1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.

62 991 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 807,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển của chăn nuôi nguy cơ sảy ra dịch bệnh kể trên càng nhiều trong đó có bệnh viêm đường hô hấp mãn tính CRD do Mycoplasma gallisepticum, tỷ lệ chết không cao nhưng

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2015

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2015

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ

Thái Nguyên - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường, thực tập tốt nghiệp là khoảng thời gian quan trọng rất cần thiết đối với sinh viên Đây là khoảng thời gian rất cần thiết với mỗi sinh viên có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất Sau thời gian tiến hành nghiên cứu nay tôi hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp Để hoàn thành được bản khóa luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của tập thể các thầy cô khoa Chăn nuôi Thú y đã trau dồi kiến thức trong suốt quá trình thực tập

Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo TS

Nguyễn Thị Thúy Mỵ luôn tận tình giúp đỡ hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực

hiện đề tài thực tập tốt nghiệp

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ đồng hành cùng tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu trong suốt thời gian qua

Cuối cùng tôi xin trân trọng gửi tới Thầy giáo, Cô giáo trong hội đồng chấm báo cáo lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 12 năm 2015

Sinh viên

Ngô Thị Trang

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng và không thể thiếu được trong chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và trường đại học Nông Lâm nói riêng Đây là thời gian cần thiết để sinh viên củng cố, áp dụng những kiến thức

đã được học vào thực tế, rèn luyện tay nghề, nâng cao kiến thức chuyên môn, học tập phương pháp nghiên cứu khoa học, đồng thời đây là thời gian để sinh viên tự hoàn thiện mình, trang bị cho bản thân những kiến thức về phương pháp quản lý, những hiểu biết xã hội để khi ra trường trở thành một cán bộ khoa học kỹ thuật có kiến thức chuyên môn vững vàng và có năng lực trong công tác

Được sự nhất chí của nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của cô giáo hướng dẫn

và sự tiếp nhận của cơ sở tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng

của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin”

Được sự hướng đẫn tận tình của cô giáo hướng dẫn và sự nỗ lực của bản thân tôi đã hoàn thành bản khóa luận này Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế, kể cả phương pháp và kết quả nghiên cứu Vì vậy tôi mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để cơ bản khóa luận hoàn chỉnh hơn

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 32

Bảng 4.2 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 33

Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm bệnh CRD của gà thí nghiệm 34

Bảng 4.4 Biểu hiện bệnh tích của gà bị nhiễm CRD 37

Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh CRD vụ hè 39

Bảng 4.6 Kết quả điều trị bệnh CRD ở vụ thu 40

Bảng 4.7 So sánh ảnh hưởng của mùa vụ đến hiệu quả điều trị bệnh 41

Bảng 4.8 Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị 42

Bảng 4.9 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g) 43

Bảng 4.10 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của gà thí nghiệm 45

Bảng 4.11 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (kg) 47

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 3

2.1.1 Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà 3

2.1.2 Đặc điểm bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD) 4

2.1.3 Một số đặc điểm về Mycoplasma gallisepticum 15

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 17

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 17

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 18

2.3 Giới thiệu về giống gà và thuốc dùng trong thí nghiệm 19

2.3.1 Giới thiệu chung về gà Chọi lai (Trống Chọi × Mái Lương Phượng) 19

2.3.2 Giới thiệu chung về thuốc thí nghiệm 22

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.24 3.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

Trang 8

3.3 Nội dung nghiên cứu 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 24

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 24

3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 28

4.1.1 Công tác chăn nuôi 28

4.2.2 Công tác thú y 29

4.1.3 Kết luận 32

4.2 Kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học 32

4.2.1 Tỷ lệ nuôi sống gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 32

4.2.2 Tỷ lệ nhiễm CRD của đàn gà thí nghiệm 34

4.2.3 Bệnh tích của gà bị nhiễm CRD 37

4.2.4 Kết quả điều trị bệnh CRD 39

4.2.5 So sánh ảnh hưởng của nùa vụ đến hiệu quả điều trị bệnh 41

4.2.6 Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị 42

4.2.7 Một số chỉ tiêu sức sản xuất thịt của gà thí nghiệm 43

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Tồn tại 49

5.3 Kiến nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tài liệu Tiếng Việt

II Tài liệu tiếng nước ngoài

III Tài liệu từ Internet

Trang 9

bệnh sảy ra gây thiệt hại cho nghành chăn nuôi gia cầm như: bệnh Newcastle, bệnh

Gumboro, viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) Để hạn chế được dịch bệnh cần

phải có những nghiên cứu sâu rộng về đặc điểm của bệnh cũng như cách phòng chống Đồng thời phải có sự phối hợp giải quyết nhiều khâu từ những người chăn nuôi đến người làm công tác thú y… Mở rộng các chương trình phòng chống dịch

và phát triển hệ thống theo dõi, báo cáo về dịch bệnh

Trong những năm gần đây chăn nuôi ngày càng phát triển cả về chất lượng và

số lượng sản phẩm nhằm đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng và vệ sinh môi trường Cùng với sự phát triển của chăn nuôi nguy cơ sảy ra dịch bệnh kể trên càng nhiều

trong đó có bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) do Mycoplasma

gallisepticum, tỷ lệ chết không cao nhưng gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thuốc

điều trị tốn kém gây thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi

Bệnh CRD sảy ra ở mọi lứa tuổi với các triệu chứng ở đường hô hấp chung khó thở và khò khè Nhất là khi thời tiết thay đổi, chăm sóc, dinh dưỡng kém gà có

tỷ lệ nhiễm bệnh cao Tuy gà mắc bệnh có tỷ lệ chết không cao, xong nó rất nguy hiểm cho đàn gà

Mặt khác do hiệu lực phòng bằng vắc-xin có hiệu quả thấp, cộng thêm việc sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh còn hạn chế về hiệu quả, nên bệnh CRD phát triển quanh năm Bệnh thường phát triển mạnh hơn khi chuồng trại không sạch sẽ thoáng mát vào mùa Hè và kín gió, ấm áp vào mùa Đông… Chính vì những lý do này đã làm cho bệnh CRD hiện nay vẫn là vấn đề nan giải, đáng lo ngại cần được quan tâm ở các trang trại chăn nuôi công nghiệp

Xuất phát từ thực tế trên dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ

chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm

bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin”

Trang 10

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin

- Bản thân em tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định tình hình mắc bệnh CRD nuôi tại Trại

- Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ (vụ Hè và vụ Thu) đến tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt lông màu (Chọi × Lương Phượng)

- Hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin

1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học góp phần vào việc hoàn thiện nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng và xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi gà thịt lông màu

Hiệu lực của thuốc Tylosin trong việc phòng và điều trị bệnh CRD

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để góp phần vào công tác chăn nuôi gà

an toàn, áp dụng những ảnh hưởng tốt của mùa vụ đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống vào chăn nuôi gà thịt lông màu

Ứng dụng hiệu quả điều trị của thuốc Tylosin trong phòng và điều trị bệnh CRD ở gà thịt lông màu trong chăn nuôi

Trang 11

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà

Gia cầm có hệ hô hấp kép, đó là đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất Khi thở

ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau bị ép và đẩy ra qua phổi, trong quá trình đó diến ra quá trình trao đổi khí lần hai

Gà có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu

- sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hô hấp được bổ sung thêm hệ thống túi khí Túi khí

có cấu trúc túi kín (giống như bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành Theo chức năng, các túi khí được chia thành các túi khí vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra)

Gà có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ

Các cặp túi hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính Túi bên phải lớn hơn túi bên trái Cả hai túi khí có bọc tịt (túi thừa) kéo vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng - xương cùng, có thể nối cả với các xoang của những xương này

Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan

Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, dưới phổi, và kéo dài tới xương sườn cuối cùng

Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống thứ 3 - 4, nằm trên khí quản và thực quản Theo đường đi, các túi khí này tạo ra thêm các bọc, tỏa vào các đốt sống

cổ, ngực và xương sườn Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực Phần lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm3, lớn hơn thể tích phổi 10 -

12 lần Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hòa nhiệt của cơ thể, bảo vệ cơ thể

Trang 12

khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của

gà thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường

Tần số hô hấp ở gà phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giới tính, độ tuổi, khả năng sản xuất, trạng thái sinh lý, điều kiện nuôi dưỡng và môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, thành phần khí trong không khí, áp suất khí quyển …) Tần số hô hấp thay đổi trong ngày và đặc biệt trong các trạng thái bệnh lý khác nhau của cơ thể

Dung tích thở của phổ gà được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất Dung tích thở của phổi và các túi khí được tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ Ở gà dung tích này bằng 140 - 170 cm3 Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực

tế không đo được Không xác định được cả thể tích không khí lưu lại

Trao đổi khí giữa không khí và máu gà bằng phương thức khuyếch tán, quá trình này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí có trong không khí và máu của gà

Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông thoáng tốt thường có: Oxi 20,94%; CO2 0,03%; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon…) - 79,93% Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 - 14,5% oxi và 5 - 6,5% cacbonic Trong chăn nuôi gà, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lưu thông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO2, H2S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ý nghĩa vô cùng to lớn

2.1.2 Đặc điểm bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD)

* Đặc điểm chung:

Bệnh hô hấp mãn tính ở gà hay còn gọi là “hen gà”, là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loại gia cầm, bệnh lây nhanh qua đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp giữa

gà bệnh và gà khỏe, do thức ăn nước uống, do dụng cụ chăn nuôi hoặc do không khí

có chứa mầm bệnh Bệnh còn lây qua trứng nếu đàn gà giống bị bệnh CRD, mầm bệnh truyền qua trứng, khi gà ấp nở gà con sẽ bị bệnh CRD Bệnh rất dễ xảy ra khi thời tiết thay đổi, nhất là vào mùa mưa, khi độ ẩm không khí tăng cao…

Bệnh hô hấp mãn tính (CRD) ở gia cầm với biểu hiện đặc trưng là gà thở khò khè, sưng mặt Đây là một bệnh rất phổ biến ở gia cầm trong giai đoạn chuyển mùa, thường xảy ra trên mọi lứa tuổi, nhưng gà 3 - 6 tuần tuổi và gà mái sắp đẻ mẫn cảm hơn các nhóm gà khác

Trang 13

Bệnh chủ yếu do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum (MG) gây ra Ngoài ra, chủng Mycoplasma synoviae (MS) gây bệnh viêm khớp truyền nhiễm thỉnh thoảng

cũng gây ra bệnh viêm đường hô hấp trên ở gà Bệnh làm cho gia cầm chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, chi phí điều trị cao

CRD có thể xếp theo 3 dạng sau:

+ Bệnh đường hô hấp mãn tính chính: Nguyên nhân bị bệnh là do căng thẳng

(Stress), lượng vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum tăng làm phát bệnh, thường có kiêm nhiễm một số vi khuẩn thứ cấp như: E coli, Streptococcus…

+ Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính thứ cấp: Xuất phát từ gà đã bị bệnh khác như cầu trùng, viêm phế quản truyền nhiễm… làm cơ thể yếu đi, có dịp cho vi

khuẩn Mycoplasma gallisepticum bùng lên sinh bệnh

+ Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính giả: Thể hiện triệu chứng, bệnh tích ở túi

khí của một số bệnh khác như bệnh Mycoplasmosis (Nguyễn Thanh Sơn và cs,

2004) [11]

* Mầm bệnh:

Trần Thị Hạnh và cs (2004) [4] cho biết, hầu hết các loại gia cầm đều mẫn

cảm với Mycoplasma Đặc biệt ở gà nuôi theo hướng công nghiệp thì tỷ lệ nhiễm

bệnh càng cao Bệnh này xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới Trong những năm gần đây, người ta sử dung một số kháng sinh như: Tiamulin, Tylosine, Enrofloxacin… để điều trị nên đã khống chế được bệnh này

Hoàng Huy Liệu (2002) [25] cho biết, CRD do 3 loài Mycoplasma gây ra: M

gallisepticum, M sinoviae, M meleagridis, nhưng chủ yếu là loài M gallisepticum Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn dưới kính hiển vi thì giống như tế bào

động vật nhỏ, không nhân Gallisepticum có nghĩa là “gây độc hại cho gà mái” Điều này được thấy rõ tỷ lệ nhiễm bệnh ở gà đẻ trứng rất cao và sản lượng trứng được giảm đáng kể

Theo Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [3], Mycoplasma có kích thước ngang

khoảng 150 – 300 ŋm thường là 250 ŋm khó thấy dưới kính hiển vi quang học bình

thường Mycoplasma không có thành tế bào, bắt màu Gram âm, có tính đa hình thái,

có dạng nhỏ đến mức lọt qua nến lọc vi khuẩn, dễ mẫn cảm với áp suất thẩm thấu, mẫn cảm với cồn, với các chất hoạt động bề mặt (xà phòng, bột giặt…), không mẫn cảm với Penicillin, Xicloserin, Xephalosporin, Baxitraxin và các kháng sinh khác

ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào

Trang 14

Mycoplasma là những sinh vật nguyên thủy chưa có vách tế bào, cho nên

chúng dễ bị biến đổi hình dạng, là loài vi sinh vật nhỏ nhất trong sinh giới có đời sống dinh dưỡng độc lập Vi khuẩn có dạng nhỏ riêng lẻ hay tập trung từng đôi, từng chuỗi ngắn, hình vòng nhẫn, vòng khuyên là loại Gram âm khó bắt màu thuốc nhuộm thông thường, phải dùng phương pháp nhuộm Giemsa mới quan sát được

Màng của Mycoplasma chỉ là lớp màng nguyên sinh chất dày từ 70 - 100A0 Trong

tế bào Mycoplasma có thể thấy các hạt riboxom và thể nhân

Mycoplasma thuộc loại hiếu khí và hiếu khí không bắt buộc, nhiệt độ thích

hợp cho Mycoplasma là 37oC, pH: 7,0 - 8,0 Chúng có thể phát triển tốt trên phôi gà

và trên một số môi trường có chứa Hemoglobin, Xistein Trên môi trường thạch, chúng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ bé Khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu, xung quanh trong (trứng ốp lếp) Khi phát triển trên môi trường dịch

thể, Mycoplasma làm vẩn đục môi trường và tạo thành những kết tủa Trong môi trường thạch máu, Mycoplasma làm dung huyết (Nguyễn Xuân Thành và Nguyễn

Bệnh hô hấp trên gia cầm có thể sảy ra bất kể thời điểm nào trong năm, nhất

là thời điểm giao mùa, thời tiết thay đổi, nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm cao

Mycoplasma gallisepticum chủ yếu gây bệnh ở gà và gà tây, tuy nhiên người

ta cũng phân lập được mầm bệnh này ở gà lôi, gà gô, công,… Gà 2 – 12 tuần tuổi

và gà sắp đẻ dễ nhiễm bệnh này hơn các lứa tuổi khác, bệnh thường hay phát vào vụ đông khi có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao

Mycoplasma gallisepticum rất dễ dàng nhiễm từ con này sang con khác thông

qua tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gián tiếp Khi Mycoplasma gallisepticum cư trú

ở đường hô hấp trên, một lượng lớn mầm bệnh được giải phóng ra môi trường xung quanh bằng sự xuất tiết của dịch rỉ mũi, qua đường hô hấp và ho Sự truyền lây phụ thuộc vào kích thước của vùng khu trú mầm bệnh, số lượng cá thể mẫn cảm và khoảng cách giữa chúng Những đàn gà bị nhiễm bệnh mà phải đối đầu với các tác động bất lợi khác nữa như nồng độ ammoniac ở môi trường cao, thời tiết thay đổi

Trang 15

đột ngột, các mầm do virus Newcastle, Gumboro, cúm… thì có thể làm tăng bài tiết mầm bệnh Mycoplasma gallisepticum (Hội bác sỹ thú y, 2008) [24]

Trong tự nhiên Mycoplasma gallisepticum thường gây bệnh cho gà và gà tây

Gà mới nở mẫn cảm với bệnh nhất Tuy nhiên, đã phân lập được Mycoplasma

gallisepticum từ sự nhiễm trùng tự nhiên trên trĩ, công, chim cút, vẹt Amazon, vịt,

ngỗng, hồng hạc (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [14]

Bệnh sảy ra không phụ thuộc vào mùa vụ Gà bị bệnh nhiều hơn khi thời tiết thay đổi đột ngột trong năm: Chuyển từ nóng sang lạnh, có đợt gió mùa hoặc mùa xuân ẩm ướt

CRD nếu chỉ có một mình loại Mycoplasma gây bệnh thì nhẹ nhưng nếu kế

phát thì nặng hơn hoặc bệnh phát ra trong điều kiện mới tiêm phòng các bệnh khác hay môi trường ẩm thấp, dơ bẩn thì bệnh sẽ nặng hơn Đặc biệt, nếu ghép với 3 bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, viêm phế quản truyền nhiễm và bệnh cúm thì bệnh càng kéo dài trầm trọng và không chữa được

Thời gian tồn tại của Mycoplasma gallisepticum ở ngoài cơ thể vật chủ

(phân, lông…) khác nhau (từ 1 - 14 ngày), tùy thuộc vào nhiệt độ của vật mà nó bám Vì vậy việc vệ sinh quần áo, đồ dùng, dụng cụ chăn nuôi kém thì đó là một con đường truyền lây của bệnh Thời gian tồn tại của bệnh được quan sát ở lòng trắng trứng là 3 tuần ở 5oC, 4 ngày ở tủ ấp, 6 ngày ở nhiệt độ phòng; ở lòng đỏ, mầm bệnh tồn tại 18 tuần ở 37oC, 6 tuần ở 20oC Như vậy, những quả trứng đập vỡ trong máy ấp có thể là nguồn lây lan bệnh Điều đáng chú ý là mầm bệnh có thể tồn tại ở trong tóc, da của người từ 1 - 2 ngày, vì vậy người làm việc trong đàn gà bệnh

có thể là yếu tố trung gian truyền bệnh

Một trong con đường truyền lây bệnh khác là sự truyền lây qua trứng Ở giai

đoạn cấp tính, Mycoplasma gallisepticum dễ dàng tiến đến buồng trứng , tử cung và định cư ở đó, những con gà mái này sẽ đẻ ra trứng bị nhiễm bệnh Mycoplasma

gallisepticum không những được phân lập từ phôi mà còn được phân lập từ màng

lòng đỏ trứng tươi Trong một số trường hợp cụ thể , sự lây nhiễm có thể thực hiện lây qua việc sử dụng vắc-xin virus mà không được làm từ trứng sạch bệnh

Mycoplasma gallisepticum còn được tìm thấy trong tinh dịch của gà trống bị bệnh

vì vậy sự truyền lây có thể thực hiện qua đường thụ tinh từ gà trống truyền cho gà mái (Trần Thị Hạnh và cs, 2004) [4]

Trang 16

* Cơ chế sinh bệnh:

Sau khi xâm nhập vào cơ thể MG đến ký sinh và làm viêm nhẹ đường hô hấp, niêm mạc mũi và các xoang xung quanh, thành túi khí Khi đó niêm mạc bị phù nhẹ, màng dưới bị thâm nhiễm các tế bào lympho và các tế bào đơn nhân tạo nên các hạt nhỏ lấm tấm

Theo Hội bác sỹ thú y (2008) [24], mầm bệnh Mycoplasma không có thành tế

bào nên hình dạng của nó không cố định Nó có thể là hình cầu, hình sợi mảnh, có

cơ quan bám dính một đầu, cơ quan này có hình bán cầu, nhô ra và được gọi là

“blebs” Khi mầm bệnh xâm nhập vào vật chủ, nó chui vào giữa các nhung mao niêm mạc đường hô hấp hoặc đường sinh dục, phần “blebs” của vi khuẩn gắn vào đuôi sialic của thụ quan sialoglycoprotein hoặc sialoglycolipit của tế bào vật chủ

Sự bám dính này đủ chắc để nó không bị đào thải ra ngoài bởi nhu động và quá trình phát triển dịch của niêm mạc Vì nó không có thành tế bào nên cũng có hiện tượng hòa nhập màng tế bào vật chủ và màng nguyên sinh vi khuẩn các enzym thủy phân: Neuraminidase, peroxidase, haemolysin và các loại độc tố khác được đưa vào tế bào vật chủ Những độc tố đó có thể dẫn đến tế bào bị tổn thương, thoái hóa và cơ thể có thể có những đáp ứng miễn dịch và sốt Hơn nữa, sự xâm nhập của

tế bào đơn nhân tới phần mô của hạ niêm mạc, một số lượng lớn tế bào lympho và đại thực bào dẫn tới sự dày lên của phần tổ chức bị tấn công

Mycoplasma xâm nhập vào cơ thể gà qua đường sinh dục hoặc hô hấp Khi

vào cơ thể chúng bám vào bề mặt của khí quản, túi khí và bắt đầu sinh sản Sự hiện

diện của Mycoplasma sẽ kích thích khí quản, phế quản tiết nhiều chất nhầy Do khả năng di chuyển bị giới hạn, Mycoplasma không thể vào máu, tuy nhiên chúng có

thể đi qua các túi khí để xâm nhập bề mặt gan, màng bao tim và cơ quan sinh dục,

từ đó nhiễm vào trứng và làm giảm sản lượng trứng, gây viêm màng bao tim, màng bao quanh gan (Trường Giang, 2008) [22]

3 - 6 tuần tuổi, còn những trường hợp khác thì phát triển ở giai đoạn chuẩn bị sinh sản Trong trường hợp đàn gà bị nhiễm bệnh từ trứng bệnh nhưng được xử lý bằng

Trang 17

kháng sinh và được nuôi trong điều kiện tốt thì biểu hiện lâm sàng cho đến khi đàn

gà bị kết hợp với những mầm bệnh khác hoặc các yếu tố stress xuất hiện

Các dấu hiệu đầu tiên của bệnh là: Gà giảm ăn, khó thở, có âm ran khí quản, lúc đầu có một số ít sau đó ở nhiều gia cầm, triệu chứng này thấy rõ về đêm hay sáng sớm Do bị viêm đường hô hấp nên gà thường ho khan, vảy mỏ quệt xuống nền chuồng, mỏ nửa kín nửa hở Ho cũng như thở có âm ran và tiếng kêu đột ngột (khẹc) thường xuất hiện vào ban đêm Gà ăn ít dẫn đến mệt mỏi, lông thô xã cánh, một số ỉa phân xanh trắng, sung huyết và sưng cổ họng, sưng ở ngoài hốc mắt các triệu chứng này thường biểu hiện thường ở cường độ rất khác nhau, nó kéo dài hàng tháng, mùa hè nặng hơn mùa đông Đàn gia cầm có tỷ lệ mắc bệnh rất cao, có khi đến 80 - 90%, nhưng tỷ lệ chết lại rất thấp ở gà con tỷ lệ chết từ 10 - 25%, mức chết thường lớn nhất ở tuần lễ đầu khi bệnh xuất hiện Đối với gà trưởng thành và gà mái

đẻ thì tỷ lệ chết không lớn lắm, nhưng bệnh làm giảm từ 10 - 40% sản phẩm, gà gầy sút, chuyển sang thể mãn tính (Nguyễn Thanh Sơn và cs, 2004) [11]

Bệnh CRD thường xuất hiện cùng yếu tố khác như Tụ huyết trùng, E coli

thường gặp ngoài tự nhiên Tỷ lệ chết thường là thấp ở trường hợp không xuất hiện với các yếu tố trên nhưng có thể chiếm tới 30% so với sự xuất hiện của các yếu tố bệnh trên

- Bệnh CRD ghép với viêm phế quản truyền nhiễm:

+ Đối với gà nhỏ: Thường bắt đầu từ những triệu chứng của gà mắc CRD như

gà hay lắc đầu, vảy mỏ hoặc hay cạo mỏ xuống sàn, chảy nước mắt, nước mũi, lúc đầu loãng và trong suốt sau đặc tạo thành rỉ mắt Khi ghép với bệnh viêm phế quản truyền nhiễm thì gà thở khò khè lạo xạo, miệng bán mở, gà ngẩng cao cổ, há mồm thở khó khan Khi bắt gà lên nghe tiếng lạo xạo khò khè, râm ran, ở đoạn khí quản, phế quản và phổi Xung quanh mí mắt sưng, thậm chí sưng phù rất to Sau đó bệnh tiến triển rất nhanh, lan ra toàn đàn, có một số trường hợp tỷ lệ chết chỉ khoảng 2 - 5%, nhưng nhiều trường hợp gà chết tới 20 - 30%, thậm chí 40% Nhưng sau vài tuần bệnh tự nhiên khỏi

+ Đối với gà lớn: Nhiều trường hợp 1 - 2 gà khỏi bệnh nhưng có những đàn chết tới 40% Gà một tháng tuổi chết từ 2 - 5% nhưng gà còi cọc chậm lớn, sau gà

có dấu hiệu phục hồi nếu gà được chữa trị sớm, tuy nhiên thiệt hại về kinh tế lớn + Đối với gà con và gà dò:

Lúc đầu lác đác với một số con chảy nước mũi, nước mắt liên tục kèm theo hay lắc đầu, vẩy mỏ, há mỏ thở khò khè

Trang 18

Bỗng dưng lây lan rất nhanh ra toàn đàn, nhiều con mắt sưng húp, đầu bị sưng lệch, nhiều con sưng rất to Khi bệnh chuyển sang mãn tính ta thấy nhiều gà bị thối mắt (mắt bị viêm, casein hóa và trở nên mù)

Do tịt mũi gà luôn thở bằng miệng nên lưỡi gà thường thâm xịt, mùi hơi thở của gà rất hôi

Gà gầy xù lông, kém ăn và chết

- CRD bị bội nhiễm với E coli

+ Các triệu chứng của CRD luôn nổi bật, nước mũi, nước mắt chảy, mí mắt

bị viêm và bị sưng, đầu bị sưng lệch, mào tái nhợt, gà thường hay tìm chỗ ấm để đứng hoặc nằm thở, hay vẩy đầu, cạo mỏ xuống nền chuồng, tiếng thở khò khè cào

mỏ khoèn khoẹt râm ran nghe rõ từ xa trước khi bước vào chuồng

+ Khi bị nhiễm với E coli gà sốt nên uống nhiều nước, ỉa chảy phân loãng

vàng trắng hoặc xanh vàng trắng Gà thở khó hơn, khi bệnh nặng luôn kèm theo tiếng rít và chết nhanh hơn, những gà bị bệnh tỷ lệ đẻ giảm sút mạnh từ 20 - 40%

để thở cho dễ, uống nhiều nước

+ Gà ỉa chảy phân trắng hoặc phân trắng xanh, một số gà đi ngoài khó do phân bịt kín hậu môn, chướng hơi, tích nước xoang bụng, một số con có hiện tượng viêm khớp

+ Gà kém ăn, ủ rũ và chậm lớn

+ Tỷ lệ chết phụ thuộc vào việc điều trị sớm hay muộn

* Bệnh tích:

Tùy từng nguyên nhân gây ra bệnh mà gà có những bệnh tích khác nhau, một

số biểu hiện bệnh tích như sau:

+ Bệnh tích đại thể:

Các biển đổi chủ yếu ở phần trên khí quản, phế nang phổi, túi khí và các xoang Mức độ rõ ràng và không rõ ràng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sức đề

Trang 19

kháng của gà và động lực của Mycoplasma Nếu gà chết hoặc bị giết ở giai đoạn

đầu thì những biến đổi không đặc trưng, chỉ thấy xác chết gầy lông xơ xác, thịt nhạt màu do thiếu máu, các xoang mũi hốc mắt nhiều chất nhầy như keo dính chặt vào niêm mạc, các túi khí dày lên và đục màu trắng sữa Bệnh nặng người ta quan sát thấy trong lòng khí quản có thanh dịch, phổi có vùng cứng đôi khi nổi thành các nốt

u, thành túi khí dày lên và bị viêm, mặt phổi bị phủ fibrin, rải rác có một số vùng bị hoại tử, thành túi khí dày lên thủy thũng, xoang túi khí chứa đầy túi dịch màu trắng sữa Theo Martinez thì thanh dịch bị vữa hóa thường dích và bám chặt vào niêm mạc khó bóc

Trần Thị Hạnh và cs (2004) [4] cho biết, trong giai đoạn cấp tính, mổ ra thấy xoang mũi và khí quản tích đầy dịch viêm keo nhầy màu trắng hơi vàng Màng túi khí đục nhẹ và tăng sinh phía bên trong Trong giai đoạn mãn tính, màng túi khí dày

và đục trắng phồng như chất bã đậu nhão Nếu có kế phát các bệnh khác như E coli

thì trên bề mặt gan, màng ngoài bao tim và màng bao xung quanh phúc mạc đều thấy tăng sinh trắng đục hoặc viêm dính vào tim, gan, ruột

Trong những phôi gà bị chết do lấy trứng ấp từ những con gà giống bị nhiễm CRD, phôi thường chết trước khi nở, ở túi khí của phôi có những chất dịch nhầy như bã đậu mù trắng

Phổi: Xuất hiện các vùng phổi viêm và các nang lympho cũng như các tổn thương dạng hạt Trong mô phổi có tăng sinh lympho dạng nang, đặc biệt trong phế quản cấp 3, viêm phổi dạng dịch với các tế bào khổng lồ

Theo Ansari A A và cs (1983) [16] đã nghiên cứu thì thấy tổn thương dạng u hạt chiếm 22,5% trường hợp bệnh trong tự nhiên, còn ở các trường hợp gà con mắc bệnh thực nghiệm mắc bệnh chỉ đạt 7%

Cũng theo Công ty Vemedim (2009) [2] cho biết, các biến đổi của bệnh CRD đều tập trung ở đường hô hấp: Niêm mạc vùng thanh khí quản phù nề kèm theo

Trang 20

xuất huyết, bị phủ một lớp dịch nhầy, đôi khi bịt kín cả khí quản Túi khí viêm tích dịch (dày và đục) Bề mặt túi khí đôi khi bị phủ một lớp màng, hay các chất như bã

đậu đóng thành cục Nếu bị ghép với E.coli sẽ thấy màng bao quanh tim và màng bị

viêm, sưng Mắt gà sưng có một số gà bị mù bởi tuyến lệ bị viêm, loét Trong một vài trường hợp gà bị viêm khớp, mổ khớp gà ta thấy khớp gà bị sưng chứa nhiều dịch vàng loãng

* Phương pháp chẩn đoán:

- Dựa vào đặc điểm dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích như trên

- Phân lập vi khẩn qua bệnh phẩm, mổ khám hoặc qua các túi khí ở phôi chết

- Chẩn đoán bằng phương pháp kiểm tra huyết thanh: Phản ứng ngưng kết trên phiến kính, phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu, phản ứng ELISA, Blocking ELISA, phương pháp miễn dịch đánh dấu

- Phân biệt với các bệnh có triệu chứng đường hô hấp giống với CRD như: Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, bệnh cúm

Hoàng Huy Liệu (2002) [25], khuyến cáo, nên phân biệt CRD với các bệnh dưới đây:

Bệnh Newcastle: Bệnh Newcastle lây lan nhanh hơn CRD, thường biểu hiện

triệu chứng thần kinh, xác định bằng phản ứng HI

Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm: Lây lan nhanh hơn bệnh CRD, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất trứng Dùng phản ứng HI hoặc ELISA để chẩn đoán bệnh này

Bệnh sổ mũi truyền nhiễm: Biểu hiện viêm xoang, dung dịch xuất tiết trong

xoang phân lập được Hemophilus para gallinarum

Bệnh tụ huyết trùng mãn tính ở gà: Gây những ổ viêm dạng bã đậu hóa và

viêm xoang Bệnh phân lập được Pasteurella multocida

* Phòng bênh:

+ Phòng bệnh CRD theo Hội bác sĩ thú y (2008) [24] cho biết:

VSTY: Dùng thuốc kháng sinh liều cao cho đàn gà mẹ, trước khi thu ấp trứng không cho mầm bệnh ký sinh trên trứng Có thể dùng kháng sinh sử lý trứng trước khí đưa trứng vào ấp Dùng dung dịch kháng sinh để rửa trứng Cần phải vệ sinh chuồng trại đảm bảo môi trường nuôi sạch sẽ thông thoáng, dùng kháng sinh và vắc-xin định kỳ

+ Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [7] đã đưa ra biện pháp có hiệu quả như sau:

- Ăn uống đảm bảo số lượng và vệ sinh tốt Cho uống bổ sung vitamin nhóm

B định kỳ 2 lần/tháng

Trang 21

- Chuồng nuôi sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo, thoáng mát về mùa Hè, ấm áp, thoáng khí về mùa Đông, tránh gió lùa, đặc biệt đối với gà dưới 5 tuần tuổi

- Kiểm tra hàng ngày để phát hiện gà bị bệnh, có biện pháp xử lý

- Khử trùng vỏ trứng, nhà kho, trạm ấp

- Không nhập gà, trứng giống từ đàn bố mẹ mắc CRD

- Kiểm tra kháng thể ở huyết thanh của đàn gà bố mẹ vào 42, 140, 308 ngày tuổi đối với gà giống thịt, còn đối với gà giống trứng vào lúc 63, 133, 266 ngày tuổi + Trường Giang (2008) [22] cho biết, để phòng bệnh có hiệu quả cũng có thể dùng các biện pháp sau:

- Vệ sinh chuồng trại, máy ấp thật tốt bằng các loại thuốc sát trùng

- Nuôi gà với mật độ vừa phải, cần lưu ý đến tiểu khí hậu chuồng nuôi, trong

đó thông thoáng và mát là hai yếu tố quan trọng Trong các chuồng trại thiếu thông thoáng, nồng độ các loại khí độc như: NH2, H2S, Clor, CO2 cao, các khí này gây các tổn hại nhất định ở xoang mũi, thanh khí quản… sẽ tạo điều kiện cho sự bùng nổ CRD và các bệnh hô hấp khác

- Trên đàn gà giống, thường xuyên tiến hành kiểm tra máu để loại thải các gà dương tính với CRD

- Có chế độ dinh dưỡng hợp lý, đúng mức đối với sức sản xuất của gà, cần chú ý cung cấp đầy đủ các loại vitamin nhất là vitamin A, vitamin C, các chất điện giải nhằm tăng cường sức đề kháng của đàn gà

Sử dụng kháng sinh hoặc vắc-xin ngừa bệnh: Về vắc-xin hiện nay có 2 loại: Vắc-xin sống chủng F và vắc-xin chết nhũ dầu

+ Theo Trần Văn Bình (2008) [1] có thể giảm thiểu tác hại của bệnh bằng các cách sau:

Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, chuồng trại thông thoáng, mật độ thích hợp

- Sau khi xuất hết đàn, vệ sinh sát trùng kỹ mới nhập đàn mới về nuôi Nếu đàn gà đang bị bệnh CRD mà nhập đàn mới vào thì chắc chắn bệnh sẽ lây qua đường mới

Trang 22

Trong số các kháng sinh và sulfamid chỉ có 3 nhóm kháng sinh sau đây có

hiệu lực với Mycoplasma:

+ Nhóm Tetracycline gồm: Oxytetracycline, Chlorte tracycline,Doxycycline.+ Nhóm Macrolides gồm: Erythromycin, Tylosine, Lincomycin, Spiramycin, Tiamuline

+ Nhóm Quinolones (Fluoroquinolones) gồm: Norfloxacin, Enrofloxacin Các kháng sinh khác và các loại Sulfonamides có hiệu quả rất thấp hoặc không có hiệu quả

- Sau một thời gian sử dụng khá lâu, nhiều kháng sinh trước đây nhạy cảm

với Mycoplasma nay đã bị đề kháng như Tylosin, Erythromycine, Spiramycin,

Oxytetracycline…

Để việc phòng CRD bằng kháng sinh có hiệu quả, nhất thiết phải lựa chọn kháng sinh phù hợp và nhạy cảm, đồng thời thực hiện tốt các vấn đề vệ sinh chuồng trại, quản lý tốt tiểu khí hậu, dinh dưỡng hợp lý và loại thải các gà nhiễm bệnh thường xuyên… (Công ty trách nhiệm hữu hạn Long Đình, 2004) [21]

Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [8] cho biết, việc dùng kháng sinh như Dihydrostreptomycin, Erythromycin hoặc Tylosin để sát trùng trứng ấp đã đạt được một kết quả rất lớn trong việc khống chế truyền lây mầm bệnh MG qua ấp trứng Người ta có thể dử dụng các phương pháp sát trùng như sau:

- Nhúng trứng: Kojima A và cs (1997) [17] và một số tác giả khác dùng cách nhúng trứng là biện pháp chính để đưa kháng sinh vào trứng ấp nở nhầm chống lại việc reo rắc mầm bệnh Trứng được ấp ở nhiệt độ 37,8oC được nhúng vào nước lạnh 1,7 - 4,4oC có hòa với kháng sinh Tylosin hoặc Tetracyline nồng độ 400 - 1000 ppm, trong vòng 15 - 20 phút Do chênh lệch nhiệt độ nên thuốc kháng sinh có thể thẩm thấu qua vỏ trứng vào bên trong Nhìn chung, phương pháp này đã giảm được đáng kể quá trình lây lan bệnh qua trứng, nhưng không thể khống chế hoàn toàn việc lây truyền MG

- Tiêm trứng: Việc tiêm Lincomycin và Streptomycin vào trong túi khí của trứng đang ấp là một phương pháp hiệu quả nhất để khống chế bệnh lây truyền qua đường ấp nở, nhưng rất tốn công và cũng không giải quyết được triệt để sự lây lan của MG

Hoàng Hà (2009) [23], cho biết, ngoài các phương pháp sát trùng trứng như nhúng trứng và tiêm trứng, người ta còn dùng phương pháp đun nóng trứng Trứng

ở nhiệt độ phòng sau đó được đưa lên tới 46oC, Mycoplasma có thể chết ở nhiệt độ

này, thời gian đạt được nhiệt độ trên kéo dài từ từ trong khoảng 12 - 14 giờ Phương pháp này có thể làm giảm tỷ lệ nở đến 12% và nó cũng không có hiệu quả với MG

Trang 23

* Điều trị bệnh:

Không có thuốc nào điều trị triệt để hoàn toàn bệnh CRD, chỉ có thể ngăn cản bệnh phát triển Khi có dịch cần tăng cường vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, dùng kháng sinh và bổ sung vitamin A, B, D MG rất mẫn cảm với các loại kháng sinh Streptomycin, Oxytetracylin, Tylosine, Enrofloxacxin

Chú ý phải dùng kháng sinh liều cao để điều trị Nếu dùng kháng sinh liều thấp liên tục sẽ làm vi khuẩn đề kháng với thuốc

Theo Lê Hồng Mận (2003) [9] có thể trị bệnh CRD bằng một số loại thuốc sau:

+ Tiamulin 1 g/4 lít nước cho uống 3 - 5 ngày

+ Tylosin 0,5 g/1 lít nước cho uống 3 - 5 ngày

+ Suanovil 0,5 g/1 lít nước cho uống 3 - 5 ngày

+ Tetracyclin 500 - 600 g/tấn thức ăn 3 - 5 ngày

- Cách chữa bệnh hen ghép:

Theo Lê Văn Năm (2004) [10], nếu gà bị hen thở khò khè lạo xạo, miệng luôn bán mở, gà ngẩn cao cổ há mồm thở một cách khó khăn Khi gà bắt lên nghe tiếng lạo xạo khò khè râm ran ở đoạn khí quản, phế quản và phổi, xung quanh mí mắt sưng, thậm chí sưng phù rất to, một số gà bị viêm khớp đi lặc vì bệnh hen (CRD) ghép với viêm phế quản truyền nhiễm Viêm phế quản không có thuốc điều trị đặc hiệu, do đó ta tập trung chữa CRD theo hướng chữa hen gà và hạn chế bội nhiễm Cho 100 kg gà, T Avimicin 20 g, CRD Polyvitamin 15 - 20 g, pha vào 12 -

15 lít nước cho gà uống/ngày, liên tục 4 - 5 ngày

Khi bệnh hen gà bội nhiễm với E coli bệnh lây lan nhanh hơn, gà sốt nên

uống nhiều nước, ỉa chảy phân loãng vàng trắng hoặc phân xanh vàng trắng, gà thở khó hơn, khi bệnh nặng luôn kèm theo tiếng rít, gà lớn tỷ lệ đẻ giảm sút mạnh từ 20

- 40 % Nhìn chung khi bị bệnh hen gà ghép với E coli thường là rất nặng do đó ta phải tiêm thuốc đặc trị Mycoplasma vừa phải tiêu diệt E coli mới đạt hiệu quả

Tiêm bắp Dinamutilin (Tinamulin, Tinamutilin, Tiotilin) 20%, tiêm bắp 0,2 - 0,3 ml/1-2 kg khối lượng/ngày, tiêm liên tục 4 - 5 ngày hoặc Tylosin 98 % Đồng thời cho uống Erythromycin hoặc Spiramycin nguyên chất 4g, T Colivit 20 g, Stress Bran ½ gói 20 g, pha vào 12 - 15 lít nước cho 100 kg khối lượng gà

2.1.3 Một số đặc điểm về Mycoplasma gallisepticum

* Đặc điểm hình thái:

Mycoplasma là loại sinh vật đa hình thái, có hình sợi, hình nhẫn, kích thước

xấp xỉ 0,1 μm - 0,8 μm Vi khuẩn MG có kích thước nhỏ 0,25 μm - 0,5 μm, thành tế

Trang 24

bào không ổn định, bắt màu tốt với thuốc nhuộm Giemsa Hai hình dạng thường thấy nhất là hình quả lê và hình chai có cấu trúc đầu chóp trên có các cơ quan bám dính giúp MG có khả năng bám vào thành tế bào vật chủ

Thành tế bào mà chỉ có thành nguyên sinh chất Nó là cơ thể sống có khả

năng tự nhân đôi có kích thước nhỏ nhất Trong phân loại học, Mycoplasma thuộc

lớp Mollicutes (Mollis nghĩa là mềm, cutes là da, vỏ bọc) Hai đặc điểm phân biệt

Mycoplasma với vi khuẩn khác là kích thước genome và thành phần các bazo nito

của AND

* Đặc điểm cấu tạo:

Trong cấu tạo của MG người ta thấy các chất đặc trưng đối với các tế bào vi khuẩn (các mucotit) Lớp vỏ ngoài cùng của MG chỉ là màng nguyên sinh chất dài 75Ao - 100Ao Trong tế bào MG có thể tìm thấy hạt Riboxom có đường kính 0,2 μm

và các sợi nhân Đây là vi khuẩn có khả nặng tự nhân đôi có kích thước nhỏ nhất Hai đặc điểm cả MG khác biệt với các vi khuẩn khác là kích thước genome và thành phần các bazơ nitơ của AND, MG có cả AND và ARN, nó mang bộ gen nhỏ nhất trong tất cả các cơ thể sống tự do Chủng R (low) của MG có kích thước toàn

bộ là 996.422 bp (Ansari và cs, 1983) [16] Các cơ thể sống của lớp này có ít nhất

300 gen, tổng thành phần Guanine (G) và Cystosine trong AND thấp và tỷ lệ đó phân bố không đều trên bộ gen, có vùng rất cao lại có vùng rất thấp Một cơ thể sống có kích thước và số lượng nhỏ như vậy nhưng nó cũng thể hiện là một mầm bệnh tương đối hoàn chỉnh và thực hiện rất nhiều chức năng của một cơ thể sống chứng tỏ tính tổ chức và sự điều hành của bộ gen của MG khá hoàn chỉnh

* Đặc tính nuôi cấy:

Nguyễn Xuân Thành và cs (2007) [12] cho biết: Mycoplasma có thể phát triển

tốt trên phôi gà và trên một số môi trường nhân tạo như: Môi trường huyết thanh, môi trường có chứa hemoglobin, xystein

Trên môi trường thạch, chúng cũng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ bé, khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu, xung quanh trong Khi phát triển

trên môi trường dịch thể, Mycoplasma làm vẩn đục môi trường và tạo thành những

kết tủa Trong môi trường thạch máu làm dung huyết

Các loại Mycoplasma khác nhau có tốc độ mọc khác nhau và khuẩn lạc của

chúng cũng khó phân biệt Không có một môi trường nào phù hợp cho tất cả các

Mycoplasma, đó cũng là một khó khăn trong công tác chẩn đoán và phân lập

Trang 25

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Việc lưu thông hàng hóa giữa các nước đặc biệt là xuất, nhập khẩu trứng và

gà giống đã tạo điều kiện cho bệnh CRD lây lan mạnh

Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [3] cho biết, năm 1898, E.Nocard và cs lần

đầu tiên phân lập được Mycoplasma từ bò bị bệnh viêm phổi màng phổi truyền

nhiễm Khi đó được gọi là vi sinh vật viêm phổi màng phổi (PPO:

Pleuropneumonia organism) Về sau người ta tiếp tục phân lập được PPO từ các

động vật khác và đổi tên là vi sinh vật loại viêm phổi màng phổi (Pleuropneumonia

like organism) Từ năm 1955, PPO và PPLO được chính thức đổi thành Mycoplasma

CRD được Dobb (người Hà Lan) phát hiện lần đầu tiên ở gà tây vào năm

1905 Đến năm 1935, J.B Nelson và Gibbs đã phân lập được MG là loại vi khuẩn gây bệnh chủ yếu Năm 1952, bác sỹ Van Roekei đã tiến hành nuôi cấy và tìm hiểu

rõ về đặc tính của loại vi khuẩn này Tiếp đó là hai bác sỹ Adler và Yamato phát

hiện ra vi khuẩn MG gây CRD cùng loại với Mycoplasma gây bệnh viêm xoang

truyền nhiễm Họ cũng đã thấy mức độ nghiêm trọng khi cùng một lúc gà nhiễm hai loại vi khuẩn này (Theo Hoàng Huy Liệu, 2002 [25])

Kojima và cs (1997) [17], đã sử dụng phương pháp PCR để phát hiện mầm

bệnh thuộc 9 loài Mycoplasma của gia cầm trong vắc - xin sống tạo từ phôi gà với

độ nhạy cảm khá cao Tuy nhiên, chưa có một cặp mồi nào được khẳng định là đặc trưng cho toàn bộ lớp mollicus mà không nhân lên các loại vi khuẩn khác

Wose và cs (1980) [19], đã phân tích, so sánh trình tự gen 16S rARN của các

giống Mycoplasma, Spiroplasma, Acholeaplasma và họ cho rằng, các giống này

được tiến hóa ngược từ một nhánh vi khuẩn yếm khí là tổ tiên của họ Bacillus và Lactobacillus ngày nay

Yogev D và cs (1988) [20], đã sử dụng mẫu dò trên gen rARN để phát hiện

sự khác nhau bên trong và giữa hai loài Mycoplasma gallisepticum và Mycoplasma

synoviae

Ansari A A và cs (1983) [16], khi nghiên cứu tỷ lệ nhiễm Mycoplasma

gallisepticum ở những đàn gà dưới 2 tháng tuổi nhận thấy tỷ lệ nhiễm tăng dần

theo tuổi gà

Trang 26

Từ cuối năm 1951, bệnh đã phổ biến rộng rãi trong các cơ sở chăn nuôi gia cầm thuộc các bang Dalaver, Meriland, Virginia và đến cuối đầu năm 1956 không một bang nào tránh khỏi bệnh này

Do việc xuất gà giống và trứng để ấp nở từ nước Mỹ, bệnh này trong những năm gần đây đã lan truyền vào các nước châu Âu, châu Á, châu Phi và Nam Mỹ, ở Italia, bệnh này đã xuất hiện tại nhiều cơ sở sau khi nhập cảng gà từ Pháp Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [8] cho biết, năm 1984 Glison và Kleven đã nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vắc-xin nhược độc và vắc-xin chết nhằm khống chế lây truyền MG qua trứng

Những nghiên cứu của Further và cs (1988) đã chỉ ra rằng: Vắc-xin với chủng

F nhược độc dùng cho gà 45 tuần tuổi đã không đạt kết quả tốt đối với chức năng của vòi trứng, độ dày của vỏ trứng cũng như chất lượng của trứng Việc sử dụng vắc-xin bằng cách nhỏ mắt tốt hơn là phun vào không khí Vắc-xin chủng R sử dụng bằng hai cách nhỏ mắt và phun ngoài không khí đều đạt được kết quả

Mohammet và cs (1987) đã đánh giá thiệt hại kinh tế do MG và M sunoviae

gây ra tại trại gà đẻ ở vùng Califonia Việc nhiễm MG đã làm giảm 5 - 12 quả trứng/đầu gà đẻ so với gà không bị nhiễm MG gây ra cho đàn gà nuôi ở Califonia năm 1984 là 1 triệu đôla

Cũng theo tác giả Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [8], đến tháng 5/1951, Hội nghị tổ chức dịch tễ thế giới đã cho phép đổi tên bệnh viêm đường hô

hấp mãn tính thành Mycoplasmosis, gây ra do Mycoplasma gallisepticum

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo nghiên cứu của Đào Thị Hảo và cs (2007) [5], cho biết, sử dụng phương pháp kháng huyết thanh tối miễn dịch qua thỏ đặc hiệu với MG1, MG2 có kết quả tốt trong việc chẩn đoán bệnh CRD Kháng huyết thanh được chế đạt tiêu chuẩn đã

giúp cho việc xác định vi khuẩn Mycoplasma gây bệnh phân lập được từ gà mắc

bệnh CRD Việc chế tạo thành công kháng huyết thanh kháng MG, MS trên thỏ, ngoài việc có giá trị lớn về mặt kinh tế, còn giúp cho công tác chẩn đoán bệnh CRD bằng phương pháp ngưng kết nhanh có độ tin cậy cao, có thể áp dụng rộng rãi trong các phòng thí nghiệm

Hoàng Huy Liệu (2002) [25] cho biết, bệnh CRD được Đào Trọng Đạt và cộng tác viên phát hiện ở gà công nghiệp vào năm 1972 Tác giả đã cho biết bệnh CRD có ở tất cả các giống gà nuôi công nghiệp với tỷ lệ mắc bệnh khá cao Tương

tự như vậy, những nghiên cứu sau đó của tác giả Phan Lục và cs (1990 - 1994) đã đưa ra kết luận rằng tất cả các giống gà nuôi tại các xí nghiệp gà ở phía Bắc đều bị

Trang 27

nhiễm MG ở mức độ cao thấp khác nhau, dao động từ 0,82 - 11,97 % trong đó cao nhất là giống Plymouth (11,7 %) và thấp nhất là Lerghorn (0,82 %)

Tác giả Nguyễn Tăng Huy trong nghiên cứu về tình hình nhiễm bệnh CRD trên đàn gà nuôi công nghiệp thuộc các tỉnh Tây Nam Bộ (1996) cũng đưa ra các kết quả là tất cả 8 trại gà nuôi công nghiệp thuộc các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang đã kiểm tra đều nhiễm MG, tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 4,9 - 6,2% (Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung, 2008 [8])

Đào Thị Hảo và cs (2007) [5], tỷ lệ nhiễm ở đàn gà nuôi tập trung tương đối cao từ 12,7 - 50% tùy vào từng lứa tuổi

Theo Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2001) [15], nguyên nhân gây bệnh:

Bệnh CRD là do Mycoplasma galisepticum gây ra Tỷ lệ nhiễm bệnh: Miền Bắc là

51,6% ở gà thương phẩm, còn gà giống là 10%, tỷ lệ đẻ trứng giảm 20 - 30% khi gà mắc bệnh

Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [8] cho biết, bệnh CRD có thể làm giảm tỷ lệ đẻ trứng xuống tới 30%, giảm tỷ lệ ấp nở tới 14% và giảm trọng lượng của gà thịt thương phẩm tới 16% Ngoài ra bệnh còn kết hợp với các bệnh

khác như: bệnh Newcastle, Viêm phế quản truyền nhiễm, Tụ huyết trùng, bệnh do

E coli… đã gây nên những vụ dịch với tỷ lệ chết cao

Theo Nhữ Văn Thụ và cs (2002) [18], lần đầu tiên đã thiết lập phản ứng PCR lồng dựa trên trình tự gen 16S rARN của MG Với độ nhạy cảm rất cao (có thể phát hiện nồng độ nhỏ hơn một đơn vị khuẩn lạc trong một hản ứng) đó có thể khắc phục được vấn đề chẩn đoán bệnh ở bệnh phẩm và cho phép phát hiện mầm bệnh ở các loại mẫu khác nhau như nền chuồng, nước uống, phôi gà,… mà các phương pháp khác khó hoặc không thể phân biệt được

2.3 Giới thiệu về giống gà và thuốc dùng trong thí nghiệm

2.3.1 Giới thiệu chung về gà Chọi lai (Trống Chọi × Mái Lương Phượng)

2.3.1.1 Gà Lương Phượng

Nguồn gốc gà Lương Phượng: Gà Lương Phượng hoa hay gà Hoa lương Phượng, thường được gọi tắt là gà Lương Phượng do xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp gà thành phố Nam Nịnh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu,

sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài Việt Nam nhập

từ Trung Quốc năm 1997

Trang 28

- Đặc điểm ngoại hình

Gà Lương Phượng có hình dáng bề ngoài gần giống với gà ri của nước ta Lông màu vàng tuyền, vàng đốm đen hoặc đốm hoa Sở dĩ gọi là Lương Phượng hoa vì trong đàn có nhiều màu lông khác nhau, như một vườn hoa Mào, yếm, mặt

và tích tai màu đỏ Gà trống mào đơn, ngực nở, lưng thẳng, lông đuôi vươn cong, chân cao vừa phải gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon

Hình ảnh gà Lương Phượng

- Khả năng sản xuất

Gà trống ở độ tuổi trưởng thành, có khối lượng cơ thể 2.700 g, gà mái đạt khối lựng 2.100 g lúc vào đẻ Gà bắt đầu đẻ vào 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130 gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 65 ngày tuổi đạt 1.500 – 1.600 g Tiêu tốn thức ăn 2,4 – 2,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, nuôi sống trên 95%

Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt (kiểu nuôi công nghiệp), bán công nghiệp (vừa nhốt vừa thả) hoặc nuôi thả vườn, ngoài đồng, trên đồi (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [14]

Trang 29

Chân cao, mình dài, cổ cao, mào màu đỏ tía, cựa sắc và dài (con trống có màu mận chín pha lông đen ở cánh, đuôi, đầu) Tích và dái tai màu đỏ, con mái màu xám (lá chuối khô) hoặc màu vàng điểm đen, mỏ và chân có màu chì, mắt đen có vòng đỏ

Gà trống 1 năm tuổi đạt 2,5 - 3 kg, gà mái 1,8 - 1,9 kg (Theo Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002) [7] Khi trưởng thành gà trống 3 - 4 kg, gà mái 2 - 2,5 kg (Theo Sử

An Ninh và đồng nghiệp - 2003)

Hình ảnh gà Chọi

- Năng suất của giống gà chọi:

Sản lượng trứng 50 - 70 quả/mái/năm, vỏ trứng màu hồng Khối lượng trứng

50 - 55 g/quả Gà có sức khỏe tốt nhưng đẻ ít, khả năng tăng đàn chậm Được người dân nuôi để làm gà chọi trong các cuộc lễ hội Một số địa phương như vùng Hoóc Môn và các tỉnh miền Đông thường cho lai với gà ta để nuôi lấy thịt

2.3.1.3 Gà lai F 1 (Trống Chọi x Mái Lương Phượng)

Gà lai F1 (trống Chọi x mái Lương Phượng) được tạo ra bằng cách dùng gà trống Chọi cho lai với gà mái Lương Phượng, con lai có màu lông nâu vàng xen với lông đen, nhưng màu đen là chủ yếu, da chân màu chì Gà lai F1 (trống Chọi x mái Lương Phượng) thường được nuôi theo phương thức gà đồi, gà vườn, bán chăn thả đến 10 - 12 tuần tuổi thì giết thịt

Gà lai F1 có khả năng thích nghi cao với điều kiện nóng ẩm, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon Thích hợp với phương thức nuôi nhốt, bán nuôi nhốt, chăn thả Gà nuôi 10 tuần tuổi đạt:

- Khối lượng 1,7 - 1,9 kg

- Tiêu tốn thức ăn: 2,3 - 2,5 kg TĂ/1kg tăng KL

Trang 30

- Tỷ lệ nuôi sống: 92 - 97%

Gà lai F1 (Chọi x LP)Nuôi lấy thịt

Hình ảnh gà lai F1 (Chọi x LP)

2.3.2 Giới thiệu chung về thuốc thí nghiệm

2.3.2.1 Giới thiệu chung về thuốc Tylosin

* Dược lực:

Tylosin được chiết suất từ nấm Streptomyces faradiac Tylosin là kháng sinh

thuộc nhóm macrolit,được dùng nhiều trong thú y

Tylosin kiềm hấp thu nhanh chóng vào cơ thể, sau khi tiêm bắp 1 - 2 giờ đậm

độ thuốc trong huyết thanh đạt cao nhất và duy trì trong vòng 1 giờ

Tylosin tartrat sau khi tiêm dưới da đạt đậm độ cao nhất trong huyết thanh sau

30 phút và duy trì khoảng 6 giờ Nếu cho uống đậm độ cao nhất trong huyết thanh

Trang 31

sau 2 - 4 giờ và duy trì trong khoảng 8 – 24 giờ Tylosin bài tiết chủ yếu qua thận, một ít qua mật, phần lớn bài tiết hết sau 8 – 24 giờ

* Tác dụng:

Tylosin có tác dụng diệt vi khuẩn gram (+), không có tác dụng với vi khuẩn

gây bệnh đường ruột Đặc biệt có hiệu lực mạnh với Mycoplasma và Chamydia

* Chỉ định:

Được dùng nhiều trong thú y để chữa các bệnh sau:

- Các bệnh do phẩy khuẩn, E coli, trực khuẩn gây thối loét da thịt, hoại tử, các bệnh do Corynebactenum và do Actinobacilis

- Đặc biệt chỉ định trong các bệnh:

+ Bệnh ho thở mãn tính, truyền nhiễm của lợn (suyễn lợn)

+ Bệnh hô hấp mãn tính của gà (CRD)

+ Bệnh viêm xoang gà tây

+ Bệnh cạn sữa truyền nhiễm của dê, cừu

+ Các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp của dê, cừu, bê, nghé và loài ăn thịt + Bệnh viêm ruột xuất huyết ở lợn (hồng lỵ)

+ Bệnh viêm vú do vi khuẩn gram (+) và do Mycoplasma

+ Bệnh viêm tổ chức liên kết, viêm tai ngoài chó mèo

+ Bệnh thối móng gia súc

+ Bệnh vàng da do xoắn trùng Leptospira của lợn

Liều lượng cho gia cầm: Pha 1 g trong 1 lít nước; Uống liên tục trong 3 - 5 ngày Trộn vào thức ăn tỷ lệ 40 - 100 ppm (4 - 10 g/tấn)

Ngày đăng: 07/12/2016, 15:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Bình (2008), Bệnh quan trọng ở gà và biện pháp phòng trị, Nxb Khoa học Tự Nhiên & Công Nghệ, tr 52, 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh quan trọng ở gà và biện pháp phòng trị
Tác giả: Trần Văn Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học Tự Nhiên & Công Nghệ
Năm: 2008
2. Công ty Vemedim (2009), Bệnh hô hấp trên gà: CRD và tụ huyết trùng, Thông tin kỹ thuật, chuyên đề tháng 11/2009: Bệnh gia cầm, tr 10 – 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin kỹ thuật, chuyên đề tháng 11/2009
Tác giả: Công ty Vemedim
Năm: 2009
3. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty (2007), Vi sinh vật hoc, Nxb Giáo dục, tr 44, 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật hoc
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
4. Trần Thị Hạnh, Tô Thị Phấn (2004), 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị, Nxb Nông nghiệp, tr 29 – 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị
Tác giả: Trần Thị Hạnh, Tô Thị Phấn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
5. Đào Thị Hảo, Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Đỗ Ngọc Thúy, Nguyễn Xuân Huyên (2007), “Chế kháng huyết thanh tối miễn dịch qua thỏ dể xác định vi khuẩn gây bệnh CRD ở gà”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 14 số 3 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế kháng huyết thanh tối miễn dịch qua thỏ dể xác định vi khuẩn gây bệnh CRD ở gà”," Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Đào Thị Hảo, Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Đỗ Ngọc Thúy, Nguyễn Xuân Huyên
Năm: 2007
6. Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Quốc Doanh, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Thành, Chu Đình Tới (2008), Vi sinh vật bệnh truyền nhiễm vật nuôi, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 223 – 229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật bệnh truyền nhiễm vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Quốc Doanh, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Thành, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
7. Hội chăn nuôi Việt Nam (2002), Cẩm nang chăn nuôi gia súc – gia cầm, Nxb Nông nghiệp, tập 2 trang 141 – 142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia súc – gia cầm
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung, (2002), Một số bệnh mới do vi khuẩn và Mycoplasma ở gia súc, gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp tr 109 – 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh mới do vi khuẩn và Mycoplasma ở gia súc, gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp tr 109 – 129
Năm: 2002
9. Lê Hồng Mận, (2003), Hướng dẫn kĩ thuật chăn nuôi gà công nghiệp, Nxb Lao động xã hội, tr 146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kĩ thuật chăn nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2003
10. Lê Văn Năm, (2003), Hướng dẫn điều trị các bệnh ghép phức tạp ở gà, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh ghép phức tạp ở gà
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
11. Nguyễn Thanh Sơn, Lê Hồng Mận, (2004), Kỹ thuật nuôi gà ri và gà pha ri, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi gà ri và gà pha ri
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn, Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
12. Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Thị Hiền (2007), Vi sinh vật học nông nghiệp, Nxb Đại học sư phạm, tr 75 – 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2007
13. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan, (2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
14. Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ (2015), Giáo trình chăn nuôi cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi cầm
Tác giả: Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2015
15. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu, (2001), Bệnh gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia cầm
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
16. Ansari A. A., Taylo R. F. & Chang T. S. (1983), “Application of emzyme – linked immunosorbent assay for detecting antibody to Mycoplasma galliseptycum infection in poultry”, Avian Diseases, 27, pp. 21 – 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Application of emzyme – linked immunosorbent assay for detecting antibody to "Mycoplasma galliseptycum" infection in poultry”, "Avian Diseases
Tác giả: Ansari A. A., Taylo R. F. & Chang T. S
Năm: 1983
17. Kojima A., Takahashi T., Kijima M., Ogikubo Y., Nishimura M., Nishimura S., Harasawa R., Tamura Y., (1997), Detection of Mycoplasma in anvian live vacxin by polymerase chain reaction. Biologicals, 25 (4): pp. 365 – 371 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Detection of Mycoplasma in anvian live vacxin by polymerase chain reaction
Tác giả: Kojima A., Takahashi T., Kijima M., Ogikubo Y., Nishimura M., Nishimura S., Harasawa R., Tamura Y
Năm: 1997
18. Nhu Van Thu, Le Thi Thuy, J. Spergser, R. Rosengarten (2002), PCR – Based Detection of Avian Mycoplasma in the Respiratory Tract of Vietnamese Chicken.14 th Internation IOM congress, 7-12/7/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PCR – Based Detection of Avian Mycoplasma in the Respiratory Tract of Vietnamese Chicken
Tác giả: Nhu Van Thu, Le Thi Thuy, J. Spergser, R. Rosengarten
Năm: 2002
19. Woese C.R, Maniloff J. Zablen L.B. (1980) Phylogenetic analysis of the Mycoplasma. Proc. Natl. Acad. Sci USA. 77(1): pp. 494 – 498 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phylogenetic analysis of the Mycoplasma
20. Yogev D., Lesvisohn S., Kleven S.H., Halachmi D., Razin S.(1988).Ribosomeal RNA gene robes to detect intraspecies heterogeneity in Mycoplasma gallisepticum and Mycoplasma Synoviea. Avian Dis. 32(2): pp. 220 - 231.III. Tài liệu từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mycoplasma gallisepticum" and "Mycoplasma Synoviea
Tác giả: Yogev D., Lesvisohn S., Kleven S.H., Halachmi D., Razin S
Năm: 1988

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh gà Lương Phượng - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
nh ảnh gà Lương Phượng (Trang 28)
Hình ảnh gà Chọi - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
nh ảnh gà Chọi (Trang 29)
Hình ảnh gà lai F 1  (Chọi x LP) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
nh ảnh gà lai F 1 (Chọi x LP) (Trang 30)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 32)
Bảng 4.2. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Bảng 4.2. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) (Trang 41)
Bảng 4.3. Tỷ lệ nhiễm bệnh CRD của gà thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Bảng 4.3. Tỷ lệ nhiễm bệnh CRD của gà thí nghiệm (Trang 42)
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm bệnh CRD của gà thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm bệnh CRD của gà thí nghiệm (Trang 43)
Bảng 4.4. Biểu hiện bệnh tích của gà bị nhiễm CRD - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Bảng 4.4. Biểu hiện bệnh tích của gà bị nhiễm CRD (Trang 45)
Bảng 4.7. So sánh ảnh hưởng của mùa vụ đến hiệu quả điều trị bệnh - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Bảng 4.7. So sánh ảnh hưởng của mùa vụ đến hiệu quả điều trị bệnh (Trang 49)
Hình 4.2. Biểu đồ hiệu lực điều trị bệnh CRD của thuốc Tylosin  4.2.6. Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Hình 4.2. Biểu đồ hiệu lực điều trị bệnh CRD của thuốc Tylosin 4.2.6. Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị (Trang 50)
Bảng 4.8. Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Bảng 4.8. Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị (Trang 50)
Bảng  4.9. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
ng 4.9. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g) (Trang 51)
Hình 4.3. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Hình 4.3. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm (Trang 52)
Hình 4.4. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
Hình 4.4. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w