nuôi lợn, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn PRRS tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả n
Trang 1- -
NGUYỄN CÔNG ĐẠT
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP
VÀ SINH SẢN Ở LỢN (PRRS) TẠI BA HUYỆN THUỘC TỈNH BẮC NINH,
VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG
GÂY VIÊM PHỔI KẾ PHÁT VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên - 2015
Trang 2- -
NGUYỄN CÔNG ĐẠT
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP
VÀ SINH SẢN Ở LỢN (PRRS) TẠI BA HUYỆN THUỘC TỈNH BẮC NINH,
VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG GÂY VIÊM PHỔI KẾ PHÁT VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2011 - 2016 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của Trường Đại học Nông Lâm, khoa Chăn nuôi Thú y, Chi cục Thú y tỉnh Bắc Ninh và Bộ môn Vi trùng, Virus, Viện Thú y Quốc gia Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của bạn bè, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Quang và cô giáo GS TS Nguyễn Thị Kim Lan đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành công đề tài và hoàn thiện khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, khoa Chăn nuôi Thú y cùng các thầy cô đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn tới Bộ môn Vi trùng, Virus, Viện Thú y Quốc gia và Chi cục Thú y tỉnh Bắc Ninh cùng các anh chị tại cơ sở thực tập về sự hợp tác giúp đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu, và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Công Đạt
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 4.1 Tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS tại 3 huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh 35 Bảng 4.2 Tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS ở các loại lợn 37 Bảng 4.3 Kết quả xác định tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS theo mùa vụ 38 Bảng 4.4 Kết quả tổng hợp triệu chứng, bệnh tích chủ yếu ở lợn mắc PRRS và xác
định mẫu bệnh phẩm lợn dương tính với PRRSV 40
Bảng 4.5 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis
từ phổi và cuống họng của lợn 44 Bảng 4.6 Kết quả giám định một số đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn
A pleuropneumoniae phân lập được 47
Bảng 4.7 Kết quả giám định một số đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn
P multocida phân lập được 49
Bảng 4.8 Kết quả giám định một số đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn
S suis phân lập được 50
Bảng 4.9 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng
vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 52
Bảng 4.10 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng
vi khuẩn P multocida phân lập được 54
Bảng 4.11 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng
vi khuẩn S suis phân lập được 55
Bảng 4.12 Kết quả tổng hợp khả năng mẫn cảm mạnh và kháng với các kháng sinh
của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis 56
Bảng 4.13 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn nghi mắc viêm phổi 59
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS của 3 huyện 36 Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS giữa 3 loại lợn 37 Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS theo mùa vụ 39 Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ phân lập 3 loại vi khuẩn ở mẫu bệnh phẩm lợn dương tính
với PRRSV 45
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADN: Acid Deoxyribonucleic
A pleuropneumoniae: Actinobaccillus pleuroneumoniae
CFU: Colony Forming Unit
CPS: Capsule polysaccharide
Cs: Cộng sự
DNT: Dermanecrotic toxin
ELISA: Enzyme - linked Immuno sorbant assay
NAD: Nicotinamide Adenine Dinucleotide
OMPs: Outer membrane proteins
PCR: Polymerase Chain Reaction
P multocida: Pasteurella multocida
PRRS: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome PRRSV: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus UBND: Uỷ ban nhân dân
TSA: Tryptic Soya Agar
TSB: Tryptone soya broth
VK: Vi khuẩn
VP: Voges Prokauer
YE: Yeast Extract
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 3
2.1.1 Sơ lược nghiên cứu về hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn 3
2.1.1.1 Cấu trúc virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRSV) ở lợn và các đặc tính sinh học 3
2.1.1.2 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh của virus 5
2.1.1.3 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 5
2.1.2 Vai trò của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis trong hội chứng rối loạn sinh sản hô hấp ở lợn 10
2.1.2.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn 10
2.1.2.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P multocida gây ra 16
2.1.2.3 Vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra 22
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28
Trang 8Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
3.3 Nội dung nghiên cứu 31
3.3.1 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh 31
3.3.2 Phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu bệnh phẩm dương tính với PRRS tại tỉnh Bắc Ninh 31
3.3.3 Nghiên cứu biện pháp điều trị 31
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ 31
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu 32
3.4.3 Phương pháp xác định mẫu bệnh phẩm lợn dương tính với PRRS và phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida, S suis 32
3.4.4 Phương pháp xác định đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn
A pleuropneumoniae, P multocida và S suis 32
3.4.5 Phương pháp xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 32
3.4.6 Xây dựng phác đồ điều trị lợn nghi mắc viêm phổi và PRRS 33
3.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 33
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Tình hình dịch PRRS ở lợn và kết quả chẩn đoán tại tỉnh Bắc Ninh
từ năm 2010 - 2015 34
4.1.1 Kết quả xác định tỷ lệ lợn mắc và tử vong do PRRS tại một số huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 - 2015 34
4.1.2 Kết quả xác định tỷ lệ lợn mắc và tử vong do PRRS theo lứa tuổi, mùa vụ 36
4.1.3 Kết quả tổng hợp triệu chứng, bệnh tích chủ yếu ở lợn mắc PRRS và xác định mẫu bệnh phẩm lợn dương tính với PRRSV tại tỉnh Bắc Ninh 39
4.2 Phân lập và giám định đặc tính của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu bệnh phẩm lợn dương tính với PRRS tại tỉnh Bắc Ninh 41
Trang 94.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở
mẫu bệnh phẩm lợn dương tính với PRRS 41
4.2.2 Giám định đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis ở mẫu bệnh phẩm lợn phân lập được 45
4.2.2.1 Kết quả giám định một số đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn
A pleuropneumoniae phân lập được 45
4.2.2.2 Kết quả giám định một số đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn
P multocida phân lập được 48
4.2.2.3 Kết quả giám định một số đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 49
4.2.3 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 51
4.2.3.1.Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 51
4.2.3.2 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 53
4.2.3.3 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 54
4.3 Kết quả nghiên cứu biện pháp điều trị 57
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tiếng Việt
II Tiếng Anh
PHỤ LỤC
Trang 10nuôi lợn, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ hội chứng rối
loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS) tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS) tại ba huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị, từ đó giảm thiểu tác hại của dịch bệnh trên đàn lợn
Trang 111.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ bệnh Tai xanh ở lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu
bệnh phẩm lợn dương tính với PRRS tại tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất một số phác đồ điều trị bệnh viêm phổi cho lợn
1.4 Ý nghĩa đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả đề tài là những thông tin khoa học hoàn thiện thêm đặc điểm
dịch tễ bệnh Tai xanh ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh, về vai trò của 3 loại vi khuẩn (A
pleuropneumoniae, P multocida và S suis) có khả năng gây viêm phổi kế phát
trong bệnh Tai xanh ở lợn Từ đó có cơ sở đề xuất biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài có những khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và các địa phương khác về biện pháp phòng chống dịch bệnh Tai xanh cho lợn, góp phần phát triển chăn nuôi lợn
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.1.1 Sơ lược nghiên cứu về hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn
2.1.1.1 Cấu trúc virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRSV) ở lợn
và các đặc tính sinh học
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus thuộc Bộ Nidovirales
họ Arteriviridae, giống Nidovirales có cấu trúc dạng chuỗi đơn ARN Dựa vào phân
tích cấu trúc gen người ta đã xác định được hai nhóm virus Nhóm I gồm các virus thuộc chủng Châu Âu (gọi là virus Lelystad) gồm nhiều phân nhóm đã được xác định Nhóm virus này được Wensvoort và cs (1991) [62] thuộc Viện Thú y Trung ương - Lelystad - Hà Lan phân lập được trên tế bào đại thực bào phế nang của lợn
và đặt tên là virus Lelystad-LV Nhóm II gồm các virus thuộc dòng Bắc Mỹ với tên gọi là VR-2332; nhóm này được Collins và cs (1992) [37] phân lập được ở lợn tại
Mỹ vào năm 1992 Về mặt di truyền và tính kháng nguyên, hai nhóm virus này hoàn toàn khác nhau Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virus thuộc hai chủng Châu Âu và Bắc Mỹ là khoảng 40% (Han và cs, 2006) [44], do đó có ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng này
Qua nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy các chủng PRRSV tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 đến 99,7% so với chủng virus gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và đều bị mất 30 axít amin Điều này cho thấy các chủng PRRSV ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ, có độc lực cao giống chủng ở Trung Quốc (Cục thú y, 2008) [7]
Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc (Lê Thanh Hòa và cs, 2009 [12]; Nguyễn Văn Cảm và cs, 2011 [6]; Cao Văn Thật và cs, 2012 [24]; Lý Thị Liên Khai và Võ Thị Cẩm Giàng, 2012 [14])
* Cấu trúc virus
Dưới kính hiển vi điện tử PRRSV là loại có vỏ bọc, hình cầu, có kích thước
Trang 13từ 45 - 80 nm, chứa nhân nucleocapsid có kích thước từ 25 - 35 nm, trên bề mặt có gai nhô ra rõ, có vỏ là lipit (Willson và Han Soo Joo, 2001) [63]
Virus gây PRRS là ARN virus với bộ gen là một phân tử ARN sợi đơn dương, có những đặc điểm chung của nhóm Arterivirus Sợi ARN này có kích thước khoảng 15 kilobase, có chín ORF (open reading frame) mã hoá cho chín protein cấu trúc Tuy nhiên, có sáu phân tử protein chính có khả năng trung hoà kháng thể bao gồm bốn phân tử glycoprotein, một phân tử protein xuyên màng (M)
và một protein nucleocapsid (N) (Tô Long Thành, 2007) [23]
Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [10] cho thấy sợi đơn RNA của virus bao gồm một bộ gen có khoảng 15 kb, mã hóa 9 ORFs Bộ gen PRRSV bao gồm hai gen polymerase là ORF1a và ORF1b và bẩy gen cấu trúc là ORF2a, 2b, 3, 4, 5, 6 và 7 ORF1a và ORF1b cấu thành khoảng 75% bộ gen của virus và được đặc trưng bởi một quá trình khung ribosome chuyển dịch thành một polyprotein lớn mà sự phân tách làm phát sinh các protein không cấu trúc (NSP) bao gồm cả RNA phụ thuộc polymerase
* Đặc tính sinh học của virus
Virus gây PRRS rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở vùng phổi Virus nhân lên ngay bên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%) Đại thực bào bị giết chết nên sức đề kháng của lợn mắc bệnh bị suy giảm nghiêm trọng Do vậy lợn mắc PRRS thường dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát Virus không gây ngưng kết với các loại hồng cầu gà, dê, thỏ, chuột, hồng cầu type O của người Virus phát triển tốt trên môi trường tế bào đại thực bào phế nang lợn, trên tế bào dòng CL 2621, tế bào MA 140 với bệnh tích phá huỷ tế bào, sau 2- 6 ngày tế bào co tròn, tập trung thành cụm dày lên, nhân co lại cuối cùng bong ra (Willson và Han Soo Joo, 2001) [63] Tuy có một số khác biệt về di truyền
và kiểu hình nhưng các chủng virus Bắc Mỹ và các chủng virus Châu Âu lại cùng gây ra các triệu chứng lâm sàng về hô hấp và sinh sản ở lợn rất giống nhau Dựa vào những kết quả nghiên cứu tổn thương đại thể và vi thể của tổ chức phổi lợn mắc bệnh, người ta chia ra hai nhóm virus là nhóm virus có độc lực cao và nhóm virus
có độc lực thấp Nhóm virus có độc lực cao thường gây ra các tổn thương ở tổ chức
Trang 14phổi lợn bệnh nặng hơn nhóm virus có độc lực thấp Năm 2007, Kegong Tian và Yu [47] khi nghiên cứu về sự biến đổi về độc lực của PRRSV tại Trung Quốc cho rằng virus đã có sự biến đổi về độc lực và hậu quả lợn nhiễm virus này có tỷ lệ chết cao, trên 20% trong tổng số nhiễm bệnh
2.1.1.2 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh của virus
* Sức đề kháng của virus
Virus gây PRRS có thể tồn tại một năm ở nhiệt độ lạnh từ -20 đến -70oC; trong điều kiện 4o
C virus có thể sống một tháng; nhiệt độ cao virus đề kháng kém ở
37oC chịu được 48 giờ, 56oC bị chết sau một giờ, virus thích hợp ở pH 5 - 7 Với các chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit, virus dễ dàng bị tiêu diệt Dưới tác động của ánh nắng mặt trời hoặc tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng (Tô Long Thành, 2007) [23]
* Khả năng gây bệnh của virus
Người và các động vật khác không mắc PRRS, tuy nhiên trong các loài thuỷ cầm chân màng có vịt trời (Mallard duck) lại mẫn cảm Virus có thể nhân lên ở loài động vật này và chính đây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng nên rất khó khống chế (Albina và cs, 1994) [28] Virus gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng là động vật mang trùng và có thể coi là nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, 2007) [23] Về độc lực, người ta thấy virus gây PRRS tồn tại dưới 2 dạng đó là dạng cổ điển và dạng biến thể độc lực cao Dạng cổ điển có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn Dạng biến thể độc lực cao gây nhiễm bệnh cho lợn lây lan nhanh, trầm trọng và chết nhiều (Kegong Tian, Yu, 2007) [47]
2.1.1.3 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
* Cơ chế sinh bệnh và phương thức truyền lây
Virus gây PRRS có trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước tiểu của lợn ốm hoặc lợn mang trùng và phát tán ra môi trường; tinh dịch của lợn đực giống nhiễm virus cũng là nguồn lây lan bệnh Ở lợn nái mang thai, virus có thể từ mẹ xâm
Trang 15nhiễm sang bào thai và gây bệnh Lợn mang trùng có thể bài thải virus trong vòng 6 tháng
Virus gây PRRS có thể xâm nhập vào cơ thể lợn theo đường hô hấp, tiêu hóa
và đường âm đạo Ở lợn mắc bệnh, một tỷ lệ lớn các tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virus xâm nhập rất sớm và phá hủy làm giảm khả năng phòng vệ của phổi Lúc đầu, PRRSV có thể kính thích sự tăng sinh của đại thực bào nhưng sau 2-3 ngày, virus này sẽ giết chết chúng, các virion được giải phòng ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác, tiếp tục quá trình nhân lên và phá hủy đại thực bào Trong cơ thể lợn ốm do mắc PRRS có tới 40% tế bào đại thực bào bị virus giết chết (Willson và Han Soo Joo, 2001) [63] Trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thực bào đóng vai trò vô cùng quan trọng; cả trong đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu, đây là loại tế bào trình diện kháng nguyên thiết yếu
* Cơ chế sinh bệnh
Sau khi xâm nhập đích tấn công của virus là các đại thực bào Đây là tế bào duy nhất có receptor phù hợp với cấu trúc của hạt virus, vì thế virus hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong tế bào này và phá hủy nó Một tỷ lệ lớn tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virus xâm nhiễm rất sớm (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2013) [10]
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus nhân lên trong đại thực bào ở tiểu phế nang và trong tế bào nội mô của hệ thống lưới võng nội Tế bào biểu mô đường hô hấp trên cũng là nơi thích hợp cho sự nhân lên của virus PRRS Quá trình virus nhân lên và phá hủy đại thực bào gây ra bệnh tích ở thành mạch, làm thủy thũng tế bào nội mô của tĩnh mạch, giảm hàm lượng protein huyết tương đến các mô và tạo các cục huyết khối gây nhiều hậu quả bệnh lý khác nhau Những biểu hiện khác nhau của bệnh tuỳ thuộc vào khả năng nhân lên hay phá hủy, tiểu phế nang, tế bào nội mô và tế bào lympho (dẫn liệu Phan Thanh Phượng và cs, 2006) [20]
Tác động phá huỷ đại thực bào phế nang, đặc biệt trên lợn con, làm giảm khả năng đề kháng của vật chủ chống lại vi khuẩn kế phát hoặc xâm nhập của các virus khác Sự nhiễm kế phát được quan sát sau ổ dịch PRRS là bệnh đường hô hấp
Phan Thanh Phượng và cs (2006) [20], do gây suy giảm miễn dịch, bệnh
Trang 16PRRS mở đường cho những vi sinh vật cơ hội như: Pasteurella multosida,
Haemophilus parasuis, Streptococcus suis, A pleuropneumoniae, Chlamydia psittaci, Leptospirainterrogans, virus giả dại virus cúm, Enterovirus, Parvovirus,…
Xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2010 cho thấy lợn mắc PRRS thường kế phát
bệnh do các nhóm vi khuẩn đường hô hấp, đường ruột như A pleuropneumoniae, P
multocida, S suis, Escherichia coli, Salmonella sp, Clostridium perfringens Kết
quả phân lập được vi khuẩn A pleuropneumoniae với tỷ lệ cao nhất 63,33% và thấp nhất là P multocida 10% Các tác giả nhận định các nhóm vi khuẩn kế phát trên đã
làm cho dịch PRRS trầm trọng và phức tạp hơn (Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu
Nam, 2011) [1]
Trên nái mang thai, virus ở dạng tự do hay kết hợp với các tế bào bạch cầu,
tế bào đơn nhân trong dòng máu để đến cơ quan sinh sản Cảm nhiễm có thể xảy ra
ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình mang thai nhưng biểu hiện lâm sàng phụ thuộc phần lớn vào giai đoạn nhiễm trùng của bào thai và độc lực của chủng virus gây bệnh Nhiễm trùng ở giai đoạn đầu và giai đoạn giữa của kỳ mang thai không có hay chỉ có tác động nhẹ so với cảm nhiễm ở giai đoạn sau Cảm nhiễm xảy ra trong thời kỳ phôi thường có mức độ biểu hiện bệnh rất thấp vì tế bào phôi chưa biệt hoá, không thích hợp cho sự nhân lên của virus Mặt khác, lúc này trứng thụ tinh chưa gắn chặt chẽ với nội mạc tử cung nên sự truyền virus từ mẹ sang phôi bị hạn chế Trong khi ở giai đoạn sau của kỳ mang thai, nhau thai và mạch máu nuôi thai rất phát triển, nhau thai trở thành bộ phận trao đổi chất cần thiết, đồng thời là cầu nối truyền virus và kháng thể chống virus từ mẹ sang thai Virus có thể qua nhau ở dạng
tự do hay kết hợp với các tế bào khác của lợn mẹ
Nhiễm trùng giai đoạn này tạo ra nhiều vết bong tróc nhỏ trên tế bào biểu mô nhau thai và bệnh tích hoại tử động mạch cuống rốn, từ đó làm cho bào thai bị thiếu dưỡng chất, thiếu O2, gây sảy thai kỳ cuối, lợn con sinh ra yếu ớt, dị tật và tăng tỷ
lệ thai chết khi sinh Nhiễm bệnh dai dẳng cũng là một đặc trưng của Arterivirus, sự
tồn tại dai dẳng gây ra nhiễm bệnh âm ỉ, virus hiện diện ở mức độ thấp trong cơ thể
Trang 17thú và giảm dần theo thời gian Theo Albina E và cs (1994) [28] vào ngày 150 sau gây nhiễm thực nghiệm không phân lập được virus bằng nuôi cấy tế bào và không phát hiện được RNA của virus bằng phương pháp RT-PCR
Sơ đồ cơ chế sinh bệnh của virus PRRS
* Triệu chứng
Lợn mắc PRRS thường có các triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ
da, khó thở, táo bón hoặc ỉa chảy, tốc độ lây lan nhanh Đặc biệt, một số con lợn mắc bệnh ở chóp tai bị ứ huyết có màu xanh tím và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn
Ở lợn nái: Các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai
gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai như thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng
tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch, 2007) [21] Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường ít uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi
Trang 18Ở lợn đực giống: Sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ (chiếm 95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm hưng phấn Lượng tinh ít, chất lượng kém biểu hiện qua các chỉ số như nồng độ tinh trùng C< 80.106, hoạt lực của tinh trùng A< 0,6, sức kháng của tinh trùng R< 3000, tỷ lệ kỳ hình K >10%, tỷ
lệ sống của tinh trùng < 70%, độ nhiễm khuẩn cao 20.103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản của mình (Nguyễn Như Thanh, 2007) [36]
Ở lợn choai, lợn thịt: Lợn mắc bệnh sốt cao 40o
C đến 42o
C, bỏ ăn, ủ rũ, khó thở, ho; những phần da mỏng gần tai, phần da bụng lúc đầu có màu hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu hồng thẫm và xanh nhạt Lợn con mới sinh hầu như sẽ chết sau vài giờ; số còn sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất Lợn con có triệu chứng gầy yếu, bỏ bú, da xuất huyết phồng rộp, khó thở và tiêu chảy (Bùi Quang Anh và
cs, 2008) [2]
* Bệnh tích
Lợn mắc PRRS bệnh tích thường thấy như thận xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu, amidan sưng hoặc sung huyết; gan 9 sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manh tràng; phổi tụ huyết, xuất huyết, cuống phổi chứa đầy dịch nhớt, sầu bọt (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [2]
Theo Nguyễn Tiến Dũng (2011) [8], bệnh tích đặc trưng nhất là viêm phổi kẽ
và viêm hạch lâm ba ở cả 2 dạng (PRRS dạng cổ điển và PRRS dạng sốt cao) Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy phổi bị viêm có màu đỏ xám, có mủ và đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bị viêm lồi ra, khô Nhiều trường hợp lợn mắc bệnh bị viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh
* Các biện pháp phòng bệnh
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu lợn mắc PRRS, do vậy việc phòng bệnh bằng vaccine và vệ sinh phòng bệnh, tiêu độc khử trùng hiện đang là hai biện pháp hữu hiệu ở nhiều cơ sở chăn nuôi lợn Để chủ động phòng chống dịch, cần
Trang 19thực hiện đồng bộ, kiên quyết các giải pháp phòng, chống dịch như: phát hiện sớm, bao vây xử lý kịp thời các ổ dịch; công tác tuyên truyền thực hiện sâu rộng tới các ngành, các cấp và người dân tham gia chăn nuôi; đặc biệt có sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp từ Trung ương tới các địa phương Thực hiện nghiêm việc tiêm vaccine phòng các bệnh nguy hiểm ở lợn theo Quyết định số 63/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (Nguyễn Ngọc Tiến, 2011) [25]
2.1.2 Vai trò của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S sui strong hội chứng rối loạn sinh sản hô hấp ở lợn
Trong PRRS thì vai trò của vi khuẩn kế phát là một trong những nguyên nhân quan trọng gây chết hàng loạt lợn tại các địa phương xảy ra dịch hiện nay Do PRRSV với đích tấn công phá hủy đại thực bào, làm suy giảm miễn dịch, dẫn đến các mầm bệnh nhiễm trùng thứ phát có cơ hội trỗi dậy gây bệnh cho lợn Trong đó,
một số loại vi khuẩn thường gây bệnh viêm phổi ở lợn như A pleuropneumoniae, P
multocida và S suis
2.1.2.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn
a, Vi khuẩn A pleuropneumoniae
* Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae thuộc họ Pasteurellae, thuộc giống Actinobacillus, trước đây còn có tên là Haemophilus parahaemolyticus hay
Haemophilus pleuropneumoniae đã được xác định là nguyên nhân chính gây nên
bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm ở lợn Utrera và Pijoan (1991) [60] đã
mô tả A pleuropneumoniae là vi khuẩn có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, bắt màu gram
âm, kích thước khoảng 0,3-0,5 x 0,6-1,4 µm Vi khuẩn không di động, không sinh nha bào, có khả năng hình thành giáp mô, tuy nhiên một số chủng không có giáp mô cũng đã được quan sát thấy Dưới kính hiển vi điện tử phát hiện vi khuẩn có nhung mao với kích thước 0,5-2 x 60-450 nm Loại có vỏ (capsule) là polysaccharide được
tìm thấy ở hầu hết các serotype của vi khuẩn A pleuropneumoniae, còn loại không
có vỏ thì ít tìm thấy hơn (Perry và cs, 1990) [57]
Trang 20Moller và Kilian (1996) [53] cho biết A pleuropneumoniae là một loại vi
khuẩn khó phân lập trên các môi trường thông thường và thường phụ thuộc vào yếu
tố V Do vậy, khi nuôi cấy A pleuropneumoniae cần các môi trường giàu dinh
dưỡng Trên môi trường thạch máu vi khuẩn không phát triển trên môi trường thạch máu thông thường mà chỉ có thể mọc trên thạch máu đã được bổ sung NAD hoặc có
cấy kèm vi khuẩn Sta aureus Sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc mọc xung quanh đường cấy Sta aureus với kích thước 0,5-1 mm và hình thành
một vùng dung huyết β Vùng dung huyết này thường được quan sát rõ hơn trên môi
trường thạch có bổ sung 5-7% máu cừu Ngoài ra, vi khuẩn A pleuropneumoniae còn
gây một vùng dung huyết tăng cường trong vùng dung huyết bán phần, xung quanh
đường cấy Sta aureus có độc tố dung huyết β gọi là hiện tượng CAMP (Kilian và
cs, 1978) [48] Hiện tượng CAMP này liên quan tới sự có mặt của 3 loại độc tố của
A pleuropneumoniae bao gồm ApxI, ApxII và ApxIII
Trên môi trường TSA: Trong thành phần của môi trường này được bổ sung Yearst Extract (YE) và huyết thanh ngựa Sau 24 - 48 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành khuẩn lạc nhỏ, màu trắng trong, dưới ánh sáng đèn điện có màu xám xanh
Trên môi trường thạch chocolate: Sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành
khuẩn lạc nhầy, màu trắng xám Vi khuẩn A pleuropneumoniae thuộc biotype 1 có thể phân biệt được với H parasuis bởi khả năng gây dung huyết trên thạch máu khi
có Sta aureus cấy kèm (Kilian và cs, 1978) [48]
* Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn A pleuropneumoniae lên men đường glucose, xylose, mannitol,
mannose và không lên men đường arabinose, lactose, raffinose, sorbitol Dương tính với phản ứng urease, oxidase, CAMP, O.N.P.G; âm tính với phản ứng sinh Indol và không mọc trên thạch MacConkey (Moller và cs, 1996 [53]; Trịnh Quang Hiệp và cs, 2004 [11]; Cù Hữu Phú và cs, 2005 [17]; Đặng Xuân Bình và cs, 2007 [3]; Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010 [9])
* Cấu trúc kháng nguyên
Vi khuẩn A pleuropneumoniae từ lâu đã được nhiều nghiên cứu xác định là
Trang 21nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn và được chia thành 2 biotype chính dựa trên nhu cầu cần sử dụng NAD (Nicotinamide Adenine Dinucleotide) hay còn gọi là yếu tố V cho quá trình sinh trưởng của vi khuẩn (Pohl và cs, 1983) [58] Biotype 1 cần có NAD, còn biotype 2 thì không đòi hỏi NAD trong quá trình nuôi cấy, song vẫn cần có các pyridine nucleotid đặc hiệu hoặc các chất tiền thân của pyridine nucleotid cho quá trình tổng hợp NAD Biotype 1 có độc lực cao hơn biotype 2 (Pohl và cs, 1983) [58] Ở biotype 2 có serotype 2; 4; 7 và 9 có chung nhóm quyết định kháng nguyên như biotype 1 Trong những năm gần đây, serotype 13 và
14 thuộc biotype 2 được phát hiện và được mô tả có kháng nguyên khác với biotype 1 (Nielsen và cs, 1997) [55] ở chủng vi khuẩn phân lập được tại Australia
* Các yếu tố độc lực
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy độc lực ở các serotype khác nhau của vi khuẩn
A pleuropneumoniae phần lớn được quyết định bởi các ngoại độc tố mà chúng sản
sinh ra (Devenish và cs, 1990 [38]; Frey và Bosse, 1993 [43]) Polysaccharide vỏ, lipopolysaccharide, protein màng, protein thu nhận sắt, yếu tố bám dính, ngoại độc
tố và một vài loại enzym có liên quan cũng đóng vai trò quan trọng đối với độc lực
của vi khuẩn A pleuropneumoniae Hiểu biết về thành phần và cấu trúc kháng
nguyên chủ yếu liên quan đến độc tính, độc lực của vi khuẩn sẽ cung cấp các thông tin quan trọng, là cơ sở khoa học cho việc phát triển kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh đặc hiệu cũng như chế tạo vaccine phòng bệnh
- Các yếu tố độc lực khác: Ngoài các yếu tố độc lực chính như trên vi khuẩn
A pleuropneumoniae còn có một số thành phần khác cũng có vai trò quan trọng
trong sinh bệnh học, bao gồm: Fimbriae, Ngưng kết tố, HlyX protein, Protease, Enzym superoxide dismutase (SOD), Urease
* Khả năng đề kháng với kháng sinh
Việc sử dụng kháng sinh không cần thiết làm cho A pleuropneumoniae kháng lại nhiều loại kháng sinh Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn A
pleuropneumoniae được quyết định bởi thành phần plasmid có trong tế bào vi
khuẩn và plasmid này có trọng lượng phân tử thấp (2,3-3,6) x106 dalton Cơ sở của
Trang 22hiện tượng kháng này với Ampicillin là do vi khuẩn tiết ra men β-lactamase Những plasmid này không có vật liệu gen để thúc đẩy sự dẫn truyền tới vi khuẩn khác và
sự xuất hiện của plasmid này gợi ý về kết quả của một quá trình chọn lọc của vi
khuẩn A pleuropneumoniae Đặc tính kháng kháng sinh có khả năng truyền bằng
plasmid (Wilson và cs, 1989) [63]
Ở Việt Nam, sự mẫn cảm với kháng sinh của A pleuropneumoniae cũng
được Cù Hữu Phú và cs (2005) [17] cho biết ít mẫn cảm nhất là kanamycin (45,45%), neomycin (50%), lincomycin (63,64%) Nguyễn Thị Thu Hằng (2010)
[9] khi nghiên cứu khả năng kháng kháng sinh của các các chủng A
pleuropneumoniae phân lập được ở lợn thuộc các tỉnh miền Bắc đã cho thấy các
chủng A pleuropneumoniae phân lập được mẫn cảm nhất với kháng sinh
ceftriaxone, chiếm tỷ lệ 73,01%; tiếp theo là các kháng sinh ampicillin, amoxicillin, ceftazidine lần lượt là 63,49%; 58,73% và 55,56% Một số kháng sinh đang được sử dụng nhiều có tỷ lệ kháng thuốc khá cao như lincomycin bị kháng tới 93,65%, tiếp đến là erythromycin, neomycin và gentamicin 85,71%, 80,95% và 49,21%
Như vậy, khả năng kháng thuốc của vi khuẩn A pleuropneumoniae khá phổ
biến, có xu hướng tăng lên về tỷ lệ và chủng loại thuốc bị kháng Do đó cần có biện pháp sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi và thú y hợp lý nhằm hạn chế khả
năng kháng thuốc của A pleuropneumoniae
b Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn do A pleuropneumoniae
Bệnh viêm phổi - màng phổi (VPMP) ở lợn lây lan rộng và được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới, nơi có ngành chăn nuôi lợn phát triển Bệnh có mặt và lây lan mạnh ở hầu hết các nước Châu Âu và một phần ở Mỹ, Canada, Mexico, Nam
Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia Ở Việt Nam, trong những năm gần đây A
pleuropneumoniae đã được phân lập và đánh giá là một trong những nguyên nhân
gây bệnh viêm đường hô hấp khá quan trọng ở tất cả các trại lợn trên toàn quốc
* Triệu chứng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh thể hiện ở nhiều mức, phụ thuộc vào tuổi của lợn, tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh Tiến triển lâm sàng có thể là quá cấp tính, cấp tính hoặc mãn tính
Trang 23- Thể quá cấp tính: Lợn mắc bệnh sốt 41,5oC, mệt mỏi, bỏ ăn, có thể nôn mửa và tiêu chảy Thời gian ngắn trước khi chết, thường có những biểu hiện khó thở dữ dội, thở bằng mồm, lợn ở tư thế ngồi thở, nhiệt độ giảm nhanh Ngay trước khi chết, có chảy nhiều dịch bọt lẫn máu ở miệng và mũi, nhịp tim tăng; phần da ở mũi, tai, chân và sau cùng toàn bộ cơ thể trở nên tím tái (Nicolet, 1992) [54], lợn mắc bệnh thường chết sau 24 - 36 giờ
- Thể cấp tính: Ở thể này thường có nhiều lợn cùng mắc bệnh trong một chuồng hoặc ở những chuồng khác nhau Lợn bệnh sốt từ 40,5oC - 41oC, da đỏ, mệt mỏi, nằm không muốn dậy, không muốn uống, bỏ ăn Các dấu hiệu hô hấp nặng như khó thở, ho và đôi khi thở bằng miệng rất rõ (Fenwick và Henry, 1994) [42] Bệnh diễn biến khác nhau ở từng cá thể, phụ thuộc vào mức độ tổn thương ở phổi và thời điểm bắt đầu điều trị Lợn thường sống sót nếu qua được 4 ngày đầu của bệnh
- Thể bán cấp tính: Thể này xuất hiện sau khi các dấu hiệu cấp tính mất đi; lợn bệnh không sốt hoặc sốt nhẹ, xuất hiện ho tự phát, với các cường độ khác nhau, con vật kém ăn, giảm tăng trọng (Nicolet, 1992) [54]
- Thể mãn tính: Lợn mắc bệnh không có biểu hiện rõ ràng trên lâm sàng Những con vật mắc bệnh thể mãn tính là nhân tố truyền bệnh cho những lợn khác (Kume và cs, 1986) [49] Những dấu hiệu viêm phổi sẽ biểu hiện rõ hơn nếu có
nhiễm trùng kế phát các vi sinh vật đường hô hấp khác (Mycoplasma, Pasteurella,
PRRS) hay các nhân tố Stress (MacInnes và Rosendal, 1988) [52]
* Bệnh tích
Lợn bị nhiễm A pleuropneumoniae cho thấy lợn bệnh có những tổn thương
chủ yếu ở đường hô hấp (Nicolet, 1992) [54] Đa số các trường hợp lợn bị viêm hai bên phổi với tổn thương ở các thùy đỉnh, thùy tim và một phần các thùy trên vòm hoành Viêm màng phổi tơ huyết và fibrin thường rất rõ ở những lợn chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh Hầu hết những nghiên cứu đều kết luận rằng những tổn
thương trên là do độc tố của vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra (Bertram, 1986)
[31] Ở các trường hợp tử vong nhanh chóng như thể cấp tính thấy khí quản và các phế quản bị lấp đầy bởi các chất tiết nhày, bọt nhuốm máu, phổi trở nên sẫm màu,
Trang 24có rất nhiều máu ở lồng ngực và nhiều tơ huyết gắn giữa phổi, thành ngực, cơ hoành
và màng ngoài tim (Rogers và cs, 1990) [59]
* Các biện pháp phòng bệnh
Việc phòng bệnh cần thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
- Các trại chăn nuôi không có lợn mắc bệnh và nhiễm A pleuropneumoniae
phải duy trì việc cách ly, đi đôi với việc sử dụng tinh dịch an toàn Khi nhập lợn mới vào đàn, phải đảm bảo lợn có nguồn gốc từ một đàn không bị bệnh, không bị nhiễm khuẩn, nên nuôi cách ly chúng trong một thời gian trước khi cho vào đàn
- Có thể dùng thuốc kháng sinh để phòng bệnh nhưng không được dùng kéo
dài và thường xuyên kiểm tra sự mẫn cảm của vi khuẩn A pleuropneumoniae với
kháng sinh Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không loại bỏ được mầm bệnh
hoàn toàn và vi khuẩn A pleuropneumoniae vẫn có thể thải ra môi trường
(Fedorka-Cray và cs, 1993) [41]
- Tiêu hủy toàn đàn khi mắc bệnh là phương pháp tối ưu để thanh toán dịch bệnh, sau đó tiêu độc chuồng trại, tạo đàn mới từ những con giống sạch bệnh Trong trường hợp có tỷ lệ lợn trong đàn kiểm tra huyết thanh dương tính cao thì tiêu hủy
là phương pháp hiệu quả (Nicolet, 1992) [54]
- Hiện đã có nhiều loại vaccine được sản xuất để phòng cho bệnh này và được chia thành 2 nhóm chính là vaccine vô hoạt và vaccine có chứa một số thành phần cấu tạo của vi khuẩn Vaccine vô hoạt toàn khuẩn đặc hiệu theo chủng huyết thanh, có thể có miễn dịch chéo với các chủng huyết thanh khác
- Trong chương trình kiểm soát dịch bệnh do A pleuropneumoniae gây ra ở
lợn phải thực hiện triệt để biện pháp tiêu độc khử trùng Vi khuẩn nhạy cảm với nhiều chất sát trùng thông thường như Han-Iodine 10%, Benkocid, Chloramin B
Các đàn lợn đã bị nhiễm vi khuẩn A pleuropneumoniae cần có biện pháp can thiệp
kịp thời để loại trừ mầm bệnh Thiết lập lại đàn lợn có nguồn gốc từ các đàn chắc
chắn không bị nhiễm A pleuropneumoniae là một trong các biện pháp tối ưu
* Điều trị bệnh
Kháng sinh được chọn lựa trong điều trị phải là kháng sinh có nồng độ ức
Trang 25chế tối thiểu thấp và có khả năng diệt khuẩn tốt nhất Một số kháng sinh mới có gần đây như các dẫn xuất quinolone (enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp (ceftiofur sodium) đã được chứng minh trên thử nghiệm rất có kết quả Moller và cs (1996) [53] đã xác định được tilmicosin có hiệu quả cao trong điều trị bệnh do vi
khuẩn A pleuropneumoniae gây ra ở lợn Điều trị bằng kháng sinh chỉ có hiệu quả
ở giai đoạn mới phát bệnh, có tác dụng làm giảm tỷ lệ lợn chết Nếu điều trị muộn khi cơ thể đã xuất hiện nhồi máu hoặc tổn thương mãn tính làm cho lợn bị rối loạn
hô hấp thì kết quả rất kém Cần làm kháng sinh đồ khi thí nghiệm điều trị bằng kháng sinh Sự thành công của điều trị phụ thuộc chủ yếu vào việc phát hiện sớm các dấu hiệu lâm sàng và can thiệp điều trị kịp thời
2.1.2.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P multocida gây ra
a Vi khuẩn P multocida
* Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Theo phân loại của Bergey (1974) [53], vi khuẩn P multocida thuộc bộ
Eubacteriales, họ Parvobateriaceae, tộc Pasteurelliae, giống Pasteurella, loài Pasteurella multocida Kích thước của vi khuẩn P multocida có sự thay đổi phụ
thuộc vào nguồn gốc của chúng, vi khuẩn phân lập từ bò có kích thước đồng nhất từ 0,5 - 1,2m, trong khi đó P multocida phân lập từ lợn có dạng tròn hơn, kích thước
từ 0,8 - 1,0 m
Kích thước của vi khuẩn thay đổi phụ thuộc vào môi trường nuôi cấy, khi
nuôi cấy lâu trên môi trường nhân tạo thường có hình trực khuẩn P multocida là vi
khuẩn yếm khí tùy tiện, bắt màu Gram âm, không di động, không sinh nha bào khi phát triển trong cơ thể; trong môi trường nuôi cấy có bổ sung huyết thanh hoặc máu
vỡ sẽ hình thành giáp mô Khi cấy truyền trên môi trường nhân tạo hoặc tiêm truyền qua động vật máu lạnh nhiều lần thì độc lực của vi khuẩn giảm do không còn giáp
mô, nhưng nếu tiêm truyền vi khuẩn qua lợn thì độc lực lại tăng lên vì chúng lại khôi phục khả năng hình thành giáp mô
Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở lợn là loại cầu trực khuẩn, bắt màu Gram
âm, có kích thước 0,2 - 0,41 x 0,04 - 1,5 m, hai đầu tròn, không di động, không
Trang 26sinh nha bào, thường bắt màu sẫm ở hai đầu trong các tiêu bản máu ở phủ tạng lợn
còn tươi P multocida là loại vi khuẩn sống hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện, điều
kiện thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 37°C trong môi trường trung tính hay hơi
kiềm (pH: 7,2 - 7,4) Vi khuẩn P multocida mọc tốt trên một số môi trường như
nước thịt, thạch thường, thạch máu… (Cù Hữu Phú, 2005) [17]
Hunt và cs (1996) [46] cho biết vi khuẩn P multocida phát triển tốt trên môi
trường nhân tạo cần cho thêm một số chất như cysteine, acid glutamic, leucine, methionine, muối vô cơ và đường
* Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn P multocida lên men đường glucose, mannitol, sorbitol, galactose;
không lên men đường lactose, arabinose, maltose Phản ứng sinh Indol, Catalaza và Oxydaza: Dương tính; phản ứng Urease: Âm tính; không mọc trên môi trường MacConkey (Carter, 1984 [34]; Đỗ Quốc Tuấn, 2008 [27])
* Cấu trúc kháng nguyên
Kháng nguyên của vi khuẩn P multocida rất phức tạp và cấu trúc từng loại luôn thay đổi Cho đến nay, người ta đã xác định được P multocida có 2 loại kháng
nguyên là kháng nguyên vỏ (K) và kháng nguyên thân (O) Kháng nguyên O của vi
khuẩn P multocida được cấu tạo từ gluxit, lipid và protein Về đặc điểm sinh học, kháng nguyên O của vi khuẩn P multocida không khác với kháng nguyên O của
các vi khuẩn khác Kháng nguyên này có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành miễn dịch Kháng nguyên K bao quanh thân vi khuẩn giúp cho vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào và ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên thân O và kháng thể O Carter (1955) [33] đã sử dụng phản ứng kết tủa và dùng phương pháp
ngưng kết hồng cầu gián tiếp cũng xác định vi khuẩn P multocida có 4 serotype
nhóm kháng nguyên K đánh theo chữ cái in hoa A, B, C, D Vào năm 1961, Carter [33] đã xác định thêm serotype mới đặt tên là E, sau này đến năm 1963, Carter đề nghị bỏ serotype C
Kháng nguyên thân O có hai thành phần đặc hiệu và không đặc hiệu, các chủng vi khuẩn khác nhau sẽ khác nhau theo kháng nguyên thân Nguyễn Vĩnh
Trang 27Phước và cs (1986) [19], cho biết ở lợn serotype B là serotype chủ yếu gây bệnh Tụ huyết trùng trên lợn ở miền Nam Việt Nam, serotype A gây ra viêm phổi với thời gian bệnh kéo dài và tỷ lệ chết thấp hơn
* Độc lực của vi khuẩn
Nhiều nghiên cứu về độc lực của vi khuẩn P multocida cho thấy ở những gia súc, gia cầm chết do vi khuẩn P multocida gây ra, người ta tìm thấy dấu hiệu hoạt động của độc tố Diallo và cs (1995) [39] khi nghiên cứu độc lực của 9 chủng P
multocida phân lập được thuộc serotype A tại Australia cho biết trong 9 chủng này
có 3 chủng không chứa plasmid nhưng rất độc với chuột, tiêm liều 100 CFU/con vào xoang bụng thì chuột chết trong vòng từ 10 - 24 giờ, trong khi đó 3 chủng phân lập có chứa 1 plasmid và 3 chủng có chứa 2 plasmid lại không có khả năng giết chết
chuột dù tiêm liều cao hơn Vi khuẩn P multocida thuộc serotype D còn tạo ra
dermanecrotic toxin (DNT) là độc tố gây hoại tử biểu bì, độc tố này không bền với nhiệt Nếu nuôi cấy vi khuẩn ở 30oC thì hoạt tính của gen toxA này bị giảm nhiều
và số lượng độc tố DNT sinh ra cũng ít đi (Hunt và cs, 2000) [46]
Đỗ Quốc Tuấn (2008) [27] cho thấy vi khuẩn P multocida phân lập được từ
lợn ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có độc lực gây chết chuột bạch từ 50 -
100% trong thời gian từ 20 - 48 giờ Vi khuẩn P multocida phân lập được từ gia
súc tại các tỉnh Cao Bằng và Hà Giang có độc lực mạnh, đã gây chết từ 27,80% đến 100% chuột thí nghiệm trong vòng 48 giờ sau khi công cường độc (Đặng Xuân Bình và cs, 2010) [4]
* Khả năng đề kháng với kháng sinh
Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở gia súc tại Thái Lan chứa 2 loại plasmid
có khả năng đề kháng với kháng sinh Loại plasmid thứ nhất là pJR1 chứa 6.792 bp
và loại thứ hai là pJR2 chứa 5.252 bp
Ở Việt Nam, Đỗ Quốc Tuấn và Nguyễn Quang Tuyên (2007) [26] cho biết
25 chủng P multocida phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh mẫn
cảm cao với các kháng sinh như chlotetracyclin, neomycin và ampicillin Đến năm
2008, Đỗ Quốc Tuấn [27] xác định mức độ mẫn cảm của các chủng P multocida
Trang 28phân lập được ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam với một số kháng
sinh thông dụng đã cho thấy các chủng P multocida mẫn cảm cao với norfloxacin,
lincomycin và neomycin Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1] cũng cho
biết các chủng P multocida phân lập được ở lợn mắc PRRS mẫn cảm cao với các
kháng sinh như amoxicillin (100%), ampicillin (66,67%), gentamicin (66,67%) và kháng mạnh các kháng sinh như streptomycin, enrofloxacin, colistin
b Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P mutocida
* Triệu chứng
Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P multocida gây ra rất khác nhau tùy
thuộc vào chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể là thể quá cấp, thể cấp tính và thể mãn tính
- Thể quá cấp tính: Lợn bệnh mệt mỏi, kém ăn, hoặc bỏ ăn, nằm một chỗ, không đứng dậy được, sốt cao (41 - 42°C), uống nhiều nước, run rẩy Xuất hiện thuỷ thũng ở cổ, họng, hầu do viêm làm cho hầu sưng, cổ cứng, má phị, mặt mũi sưng húp, có khi phía dưới bụng và giữa hai hàng vú sưng, con vật thở khó, thở khò khè, cổ duỗi thẳng, mũi phồng ra khép lại từng hồi, nhịp tim nhanh Các niêm mạc
đỏ sẫm hoặc tím bầm, nốt xuất huyết, vết đỏ hay tím xuất hiện ở tai, cổ, bụng, phía trong đùi Bệnh tiến triển từ 12 giờ đến 1 - 2 ngày, con vật chết vì ngạt thở (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1979) [18] Theo Trần Văn Bình (2008) [5], lợn mắc bệnh ở thể này có biểu hiện đang bình thường đột nhiên kêu rống lên rồi lăn ra chết, sau khi chết xác lợn tím bầm, sùi bọt mép Trường hợp này xảy ra khi mầm bệnh đã có sẵn
ở cơ sở chăn nuôi
- Thể cấp tính: Lợn mắc bệnh bắt đầu ủ rũ, ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt đến 41°C hoặc hơn Sau đó, xuất hiện các triệu chứng giống ở thể quá cấp nhưng không trầm trọng bằng Niêm mạc mũi lợn bệnh bị viêm, con vật thở khó, thở nhanh, có tiếng khò khè, ướt trong phế quản, chảy nước mũi đặc, nhờn, đục, có khi có mủ, máu; ho khan, từng tiếng, ho co rút toàn thân, khi gõ vùng ngực con vật đau, thấy có vùng
âm đục; tim đập nhanh; chảy nước mắt; trên da nổi những chấm đỏ hoặc đám tím bầm ở những phần da mềm; chỗ da mỏng ít lông thường viêm xuất huyết
Trang 29Quan sát thấy lợn bệnh bị phù thũng dưới da vùng hầu và lan rộng xuống cổ Những vùng này có hiện tượng sưng to và bùng nhùng Lợn mắc bệnh lúc đầu táo sau ỉa chảy có khi có máu hoặc cục máu do xuất huyết ruột Bệnh tiến triển từ 3 đến
12 ngày, con vật gầy yếu dần, ăn ít hoặc không ăn rồi chết Tỷ lệ chết có thể lên tới 80%, nếu con vật không chết thì có thể chuyển sang thể mãn tính (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1979) [18]
- Thể mãn tính: Thể này thường tiếp theo thể cấp tính, con vật khó thở, thở nhanh và thở khò khè, hơi sốt nhẹ, các khớp bị sưng nhất là khớp gối Con vật ho nhiều khi vận động, có đám da tróc bong vẩy, niêm mạc miệng đóng màng giả gây
áp xe Bệnh tiến triển 3 - 6 tuần, sau đó con vật gầy yếu dần rồi chết do suy nhược (Phan Thanh Phượng và cs, 2006) [20]
* Bệnh tích
- Thể quá cấp tính: Lợn chết đột ngột, do đó các bệnh tích thường ít đặc trưng, chứng xuất huyết và sung huyết có thể thấy ở khắp cơ thể (Phan Thanh Phượng và cs, 2006) [20] Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [18], Trần Văn Bình (2008) [5] lợn bệnh có bệnh tích xuất huyết ở thanh mạc, niêm mạc và các cơ quan nội tạng, xuất huyết nhiều điểm trên da Hạch lâm ba sưng đỏ, thuỷ thũng, thấm nước Hầu viêm, thấm tương dịch Lách sưng, tụ máu Thận ứ máu Trên da có nốt đỏ hoặc tím bầm Phổi xuất huyết, thuỷ thũng, thấm tương dịch
- Thể cấp tính: Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [18], khi mổ khám lợn bệnh có bệnh tích thuỳ phế viêm; phổi viêm tụ máu từng đám, nhất là vùng sâu hoặc phía sau Phổi bị viêm có nhiều vùng gan hoá cứng ở các thời kỳ khác nhau, thấm tương dịch đỏ nhạt, khi cắt thấy có vân, có hạt nhiều màu sắc, các mô cứng nổi lên, có nhiều ổ hoại tử viền màu vàng, tổ chức liên kết giữa tiểu thuỳ dày lên, thấm nước thuỷ thũng nhưng không xuất huyết Khí quản, phế quản tụ máu, xuất huyết có bọt nhớt màu hồng Màng phổi dính vào lồng ngực, có khi có chấm xuất huyết, chứa nước ngoại xuất, có mủ màng giả, sợi huyết Hầu viêm, thuỷ thũng, thấm tương dịch vàng Dạ dày, ruột viêm cata, tụ máu, xuất huyết Lách hơi sưng, màu đỏ sẫm, có ổ viêm cứng, đôi khi lách bình thường Hạch lâm ba ngực, hầu sưng
Trang 30tụ máu Hạch màng ruột sưng, thấm nước Thận ứ máu, có màu đỏ sẫm Cao Văn
Hồng (2002) [13] cho biết lợn chết do P multocida gây ra có thịt tím hồng, nhớt,
thấm tương dịch, tỷ lệ viêm phổi khá cao tới 90,90%, xoang bụng tích nước màu vàng với tỷ lệ phát hiện từ 84,0 - 90,91%, hạch hầu sưng (93,64%)
- Thể mãn tính: Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [18], các bệnh tích ở thể này là phổi viêm mãn tính, có vùng gan hoá hoại tử vàng xám, cứng, có ổ áp xe,
có khi bị cazein hoá như fomat, đám bã đậu hoá Phế quản viêm mãn tính, màng phổi dày ra ở vùng phổi bị hoại tử, có chỗ dính vào lồng ngực Hạch lâm ba, hạch hạnh nhân, khớp xương mô liên kết dưới da có những đám bã đậu, gan lách có đám cazein hoá
* Biện pháp phòng bệnh tổng hợp
Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, biện pháp phòng chống bệnh do vi
khuẩn P multocida gây ra ở lợn chủ yếu là tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện cách
ly khi bổ sung lợn mới vào đàn Duy trì các biện pháp thú y chặt chẽ, có hệ thống
hố sát trùng ở cửa ra vào chuồng trại, có quần áo bảo hộ lao động cho công nhân chăn nuôi, có hệ thống “chuồng nuôi - chuồng nghỉ”, có kế hoạch diệt loài gặm nhấm; khử trùng tiêu độc chuồng trại theo định kỳ bằng vôi bột, dung dịch NaOH 2%, dung dịch foocmol 0,5%, HanIodine 10% Khi có lợn mắc bệnh cần cách ly triệt để những con ốm và điều trị kịp thời bằng thuốc kháng sinh đặc hiệu nhằm tiêu diệt vi khuẩn, tiêu diệt mầm bệnh ngay trong cơ thể lợn mắc bệnh; chất thải của mắc bệnh phải được tiêu huỷ và tiêu độc, sát trùng chuồng trại Không được bán chạy, vận chuyển lợn đang bị mắc bệnh đi nơi khác Đồng thời, cần tập trung
nghiên cứu về vi khuẩn P multocida gây bệnh ở lợn chọn ra các chủng mới để chế
tạo vaccine phòng bệnh thật hiệu quả Tùy từng địa phương có thể sử dụng vaccine chế từ các chủng vi khuẩn khác nhau; thực hiện tiêm phòng vaccine thường xuyên, định kì, đều đặn, đúng qui trình với tỷ lệ tiêm phòng đạt cao 90-100% đàn lợn là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [15]
* Điều trị bệnh
Theo Phan Thanh Phượng và cs (2006) [20], trong thực tế vi khuẩn P multocida
Trang 31có nhiều biến chủng kháng lại các thuốc kháng sinh thông thường, nên muốn điều trị có hiệu quả cần phải tiến hành kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh để chọn
loại kháng sinh có hiệu quả Đỗ Quốc Tuấn (2008) [27] cho biết, các chủng P
multocida phân lập được ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam mẫn
cảm cao với norfloxacin, lincomycin, neomycin và đã chọn hai kháng sinh là
lincomycin và norfloxacin điều trị lợn mắc bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra, tỷ
lệ lợn khỏi bệnh từ 84,37% đến 91,48%
2.1.2.3 Vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra
a Vi khuẩn S suis
* Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn S suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ Lactobacillales, lớp Bacilli Streptococcus là vi khuẩn Gram dương, hình cầu hoặc
hình trứng đường kính nhỏ hơn 1 μm, chúng thường đứng riêng lẻ, xếp thành đôi hoặc thành từng chuỗi ngắn như chuỗi hạt, có độ dài ngắn không đều nhau Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường Vi khuẩn thuộc nhóm yếm khí tùy tiện, không di động, không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thành giáp
mô Sự hình thành giáp mô có thể xác định được khi chúng sinh sống trong các mô hoặc phát triển trong các môi trường nuôi cấy có chứa huyết thanh Vi khuẩn được nuôi cấy sau 18 giờ chủ yếu là có dạng hình cầu, kích thước 0,5 - 1 μm, đứng thành dạng chuỗi 5 - 10 tế bào Đặc biệt, khi nuôi cấy trong môi trường dạng lỏng, hình
thái các chuỗi được nhìn thấy rõ nhất Vi khuẩn S suis là những vi khuẩn hiếu khí
hay yếm khí tùy tiện, gây bệnh thích hợp ở nhiệt độ 37oC và phát triển tốt trên nhiều loại môi trường như:
- Môi trường nước thịt: Vi khuẩn S suis hình thành hạt hoặc những bông, rồi
lắng xuống đáy ống Sau 2 giờ nuôi cấy môi trường trong, đáy ống có cặn
- Môi trường thạch thường: Vi khuẩn S suis hình thành khuẩn lạc dạng S,
khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám
- Trên môi trường đặc: Có thể quan sát thấy khuẩn lạc sau 24 giờ nuôi cấy với kích thước khoảng 1 - 2 mm Sau 72 giờ thì kích thước khuẩn lạc lớn nhất, có thể đạt tới 3 - 4 mm Nếu được nuôi trong điều kiện có 5 - 10% CO2 thì khuẩn lạc sẽ
Trang 32phát triển nhanh hơn và rộng hơn Khuẩn lạc thường tạo chất nhầy mạnh, độ nhầy càng rõ và tăng nếu như vi khuẩn được nuôi cấy vài giờ vào môi trường nước thịt có
bổ sung huyết thanh trước khi cấy sang môi trường đặc hoặc thạch máu Dạng khuẩn lạc trên môi trường thạch thường nhỏ và khô hơn trên môi trường có bổ sung dinh dưỡng
- Trên môi trường thạch máu: Vi khuẩn hình thành khuẩn lạc tròn, gọn, hơi vồng, sáng trắng, mịn, dung huyết sau 24 giờ nuôi cấy
- Trên môi trường MacConkey: Vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ nuôi cấy, hình thành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006 [15])
* Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn S suis có khả năng lên men đường glucose, lactose, succrose,
inulin, trehalose, maltose, fructose; không lên men các loại đường ribose, arabinose, sorbitol, mannitol, dextrose và xylose Các phản ứng Oxydase, Catalase, Indol: Âm tính (Trịnh Phú Ngọc, 2002) [16]
* Cấu trúc kháng nguyên
- Vi khuẩn S suis có cấu trúc kháng nguyên rất phức tạp và có rất nhiều
kháng nguyên đã được tìm thấy đó là:
+ Kháng nguyên thân: Kháng nguyên thân có ý nghĩa quan trọng trong việc
quyết định độc lực của S suis Kháng nguyên thân nằm ở thành vi khuẩn và được
cấu tạo bởi các phân tử peptidoglycan ở lớp trong cùng, tiếp đến là lớp giữa gồm các polysaccharide, lớp ngoài cùng là các protein gồm M protein, lipoteichoic acid,
R và T protein
+ Kháng nguyên bám dính: Vai trò của kháng nguyên bám dính của S suis còn
chưa được biết đến một cách rõ ràng, nhưng có ý kiến cho rằng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào biểu mô của vật chủ Vi
khuẩn S suis là một trong số ít các loại vi khuẩn Gram dương có mang cấu trúc này
+ Kháng nguyên giáp mô: Kháng nguyên giáp mô có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vi khuẩn, kháng lại khả năng thực bào của cơ thể vật chủ Nhiều nghiên
cứu cũng đã chỉ ra rằng các chủng S suis có giáp mô thì có độc lực và có khả năng
gây bệnh, còn các chủng không có giáp mô thì không có khả năng này
Trang 33* Các yếu tố độc lực của vi khuẩn
Những hiểu biết về các yếu tố độc lực của vi khuẩn S suis còn rất hạn chế,
phần lớn những nghiên cứu được tiến hành với các chủng thuộc serotype 2 Các nhà khoa học đều có chung quan điểm là có sự tồn tại của chủng độc và chủng không độc
của vi khuẩn S suis serotype 2 Thành phần polysaccharide của giáp mô được xác
định là yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn này vì các chủng đột biến không có giáp mô đều thể hiện là không có độc tính và nhanh chóng bị loại bỏ khỏi hệ thống tuần hoàn của lợn và chuột trong các thí nghiệm gây nhiễm thực nghiệm Tuy vậy không phải tất cả các chủng có giáp mô đều là chủng độc (Lun và cs, 2007) [51]
Các yếu tố độc lực khác ngoài polysaccharide giáp mô của S suis, bao gồm:
- Yếu tố gây dung huyết
- Hai loại protein là protein giải phóng muramidase có trọng lượng phân tử
136 kDa và protein giải phóng yếu tố ngoại bào
* Khả năng đề kháng với kháng sinh
Ở Việt Nam, Trịnh Phú Ngọc (2002) [16] khi kiểm tra khả năng mẫn cảm
với kháng sinh của các chủng vi khuẩn Streptococcus phân lập được cho thấy số
chủng mẫn cảm với Penicillin G biến động từ 59,09 - 63,63% Sau đó, khi xác định
khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi cho biết các chủng vi khuẩn S suis mẫn cảm cao với các loại kháng
sinh như ceftiofur, florfenicol, amoxicillin, amikacin và có hiện tượng kháng lại một
số kháng sinh streptomycin, neomycin, tetracycline, penicillin G Điều này đã thể
hiện theo thời gian vi khuẩn S suis đã có hiện tượng kháng thuốc với một số kháng
sinh thông dụng như streptomycin, neomycin, tetracycline và penicillin G
b Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra
Bệnh do vi khuẩn S suis gây ra ở lợn đã được thông báo là xảy ra ở hầu khắp
các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển Khả
năng gây bệnh của S suis phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sức đề kháng của con vật,
điều kiện vệ sinh môi trường, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, tính chất kháng nguyên và độc lực của vi khuẩn sản sinh Bệnh có thể bị lây nhiễm từ trại lợn này sang trại khác thông qua vật chủ trung gian là ruồi
Trang 34* Triệu chứng và bệnh tích
Clifton-Hadley (1983) [36] đã nghiên cứu ở lợn gây bệnh thực nghiệm và quan sát lợn trong các ổ dịch tự nhiên và cho biết, lợn từ 1- 3 tuần tuổi thường mắc thể viêm não và viêm màng não với các triệu chứng như ủ rũ, kém ăn, sưng hầu, khó nuốt, đi lại khó khăn, lông khô, dựng đứng, sốt, da mẩn đỏ Lợn hoạt động khó khăn, đi lại loạng choạng, khi nằm có biểu hiện tư thế như bơi chèo, tê liệt Lợn mắc bệnh có hiện tượng viêm một khớp, khớp viêm thường là khớp bẹn, đầu gối hoặc khớp bàn chân Các tổn thương đầu tiên bao gồm thủy thũng, sưng khớp, màng
khớp xung huyết, dịch khớp đục Triệu chứng và các thể bệnh do vi khuẩn S suis
gây ra ở lợn là rất phức tạp, khó nhận biết và khó phân biệt khi bệnh có biểu hiện
bội nhiễm, kế phát bởi một số vi khuẩn khác Các triệu chứng bệnh do vi khuẩn S
suis gây ra ở lợn rất đa dạng, bao gồm như viêm não, nhiễm trùng máu, viêm khớp,
viêm nội tâm mạc, viêm đa thanh mạc, viêm màng bụng, viêm phổi và thường dẫn đến chết đột ngột (Lun và cs, 2007 [51])
Cù Hữu Phú và cs (2005) [17] cho biết, để gây bệnh vi khuẩn S suis sau khi
vào cơ thể sẽ nhân lên tại hạch hạch nhân rồi vào máu gây nhiễm trùng huyết, nên triệu chứng đầu tiên là sốt 40,6 - 41,7oC, triệu chứng thần kinh như run rẩy, đứng không vững, liệt, dẫn đến chết Triệu chứng, bệnh tích và các thể bệnh thường thấy:
- Thể nhiễm trùng huyết: Lợn bệnh sốt rất cao (41 - 42oC), chảy nước mắt, ly
bì, nằm bệt, niêm mạc đỏ sẫm, da đỏ tím từng mảng Lợn bệnh chết trong khoảng 1 đến 3 ngày, tỷ lệ chết lên đến 100% Bệnh tích: da đỏ tím từng mảng, tụ huyết và xuất huyết ở một số phủ tạng
- Thể viêm não tuỷ: Lợn bệnh sốt cao, bỏ ăn, đi lại siêu vẹo, run rẩy, co giật, nôn mửa, hôn mê và chết sau 2 - 3 ngày Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa và lợn
từ 2 - 3 tháng tuổi, tỷ lệ chết 100% Bệnh tích: màng não tụ huyết và xuất huyết, dịch não và tủy vẩn đục
- Thể viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi: lợn bệnh sốt cao, chảy nước mắt, dịch mũi, họng sưng, bỏ ăn, thở khó, thở nhanh; da tụ huyết từng mảng Thể này thường gặp ở lợn con và lợn sau cai sữa, tỷ lệ chết 60 - 70% Bệnh tích: hạch amidan sưng, tụ máu, niêm mạc phế quản tụ huyết, niêm mạc mũi có màng giả, tiểu
Trang 35phế quản và phế nang viêm có dịch thẩm xuất, có mủ và bọt khí; hạch phổi sưng, tụ huyết Lợn bị bệnh thể phổi gây ra bệnh tích ở phổi có các mức độ biểu hiện khác nhau từ viêm phổi - màng phổi dạng nhục hoá đến viêm phổi dạng fibrin có mủ
- Thể viêm hạch: Sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thủy thũng, sau thành apxe mủ, lâu thành bã đậu Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5-8 ngày, tỷ lệ chết 20-30% Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng tụ huyết ở giai đoạn đầu, giai đoạn cuối viêm bã đậu
* Các biện pháp phòng bệnh
- Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý trong chăn nuôi lợn việc chia đàn, phân ô chuồng theo từng loại lợn là rất cần thiết Với lợn con sau cai sữa, cần chia thành các ô nhỏ để đạt được tốc độ tăng trưởng tối đa vì khả năng lây truyền bệnh khi nuôi nhốt với mật độ cao là rất lớn Để chủ động phòng bệnh ở
lợn do vi khuẩn S suis gây ra cần:
+ Thường xuyên thực hiện phun thuốc diệt ruồi, muỗi để ngăn chặn nguồn mang mầm bệnh vào chuồng trại Thu gom rác, phân, chất độn chuồng, nước thải; phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng như NaOH 2%, Benkocid Han-Iodine 10% theo đúng qui định
+ Chú trọng khâu chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn; hạn chế sự xâm nhiễm và lây lan dịch bệnh nên thực hiện chính sách “Cùng vào cùng ra”
+ Bổ sung kháng sinh vào thức ăn để giảm tỷ lệ lợn khoẻ mang trùng
+ Lợn con sau khi sinh cần được bú đầy đủ sữa đầu của mẹ để có đủ kháng thể bảo vệ chúng trong giai đoạn đầu giai đoạn dễ cảm nhiễm với bệnh nhất
+ Loại bỏ những lợn mang trùng và có hướng điều trị kịp thời lợn mắc bệnh + Không được vận chuyển lợn từ vùng có dịch sang vùng khác
+ Khi có dịch xảy ra, phải cách ly những con bệnh ra khu vực nuôi cách ly
để tránh lây lan Theo dõi và điều trị kịp thời những con bị bệnh Với những con không có khả năng chữa khỏi thì tiến hành loại thải
- Phòng bệnh bằng vaccine:
Hiện nay, các loại vaccine được sử dụng để phòng bệnh do S suis gây ra cho
lợn chủ yếu là các vaccine chuồng và hiệu quả bảo hộ của các loại vaccine này cũng
Trang 36chưa được xác định một cách rõ ràng Các nhà khoa học cũng đã chế tạo thử nghiệm nhiều loại vaccine khác nhau như vaccine toàn khuẩn, vaccine sống nhược độc, vaccine tiểu phần (chế từ kháng nguyên giáp mô hoặc các protein thành tế bào) Tuy nhiên, miễn dịch bảo hộ ở chuột hoặc lợn thí nghiệm được tiêm các loại vaccine này cũng rất thất thường và không ổn định Trong một số trường hợp khẩn cấp, việc lựa chọn dùng vaccine vẫn là phương thức tối ưu nhất để bảo vệ đàn lợn Tại Trung Quốc, năm 1994 đã dùng vaccine đông khô chế từ chủng nhược độc của
vi khuẩn S suis chủng ST.171, tiêm cho lợn từ cai sữa đến trưởng thành và nái có
chửa ở thời kỳ đầu Khi sử dụng cho thêm nước muối sinh lý có bổ trợ keo phèn 20% hoà thành huyễn dịch tiêm dưới da hoặc tiêm bắp với liều 1ml/con Sau khi tiêm 7 ngày đã sinh miễn dịch, miễn dịch cao nhất sau 14 ngày và thời gian miễn dịch kéo dài được 6 tháng Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng vaccine cầu khuẩn để tiêm phòng cho đàn lợn ở nước ta chưa được phổ biến rộng rãi, bệnh liên cầu khuẩn vẫn thường xuyên xẩy ra ở lợn gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi
* Điều trị bệnh
Trong thực tế, khi sử dụng kháng sinh có độ mẫn cảm cao để điều trị cho lợn
mắc bệnh do vi khuẩn S suis gây ra đã mang lại hiệu quả Tuy nhiên, sử dụng
kháng sinh để điều trị phải dùng sớm và chỉ có hiệu quả tốt khi con vật chưa có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nặng hay chưa có biểu hiện quá ủ rũ, bỏ ăn Điều trị muộn thì hiệu quả sẽ rất kém hoặc không có hiệu quả Chẩn đoán phát hiện sớm
bệnh do vi khuẩn S suis gây ra và điều trị bằng kháng sinh thích hợp là biện pháp
nhằm tăng khả năng sống sót cho đàn lợn Theo Tô Long Thành và cs (2007) [23]
trong 25 chủng vi khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi mẫn cảm
cao với ceftiofur (92,0%), florfenicol (88,0%), amoxicillin (88,0%) và amikacin (72,0%) nên có thể sử dụng một trong các kháng sinh trên để điều trị cho lợn khi
mắc viêm phổi do vi khuẩn S suis gây ra
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Qua nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy các chủng PRRSV tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 đến 99,7% so
Trang 37với chủng virus gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và điều trị mất 30 acid amin Điều này cho thấy các chủng PRRSV ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ,
có độc lực cao giống chủng ở Trung Quốc (Tô Long Thành và Nguyễn Văn Long,
2008 [23])
Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay nhận định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc (Lê Thanh Hòa và cs, (2009) [12]; Cao Văn Thật và cs, (2012) [24]; Lý Thị Liên Khai và Võ Thị Cẩm Giàng, (2012) [14])
Virus gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng là động vật mang trùng và có thể coi là nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, (2007) [23])
Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1], Cù Hữu Phú (2011) [17], khi xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ở huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên năm 2010 đã cho thấy lợn mắc PRRS thường kế phát bệnh
do các vi khuẩn đường hô hấp và đường ruột như A pleuropneumoniae, P multocida, S suis, Escheria coli, Salmonella spp, Clostridium perfringrns Kết quả phân lập được vi khuẩn A pleuropneumoniae với tỷ lệ cao nhất 63,33% và thấp nhất là P mutocida 10% Các tác giả nhận định: các nhóm vi khuẩn trên đã làm cho
dịch PRRS trầm trọng và phức tạp hơn, lợn chết trong bệnh Tai xanh chủ yếu là do các vi khuẩn gây viêm phổ kế phát này Vì vậy sử dụng các biện pháp phòng chống đối với vi khuẩn kế phát là biện pháp hạn chế trong bệnh Tai xanh
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae, giống Nidovirales có cấu trúc dạng chuỗi đơn ARN Dựa vào phân tích cấu trúc gen
người ta đã xác định được hai nhóm virus thuộc chủng Châu Âu (gọi là virus Lelystad) gồm nhiều phân nhóm đã được xác định Nhóm virus này được Wensvoort và cs (1991) [62] thuộc Viện Thú y Trung ương - Lelystad - Hà Lan phân lập được trên tế bào đại thực bào phế nang của lợn và đặt tên là virus Lelystad -LV Nhóm II gồm các virus thuộc dòng Bắc Mỹ với tên gọi là VR-2332; nhóm này được Collins và cs (1992) [37] phân lập được ở lợn tại Mỹ vào năm 1992
Trang 38Người và các động vật khác không mắc PRRS, tuy nhiên trong các loài thủy cầm chân màng có vịt trời (Mallard duck) lại mẫn cảm Virus có thể nhân lên ở loài động vật này và đây chính là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng nên rất khó khống chế (Albina và cs, 1994) [28]
Theo Willsons RW và cs (1997) [63] khi bị nhiễm PRRS sẽ làm tăng tính
mẫn cảm của lợn đối với Steptococcus suis serotyp 2, và làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh do Salmonella choleraesuis trong cơ thể lợn khi có kế phát
Virus gây PRRS có thể xâm nhập vào cơ thể lợn theo đường hô hấp, tiêu hóa
và đường âm đạo (Willson T Christianson và Han Soo Joo, 2001) [63]
Khi lợn bị mắc PRRS, virus tấn công phá hủy đại thực bào làm suy giảm khả
năng đề kháng, dẫn đến các loại vi khuẩn như A pleuropneumoniae, P multocida
và S suis có cơ hội trỗi dậy gây bệnh, làm cho lợn bị mắc PRRS trầm trọng hơn,
chết nhiều trong ổ dịch PRRS tại các địa phương xảy ra dịch hiện nay (Kehong Tian
Trung Quốc xuất hiện PRRS từ năm 1995, gây chết hàng loạt lợn Tháng 6 năm 2006 PRRS lại hoành hành tại đây, trong vòng 3 tháng, làm trên 2 triệu lợn mắc bệnh, 400 nghìn con chết Bệnh có tốc độ lây lan nhanh, chỉ sau 3 - 5 ngày bệnh có thể lây ra toàn đàn, với biểu hiện sốt cao 40 - 420C.Trong đợt dịch này đàn lợn tại các trại chăn nuôi vừa và nhỏ tại Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Trang 39bởi: “Hội chứng sốt cao ở lợn do nhiều nguyên nhân”, với biểu hiện sốt cao và tỉ lệ
tử vong cao (50%) trong vòng 5 - 7 ngày kể từ khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng bệnh Hội chứng sốt cao thấy ở lợn các lứa tuổi nhưng ở lợn con bệnh nặng hơn
(Kegong Tian và cs, 2007) [47], năm 2006 bệnh này còn có tên là “Bệnh sốt cao”
Năm 2007 dịch lại bùng phát ở Trung Quốc, tại 26/33 tỉnh với 257.000 con mắc, chết hơn 68.000 con, tiêu huỷ 175.000 con Tại Trung Quốc, đã phân lập từ bệnh phẩm của lợn bị bệnh được cả chủng virus độc lực thấp và độc lực cao thuộc dòng Bắc Mỹ
Ở Philippines, PRRS xuất hiện từ năm 2006; Tháng 7 năm 2007 Philippines
là nước thứ 3 (sau Trung Quốc và Việt Nam) báo cáo PRRS do chủng virus độc lực cao gây ra, với 18 ổ dịch, 13.542 con lợn mắc, chết 1.743 con Sau đó dịch lan ra cả nước, làm ốm và chết nhiều lợn nái và lợn con theo mẹ (Cục Thú y, 2008) [7]
Tháng 9/2007, Nga báo cáo chính thức có PRRS do virus thể độc lực cao gây ra
Từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước và vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục trên thế giới đều có PRRS lưu hành (trừ châu Úc và Newzeland) Có thể khẳng định rằng PRRS là nguyên nhân gây tổn thất kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn ở nhiều quốc gia trên thế giới (Nguyễn Bá Hiên, 2007) [10]
Hiện nay, Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn đã trở thành dịch địa phương ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức… và đã gây ra những tổn thất rất lớn
về kinh tế cho người chăn nuôi lên đến hàng trăm triệu đô la Hàng năm Mỹ phải chịu tổn thất do Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn gây ra khoảng 560 triệu USD Các nước trong khu vực có tỷ lệ lợn bị Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản lưu hành rất cao, ví dụ ở Trung Quốc là 80%, Đài Loan 94,7-96,4%, Philippine 90%, Thái Lan 97%, Malaysia 94%, Hàn Quốc 67,4-73,1% (Cục thú y, 2008) [7]
Trang 40Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Lợn dương tính với PRRS tại tỉnh Bắc Ninh; vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis phân lập từ lợn dương tính với PRRS
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
Địa điểm nghiên cứu :
Địa phương thu thập mẫu: 3 huyện Gia Bình, Lương Tài và Tiên Du
Địa điểm phân tích mẫu: Phòng thí nghiệm, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Bộ môn Vi trùng, Viện Thú y Quốc gia
Thời gian nghiên cứu: Từ 25/05/2015 đến 25/11/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh
- Xác định tỷ lệ lợn mắc và tử vong do PRRS tại một số huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 - 2015
- Xác định tỷ lệ lợn mắc và tử vong do PRRS theo lứa tuổi, theo mùa vụ
3.3.3 Nghiên cứu biện pháp điều trị
Thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn viêm phổi do vi khuẩn A
pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ
Sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả (Descriptive study), dịch
tế học phân tích (Analytic study) và dịch tễ học thực nghiệm của Nguyễn Văn Thiện (1997), Nguyễn Như Thanh (2011)