên một mặt dốc nghiêng) Vật liệu che phủ sau đó được trãi ra và đầm nén bêntrên lớp chất thải Phương pháp chôn lắp trãi trên mặt bằng nên chỉ được sử dụng ởvùng đất bằng phẳng hay hơi dốc Phương này có thể điều chỉnh thích hợp với các
mỏ đá, mỏ lộ thiên, khe núi, thung lũng, hẻm núi hoặc những vùng trũng khác vàhững hố đào dành cho chôn lấp
Phương pháp chôn dạng hẻm núi/lồi lõm (canyon)
Hẻm núi, hố, nơi khai thác mỏ,… có thể dùng làm bãi chôn lấp Phương phápchôn lấp trong trường hợp này phụ thuộc vào hình dạng khu vực, tính chất vật liệu
Trang 20che phủ, điều kiện địa chất và thủy văn của khu vực, thiết bị kiểm soát nước rò rỉ,khí bãi rác và đường vào khu vực bãi chôn lấp.
Thoát nước bề mặt là một trong những yếu tố quan trọng của bãi chôn lấploại này Phương pháp chôn lấp nhiều lớp trong trường hợp này tương tự như bãichôn dạng bằng phẳng Nếu đáy tương đối bằng phẳng, có thể áp dụng phương phápđào hố/mương như trình bày ở phần trên
Để phương pháp này có hiệu quả thì vật liệu che phủ thích hợp, sẵn có chotừng lớp riêng biệt sau khi lấp đầy cũng như cho toàn bộ bãi chôn lấp khi đã đạt độcao thiết kế Vật liệu che phủ lấy từ vách hoặc đáy núi trước khi đặt lớp lót đáy Đốivới hố chôn và khu vực mỏ khai thác nếu không đủ vật liệu che phủ trung gian cóthể chở từ nơi khác đến hoặc dùng phân compost làm từ rác vườn và rác sinh hoạt đểche phủ
Phương pháp xây dốc (ramp method)
Phương pháp xây dốc hay còn được gọi là phương pháp độ dốc tăng dần baogồm việc ban ra và đần nén chất thải rắn trên một dốc nghiêng Phương pháp xâydốc tương tự như phương pháp trải trên bề mặt Tuy nhiên đầu tiên chôn lấp đượctiến hành như phương pháp trãi trên bề mặt, nhưng sau đó vật liệu được lấy để chephủ được lấy ngay từ đất ở bề mặt ngang đằng trước diện tích là việc như vậy sẽ đểlại những vùng đất bị đào hơi bị trùng xuống sẽ có thể bắt đầu nhận rác mang tớivào ngày tiếp theo Bởi vì không cần phải đưa vật liệu che phủ từ nơi khác đến,phương pháp này đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại chỗ
2.2.2 Phân loại theo hình thức chôn lấp
Căn cứ trên hình thức chôn lấp, cho đến hiện nay đã tồn tại ba loại hình chônlấp CTR:
- Bãi hở (open dumps);
- Chôn dưới biển (submarine disposal);
- BCL hợp vệ sinh (sanitary landfill)
Bãi hở
Đây là BCL theo phương pháp cổ điển, đã được áp dụng từ rất lâu Ngay cảtrong thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại cách đây khoảng 500 năm trước công nguyêncon người đã biết đỗ rác bên ngoài các thành lũy – lâu đài ở cuối hướng gió Chođến nay phương pháp này vẫn còn áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới
Phương pháp này có nhiều nhược điểm như:
Trang 21- Bãi rác hở sẽ gây ô nhiễm không khí do quá trình phân hủy rác tạo thànhcác khí có mùi hôi thối.
Đây là phương pháp xử lý CTR rẻ tiền nhất, chỉ tốn chi phí cho công việc thugom và vận chuyển rác từ nơi phát sinh tới bãi rác Tuy nhiên, phương pháp này lạiđòi hỏi một diện tích bãi rác lớn Do vậy, ở các thành phố đông dân cư và đất đaikhan hiếm thì phương pháp này trở nên đắt tiền cùng nhiều nhược điểm như đã nêutrên
Chôn dưới biển
Nhiều nguyên cứu cho thấy việc chôn rác dưới biển cũng có nhiều điều lợi
Ví dụ, ở thành phố New York, trước đây CTR được chở đến bến cảng bằng nhữngđoàn xe lửa riêng, sau đó chúng được các xà lan chở đem chôn dưới biển ở độ sâutối thiểu 30,5 m, nhằm tránh tình trạng lưới cá bị vướng mắc Ngoài ra, ở SanFrancisco, New York và một số thành phố ven biển khác của Hoa Kỳ, người ta cònxây dựng những bãi rác ngầm nhân tạo trên cơ sở sử dụng các khối gạch, bê tôngphá vỡ từ các khu xây dựng thậm chí các ô tô thải bỏ Điều này vừa giải quyết đượcvấn đề chất thải đồng thời tạo ra nơi trú ẩn cho các loài sinh vật biển…
Tuy nhiên với những nguyên cứu gần đây, việc thải bỏ quá mức CTR xuốngbiển đã gây tác động lớn đến lớp vi sinh vật cũng như lớp thực vật đáy, ảnh hưởngđến chuỗi thức ăn của hệ sinh vật biển Vì vậy, chôn rác dưới biển không còn đượcđánh giá là hiệu quả
Bãi chôn lấp hợp vệ sinh
Đây là phương pháp được nhiều đô thị trên thế giới áp dụng cho quá trình xử
lý rác Ví dụ, ở Hoa Kỳ có trên 80% lượng rác thải đô thị được xử lý bằng phươngpháp này
BCL hợp vệ sinh được thiết kế để đổ bò chất thải rắn CTR sao cho mức độgây độc hại đến môi trường là nhò nhất Tại đây CTR được đổ bò vào các ô chôn lấpcủa BCL, sai đó được nén và bao phủ bởi lớp đất dày khoảng 1,5cm (hay vật liệu
Trang 22bao phủ) ở cuối mỗi ngày Khi BCL hợp vệ sinh đã được sử dụng hết công suất thiết
kế của nó, một lớp đất hay vật liệu bao phủ sau cùng dày khoảng 60cm được phủ lêntrên BCL hợp vệ sinh có hệ thống thu và xử lý nước rò rỉ, khí thải từ BCL
BCL hợp vệ sinh có những ưu điểm sau:
- Ở những nơi có đất trống, BCL hợp vệ sinh thường là phương pháp kinh tếnhất cho việc đổ bỏ CTR;
- Đầu tư ban đầu và chi phí hoạt động của BCL hợp vệ sinh thấp so với cácphương pháp khác (đốt, ủ phân);
- BCL hợp vệ sinh có thể nhận tất cả các loại CTR mà không cần thiết phảithu gom riêng lẻ hay phân loại;
- BCL hợp vệ sinh rất lih hoạt trong khi sử dụng Ví dụ, khi khối lượng CTRgia tăng có thể tăng cường thêm công nhân và thiết bị cơ giới, trong khi đó cácphương pháp khác phải mở rộng nhà máy để tăng công suất;
- Do bị nén chặt và phủ đất lên trên nên các côn trùng, chuột bọ, ruồi muỗikhông sinh sôi nảy nở được;
- Các hiện tượng cháy ngầm hay cháy bùng khó có thể xảy ra, ngoài ra giảmthiểu được các mùi hôi thối gây ô nhiễm không khí;
- Góp phần làm giảm nạn ô nhiễm nước ngầm và nước mặn;
- Các BCL hợp vệ sinh sau khi đóng cửa có thể xây dựng thành các côngviên, các sân chơi, các sân vận động, công viên giáo dục, sân golf, hay công trìnhphục vụ ngỉ ngơi giải trí (recreational fcilities) Ví dụ, ở Hoa Kỳ các sân vận độngDenver, Colorado, Mout Transhmore có nguồn gốc là các BCL
Tuy nhiên, các BCL hợp vệ sinh cũng có một số nhược điểm sau:
- BCL hợp vệ sinh đòi hỏi diện tích đất lớn Một thành phố đông dân cư, có
số lượng rác thải càng nhiều thì diện tích bãi thãi càng lớn Người ta ước tính mộtthành phố có quy mô 10.000 dân thì lượng rác thải mỗi năm có thể lấp đầy diện tích
1 hecta với chiều sâu 3m
- Các lớp đất phủ ở các BCL hợp vệ sinh thường hay bị gió thổi và phát tàn đixa
- Các BCL hợp vệ sinh thường sinh ra các khí CH4 hoặc H2S độc hại có khảnăng gây cháy nổ hay gây ngạt Tuy nhiên khí CH4 có thể thu hồi thành khí đốt
- Nếu không xây dựng và quản lý tốt có thể gây ra ô nhiễm nước ngầm và ônhiễm không khí
2.2.3 Phân loại theo chức năng
Có rất nhiều hệ thống phân loại BCL khác nhau Điển hình như hệ thốngbang California đưa ra năm 1964, đây là một trong số những hệ thống được đánh giá
Trang 23là hợp lý Theo hệ thống này, BCL được chia thành ba loại theo ba chức năng củabãi.
Bảng 2 1 Phân loại bãi rác vệ sinh
Loại bãi CTR Loại chất thải
Trong đó, chất thải theo quy định là chất thải không nguy hại, có thể giảiphóng những thành phần có nồng độ vượt quá tiêu chuẩn chất lượng nước hoặc lànhững chất thải đã được DOHS (State Department of Health Service) cho phép Lưu
ý rằng hệ thống phân loại này chú trọng đến bảo vệ nguồn nước mặt, nước ngầmhơn là vấn đề phát tán khí bãi rác và chất lượng môi trường không khí
Bãi chôn lấp CTR sinh hoạt hỗn hợp
Ngoài lượng CTR sinh hoạt cần chôn lấp theo yêu cầu, một lượng nhất địnhcác CTR công nghiệp không nguy hại và bùn từ trạm xử lý nước thải cũng đượcphép đổ ở nhiều BCL thuộc nhóm này Tuy nhiên, bùn từ trạm xử lý nước thải chỉđược phép đổ ra BCL nếu đã được tách nước đạt nồng độ chất rắn từ 51% trở lên Ví
dụ, ở California, bùn đổ ở BCL CTR sinh hoạt phải đạt tỷ lệ khối lượng CTR: bùn là5:1
Vật liệu che phủ trung gian và che phủ cuối cùng BCL có thể là đất haynhững vật liệu khác như phân compost từ rác vườn và rác sinh hoạt, bùn cống rãnh,
xà bần… Để tăng thêm sức chứa của BCL, những BCL đã đóng cửa ở một số nơi cóthể tái sử dụng bằng cách đào phần chất thải đã phân hủy để thu hồi kim loại và sửdụng phần còn lại làm vật liệu che phủ hàng ngày cho chất thải mới Ttrong một sốtrường hợp, chất thải đã phân hủy được đào lên, dự trữ và lắp đặt lớp lót đáy trướckhi sử dụng lại BCL
Bãi chôn lấp chất thải đã nghiền
Với ưu điểm làm tăng khối lượng riêng của rác thải lên đến 35% so với chấtthải ban đầu CTR sẽ được nghiền trước khi chôn lấp và không cần che phủ hàngngày Với loại bãi rác này, các vấn đề về mùi, rùi nhặng, chuột, bọ và gió thổi bayrác không còn quan trọng nữa vì rác nghiền có thể nén tốt hơn và có bề mặt đồng
Trang 24nhất hơn, lượng chất thải che phủ giảm và một số loại vật liệu che phủ khác có thểkhống chế được nước ngấm vào BCL trong quá trình vận hành.
Những điểm bất lợi chính của phương pháp này là cần có thiết bị nén rác vàcũng cần dành riêng khu vực để chôn lấp chất thải không nén được Phương phápnày có thể áp dụng được những nơi có chi phí chôn lấp cao, vật liệu che phủ khôngsẵn có và lượng mưa thấp hoặc tập trung theo mùa CTR đã nghiền cũng có thể sảnxuất phân hữu cơ hoặc dùng lớp che phủ trung gian
Bãi chôn lấp những thành phần chất thải riêng biệt (quy định)
Bãi chôn lấp những thành phần chất thải riêng biệt gọi là BCL đơn(monofill) Tro, amiăng và những chất thải tương tự, thường định nghĩa là chất thảitheo quy định, được chôn ở những BCL riêng để tách biệt chúng với các thành phầnkhác của CTR sinh hoạt Vì tro có chứa một phần nhỏ các chất hữu cơ không cháy,nên mùi sinh ra trong quá trình khử sunfat trở thành vấn đề quan tâm đối với BCLtro Để khắc phục mùi từ bãi chôn lấp tro này, cần lắp đặt hệ thống thu hồi khí
Các loại bãi chôn lấp khác
Bên cạnh những BCL cổ điển đã mô tả, một số phương pháp chôn lấp đặcbiệt đã được thiết kế tùy theo mục đích quản lý BCL như: bãi chôn lấp được thiết kếnhằm tăng tốc độ sinh khí và bãi chôn lấp vận hành như những đơn vị xử lý CTRhợp nhất
Bãi chôn lấp được thiết kế để tăng tốc độ sinh khí: nếu lượng khí thải phátsinh và thu hồi từ quá trình phân hủy kỵ khí CTR được khống chế đạt cực đại, khi
đó cần thiết kế BCL CTR đặc biệt Chẳng hạn, để tận dụng độ sâu CTR được đổ ởnhững đơn nguyên riêng biệt không cần lớp che phủ trung gian và nước rò rỉ đượctuần hoàn trở lại để tăng quá trình phân hủy sinh học Điểm bất lợi của loại BCL này
là lượng nước rò rỉ dư cần phải xử lý
Bãi chôn lấp đóng vai trò như những đơn vị CTR hợp nhất: các thành phầnhữu cơ được tách riêng và đổ vào BCL riêng đề có thể tăng tốc độ phân hủy sinh họcbằng cách tăng ẩm độ của rác, như sử dụng nước rò rỉ tuần hoàn, bổ sung bùn từtrạm xử lý nước thải hoặc phân động vật CTR đã được phân hủy dùng làm vật liệuche phủ cho những khu vực chôn lấp mới và đơn nguyên này lại được dùng cho loạirác mới
Trang 252.2.4 Theo loại CTR tiếp nhận
Bãi chôn lấp CTR khô là BC các chất thải thông thường (rác sinh hoạt, rác đường phố và rác công nghiệp)
Bãi chôn lấp CTR ướt là BCL dùng để chôn chất thải dạng bùn nhão
Bãi chôn lấp CTR hỗn hợp là nơi dùng để chôn lấp chất thải thông thường và
cả bùn nhão Đối với các ô dành để chôn lấp ướt và hỗn hợp bắt buộc phải tăng khả năng hấp thụ nước rác của hệ thống thu rác, không để cho rác thấm đến nước
ngma62
2.2.5 Theo kết cấu
BCL nổi: là BCL xây nổi trên mặt đất ở những nơi có địa hình bằng phẳng hoặc không dốc lắm (vùng đồi gò) Chất thải được chất thành đống cao đến 15m Trong trường hợp này xung quanh BCL phải có các đê không thấm để ngăn chặn nước rác xâm nhập vào nước mặt xung quanh cũng như nước mặt xung quanh xâm nhập vào BCL
Hình 2 1 Bãi chôn lấp nổiBCL chìm: là loại bãi chìm dưới mặt đất hoặc tận dụng các hồ tự nhiên, mỏ khai thác cũ, hào, mương, rãnh
Trang 26BCL kết hợp: là loại bãi xây dựng nửa chìm, nửa nổi Chất thải không chỉ được chôn lấp đầy hố mà sau đó tiếp tục chất đống lên trên.
Hình 2 2 BCL kết hợp chìm nổiBCL khe núi: là loại bãi được hình thành bằng cách tận dụng khe núi ở các vùng đồi núi cao
Hình 2 3 BCL ở khe núi
2.2.6 Phân loại theo quy mô
Quy mô BCL CTR đô thị phụ thuộc vào quy mô của đô thị như dân số, lượngCTR phát sinh, đặc điểm CTR… Theo thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-
BKHCNMT-BXD: Hướng dẫn các quy định bảo vệ môi trường đối với việc lựa chọn địa điểm, xây dựng và vận hành BCL CTR; Quy mô của BCL được phân ra thành các loại nhỏ, vừa, lớn và rất lớn theo bảng sau:
Bảng 2 2 Phân loại quy mô BCL CTR
Trang 27Diện tích bãi(ha)
Khi lựa chọn địa điểm xây dựng BCL, cần phải căn cứ vào quy hoạch tổng thể của từng vùng, tỉnh hoặc thành phố đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, phải đảm bảo sự phát triển bển vững và phải xem xét toàn diện các yếu tốsau:
- Các yếu tố tự nhiên
- Các yếu tố kinh tế xã hội
- Các yếu tố về cơ sở hạ tầng
- Khoảng cách thích hợp khi chọn lựa BCL
2.3.1 Các yếu tố tự nhiên - kỹ thuật
Địa hình
Trang 28Khu vực được chọn phải có khả năng làm tieu thoát nước, ngăn ngừa ứ đọng trong khu vực BCL và xung quanh Điều này rất quan trọng vì giảm được lượng nước thấm vào BCL.
Khí hậu
Khí hậu có ảnh hưởng đến việc lựa chọn vị trí BCL Khí hậu ẩm ướt, thì bắc buộc phải lựa chọn khu vực chôn lấp tách biệt Khí hậu băng giá thì vật liệu bao phủphải dự trữ sẵn trong kho phòng khi việc đào đất không thể thực hiện Gió mạnh thì cần cẩn thận tránh bay rác và xây dựng hàng rào chắn gió
Thủy văn
Là yếu tố quan trọng trong việc thiết lập hệ thống thoát nước mưa và nước chảy tràn Những đo đạc để đưa ra phương pháp chuyển hướng dòng chảy tràn khỏi BCL là cần thiết Dữ liệu về những dòng chảy liên tục và dòng chảy gián đoạn, đặc tính của dòng phân phối phải được thu thập đầy đủ
Địa chất thủy văn
Lớp đất phủ lên trên CTR trong ô chôn lấp sau một ngày hoạt động hay lớp đất bao phủ cuối cùng sau khi hoạt động chôn lấp tại BCL kết thúc là cần thiết vì vậtliệu bao phủ phù hợp thì thời gian hoạt động BCL tăng Do đó, cần phải có đủ thôngtin về lượng và đặc điểm của đất trong khu vực Nếu lớp đất đào lên để xây dựng BCL được đùng làm lớp bao phủ, thì phải thu thập số liệu về địa chất và địa thủy văn trong khu vực
Công tác trắc địa cần được quan tam vì nó ảnh hưởng đến loại BCL sử dụng, cách vận hành yêu cầu thiết bị và nhân công
Địa chất công trình
Các BCL mới không được xây dựng trên vùng đất mềm trừ khi:
- Những rủi ro môi trường là tối thiểu
- Không vi phạm luật
- Không gây sụt lún đất nghiêm trọng