Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi .... Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi .... Nó được nuôi với nhiều hình thức khác nhau nuôi gia đình, nuôi t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGÔ THỊ THU HÀ
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH GIUN ĐŨA Ở LỢN TẠI MỘT SỐ XÃ
THUỘC HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính qui Chuyên ngành: Thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học: 2011-2015
Thái Nguyên, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGÔ THỊ THU HÀ
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH GIUN ĐŨA Ở LỢN TẠI MỘT SỐ XÃ
THUỘC HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính qui Chuyên ngành: Thú y
Trang 3Trong quá trình thực hiện đề tài, được sự giúp đỡ và chỉ bảo ân cần của các thầy cô trong trường, khoa Chăn nuôi Thú y; Ban lãnh đạo và toàn thể cán
bộ Trạm thú y huyện Đại Từ
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Nhà trường, khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dìu dắt và dạy dỗ
em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập Đặc biệt
em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Phạm Diệu Thùy và ThS Đỗ Thị Lan Phương đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận này
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ Trạm thú y huyện Đại Từ đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở
Một lần nữa, em xin kính chúc toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y sức khỏe và thành đạt
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Ngô Thị Thu Hà
Trang 4ii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Kết quả công tác tiêm phòng của huyện Đại Từ vụ Thu – Đông 22
Bảng 4.2 Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 24
Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc huyện Đại Từ - Thái Nguyên 25
Bảng 4.4 Tỷ Lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo lứa tuổi 29
Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tính biệt 31
Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo giống lợn 32
Bảng 4.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo các tháng trong năm 34
Bảng 4.8 Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi 36
Bảng 4.9 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 38
Bảng 4.10 Các biểu hiện lâm sàng khi lợn bị nhiễm giun đũa lợn 40
Bảng 4.11 Hiệu lực tẩy của 2 loại thuốc Ivermectin và Levamisol (10%) 41
Trang 5Thái Nguyên 33 Hình 4.5 Tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn theo các tháng trong năm tại 3 xã thuộc huyện
Đại Từ tỉnh Thái Nguyên 35 Hình 4.6 Tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi tại 3 xã thuộc
huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên 37 Hình 4.7 Tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y tại 3 xã thuộc
huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên 39
Trang 7v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun đũa lợn 3
2.1.2 Chu kỳ phát triển của giun đũa lợn 3
2.1.3 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa lợn 5
2.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm của bệnh giun đũa lợn 6
2.1.5 Cơ chế phát sinh bệnh của bệnh giun đũa lợn 7
2.1.6 Tác hại của bệnh giun đũa lợn 8
2.1.7 Triệu chứng, bệnh tích của lợn bị bệnh giun đũa 8
2.1.8 Chẩn đoán bệnh giun đũa lợn 9
2.1.9 Biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa lợn 10
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 11
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 11
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 13
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 15
Trang 8vi
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
3.3 Nội dung nghiên cứu 15
3.3.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 15
3.3.2 Áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa lợn 15
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 15
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 20
4.1.1 Nội dung 20
4.1.2 Phương pháp tiến hành 20
4.1.3 Kết quả phục vụ sản xuất 21
4.1.4 Kết luận, tồn tại và đề nghị 24
4.2 Kết quả nghiên cứu 25
4.2.1 Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo địa phương 25
4.2.2 Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo lứa tuổi 28
4.2.3 Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo tính biệt 31
4.2.4 Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo giống lợn 32
4.2.5 Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo các tháng trong năm 34
4.2.6 Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi 36
4.2.7 Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 38
4.2.8 Các biểu hiện lâm sàng khi lợn bị nhiễm giun đũa 40
4.2.9 Hiệu lực của 2 loại thuốc Ivermectin và Levamisol (10%) 40
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 91
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Đất nước trong thời kỳ hội nhập đòi hỏi các chủ thể kinh tế, các ngành,
cá thành phần kinh tế không ngừng phát triển để tạo chỗ đứng của mình trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế Trong xu thế chung đó đòi hỏi ngành chăn nuôi không ngừng học hỏi, trao dồi kinh nghiệm để tạo sản phẩm
có chất lượng cao cung cấp cho người dùng trong nước và quốc tế Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Chăn nuôi Việt Nam nói riêng những mặt thuận lợi đồng thời cũng gặp không ít khó khăn
Việt Nam đang trên đà phát triển nhưng với đặc thù là một nước đi lên
từ sản xuất nông nghiệp, với hơn 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, vói nhiều ngành nghề khác nhau Trong đó đã và đang nâng dần tỷ trọng của mình trong nông nghiệp Ngành chăn nuôi đã cung cấp những sản phẩm cho người tiêu dùng như: thịt, trứng, sữa, Ngoài ra nó còn
là nguyên liệu để sản xuất phân bón, thức ăn gia súc và các sản phẩm khác
Lợn là loài được nuôi nhiều nhất ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng Nó được nuôi với nhiều hình thức khác nhau (nuôi gia đình, nuôi tập trung), tuy nhiên trong thực tế nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn, làm thế nào để đàn lợn khỏi bị bệnh, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun đũa lợn nói riêng?
Hiện nay mạng lưới thú y cơ sở ngày càng củng cố nhưng công tác khuyến nông tẩy giun sán cho lợn chưa được chú trọng do hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu tập trung đã gây khó khăn cho công tác của cán bộ thú y cơ
sở, chính vì vậy mà tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa lợn khá cao
Trang 102
Tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đại Từ nói riêng có điều kiện cho việc phát triển chăn nuôi lợn, nhưng người chăn nuôi chưa quan tâm đến công tác phòng trị bệnh do giun sán gây ra, vì vậy đã gây thiệt hại lớn về kinh
tế, dẫn đến người chăn nuôi không yên tâm phát triển rộng chăn nuôi
Từ nhận thức trên, để hiểu rõ hơn và giải quyết vấn đề mà thực tế đề
ra, đồng thời bước đầu đánh giá hiệu quả sử dụng của một số loại thuốc ký sinh trùng hiện nay Được sự đồng ý của bộ môn Thú y – khoa Chăn nuôi thú
y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài:
“Tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và áp dụng biện pháp phòng chống”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp thông tin mới về bệnh giun đũa lợn
- Đề xuất các phương pháp phòng và trị bệnh giun đũa lợn hiệu quả
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Nắm được tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, từ đó đưa ra biện pháp phòng trị bệnh đạt hiệu quả
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin về tình hình nhiễm giun đũa lợn theo vùng sinh thái, độ tuổi, tính biệt, giống, các tháng trong năm, phương thức chăn nuôi và biện pháp phòng chống
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun đũa lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra Góp phần nâng cao năng suất ngành chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển, nâng cao sức khỏe con người
Trang 113
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun đũa lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7] thì bệnh giun đũa lợn là một bệnh phổ biến ở nước ta lợn mắc giun đũa chủ yếu từ 2 – 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần Ở lợn dưới hai tháng tuổi tỷ lệ nhiễm thấp Bệnh do loài
giun Ascaris suum gây nên, giun ký sinh ở ruột non của lợn nhà và lợn rừng
Giun đũa lợn màu trắng sữa, hình ống hai đầu hơi nhọn Đầu có 3 môi bao quanh miệng (1 môi ở phía lưng, 2 môi ở phía bụng), trên rìa môi có một hàm răng cửa rất rõ
Giun đực dài 12 – 22 cm, đường kính 2,7 – 3 mm, đuôi cong về phía bụng, có 2 gai giao hợp bằng nhau (1,2 – 2 mm), không có túi giao hợp Giun cái dài 29 – 35 cm, đường kính 4 – 5 mm, đuôi thẳng Trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước 0,056 – 0,087 x 0,046 – 0,067 mm, vỏ dày gồm
4 lớp, lớp ngoài cùng là màng protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng
2.1.2 Chu kỳ phát triển của giun đũa lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7] cho biết: giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian, giun cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng, trung bình mỗi giun cái đẻ 27 triệu trứng (Cram, 1925) Trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ 240C và độ ẩm thích hợp, sau 2 tuần trong trứng có phôi thai, 1 tuần sau thì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải trứng này
Trang 124
thì ấu trùng kỳ I nở ở ruột, chui vào mạch máu và niêm mạc, theo máu về gan Một số ít chui vào ống lâm ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột rồi vào gan, lột xác thành ấu trùng kỳ II Sau khi nhiễm 4 – 5 ngày thì hầu hết
ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ, muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng vào phổi Khi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III,
ấu trùng từ mạch máu phổi chui vào phế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch, ấu trùng lên hầu rồi chui xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành Thời gian ấu trùng di hành là 2 – 3 tuần Trong khi
di hành một ấu trùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não,… thời gian hoàn thành vòng đời cần 54 – 62 ngày
Giun đũa sống bằng dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân Tuổi thọ của giun đũa không quá 7 – 10 ngày Nhưng nếu điều kiện sống bất lợi (như
ký chủ sốt cao…) thì tuổi thọ giun ngắn hơn
Sơ đồ vòng đời của giun đũa ký sinh trong ruột lợn
Giun Ascaris suum
(Ký sinh ở ruột non) Trứng
Trang 135
2.1.3 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa lợn
Trứng giun đũa lợn có sức đề kháng cao với môi trường ngoại cảnh do
có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên trứng sống được từ 1 – 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hóa học (như focmol 2%, creolin 3%,
H2SO4 10%, NaOH 2% )
Ở nhiệt độ 45 –500
C trứng chết trong nửa giờ, nước nóng 600C diệt trứng trong 5 phút, nước nóng 700C chỉ cần 10 giây trứng chết Vì vậy, ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa
- Biến động nhiễm theo tuổi: Lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa tuổi từ 2 –7 tháng tuổi sau đó giảm dần
- Đường truyền bệnh: bệnh truyền chủ yếu qua đường miệng Lợn liếm dụng cụ, máng ăn, nền chuồng, đất ở bãi chăn có nhiễm trứng giun đũa nên trứng dễ xâm nhập vào đường tiêu hóa Khi bón phân tươi cho ruộng trồng cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được vài tháng ở đất và cây thức ăn Lợn con nhiễm bệnh do lúc bú nuốt phải trứng giun ở đầu vú mẹ
- Phân bố: bệnh lây nhiễm quanh năm ở các cơ sở chăn nuôi có điều kiện vệ sinh kém và môi trường bị ô nhiễm Bệnh phân bố ở tất cả các vùng núi, trung du và đồng bằng
- Mối liên quan giữa giun đũa người (Ascaris lumbricoides) và giun đũa lợn (Ascaris suum): Trong nhiều năm gần đây, đã có nhiều tranh luận về
hai loài này là khác hay cùng một loài Người ta đã gây nhiễm nhân tạo, thấy giun đũa người có thể nhiễm cho lợn và trứng giun đũa lợn có thể nhiễm cho người Hiraishi (1928) và Boer (1935) đã gây nhiễm được trứng giun đũa người cho lợn khi lợn ăn thức ăn thiếu Vitamin A Soulsby (1961) cũng gây nhiễm được trứng giun đũa người cho lợn con mới đẻ không được bú sữa đầu Takate (1951) lấy trứng giun đũa lợn gây nhiễm cho 19 người lớn thì có 7 người bị nhiễm Xét về mặt dịch tễ, ở một khu vực lợn bị nhiễm với tỷ lệ rất cao nhưng người nhiễm không cao, hoặc người nhiễm với tỷ lệ cao nhưng lợn nhiễm không cao chứng tỏ chúng khác loài và không có liên quan trực tiếp
Trang 146
2.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm của bệnh giun đũa lợn
Theo Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997) [3], bệnh giun đũa lợn phân bố rộng rãi khắp mọi nơi, ở mọi vùng và mọi giống lợn Lợn chăn nuôi theo hướng công nghiệp nhiễm thấp hơn so với lợn chăn nuôi gia đình, tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn ở các vùng khác nhau như sau:
Miền Bắc tỷ lệ nhiễm bệnh này dao động 13 – 14 % (Phạm Văn Khuê, Trịnh Văn Thịnh (1982) [5])
Năm 1978, Phạm Văn Khuê, Phan Lục điều tra 1055 lợn tại 67 tỉnh Nam Bộ cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 31,04%, trong đó lợn 3 tỉnh miền Đông nhiễm 40% cao hơn ở 3 tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long là 23%
Năm 1995, Lương Văn Huấn mổ khám 891 lợn thuộc 4 lứa tuổi và khảo sát 5044 lợn lớn thuộc 12 tỉnh thành phía Nam cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn 53% Cụ Thể:
Trang 152.1.5 Cơ chế phát sinh bệnh của bệnh giun đũa lợn
Trứng giun đũa lợn sau khi xâm nhập vào cơ thể ở thời kỳ ấu trùng hay trưởng thành đều gây bệnh Do ấu trùng di hành gây tổn thương nhiều khí quan và mở đường cho nhiều vi khuẩn xâm nhập gây bệnh kế phát như xuất huyết và thoái hóa gan, gây viêm phổi, nhiều khí quan khác cũng bị tổn thương
Theo Anderdahl (1997) [1], nếu cho lợn khỏe nuốt trứng giun đũa, sau
5 ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích ở phổi rộng gấp 10 lần so với lợn chỉ bị suyễn Khi ấu trùng theo máu vào gan và dừng lại ở mạch máu gây lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây hoại tử tế bào gan
Khi ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển đến tế bào gây vỡ mạch máu,
ở phổi có nhiều điểm xuất huyết, phổi bị viêm, triệu chứng viêm phổi có thể kéo dai 5 – 14 ngày có khi làm con vật chết Khi giun trưởng thành thì gây loét niêm mạc ruột non, lợn có triệu chứng đau bụng, khi số lượng giun nhiều
sẽ gây tắc và thủng ruột, có khi giun chui vào ống mật làm tắc ống dẫn mật gây hiện tượng hoàng đản
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], giun đũa tiết độc tố gây nhiễm độc thần kinh trung ương và mạch máu, con vật có triệu chứng thần
Trang 168
kinh (tê liệt hoặc hưng phấn) Giun lấy dinh dưỡng của ký chủ, thải cặn bã gây độc cho ký chủ Kết quả làm cho ký chủ gầy còm, chậm lớn
2.1.6 Tác hại của bệnh giun đũa lợn
Khi ấu trùng di hành qua phổi gây viêm phổi, xuất huyết Ấu trùng gây những điểm hoại tử xuất huyết ở gan kích thước khoảng 1cm và có nhiều sợi Fibrin Ấu trùng cũng gây tổn thương và làm rách các mao mạch, phế nang làm cho bệnh suyễn nặng hơn Đồng thời ấu trùng còn mang vi khuẩn
Escherichia coli vào trong máu
Giun trưởng thành ký sinh ở ruột làm viêm cơ ruột, gây loét ruột Lấy các chất dinh dưỡng của quá trình trao đổi chất gây còi cọc, chậm lớn, gấy tắc ruột, thủng ruột Giun sử dụng nhiều Ca2+ làm cho lợn co giật, mềm xương, còi xương Khi di hành qua ống mật gây vỡ ống mật
2.1.7 Triệu chứng, bệnh tích của lợn bị bệnh giun đũa
* Triệu chứng
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [25], khi lợn nhiễm ít giun, triệu chứng không rõ ràng Bệnh giun đũa thường biểu hiện rõ ở những lợn nuôi thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin, nhiễm nhiều giun
Phạm Sỹ Lăng và cs (2007) cho biết: bệnh giun đũa thường có triệu chứng rõ rệt và tác hại nhiều ở lợn 2 – 4 tháng tuổi
Giun ký sinh trong ruột non của lợn, lấy chất dinh dưỡng từ ký chủ, tiết độc tố Lợn trưởng thành biểu hiện lâm sàng không rõ, phần nhiều mang giun đũa, trở thành nguồn reo rắc mầm bệnh: gầy, chậm lớn, sút cân, rối loạn tiêu hóa Từ đó con vật gầy yếu suy nhược, còi cọc, thiếu máu Lúc này bệnh hay thể hiện ở thể mãn tính
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], khi ấu trùng ở phổi gây viêm phổi (thân nhiệt cao, kém ăn, hô hấp nhanh, ho) Khi nhiều giun thì làm tắc, thủng ruột, đau bụng Một số con có triệu chứng thần kinh, nổi mẩn Lợn lớn thì triệu chứng không rõ
Trang 17Mổ khám lợn bị nhiễm giun đũa nặng thấy ruột có nhiều giun, niêm mạc ruột
có tổn thương và tăng sinh Nếu viêm cata thứ phát sẽ thấy niêm mạc dạ dày, ruột có tụ huyết từng đám, đôi khi có vết loét
2.1.8 Chẩn đoán bệnh giun đũa lợn
+ Lợn dưới 2 tháng tuổi: Lợn con theo mẹ nếu có giun, thì giun chưa có trứng (54 – 62 ngày giun mới đẻ trứng) Bởi vậy nếu muốn chẩn đoán bệnh,
có thể mổ khám rồi tìm ấu trùng ở phổi và gan
+ Đối với lợn trên 2 tháng tuổi: kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng, mổ khám để tìm trứng, mổ khám để tìm giun tròn ở ruột non Có thể dùng phản ứng biến thái nội bì (dùng kháng nguyên pha loãng với
tỷ lệ 1/200 tiêm nội bì vành ngoài tai hoặc nhỏ vào xoang kết mạc mắt)
+ Đối với lợn chết: Mổ khám để tìm giun trưởng thành, ấu trùng, và kiểm tra bệnh tích
Trang 18- Diệt căn bệnh ngoài cơ thể lợn: Trứng giun đũa phân tán ra ngoài là nguyên nhân chính làm bệnh lan tràn, để diệt trứng ta cần thực hiện các biện pháp sau:
+Vệ sinh chuồng, dụng cụ thiết bị sạch sẽ, không sử dụng chung các dụng cụ chăn nuôi khi chưa được khử trùng Cơ sở chăn nuôi phải xây dựng nơi cao ráo, có nhiều ánh nắng mặt trời Chuồng trại vào các tháng mưa phùn
và lạnh phải khô, thoáng nhưng lại ấm cho lợn con
+ Phân lợn tập trung đem ủ nhiệt sinh vật để diệt trứng và chống ô nhiễm, hoặc ủ phân Biogas
+ Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt
+ Chú ý khi lợn nái trong thời kỳ tiết sữa có thể truyền cho con
2.1.9.2 Điều trị
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], cho biết có thể dùng một trong các loại hóa dược sau đây để tẩy giun đũa cho lợn:
- Natri fluorat (NaF): 0,1g/kgTT Cho lợn nhịn ăn 12 giờ, trộn thuốc
với một số loại thức ăn ngon, sau khi uống thuốc cho lợn nhịn ăn 8 giờ nữa Không cho lợn ăn quá 8g thuốc vì dễ trúng độc (chảy nước bọt, run rẩy) Hiệu quả đạt 70 – 80 %
- Silico fluorat natri (Na 2 SiF 6): Không cần nhịn ăn trước và sau khi cho thuốc Trộn lẫn với thức ăn ngon cho lợn ăn hết liều Hiệu quả đạt 75 – 100%
Lợn 4 – 6 kg: 1,2g chia đều cho mỗi bữa 0,2g
Lợn 7 – 20 kg: 1,8g chia đều cho mỗi bữa 0,3g
Lợn 20 – 40 kg: 3,0g chia đều cho mỗi bữa 0,5g
Trang 1911
- Piperazin hydrat: 250mg/kgTT Trộn thuốc vào thức ăn ngon cho lợn
hoặc pha nước uống nếu lợn trúng độc thì dùng Atropin để giải độc
- Piperrazin citrat: 150mg/kgTT Trộn vào thức ăn
- Mebenvet: 0,2g/kgTT Trộn vào thức ăn
- Levanmisol: 6- 6,5 mg/kgTT Tiêm bắp
- Những thuốc nam thường dùng để chữa bệnh giun sán là:
+ Hạt cau 5 – 10g tùy theo lợn lớn nhỏ
+ Sử quân tử (bột) 20g
+ Vỏ rễ xoan: 20g, cạo sạch vỏ ngoài, thái mỏng ngâm vào nước trong, để cách đêm, sang hôm sau gạn lấy nước, hòa thêm bột diêm sinh 10g cho lợn uống lúc đói Cho uống 3 sáng liền Liều này dùng cho lợn nặng trên 20kg
+ Lá đu đủ tươi 200g, thái nhỏ, trộn với 15 – 20 kg cám, ăn vào buổi sáng, sau khi ăn cho lợn nhịn ăn 1 bữa
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006), có thể tẩy giun đũa cho lợn bằng một trong các hóa dược sau:
- Febetel: 20mg/kgTT Cho uống
- Mebendazol: 5mg/kgTT Cho uống
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], bệnh giun đũa lợn là một bệnh phổ biến ở nước ta, lợn mắc bệnh chủ yếu 2 – 7 tháng tuổi, sau đó giảm
dần Ở lợn dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm thấp, bệnh do loài giun đũa Ascaris suum gây nên, giun ký sinh ở lợn rừng và lợn nhà
Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [20] cho biết, trứng giun đũa lợn có khả năng sống rất lâu từ 11 – 24 tháng vì trứng có sức đề kháng rất mạnh với
Trang 2012
tất cả các hóa chất (kiềm, axit), chống đỡ kém với thời tiết khô ráo và ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Tuổi thọ của giun đũa lợn khoảng 7 – 10 tháng Hết tuổi thọ giun đũa theo phân ra ngoài Gặp điều kiện không thuận lợi (con vật bị bệnh truyền nhiễm, sốt cao…) thì tuổi thọ của giun đũa ngắn lại Số lượng giun đũa có thể vài con đến hàng nghìn con trên một cơ thể lợn
Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [26] cho rằng bệnh giun đũa lợn có thể truyền qua người nhưng hiếm thấy Tuy nhiên bệnh giun đũa lợn do ấu trùng trên người không phải do giun trưởng thành thì khá nhiều, gây nên các phản ứng tăng dị ứng và hội chứng Loeffer Những người có thể trạng suy nhược, thiếu dinh dưỡng, suy giãm miễn dịch mắc bệnh giun đũa lợn do nuốt phải đất hay thực vật nhiễm trúng giun đũa lợn chứa ấu trùng Chu kỳ phát triển của giun đũa trên người cũng giống như ở lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) [12] cho biết, trứng giun đũa lợn
có thể sống rất lâu ngoài ngoại cảnh từ 11 tháng đến 5 năm và tuổi thọ của giun đũa khoảng 7 – 10 tháng, hết tuổi thọ giun đũa sẽ theo phân lợn ra ngoài môi trường
Theo Phạm Thế Việt và cs (1997) [27], đã nghiên cứu thành phân, đặc tính giun sán ký sinh ở Nam Bộ cho thấy giun sán ký sinh ở lợn lag 21 loài,
và biết tình hình nhiễm giun sán ở lợn 2 miền Nam Bắc có những điều kiện khác nhau
Nguyễn Xuân Bình (2005) [2] thì biện pháp phòng và trị bệnh giun đũa đối với lợn con từ sơ sinh đến 2,5 tháng tuổi phải tẩy giun một lần Sau 2 – 3 tháng phải tẩy giun lần 2 Nếu để nái phải tẩy giun lần 3 trước khi phổi giống
Bùi Lập và cs (1996) [15]đã xác định, tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun đũa lợn tăng dần từ miền núi đến trung du rồi đến đồng bằng Vùng núi
tỷ lệ nhiễm là 21,44%, trung du 40,1%, đồng bằng là 50,7%
Theo Đoàn Văn Phúc (2005) [18], người ta đã thí nghiệm 7 con lợn nuốt trứng giun đũa người, qua 66 ngày theo dõi tác giả cho thấy: Với liều
Trang 2113
10.000 trứng có ấu trùng, lợn không có triệu chứng dấu hiệu khác thường Kết quả mổ khám 2 lợn và xét nghiệm phân của 7 lợn thì không thấy giun đũa và trứng giun đũa người Điều này cho thấy lợn không bị nhiễm giun đũa người
Lê Thị Tài và cs (2002) [19] đã đưa ra phương pháp điều trị giun đũa bằng thuốc nam: Vỏ xoan cho vào nước đun sôi, cô đặc thành cao mềm, sau
đó triết cao bằng cồn Etylic, thu hồi cồn được nhựa màu vàng nâu, vị đắng, mùi hăng, thuốc có tác dụng làm chết giun trong vòng 30 phút
Trịnh Văn Thịnh và Dương Công Thuận (1987) [23] điều tra bằng cách xét nghiệm phân lợn ở 10 địa điểm khác nhau trong những điều kiện nuôi khác nhau trên 2.200 lợn cho biết, tỷ lệ nhiễm giun đũa là 56%, tuổi của lợn
bị nhiễm nặng nhất ở 2 – 6 tháng tuổi, trên một tỷ lệ nhiễm 49,0 – 65,9% riêng tỷ lệ nhiễm ở tuổi này là 38,3 – 54,9%
Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997) [3], bệnh giun đũa lợn phân
bố rộng rãi khắp mọi nơi, ở mọi vùng và mọi giống lợn Lợn chăn nuôi theo hướng công nghiệp nhiễm thấp hơn so với lợn chăn nuôi gia đình, tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn ở các vùng khác nhau
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Theo Anderdahl (1997) [1] nếu cho lợn nhiễm trứng giun đũa, sau 5 ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích gây ra ở phổi rộng gấp 10 lần so với lợn chỉ nhiễm bệnh suyễn
E.A.Miaxunikova (1997) [17] đã chứng minh hiệu quả thụt formalin 0,5 với liều 200ml cho lợn nặng 120 – 140 kg Chữa bằng formalin nên tiến hành ở chỗ nhốt đặc biệt, nền chuồng nghiêng 300 – 400, đầu lợn thấp hơn phần thân sau, như vậy thuốc được ngấm nhiều nhất trong ruột, tức ngấm nhiều nhất chỗ giun sán ký sinh
Johanes Kaufmna (1996) cho biết, sự lây nhiễm giun đũa cho lợn con
có thể được ngăn chặn bằng cách điều trị cho lợn mẹ trước khi đẻ
Trang 2214
Bezimidazle, Febatel và Levamisol có tác dụng hữu hiệu để chống lại sự lây nhiễm Ivermectin (0,03 ml/kg TT) dùng cho lợn trưởng thành, dùng trước khi
đẻ 1 – 2 tuần có thể kiểm soát được sự lây nhiễm cho lợn con sau khi sinh
Assen (1958) cho rằng tuổi thọ của giun đũa là 55 tuần
Miaxunikova E.A và Agrinzonxki P.A (1993) chứng minh, lợn con ba tháng tuổi mắc bệnh giun đũa tăng trọng không bằng 1/3 lợn khỏe
Trang 2315
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Lợn nuôi tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Bệnh giun đũa ở lợn
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Trạm thú y huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Phòng thí nghiệm khoa Chăn nuôi Thú Y – Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Thời gian: Từ 18/05/2015 đến 18/11/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn tại các địa phương
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo độ tuổi
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo tính biệt
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo giống lợn
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo các tháng trong năm
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y
- Các biểu hiện lâm sàng khi lợn bị nhiễm giun đũa
3.3.2 Áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa lợn
- Hiệu lực của 2 loại thuốc Ivermectin và Levamisol (10%)
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
Động vật nghiên cứu:
- Lợn ở các địa phương (lấy mẫu và thu thập trứng và giun đũa ở lợn)
Trang 24- Lọ đựng mẫu trứng và giun đũa ở lợn
- Lọ đựng dung dịch bảo quản
- Nước muối bão hòa
- Kính hiển vi, cốc thủy tinh, đũa thủy tinh, lưới thép, phiến kính…
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lấy mẫu
Tiến hành điều tra ngẫu nhiên trên các đàn lợn nuôi tại một số xã thuộc huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên, trực tiếp điều tra lấy mẫu, chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm ở phòng thí nghiệm
Mẫu phân: Lấy mẫu phân vừa thải ra của lợn các lứa tuổi ở một số xã thuộc huyện Đại Từ (20 – 30g/mẫu) Để mẫu phân vào túi nilon sạch,buộc chặt túi nilon và ghi đầy đủ các thông tin (địa điểm, độ tuổi, giống lợn, tính biệt, phương thức chăn nuôi…) của từng con trên túi nilon Mẫu được xét nghiệm trong ngày
Phiếu thông tin lấy mẫu
Mẫu số:……….ngày………tháng……… Xã:……… Tính biệt:………Giống ……… Tuổi:……… Tình trạng vệ sinh:……… Phương thức chăn nuôi:……… Trạng thái phân:………
Trang 2517
Phương pháp xét nghiệm phân tìm trứng giun đũa
Tiến hành theo phương pháp phù nổi Fulleborn:
- Mục đích: Tìm trứng giun đũa
- Nguyên lý: Dựa vào tỷ trọng của nước muối bão hòa lớn hơn tỷ trọng của trứng giun đũa làm cho trứng giun đũa nổi lên trên bề mặt của dung dịch nước muối bão hòa
- Cách pha nước muối bão hòa: Đun nước sôi, cho từ từ muối ăn vào, khuấy đều cho đến khi muối không tan được nữa Dùng bông hoặc vải màn lọc bỏ cặn sẽ thu được dung dịch muối bão hòa
+ Cách tiến hành: Lấy mẫu phân cần kiểm tra cho vào một cốc thủy tinh có dung tích 100 – 150 ml Sau đó đổ nước muối bão hòa vào (khoảng 40 – 50 ml), vừa đổ vừa dùng đũa thủy tinh nghiền nát phân trong dung dịch Khuấy cho phân tan kỹ, sau đó lọc qua lưới thép để lọc bỏ cặn thô Lấy dung dịch đó cho vào các lọ penicillin, đổ đến khi gần đầy miệng lọ, tránh làm tràn
ra ngoài, rồi đặt phiến kính sạch lên lọ sao cho tiếp xúc với mặt dung dịch, để khoảng 30 phút thì lấy phiến kính ra soi dưới kính hiển vi quang học để tìm trứng giun đũa
Phương pháp đánh giá cường độ cảm nhiễm
Để đánh giá cường độ cảm nhiễm giun đũa chúng tôi tiến hành đếm số trứng trên một vi trường và được quy định như sau
+ Nếu không có trứng giun đũa trong vi trường là âm tính (-)
+ 1 – 2 trứng: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ nhẹ (+)
+ 3 – 4 trứng: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ trung bình (++) +5 – 6 trứng: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ nặng (+++)
+ 7 trứng: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ rất nặng (+++)
Phương pháp đánh giá tình trạng vệ sinh
Trang 2618
+ Tình trạng vệ sinh tốt: Chuồng trại khô ráo, thoáng mát về mùa hè,
ấm áp về mùa đông, có rãnh thoát nước và phân ra khỏi chuồng Thường xuyên dọn phân và cọ rửa, không có hiện tượng lưu phân quá 1 ngày trong chuồng Thức ăn, nước uống sạch sẽ, rau xanh được rửa sạch trước khi cho lợn ăn, thường xuyên cọ rửa máng ăn máng uống, không để tồn thức ăn, nước uống trong máng
+ Tình trạng vệ sinh ở mức trung bình: Không thường xuyên cọ rửa chuồng và dọn phân, có hiện tượng lưu phân 2 – 3 ngày trong chuồng Mỗi tuần rửa máng ăn, máng uống 1 – 2 lần, rau xanh lúc rửa lúc không
+ Tình trạng vệ sinh kém: Chuồng trại không cọ rửa và dọn phân, có hiện tượng lưu phân trong chuồng hàng tuần, máng ăn máng uống không được cọ rửa, rau xanh không được rửa sạch trước khi cho ăn
Phương thức chăn nuôi
- Nuôi theo phương thức nhỏ lẻ (tận dụng): Hộ gia đình chăn nuôi với
số lượng ít, thức ăn cho lợn chủ yếu tận dụng phế phẩm ngành trồng trọt (cám gạo, ngô, khoai, sắn, rau xanh….)
- Nuôi theo phương thức tập trung: Chăn nuôi với số lượng lớn, thức ăn cho lợn là thức ăn tổng hợp hàng ngày, hệ thống chuồng trại khá hiện đại, điều kiện vệ sinh thú y tốt
Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun đũa Chúng tôi sử dụng phương pháp chẩn đoán cơ bản là quan sát những biểu hiện của lợn: Thể trạng, ăn uống, vận động, niêm mạc…
Phương pháp xác định độ an toàn của thuốc điều trị bệnh giun đũa cho lợn
Chúng tôi đã sử dụng hai loại thuốc (Ivermectin và Levamisol) để tẩy cho những lợn bị nhiễm giun đũa Sau khi cho lợn sử dụng thuốc 15 ngày, xét nghiệm lại phân bằng phương pháp Fullerborn Nếu không tìm thấy trứng
Trang 2719 giun đũa lợn trong phân thì xác định thuốc có hiệu lực triệt để với giun đũa Nếu số lượng trứng không giảm đi so với trước khi dùng thuốc hoặc giảm không đáng kể thì xác định thuốc không có hiệu lực tẩy giun
Để xác định độ an toàn của thuốc, tiến hành theo dõi các trạng thái sinh
lý của lợn trước và khi dùng thuốc Các vấn đề theo dõi gồm: ăn uống, đi lại,
da, niêm mạc và các phản ứng phụ khác Nếu không thấy có biểu hiện khác thường thì thuốc an toàn với lợn
Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện (2000)
Các công thức tính:
Tổng số con kiểm tra
Tổng số con nhiễm
Hiệu lực điều trị (%) = Số con có kết quả (-) sau điều trị x 100
Tổng số lợn điều trị
Trang 2820
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Công tác phục vụ sản xuất
4.1.1 Nội dung
* Công tác áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng, tư vấn, phổ biến kiến thức về chăn nuôi cho bà con nông dân
* Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
Tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại
Từ tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng chống
4.1.2 Phương pháp tiến hành
Theo yêu cầu của nội dung thực tập tốt nghiệp trong thời gian thực tập tại cơ sở, bản thân đề ra một số biện pháp thực hiện sau:
- Tìm hiểu kỹ tình hình sản xuất chăn nuôi ở cơ sở thực tập
- Có kế hoạch cụ thể cho bản thân, sắp xếp thời gian biểu, công việc cho hợp lý để thu được kết quả tốt nhất, chính xác nhất
- Tham gia tích cực vào công tác tiêm phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn và một số vật nuôi khác
- Tham gia công tác chuyển giao kỹ thuật cho các hộ sản xuất
- Luôn chấp hành đúng và tham gia các hoạt động tại cơ sở, tiếp thu ý kiến của giáo viên hướng dẫn, tranh thủ thời gian tiếp xúc với thực tế để nâng cao tay nghề, nắm vững kiến thức chuyên ngành hơn