LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý từ phía Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giáo viên hướng dẫn Th.S Phạm Thị Trang, em tiến hành thực hiện đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HÀ THU
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ VÀ LÂM SÀNG BỆNH DO LOÀI TIÊN MAO TRÙNG PHÂN LẬP TỪ TRÂU CỦA TỈNH TUYÊN QUANG
GÂY RA TRÊN CHUỘT VÀ THỎ THÍ NGHIỆM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016 Giảng viên hướng dẫn: ThS Phạm Thị Trang
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý từ phía Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giáo viên hướng dẫn Th.S
Phạm Thị Trang, em tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm bệnh
lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu của tỉnh Tuyên Quang gây ra trên chuột và thỏ thí nghiệm"
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho em trong suốt thời gian học tập tại trường
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Phạm Thị Trang đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện khóa luận bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên do thời gian nghiên cứu có hạn và bước đầu còn bỡ ngỡ với công tác nghiên cứu khoa học nên khóa luận của em sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,ngày 25 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Hà Thu
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Thời gian T evansi xuất hiện trong máu thỏ sau gây nhiễm 37
Bảng 4.2: Tần suất xuất hiện T evansi trong máu thỏ gây nhiễm 38
Bảng 4.3: Diễn biến lâm sàng ở thỏ sau gây nhiễm 39
Bảng 4.4: Bệnh tích đại thể ở thỏ bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm 40
Bảng 4.5: Thời gian T evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm 41
Bảng 4.6: Diễn biến lâm sàng ở chuột sau gây nhiễm 43
Bảng 4.7: Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T evansi 45
Bảng 4.8: Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm 46
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ TỰ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CATT: Card Agglutination Test of Trypanosomiasis
cs: Cộng sự
ELISA: Enzym Linked Immunosorbent Asay
IFAT: Indirect Fluorescent Antibody Test
ISG: Invanant Surface glycoprotein
KgTT: Kilogam thể trọng
PCR: Polymerrase Chain Reaction
SAT: Slice Agglutination Test
SDS: Sodium Dodecyl Sulfat
T evans: Trypanosoma evansi
TMT: Tiên mao trùng
Tr.: Trang
VAT: Variable Antigen Type
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC KÝ TỰ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 4
2.1.2 Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng trâu, bò 7
2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh tiên mao trùng 13
2.1.4 Phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 17
2.1.5 Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa 21
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 26
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 26
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 28
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đối tượng, phạm vi, vật liệu nghiên cứu 31
3.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 31
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 31
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
Trang 63.3.1 Xác định khả năng gây bệnh của loài tiên mao trùng đã phân
lập trên thỏ 32
3.3.2 Xác định khả năng gây bệnh của loài tiên mao trùng đã phân lập trên chuột bạch 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu 32
3.4.1 Phương pháp gây nhiễm loài tiên mao trùng đã phân lập từ trâu của tỉnh Tuyên Quang cho động vật thí nghiệm (thỏ, chuột bạch) 32
3.4.2 Phương pháp kiểm tra máu của động vật thí nghiệm sau gây nhiễm 34
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 35
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Nghiên cứu khả năng gây bệnh của loài T evansi phân lập ở Tuyên Quang trên thỏ thí nghiệm 37
4.1.1 Thời gian T evansi xuất hiện trong máu của thỏ sau gây nhiễm 37
4.1.2 Tần suất xuất hiện T evansi trong máu thỏ gây nhiễm 38
4.1.3 Thời gian xuất hiện và diễn biến lâm sàng ở thỏ sau gây nhiễm 39
4.1.4 Bệnh tích đại thể ở thỏ bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm 40
4.2 Nghiên cứu khả năng gây bệnh của loài T evansi phân lập ở Tuyên Quang trên chuột thí nghiệm 41
4.2.1 Thời gian T evansi xuất hiện trong máu của chuột bạch gây nhiễm 41
4.2.2 Diễn biến lâm sàng ở chuột sau gây nhiễm 42
4.2.3 Thời gian chết của chuột bạch sau gây nhiễm T evansi 45
4.2.4 Bệnh tích đại thể ở chuột bạch bị bệnh tiên mao trùng do gây nhiễm 46
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 7
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội theo hướng hội nhập khu vực
và quốc tế, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu bò nói riêng chiếm
vị trí hết sức quan trọng Chăn nuôi trâu, bò cung cấp thịt, sữa có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, cung cấp nguồn phân hữu cơ lớn cho ngành trồng trọt
Muốn phát triển chăn nuôi, song song với làm tốt công tác giống, công tác chăm sóc nuôi dưỡng, cần phải làm tốt công tác phòng trừ dịch bệnh Khí hậu nước ta nóng và ẩm là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển Hiện nay, một số bệnh do vi khuẩn, virus cơ bản đã được ngăn chặn bằng cách tiêm phòng định kỳ các loại vacxin có chất lượng cao, nhưng các bệnh
ký sinh trùng vẫn lưu hành đang gây tác hại âm ỉ và lâu dài Trong đó phải
kể đến bệnh tiên mao trùng, đây là một trong những bệnh ký sinh trùng nguy hiểm trên đàn trâu bò
Bệnh tiên mao trùng là bệnh truyền lây giữa người và gia súc do ký sinh
trùng đơn bào (Protozoa), lớp trùng roi (Flagellata) gây ra Có nhiều loài thuộc giống Trypanosoma, như: Trypanosoma brucei, Trypanosoma cruzi,
Trypanosoma evansi, Trypanosoma congolense, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma vavax, Trypanosoma siminae…
Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [21], Phan Địch Lân và cs (2004) [24], Phan Văn Chinh (2006) [2], bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở nhiều vùng trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 - 30%, trên bò là 7 - 14%, trong đó tỷ lệ gia súc chết/gia súc mắc lên tới 6,3 - 20%
Trang 8Cũng theo báo cáo của các tác giả trên, tỷ lệ mắc bệnh tiên mao trùng ở gia súc vùng núi và trung du cao hơn vùng đồng bằng và ven biển Trong khi
đó, ở nước ta, chăn nuôi gia súc nhai lại để cung cấp sức kéo, thịt, sữa lại tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi và trung du; đây là các vùng có điều kiện
tự nhiên thích hợp cho sự phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại, nhưng cơ sở
hạ tầng phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị tại địa phương còn yếu kém; dẫn tới hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt hại lớn hơn
Để có cơ sở xác định các đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do
Trypanosoma evansi gây ra ở trâu tại tỉnh Tuyên Quang giúp cho công tác
chẩn đoán và phòng, trị bệnh được tốt hơn, góp phần hạn chế những thiệt hại
do bệnh tiên mao trùng cho gia súc chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu của tỉnh Tuyên Quang gây ra trên chuột và thỏ thí nghiệm”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu ở tỉnh Tuyên Quang, thông qua tác động gây bệnh của chúng trên động vật thí nghiệm (chuột bạch và thỏ)
- Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học phục vụ việc chẩn đoán,
từ đó giúp cho công tác phòng và trị bệnh tiên mao trùng kịp thời, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh tiên mao trùng gây ra trên đàn trâu ở tỉnh Tuyên Quang
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm bệnh lý
và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ đàn trâu của tỉnh
Trang 9Tuyên Quang trên động vật thí nghiệm, là tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn về bệnh (giữ giống tiên mao trùng, chế kháng nguyên tiên mao trùng phục vụ công tác chẩn đoán bệnh…)
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán bệnh và khuyến cáo người chăn nuôi cách nhận biết bệnh, từ đó có biện pháp phòng, trị bệnh nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do tiên mao trùng gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng
2.1.1.1 Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Levine và cs (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997) [9],
vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa)
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria
Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901
Loài Trypanosoma (H) leisi
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax Loài trypanosome (D) uniform
Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (N) congolense
Trang 11Loài Trypanosoma (N) siminae
Loài Trypanosoma (N) vanhogi
Giống phụ Trypanosoma Liihe, 1906 Loài Trypanosoma (T) brucei
Loài Trypanosoma (T) gambience
Loài Trypanosoma (T) rhodesiense
Loài Trypanosoma (T) equiperdum
Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (P) suis Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843 Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885)
Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài đã được tổ chức dịch tễ quốc tế (OIE) [66] thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động
vật có vú, đó là: T brucei, T congolense, T cruzi, T evansi, T gambiense, T
kysiminae, T vivax
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng
Phạm Sỹ Lăng (1982) [21] cho biết: T evansi thuộc giống Trypanosoma,
là loại tiên mao trùng có hình suốt chỉ thon, mảnh, hai đầu thót tròn hoặc nhọn Thân là một khối nguyên sinh chất, giữa có một nhân, cuối thân có một thể cơ động (kinetoblast), hay còn gọi là hạch cơ động Từ thể cơ động hoặc gần thể cơ động xuất hiện một roi đính vào thân, chạy dọc lên phía trước tạo thành màng rung động nhiều nếp gấp do có một đoạn tự do ở phía trước
Tiên mao trùng T evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là
một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 - 34µm (trung bình là 25µm),
chiều rộng 1,5 - 2µm Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae
Cấu trúc từ ngoài vào trong được chia thành 3 phần chính:
Trang 12- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 -15nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa) Lớp
vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử Glycoprotein luôn biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface - VGS) Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng Theo Hoare (1972) [51]; Phạm Sỹ Lăng (1982) [21]; Nguyễn Quốc Doanh (1999) [7], chính nhờ sự sắp xếp này của các cặp vi ống nên tiên mao trùng có hình dạng suốt chỉ
- Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất bao gồm các nội quan: Ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, kinetoplast (thể cơ động), Mitochrondno, Reticulum (lưới nội bào) và mạng lưới Golgi
- Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể Ngoài nhân,
về phía cuối thân còn có thể Kinetoplast chứa ADN (KADN) Từ Kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự
do Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cũng giống lớp vỏ của thân Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare, 1972) [51]; (Nguyễn Quốc Doanh, 1999) [7]
Hình 2.1: Cấu tạo cơ bản của T evansi
Trang 132.1.1.3 Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi
Kháng nguyên của T evansi gồm 2 loại: kháng nguyên ổn định (kháng
nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi
* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi trong quá trình sống ký sinh Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết thanh
thỏ tối miễn dịch với T evansi, đã phát hiện tới 30 thành phần kháng nguyên
khác nhau Có ba loại kháng nguyên không biến đổi ở màng nguyên sinh chất
tế bào (ISG: Invanant Surface Glycoprotein): ISG 65, ISG 75, ISG 100
* Kháng nguyên biến đổi
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền và cs (2014) [8], kháng nguyên RoTAT1.2 có mặt ở hầu hết các VAT (Variable Antigen Type - kiểu
kháng nguyên biến đổi) của Trypanosoma evansi (T.evansi), được ứng dụng
trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
* Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2008) [13], khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG) làm tiêu tan tiên mao trùng thì đó cũng
là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hoạt hóa của gen Kết quả là các phân tử kháng nguyên được thay đổi hoàn toàn bằng các phân tử VSG mới Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này
2.1.2 Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng trâu, bò
2.1.2.1 Phân bố của bệnh
Bệnh tiên mao trùng có một phạm vi phân bố địa lý cực kỳ rộng, nó
được phát hiện ở vật nuôi trong nhà và các động vật hoang dã Trong T.evansi
là loài phân bố rộng nhất trong các loài tiên mao trùng gây ra bệnh cho động vật, chúng đã gây bệnh ở bắc Phi, Trung Đông, dọc theo Ấn Độ Dương tới gần đại lục châu Âu và châu Á, ở vùng đất mới như Trung và Nam Mỹ cũng
đã tìm thấy T evansi
Trang 14Tại châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa trung hải Bệnh tiên mao trùng xảy ra
với tên gọi “bệnh Surra” ở Ả rập Saudi, Yemen, Sultanate, Ả Rập thống
nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan, Pakistan Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện chỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên
Xô cũ) Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến
ở Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia Tại Châu Úc cũng đã xác định là có bệnh tiên mao trùng (Ried, 2002) [58]
Theo Losos G J (1972) [53] cho rằng: Bệnh tiên mao trùng phổ biến nhất là ở châu Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonexia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Iran, Philippine
Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển Năm 1911, một ổ dịch làm chết nhiều ngựa ở hang Hít (Thái Nguyên), nhiều trường hợp chết tại chuồng ngựa của công ty Khai thác rừng Hà Nội Năm 1992 - 1926, ở Nam bộ, ngựa, chó mắc bệnh tiên mao trùng đã chết hàng trăm con (Phạm Sỹ Lăng, 1972) [20]
Trịnh Văn Thịnh (1982) [38] cho biết: năm 1925, bệnh tiên mao trùng xảy ra ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ như Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Hà Đông, Nam Định, Ninh Bình, Sơn Tây, Vĩnh Yên làm chết 148 ngựa, bò
Phan Địch Lân (1983) [24] đã điều tra cơ bản về côn trùng thú y tại các vùng địa lý khác nhau ở miền Bắc cho biết: trâu, bò ở miền núi, trung du nhiễm ký sinh trùng đường máu nói chung là cao hơn trâu, bò ở vùng đồng
Trang 15bằng ven biển Các giống bò ngoại có tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường máu
nói chung là cao hơn các giống bò lai, bò nội Tỷ lệ bò nhiễm T evansi chung
toàn đàn là 0,29%
Hồ Thị Thuận và cs (1987) [41] khi điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu trên đàn bò ở các tỉnh phía Nam cho biết: tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường máu nói chung từ 20 - 60%, trong đó đàn bò sữa ở trại thực nghiệm Đà Lạt nhiễm ký sinh trùng máu với tỷ lệ 22,7%, đàn bò ở xí nghiệp
Bò sữa An Phước, Đồng Nai nhiễm T evansi với tỷ lệ 12,6%
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2014) [18], loài tiên mao trùng kí sinh và gây bệnh ở trâu nuôi tại 10 xã thuộc 3 huyện: Yên Sơn, Chiêm Hóa và Hàm Yên của tinh Tuyên Quang đều thuộc giống
Trypanosoma evansi và loài tiên mao trùng này có trình tự gen Rotat1.2
tương đồng tới 99% với trình tự gen tương ứng của T.evansi tại Genbank
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2014) [17] đã xét nghiệm mẫu máu của 773 trâu tại 3 huyện: Yên Sơn, Hàm Yên, Chiêm Hóa thuộc tỉnh Tuyên Quang, cho thấy: tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu là 13,45%, tuổi trâu càng tăng thì
tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng càng cao; trong đó, trâu dưới 2 năm tuổi tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng là 6,73%; trâu trên 8 năm tuổi là 28,57%
2.1.2.2 Vật chủ, vật môi giới truyền bệnh, phương thức lây truyền bệnh tiên mao trùng
Trypanosoma evansi là loài gây bệnh phổ biến nhất trong các loài tiên
mao trùng, chúng gây bệnh cho hầu hết các loài gia súc trên thế giới: trâu, bò, ngựa, chó, mèo, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, lạc đà, voi… Ở các
nước, trâu, bò đều nhiễm T evansi tự nhiên, nhưng bò ít mẫn cảm hơn và thường ở thể mãn tính, mang trùng Lạc đà thường nhiễm T evansi ở thể cấp
tính, chết khá nhiều ở một số nước châu Phi, châu Á
Trang 16Ngoài những động vật bị nhiễm T evansi tự nhiên, trong phòng thí
nghiệm có thể truyền bệnh tiên mao trùng cho các loài động vật nhỏ như: thỏ, chuột nhắt trắng, chuột lang, chuột bạch
Desquesnes M và cs (2009) [47] cho biết: bệnh do Trypanosoma
evansi là bệnh được truyền từ vật bệnh sang vật khỏe thông qua sự hút máu
của côn trùng môi giới Vì vậy, mầm bệnh có thể được truyền đi trong phạm vi không gian rộng lớn
Theo Nguyễn Thị Lim Lan (2012) [16], sự lây truyền tiên mao trùng
từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khỏe là nhờ các loài ruồi hút máu (thuộc họ
phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae) Ruồi
và mòng hút máu của các gia súc bị bệnh, hút luôn cả tiên mao trùng vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khỏe, trong khi hút máu sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khỏe Sự lây truyền này mang tính chất cơ học Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng quan trọng
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [21], ở Nam Mỹ, Ligniere, Elmasson, đã
truyền bệnh thực nghiệm thành công bằng cách cho ruồi Stomoxys calcitrans
và xác định khoảng cách ruồi đốt vật ốm sang vật khỏe không quá 24 giờ
Muzari M.O và cs (2010) [55] đã nghiên cứu rằng: Mòng Tabanus ở Úc
là một trong những vật môi giới phổ biến truyền bệnh do Trypansoma evansi
ở động vật
Ở các nước nhiệt đới, người ta còn nghĩ tới khả năng lan truyền của
T.evansi nhờ những loài nhuyễn thể hút máu như: đỉa, vắt
Phan Địch Lân (1983) [24] cho biết: ở nước ta khí hậu, điều kiện sinh
thái thích hợp cho những ký chủ trung gian thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae, chúng cần có thảm thực vật để cư trú, đẻ trứng, cần khí
hậu nóng (160
C - 300C), độ ẩm (50 - 100%), mặt đất ướt để trứng nở, các giai
Trang 17đoạn ấu trùng phát triển, cuối cùng cần có trâu, bò, động vật thích hợp để hút máu, duy trì sự sống đồng thời truyền bệnh cho những động vật này Ở miền Bắc Việt Nam mòng hoạt động tới 9 tháng, ruồi hút máu hoạt động quanh năm Nhưng tập trung vào những tháng nóng nực
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [21], từ những nghiên cứu về ký chủ trung gian đều đã khẳng định mùa phát triển, lây lan của bệnh xảy ra vào những tháng thời tiết ấm áp, ruồi, mòng xuất hiện và hoạt động mạnh Ở Liên Xô mùa phát bệnh khoảng 3,5 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 Ở các nước nhiệt đới thì mùa lây lan bệnh có thể xảy ra quanh năm
Ở nước ta, họ mòng môi giới trung gian truyền T evansi đã được các nhà
khoa học nghiên cứu về thành phần, khả năng truyền bệnh của chúng Theo Phan Địch Lân (1974), (2004) [23], [25], phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1.000m so với mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần 9 (độ cao trên 1.000m chỉ có 26 loài) Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá 500m so với mực nước biển) có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài Những loài
mòng phổ biến nhất ở tất cả các vùng là: Tabanus rubidus, T striatus,
Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2014) [18] đã xác định có 3 loại ruồi, mòng hút máu truyền bệnh tiên mao trùng trên đàn trâu ở tỉnh Tuyên Quang chiếm
tỷ lệ: ruồi Stomocys calcitrans (64,68%), mòng Tabanus kiangsuensis (16,69%) và mòng Tabanus rubidus (18,63) với tần suất xuất hiện là 100% ở
các địa phương nghiên cứu này Ruồi, mòng hút máu hoạt động mạnh vào mùa hè và đầu mùa thu (từ tháng 5-8), sau đó giảm dần và ngừng hoạt động vào các tháng lạnh trong năm; thời gian bắt đầu hoạt động là từ 6 đến 8 giờ sáng và hoạt động mạnh vào 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều trong ngày
Trang 18Hoạt động của mòng theo giờ trong ngày ảnh hưởng đến vai trò truyền
bệnh của chúng Trong một ngày, sự hoạt động của Tabanus ở vùng trung du,
đồng bằng giống nhau xuất hiện lúc 6 - 8 giờ, nhiều nhất 12 - 14 giờ, ít dần, mất
đi 16 - 18 giờ Ở miền núi Tabanus xuất hiện nhiều vào 9 - 10 giờ, 17 - 18 giờ,
vào 10 - 14 giờ xuất hiện ít
Thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của tiên mao trùng sau
khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: thời gian từ giờ thứ 1 đến
thứ 5, tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tự như khi truyền thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7 chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và thời gian chết của chuột cũng dài Điều này có thể giải thích là do độc lực của tiên mao trùng giảm dần và số lượng tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh
cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus
2.1.2.3 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh
Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao trùng và đều phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu, giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất
Phan Địch Lân (2004) [25] đã tổng lợp kết quả điều tra 3172 trâu ở các tỉnh đồng bằng: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,1%), trâu 3 - 5 tuổi nhiễm cao hơn (6 - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9 - 14,8%), trâu trên 9 năm tuổi tỷ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi
Theo Phan Văn Chinh (2006) [2], tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất ở
4 - 8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%), thấp nhất là trâu, bò dưới 3 năm tuổi (6,92% và 2,31%) Mùa lây lan bệnh thường xảy ra trong các tháng nóng
ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9) Thời gian này điều kiện sinh thái thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh, hút máu súc vật
và truyền tiên mao trùng
Trang 19Theo Luckins (1988) [53], sự xuất hiện lượng lớn ruồi, mòng trong mùa mưa nóng ẩm luôn có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, dê, lạc đà
Theo Phạm Thị Trang và cs (2015) [42], tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng tăng lên theo lứa tuổi trâu Trâu dưới 2 năm tuổi tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng là 4,76%; trâu trên 8 năm tuổi tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng là 19,23%
2.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh tiên mao trùng
2.1.3.1 Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu, bò, ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da Ta có thể quan sát được phản ứng viêm ở da qua thỏ, dê, cừu và bò gây nhiễm thực nghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào số lượng tiên mao trùng được tiêm truyền, một số lượng lớn tiên mao trùng phát triển tại chỗ viêm này
Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong bạch huyết và ở trong các mô khác nhau của cơ thể vật chủ theo cách phân chia theo chiều dọc Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng như nhau Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày
Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose và các chất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản Ở súc vật bị bệnh, trong 1ml máu có thể có 10.000 - 30.000 tiên mao trùng Với số lượng nhiều như vậy, tiên mao trùng chiếm đoạt dinh dưỡng nhiều, làm cho súc vật mắc bệnh gầy còm, thiếu máu và mất dần khả năng sản xuất sữa, thịt, mất dần khả năng sinh sản và giảm sức đề kháng với các bệnh khác
Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra độc tố Trypanotoxin, độc tố này gồm: độc tố do tiên mao trùng tiết ra qua màng thân trong quá trình sống và độc tố do xác chết của tiên mao trùng phân hủy trong máu sau
Trang 2015 - 30 ngày Độc tố của tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ương làm rối loạn trung khu điều hòa thân nhiệt , gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen kẽ nhau) Khi sốt thường có rối loại về thần kinh (kêu rống, run rẩy, ngã vật xuống) Độc tố cũng phá hủy hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần Độc tố còn tác động đến bộ máy tiêu hóa, gây rối loạn tiêu hóa, làm con vật ỉa chảy Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh
Khi tăng lên với số lượng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắc các mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thủy thũng chất keo vàng dưới da
2.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa
* Ở trâu, bò
Trâu, bò bị bệnh thể hiện các triệu chứng lâm sàng chủ yếu sau:
- Sốt cao và gián đoạn: sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền tiên mao trùng, trâu bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 - 41,70
C) kéo dài 2 - 4 ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên Thời gian gián đoạn giữa hai cơn sốt dài hay ngắn tùy theo thể trạng con vật Khi con vật sốt, kiểm tra máu thường thấy tiên mao trùng
- Hội chứng thần kinh: ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện triệu chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy vòng quanh kêu rống lên Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn ngược rồi đổ ngã xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng Sau 20 - 30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được Những trâu bò mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng như trên thường là mắc bệnh ở thể cấp tính
Trâu bò bị bệnh mãn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết
Trang 21- Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể như
ở 4 chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục
- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu, bò bệnh Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ ngầu Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (cùi nhãn) kéo che kín giác mạc
- Hội chứng tiêu hóa: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy Các đợt ỉa chảy tiếp theo những cơn sốt cách quãng Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thường dai dẳng và con vật vẫn ăn được Có khoảng 30% trâu, bò bệnh thể hiện viêm ruột, ỉa chảy kéo dài sau cơn sốt (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2011) [15]
- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau
7 - 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu Nếu bệnh kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, lông dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản Nếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu, bò
dễ chết.Trong thực tế có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khỏe, làm việc bình thường khi được chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Ở nước ta, Phạm Sỹ Lăng (1972) [19] cũng đã phát hiện thấy trâu bị bệnh cấp tính rất nặng, sốt cao, bỏ ăn, điên loạn và chết nhanh Trâu nhiễm bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng, chân sau và chết do kiệt sức
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16], hồng cầu bị phá hoại nên số lượng hồng cầu và hàm lượng Hemoglobin giảm
Phạm Sỹ Lăng (1982) [21] cho biết: khi protein tổng số và Albumin giảm thì các thành phần α, β và γ Globulin đều tăng, chỉ số A/G < 0,5
Theo một số tác giả trong và ngoài nước, một số trâu, bò cái có thể sảy thai
khi có nhiều Trypanosoma evansi ký sinh Ở Việt Nam, Bùi Quý Huy (1998)
Trang 22[10] đã xác nhận một ổ dịch ở trâu Murrah (Cúc Phương - Ninh Bình) sẩy thai, thai có tiên mao trùng trong máu Nguyễn Đăng Khải (1995) [11] cho biết, năm
1987 lần đầu tiên những ca sẩy thai do tiên mao trùng đã được chẩn đoán và ghi nhận trên đàn trâu Murrah nuôi tại trung tâm Phùng Thượng Tổng số có 28 con
bị sẩy thai chiếm 46,6% số trâu chửa đẻ Qua xét nghiệm toàn đàn 34/78 trâu
dương tính với Trypanosoma evansi sau khi đã loại trừ Blucella và Leptospira
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [15], hầu hết trâu, bò sữa bị bệnh thì suy nhược, mất dần khả năng sinh sản và giảm lượng sữa 30 - 50%,
có thể chết do kiệt sức Trâu cái bị sẩy thai vào tháng thứ 7 - 8 khi bị bệnh tiên mao trùng
Theo Nguyễn Quốc Doanh và cs (1998) [6], các triệu chứng lâm sàng
chủ yếu ở thỏ nhiễm T evansi gồm:
- Thủy thũng tai (tai cụp xuống) ở ngày 25 - 52
- Thủy thũng ở bẹn ở ngày 25 - 36
- Thủy thũng mi mắt (mắt có nhử) ngày 26 - 52
- Khó thở ở ngày 26 - 52
- Phân nhão ở ngày 15 - 30
2.1.3.3 Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng
Trypanosoma evansi ký sinh trong máu gây cho gia súc một thể bệnh
toàn thân Trong quá trình ký sinh, T evansi lấy các chất dinh dưỡng trong máu, thải ra các chất cặn bã, các chất này là độ c tố cho cơ thể Khi T evansi chết đi thì xác chết của chúng cũng là chất độc Những chất độc do T evansi
thải ra các tác giả gọi là Trypanotoxin Độc tố theo máu đi khắp cơ thể, tác động lên các nội quan của vật bệnh, gây ra một số bệnh tích đặc biệt
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16], con vật mắc bệnh tiên mao trùng khi chết gầy xơ xác, mổ khám thấy có những biến đổi bệnh tích đại thể rõ rệt ở
hệ tuần hoàn và hô hấp: tim nhão, xoang bao tim tích nước vàng, phổi sung
Trang 23huyết và tụ máu từng đám nhỏ, gan sưng to, nhạt màu, lách sưng, mềm nhũn và nhạt màu, hạch lâm ba sưng và có tụ máu trong hạch, cơ nhão, màu nhợt nhạt, nhát cắt rỉ nước, xoang ngực và xoang bụng tích dịch màu vàng nhạt
Elamin E A (1992) [49] nhận thấy dê nhiễm T evansi thì Hemosiderin
lắng đọng trong tế bào kupffer gan, bạch cầu đơn nhân thấm qua ống cửa gan làm cho tế bào gan bị hoại tử, dẫn đến cơ tim thoái hóa, bạch cầu đơn nhân chui qua phế quản gây sung huyết và khí thũng phổi, tế bào ống thận bị hoại
tử, bong ra
Hồ Văn Nam (1963) [30] và các tác giả khác cũng thấy những bệnh tích đặc trưng do bệnh tiên mao trùng gây ra ở nước ta: trâu, bò chết thường bị thủy thũng, ở ức có dịch màu vàng lầy nhầy, thịt nhão chứa nhiều nước, trong xoang bụng, xoang ngực có dịch màu vàng chanh, gan sưng to, có khi cứng lại, có màu xám nhạt, cơ tim nhão, đáy tim thủy thũng
2.1.4 Phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16], việc chẩn đoán tương đối khó khăn vì căn bệnh có khi có ở mạch máu ngoại vi, có khi không Do đó phải chẩn đoán tổng hợp, gồm các biện pháp sau:
- Căn cứ vào triệu chứng điển hình: sốt lên xuống, thủy thũng, có triệu chứng thần kinh…
- Dựa vào đặc điểm dịch tễ của bệnh: vùng mắc bệnh, mùa phát bệnh, vật môi giới truyền bệnh…
- Điều trị, chẩn đoán: dùng các loại thuốc đặc hiệu để điều trị chẩn đoán
2.1.4.1 Chẩn đoán lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên loạn) và chết nhanh Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng:
Trang 24sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm phúc mạc, phù thũng ở bụng
và chân sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982) [21] Triệu chứng sẩy thai cũng có thể thấy ở trâu cái có chửa ở tháng thứ 7 - 8 bị bệnh tiên mao trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2011) [15]
2.1.4.2 Chuẩn đoán thí nghiệm
Có nhiều phương pháp chẩn đoán tiên mao trùng trong phòng thí nghiệm, mục đích là phát hiện tiên mao trùng trong máu gia súc Tùy điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác cao
* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trực tiếp:
Muốn phát hiện tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp xem tươi (Direct smear)
Khi bệnh súc sốt, T evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi; vì
vậy, nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi Cho một giọt máu nhỏ lên phiến kính đã có sẵn 1 giọt nước muối sinh lý, đậy la men lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng Soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40) để phát hiện tiên mao trùng sống
* Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm:
Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứng dụng nhiều để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Phương pháp này
có ưu điểm là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khi nhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm Song, nhược điểm của phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoán nhanh, với
số lượng nhiều và thời gian ngắn thì phương pháp này không thể đáp ứng được (Lê Ngọc Mỹ, 1994) [28]; (Đoàn Văn Phúc và cs, 1994) [32]
Trang 25* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học:
Bằng phương pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặc kháng nguyên tiên mao trùng Đây là các phương pháp huyết thanh học đặc hiệu
* Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng
Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sản sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại tiên mao trùng Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ:
* Phương pháp CATT (Card Agglutination Test for Trypanosomiasis)
Đây là phương pháp ngưng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và kháng thể trên bản nhựa, được dùng để phát hiện kháng thể lưu động trong máu động vật nhiễm bệnh
Nguyên lý: kháng nguyên tiên mao trùng đã được nhuộm màu kết hợp với kháng thể có trong máu của động vật tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh Cách tiến hành: dùng ống hút 2,5 ml dung dịch buffer cho vào lọ kháng nguyên chuẩn đã được nhuộm màu (CATT reagent), lắc đều Cho vào lọ kháng nguyên đối chứng (đối chứng dương, đối chứng âm) mỗi lọ 0,5 ml dung dịch buffer, lắc đều Dùng micropipette pha loãng huyết thanh theo tỷ lệ 1/8 Cho các mẫu huyết thanh cần chẩn đoán đã được pha loãng lần lượt vào các vòng tròn của bản CATT, cho kháng nguyên đối chứng vào hai vòng tròn khác của bản, mỗi loại 1 giọt (tương đương 45 µl) Sau đó cho vào tất cả các vòng tròn trên bản CATT 1 giọt kháng nguyên chuẩn Dùng que nhựa trộn đều Cuối cùng cho lên máy lắc 5 phút (60 - 70 lần/ phút) và đánh giá kết quả Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2015) [19] đã nghiên cứu thử nghiệm bộ KIT
TUAF - CATT để đánh giá tình hình nhiễm Trypannosoma evansi trên 1570
mẫu máu/huyết thanh trâu, bò, dê và ngựa tại 4 tỉnh Thái Nguyên, Lai Châu, Lạng Sơn và Hòa Bình trong năm 2013 và 2014 cho thấy: tỷ lệ dương tính huyết thanh học đối với đàn gia súc các địa phương đã khảo sát là 20% (2 tỉnh Thái
Trang 26Nguyên và Lai Châu 2013) và 27,96% (4 tỉnh Thái Nguyên, Lai Châu, Lạng Sơn
và Hòa Bình năm 2014) So với biện pháp tiêm truyền chuột bạch KIT TUAF - CATT cho kết quả đồng dương tính là 98, 24% (391/398) và 2,22 ( 14/632) dương tính CATT nhưng âm tính khi tiêm chuột
+ Phương pháp ELISA (Enzym Linked Immunosorbent Assay)
Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhất được ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng Glubulin (kháng kháng thể) có mang một enzyme (Phosphatase hoặc Peroxydase) được gắn lên mảnh
Fe, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên Sau đó, cho cơ chất sinh màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzyme và bị phân hủy tạo nên màu So sánh với màu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức độ của phản ứng Phương pháp ELISA hiện đang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Ở Việt Nam, Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [28], đã bước đầu chế kháng nguyên tiên mao trùng và ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở nước ta Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2015) [19] đã nghiên cứu thử nghiệm bộ KIT
TUAF - CATT để đánh giá tình hình nhiễm Trypannosoma evansi trên 1570
mẫu máu/huyết thanh trâu, bò, dê và ngựa tại 4 tỉnh Thái Nguyên, Lai Châu, Lạng Sơn và Hòa Bình trong năm 2013 và 2014 cho thấy: So với phương pháp tiêm truyền chuột nhát trắng, KIT TUAF - ELISA cho kết quả đồng dương tính
là 98,18% (108/110 trường hợp dương tính tiêm chuột) và 1,86% (8/430) dương tính ELISA nhưng âm tính khi tiêm chuột
* Các phương pháp phát hiện kháng nguyên tiên mao trùng
- Phương pháp ELISA kháng nguyên (Ag - ELISA)
Đây là phương pháp sử dụng phản ứng ELISA kháng nguyên để phát hiện kháng nguyên lưu động trong máu của gia súc nhiễm bệnh Phản ứng dựa trên kháng thể đơn dòng đặc hiệu với tiên mao trùng Lê Ngọc Mỹ và cs
Trang 27(1994) [29], đã bước đầu ứng dụng phương pháp này để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam Tuy nhiên, theo cơ quan năng lượng nguyên tử thế giới (IAEA), phương pháp ELISA kháng nguyên có độ nhạy kém hơn so với các phương pháp phát hiện tiên mao trùng cổ điển Vì vậy, phương pháp này
đã không được phổ biến trong thời gian hiện tại và tương lai (IAEA đã không sản xuất đĩa Ag - ELISA cho nhiều nước trên thể giới)
- Phản ứng Suratex:
Phản ứng Suratex là phản ứng ngưng kết giữa các hạt latex được gắn kháng thể đơn dòng với kháng nguyên lưu động trong máu động vật nhiễm tiên mao trùng Phản ứng này hiện đang được thử nghiệm và đánh giá ở thực địa
* Phương pháp phát hiện AND của tiên mao trùng bằng phản ứng PCR (Polymerrase Chain Reaction)
PCR là phương pháp hiện đại nhất, mới được đưa vào ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trong những năm gần đây
Nguyên lý: dựa vào phản ứng chuỗi polymerase để xác định sự có mặt gen AND của tiên mao trùng trong máu động vật nhiễm bệnh
Phương pháp PCR có độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật cao, trang thiết bị hiện đại nên hiện nay mới đang được thử nghiệm tại một số phòng thí nghiệm hiện đại
2.1.5 Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa
Trypanosome evansi đã gây bệnh cho nhiều loàiđộng vật như trâu, bò,
ngựa, lạc đà, nhiều loài thú hoang dã Khả năng phân bố T evansi rộng rãi
trong các loài tiên mao trùng, chúng có ở khắp các châu lục, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi trâu, bò
Ở nước ta các bệnh ký sinh trùng phát triển quanh năm trong đó có bệnh tiên mao trùng gây nhiều thiệt hại cho đàn trâu, bò Năm 1963 - 1964 ở miền Bắc đã có trên 2 vạn trâu, bò chết trong vụ Đông - Xuân, (Đoàn Văn Phúc, 1965) [31]
Trang 28Hiện nay T evansi không còn gây chết trâu, bò hàng loạt, nhưng vẫn gây
thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi trâu, bò Để phòng chống bệnh tiên
mao trùng do T evansi, khoa học thế giới đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, nhiều loại hóa dược đặc hiệu đã được chế tạo, sử dụng rộng rãi để phòng chống dịch Naganol được xem như một loại thuốc kinh điển có hiệu
lực cao trong điều trị, phòng nhiễm T evansi cho hầu hết các loại gia súc,
ngựa, lạc đà, trâu, bò, chó, mèo kể cả tự nhiên cũng như thực nghiệm
Để phòng ngừa bệnh tiên mao trùng có hiệu quả cao, các nhà khoa học
đã đề nghị áp dụng các biện pháp sau:
2.1.5.1 Phòng bệnh
* Diệt tiên mao trùng trên cơ thể ký chủ
Trong vấn đề này, theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [21], diệt ký sinh trùng trên ký chủ không những đã ngăn chặn được tác hại gây bệnh của chúng, mà còn làm cho bệnh mất khả năng lây lan Các biện pháp cụ thể là:
- Phát hiện những gia súc mắc tiên mao trùng ở vùng có bệnh, những vùng lân cận phải thường xuyên kiểm tra đàn gia súc, phát hiện những con ốm, những con mang trùng Nhốt riêng trong chuồng có lưới ngăn chặn côn trùng, điều trị cho khỏi bệnh Ngăn chặn không cho mầm bệnh lây lan sang gia súc khỏe
Không để các khu vực chăn thả còn tàng trữ mầm bệnh T evansi
- Ở những vùng không có bệnh thì không nên nhập gia súc từ những vùng đang có bệnh về Nếu cần thiết thì kiểm tra máu gia súc khi chuyển tới để xử lý những con mang trùng Chỉ nhập những gia súc khỏe, nếu gia súc bị nhiễm bệnh tiên mao trùng thì phải nhốt riêng, điều trị khỏi mới được nhập đàn Phát hiện, diệt những loài thú hoang nghi là nguồn tàng trữ mầm bệnh hoặc không chăn thả gia súc trong những khu vực sinh sống của các loài thú này
Trang 29* Diệt côn trùng môi giới truyền bệnh
Hội nghị lần thứ 6 của Ủy ban khoa học quốc tế nghiên cứu về tiên mao trùng đã đề ra những biện pháp diệt côn trùng sau:
- Diệt côn trùng bằng thay đổi sinh thái:
Thay đổi sinh thái là thay đổi điều kiện sống, làm cho côn trùng không sinh sản, không thực hiện được chu kỳ phát triển Biện pháp tiến hành: phát quang, chặt cây cối từng khu vực, lấp hoặc làm thủy lợi tháo khô nước tù, không để khu vực nước tù, các bãi sình lầy, ủ phân để diệt trứng, ấu trùng các loại ruồi mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn côn trùng
Phát quang cây cối ở từng khu vực, không để nước tù đọng, ủ phân để diệt trứng và ấu trùng ruồi, mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn côn trùng… là các biện pháp hữu hiệu, tạo ra những điều kiện bất lợi cho đời sống của côn trùng Tuy nhiên, do côn trùng có khả năng di chuyển khá mạnh nên các biện pháp trên phải thực hiện đồng thời trên phạm vi rộng mới có hiệu quả
Challier A (1974) [45] cho biết: Ở Nigieria, việc phát quang cây cối xung quanh hồ và các con sông trong một khu vực rộng 400 - 800 mét, dài 10.000 mét chỉ hạn chế được một phần hoạt động của những côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng ở đó
- Diệt côn trùng bằng hóa dược: có thể dùng các hóa dược tiêu diệt côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng Các hóa dược đã được dùng là: Endosulfan, Brophos, Dieldrine, Tetracloreinphos…
- Diệt côn trùng bằng phương pháp sinh học:
Một số loài vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể ruồi hút máu làm chúng mắc bệnh và chết
Một số loài vi khuẩn đã được phân lập như: Bacillus thuringiensis, B
mathisi để tiêu diệt các loài ruồi hút máu Đây là biện pháp diệt côn trùng có
nhiều ưu điểm: không ảnh hưởng đến môi trường Tuy nhiên, biện pháp này mới đang ở giai đoạn thử nghiệm
Trang 30Jordan A N và cs (1974) [52] đã gây đột biến ruồi hút máu bằng một số hóa chất và tia sáng có bước sóng ngắn, bằng phương pháp di truyền quần thể,
đã tạo ra những ruồi đực vô tính rồi thả vào với ruồi cái trong tự nhiên Kết quả là làm cho ruồi không sinh sản được Phương pháp này có nhiều khả năng thành công nhưng rất tốn kém
Nhìn chung, các biện pháp tiêu diệt côn trùng môi giới có hiệu quả nhất định nhưng cũng còn nhiều hạn chế
* Phòng bệnh cho gia súc bằng hóa dược
Hội nghị chuyên đề quốc tế về phòng bệnh tiên mao trùng (1987), đã kết luận: việc sử dụng hóa dược để tiêm phòng rộng rãi cho gia súc ở những vùng bệnh tiên mao trùng lưu hành cần phải được tiếp tục trong nhiều năm
Từ năm 1934, tổ chức dịch tễ thế giới đã khuyến cáo sử dụng Novarsenobenzol
để tiêm phòng cho toàn đàn ngựa ở những vùng có bệnh tiên mao trùng Hiện nay, thuốc Trypamidium, liều 0,5 mg/kgTT được khuyên dùng để phòng bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò
Trên thế giới đã nghiên cứu chế tạo vaccine phòng bệnh tiên mao trùng cho ngựa Kết quả tiêm thử nghiệm vaccine liều 103
Phan Địch Lân và cs (2004) [25]; Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4]
đã sử dụng Novarsenobenzol 2 lần cách nhau 2 ngày, thấy hiệu lực thuốc đạt 80%, tỷ lệ an toàn 80 - 82%
Trang 31- Trypamidium, liều 1 mg/kg TT, tiêm sâu vào bắp thịt thành 2 - 3 điểm
có tác dụng tốt trong điều trị bệnh tiên mao trùng
Đoàn Văn Phúc và cs (1981) [33] đã thử nghiệm Trypamidium điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò và cho biết, tỷ lệ an toàn và khỏi bệnh đều đạt 100%
- Berenyl, liều 3 mg/kg TT Pha thuốc với nước cất với tỷ lệ cứ 0,8 gam thuốc trong 5ml nước cất Tiêm sâu bắp thịt (không dùng quá 9 gam cho một gia súc)
Hồ Thị Thuận (1985) [41] đã dùng Berenyl trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò thấy kết quả điều trị tốt
Phan Văn Chinh (2006) [2] dùng Berenyl điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò ở các tỉnh miền Trung và cho biết, thuốc đạt hiệu lực 100% với những trâu, bò bị bệnh
Nguyen Q D và cs (2013) [58] đã sử dụng Berenyl và Trypanmidium
để điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu tại Thái Nguyên và Cao Bằng (Việt Nam) Kết quả cho thấy: 100% số trâu được điều trị bằng Berenyl khỏi bệnh, trong khi chỉ có 40% số trâu điều trị bằng Trypanmidium khỏi bệnh
- Trypamidium samorin, liều 1 mg/kg TT Tiêm sâu bắp thịt
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2014) [17] đã thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng trên trâu gồm các thuốc Adizin, Trypanmidium samorin
và Trypanosoma (kết hợp các thuốc trợ sức, trợ tim), kết quả là phác đồ sử dụng thuốc Adizin có hiệu lực 93,94%; thuốc Trypanmidium samorin có hiệu lực đạt 100%; thuốc Trypansoma đạt hiệu lực 97,06%
Theo Phạm Thị Trang và cs (2015) [42]: phác đồ Trypanmidium samorin (1 mg/kgTT), dung dịch NaCl 0,9% (200 ml/con), Cafein 20% (15 ml/con), Vitamin C 5% ( 15 ml/con), Vitamin B1 2,5% (15ml/con) có hiệu lực điều trị bệnh tiên mao trùng cao (100%) và an toàn đối với trâu
Trang 32- Trypazen, liều 3,5 mg/kg TT
Điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò bằng Trypazen với liều trên, Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [5] cho biết, thuốc rất an toàn, tỷ lệ khỏi bệnh là 100%
- Phar-trypazen: (trong một lọ 1,18 gam chứa 525 mg Diminazen diaceturat)
Liều dùng: liều 0,5 ml/kg TT, tiêm sau bắp thịt trâu, bò
Trường hợp bệnh súc còn sốt, tiêm nhắc lại mũi thứ hai sau 24 giờ Trường hợp con vật bị phù thũng, sau 10 ngày tiêm nhắc lại mũi thứ 3 Đặc biệt cho hiệu quả cao khi tiêm kết hợp với 3 mũi Doxyvet-L.A hoặc 2 mũi Oxyvet-L.A (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012) [15]
Ngoài ra, còn có nghiên cứu của Tamarit A và cs (2010) [61], đã sử dụng Cymelarsan với liều 0,5 mg/kg TT điều trị bệnh tiên mao trùng cho gia súc tại miền Trung - Tây Ban Nha Sau thời gian điều trị, kiểm tra máu cho
kết quả âm tính với T.evansi
Desquesnes M và cs (2011) [48] đã sử dụng Melasomin hydroclorua
liều 0,5 mg/kg TT điều trị bệnh do T.evansi gây ra trên bò sữa ở Thái Lan đạt
hiệu lực cao
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh tiên mao trùng là bệnh chung cho nhiều loài gia súc trong đó có loài nhai lại, thú hoang dã và ngựa… Bệnh tiên mao trùng ở nước ta đã được tìm thấy từ lâu và ở nhiều nơi.Trong những năm 1960 trở về trước, ở nước ta bệnh
do Trypanosoma evansi chỉ được coi như bệnh của ngựa ở miền núi Nhưng từ những năm sau đó, bệnh do Trypanosoma evansi đã trở thành một bệnh quan
trọng gây tác hại lớn cho đàn trâu bò cày kéo ở các vùng đồng bằng miền núi phía Bắc Việt Nam
Trang 33Hồ Văn Nam (1963) [30] và Trịnh Văn Thịnh (1982) [38] cho biết: trâu
bị bệnh cấp tính có triệu chứng sốt cao, bỏ ăn, điên loạn, chết nhanh Trâu mắc bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm phúc mạc, phù thũng ở bụng, liệt chân sau, chết do kiệt sức
Theo các tài liệu của Đoàn Văn Phúc (1981) [32], Hồ Văn Nam (1963) [29], Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) [4], đều khẳng định trâu bò cày kéo ở các tỉnh phía Bắc bị bệnh tiên mao trùng và chết nhiều, đặc biệt là đàn trâu bò chuyển từ miền núi về đồng bằng và trâu bò mới nhập
Theo Hồ Thị Thuận và cs (1985) [38], điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng ở trâu, bò ở các tỉnh phía Nam Qua đợt kiểm tra đàn trâu Murrah ở Bến
Cát (Sông Bé) khi đang có ổ dịch có tỷ lệ nhiễm T evansi chung là 19,04%
Tác giả còn điều tra ở nhiều tỉnh khác nhau nhưng chỉ thấy ở vùng đồng bằng trâu, bò nhiễm với tỷ lệ 2,71 - 20,00%
Lê Ngọc Mỹ (1994) [25] đã điều tra tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu bò Việt Nam Kết quả cho thấy, trâu bò nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ cao (21,27%), trong đó trâu bò nuôi ở các tỉnh miền núi phía bắc nhiễm
T evansi cao hơn ở đồng bằng
Theo Lê Đức Quyết và cs (1995) [36], Phạm Chiến và cs (1999) [1], ở một số tỉnh Duyên Hải miền Trung và Tây Nguyên cho thấy trâu, bò ở các vùng sinh thái khác nhau đều nhiễm nhưng vùng Duyên Hải, trâu và bò nhiễm
tỷ lệ cao hơn Tây Nguyên và miền núi So sánh giữa trâu và bò, tác giả thấy trâu nhiễm nhiều hơn với tỷ lệ 22,12% còn bò 6,60%,
Phan Lục và Nguyễn Văn Thọ (1995) [23] cho biết: tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng của bò ở một số địa phương miền Bắc là 5,9%
Theo Hà Viết Lượng (1998) [24], tỷ lệ bò nhiễm tiên mao trùng ở các tỉnh miền Trung là 8,99%
Trang 34Vương Thị Lan Phương (1999) [34] nhận thấy: dê cũng nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ nhiễm khá cao (25,6%) và bò sữa nhiễm 5,6%
Theo Nguyễn Đăng Khải (1995) [10], đã tổng hợp báo cáo của chi cục thú y các tỉnh miền Bắc và cho biết số trâu, bò bị thiệt hại do bệnh tiên mao trùng như sau: từ năm 1960 - 1965 số gia súc mắc bệnh là 1776, chết 520 con;
từ năm 1979 - 1983 số gia súc ốm là 4629, chết 3243 con; từ năm 1984 - 1988
số gia súc ốm là 4028, chết 3710 con; bình quân số trâu bò hàng năm trong thời gian này ở miền Bắc là 1871362 trâu và 894453 bò
Về công tác chẩn đoán bệnh, ngoài các phương pháp cổ điển thường dùng trước đây (soi tươi, nhuộm giemsa, tiêm truyền qua động vật thí nghiệm) nhiều phương pháp phản ứng ngưng kết (Đoàn Văn Phúc, 1965) [28] Phương pháp huỳnh quang gián tiếp (Lương Tố Thu, 1996) [40] Phương pháp ELISA (Lê Ngọc Mỹ,1994) [27]… có độ chính xác cao trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng Ngoài ra, còn có công tác nghiên cứu biểu hiện gien mã hóa kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng gây bệnh ở trâu,
bò Việt Nam là nguyên liệu và cơ sở để sản xuất kháng nguyên tái tổ hợp kháng nguyên RoTAT1.2 , phục vụ chế tạo bộ sinh phẩm chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở trâu/bò nuôi tại Việt Nam (Nguyễn Thị Thu Hiền và cs, 2014) [8]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Với những tiến bộ về dụng cụ quang học,và những thiết bị để chẩn đoán hiện đại, lĩnh vực nghiên cứu về động vật đơn bào đã đạt được những thành tựu rất lớn Năm 1885, Steel phát hiện ký sinh trùng này trong máu
la ở Miến Điện, mô tả đặc điểm hình thái và đặt tên là T evansi Tìm thấy
T evansi trong máu la nhập nội vào Bắc Bộ Việt Nam gây bệnh trên la,
ngựa và bò…