TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC NGUYỄN THỊ NHUNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phươn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ NHUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN
KĨ NĂNG TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
KĨ NĂNG TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ NHUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN
KĨ NĂNG TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
KĨ NĂNG TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Lê Bá Miên
Trang 3Qua đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô trong khoa Ngữ văn, và các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng các thầy cô, tập thể lớp 5A1, 5A2, 5A3, 5A4, 5A5 trường tiểu học Tích Sơn - thành phố Vình Yên - tỉnh Vĩnh Phúc, đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, căn cứ, kết quả có trong khóa luận là trung thực Đề tài này chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
HS : học sinh
GV : giáo viên SGK : sách giáo khoa NXB : nhà xuất bản
TV : Tiếng Việt
T : tập
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc đề tài 5
NỘI DUNG 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Khái niệm đọc 7
1.1.1 Quan niệm đọc 7
1.1.2 Cấp độ đọc 8
1.2 Cơ sở ngôn ngữ của việc đọc 9
1.2.1 Cơ chế của đọc 9
1.2.2 Cơ sở về âm thanh của ngôn ngữ khi đọc 11
1.3 Vị trí và nhiệm vụ phân môn Tập đọc ở lớp 5 15
1.3.1 Vị trí phân môn Tập đọc 15
1.3.2 Nhiệm vụ phân môn Tập đọc 16
1.3.3 Ý nghĩa của dạy Tập đọc 17
Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC TẬP ĐỌC Ở LỚP 5 18 2.1 Nội dung chương trình và phân bố thời lượng 18
2.2 Quy trình dạy tập đọc 19
2.3 Thực trạng của dạy và học Tập đọc ở lớp 5 21
Trang 72.3.1 Thực trạng việc dạy 21
2.3.2 Thực trạng việc học 23
Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5 26
3.1 Các biện pháp rèn luyện kĩ năng 26
3.1.1 Kĩ năng tìm hiểu văn bản đọc 26
3.1.2 Kĩ năng đọc chính xác các bộ phận của âm tiết 29
3.1.3 Kĩ năng ngắt nhịp trong khi đọc 33
3.1.4 Kĩ năng đọc trôi chảy 36
3.1.5 Kĩ năng đọc đúng ngữ điệu 37
3.1.6 Kĩ năng thể hiện văn hóa đọc 38
3.2 Một số biện pháp bổ trợ hoạt động học 40
KẾT LUẬN 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 8“Cuộc sống sẽ ra sao nếu con người không biết đọc? Cuộc sống còn gì thú vị nếu như những áng thơ hay, bất hủ không ai biết đến, không thông tin trên báo, trên những trang web không một ai có thể đọc? ” Đó sẽ là cả một thế giới thiếu thông tin, thiếu hiểu biết Có ý kiến cho rằng con người có ba chìa khóa vàng để mở ra tri thức, tình cảm của nhân loại, đó là: chữ cái, chữ số và nốt nhạc Như vậy, biết đọc tức là ta đã nắm giữ được chìa khóa để mở cánh cửa của kho tàng văn hóa, văn minh của dân tộc và có công cụ để học suốt đời Biết đọc nghĩa là biết giao tiếp với người khác không bị giới hạn bởi không gian và thời gian
Những kinh nghiệm của đời sống văn hóa, tư tưởng, tình cảm của các thế
hệ trước và của cả những người đương thời, phần lớn được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường Đó chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học, học suốt đời Vì vậy, dạy đọc có ý nghĩa rất quan trọng Biết đọc, con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ
Trang 9tình cảm của người khác Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, các em không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn Năng lực đọc của học sinh được tạo nên
từ bốn kỹ năng bộ phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “ đọc”: đọc đúng, đọc trôi chảy, đọc có ý thức (đọc hiểu) và đọc diễn cảm Hơn nữa, việc dạy đọc được chú trọng ngay từ cấp tiểu học Trong môn học Tiếng Việt, phân môn Tập đọc chiếm số tiết, thời lượng nhiều nhất trong các phân môn Đây là phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở cấp học đầu tiên trong trường phổ thông
Mặt khác, khi viết một tác phẩm, tác giả muốn gửi gắm vào đó tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, những quan điểm, tư tưởng của mình Những điều đó ẩn chứa trong ngôn từ văn bản mỗi tác phẩm đều bộc lộ tài hoa của con người, nhân cách của nhà văn Muốn tác phẩm đến với bạn đọc và sống mãi với bạn đọc là một điều khó Những gì mà tác giả gửi gắm có được cảm nhận một cách đầy đủ hay không, đó lại là do cách đọc, cách hiểu của người cảm nhận
nó Chính vì thế cần dạy cho học sinh cách đọc, cách hiểu tác phẩm một cách trọn vẹn
Trong khi đó, ở trường tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 5, việc dạy đọc, bên cạnh những thành công, còn nhiều hạn chế Học sinh chưa đọc được như chúng ta mong muốn Kết quả học đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành kĩ năng đọc Các em chưa nắm chắc được công cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, tư tưởng tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản được đọc Giáo viên tiểu học vẫn còn lúng túng tronh khi dạy Tập đọc Có những giáo viên đọc không đúng chính âm, đọc không hay, hiểu
Trang 10không đúng những điều được đọc từ cấp độ từ đến cấp độ câu, đoạn và toàn văn bản, …
Trong tương lai không xa, chúng tôi sẽ là những gióa viên tiểu học, chúng tôi có những trăn trở khi dạy một bài Tập đọc: làm thế nào để các em đọc nhanh hơn, hay hơn, làm thế nào để các em hiểu được văn bản đã đọc, cần đọc bài Tập đọc với giọng như thế nào? Làm sao để có những gì đọc được tác động vào chính cuộc sống của các em? … Hơn thế, việc dạy đọc trải dài
từ lớp 1 đến lớp 12 và đi cùng chúng ta suốt cuộc đời
Chính vì vậy, đọc là kĩ năng quan trọng trong việc dạy học ở trường tiểu
học Và chúng tôi chọn đề tài này để đi sâu nghiên cứu và tìm ra: “Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng tập đọc cho học sinh lớp 5”
2 Lịch sử vấn đề
Đọc và viết là hai kĩ năng dạy học sinh biết xử lí văn bản Kĩ năng đọc không chỉ tiếp nhận thông tin mà đọc còn bộc lộ khả năng hiểu của người đọc
Điều này đã được đề cập trong cuốn “Tìm vẻ đẹp bài văn ở tiểu học”,
(2005), NXB Giáo dục, của hai tác giả Nguyễn Trí và Nguyễn Trọng Hoàn
Theo GS.TS Lê Phương Nga trong cuốn “Dạy tập đọc cho học sinh tiểu học”, (2003), NXB Giáo dục, đã xem xét việc dạy học chính là cách dạy
tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, chính là quá trình nhận thức
Trong cuốn “Thế giới quanh ta” số chuyên đề Tập đọc tháng 9 năm
2002, bài Hỏi - đáp về dạy Tập đọc ở tiểu học đã coi Tập đọc là phân môn thực hành, năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng là đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc hay
Trong bài “Hình thành năng lực đọc cho học sinh trong dạy học ngữ văn” của Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn (Vụ Giáo dục Trung học Bộ Giáo dục
và Đào tạo) đưa ra những quan điểm trái ngược nhau của những nhà nghiên cứu nước ngoài về việc đọc Walcutt.C.C xem đọc dưới góc độ ngôn ngữ còn Tinker M.A coi đọc là một sản phẩm của tư duy
Trang 11Cùng quan niệm về đọc, trong cuốn “Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga”, (1988), Viện sĩ M.R.Lơrôp lại nghiên cứu việc đọc, khái
niệm đọc từ góc độ ngôn ngữ và ông cũng cho rằng đọc là quá trình giải mã chữ - nghĩa Như vậy, theo ông việc dạy đọc là kết hợp của hai quá trình đọc thành tiếng và đọc hiểu
Nguyễn Minh Thuyết đề cập vấn đề này trong cuốn “Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 5”, (2007), NXB Giáo dục dưới hai mức độ của đọc là đọc
thông và đọc hiểu
Theo “Tạp chí Ngôn ngữ”, số 11 năm 2000, khái quát về giáo dục Ngữ
văn nước ngoài, giới giáo dục Ngữ Văn một số nước Âu - Mỹ cho rằng dạy đọc là một quá trình tâm lí gồm nhiều khâu, từ cảm nhận văn tự, lí giải ý nghĩa, đến liên tưởng, tưởng tượng…
Trong “SGK Ngữ văn 6”, tập một, NXB Giáo dục, xem xét việc đọc
dưới ba cấp độ: đọc - suy ngẫm - liên tưởng
Việc nghiên cứu các phương pháp rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh tiểu học không còn là vấn đề mới mẻ, nó đã được đề cập một cách khái quát hay cụ thể trong các bài báo, trên các tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, các cuốn sách và cả trong các công trình nghiên cứu khoa học Mỗi quan niệm, mỗi công trình nghiên cứu đều đi sâu vào một khía cạnh nhất định Tuy nhiên, cho đến thời điểm này chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến biện pháp cụ thể rèn luyện kĩ năng tập đọc cho học sinh lớp 5 Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn đưa ra đề tài này nhằm tìm ra phương pháp cụ thể để rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh lớp 5
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm tìm các biện pháp để rèn luyện cho học sinh lớp 5 kĩ năng đọc, nâng cao hiệu quả đọc trong nhà trường
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Các biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh lớp 5
- Việc đọc các bài Tập đọc, đoạn trích trong giáo khoa tiểu học nói chung
và sách giáo khoa lớp 5 nói riêng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Cơ sở lí luận của việc đọc
- Tìm hiểu thực trạng của việc dạy và học Tập đọc ở lớp 5
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đọc trong phân môn
tập đọc ở lớp 5
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi đã sử dụng hai nhóm phương pháp sau:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu các khái niệm lý thuyết có liên quan đế đề tài
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- phương pháp chung: quy nạp, diễn dịch
Trang 13Chương 1 Cơ sở lí luận của việc đọc
Chương 2 Thực trạng của việc dạy và học Tập đọc của học sinh lớp 5 Chương 3 Các biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh lớp 5
Phần 3: Kết luận
Trang 14NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái niệm đọc
1.1.1 Quan niệm đọc
Suốt thời gian học tập từ nhỏ đến lớn, học sinh sử dụng hoạt động đọc nhiều nhất Các em đọc bài học, đọc bài ghi, đọc sách giáo khoa, đọc truyện, đọc bài tập… Khi lớn lên, học tập và hoạt động trong mỗi ngành nghề lại có hoạt động đọc khác nhau Có người nhìn vào tấm phim để đọc (bác sĩ nhìn vào tấm phim chụp X quang để đọc), có người lại nhìn vào các hình vẽ, những con số để đọc đó là các kiến trúc sư, những kế toán, đọc trên bảng vẽ
kĩ thuật và các số liệu thống kê Đó cũng là hoạt động đọc Nhưng trong đề tài này, chúng tôi đề cập đến đọc chữ, đọc văn bản, xem xét đọc trong phân môn Tập đọc
Về khái niệm đọc đã có nhiều quan niệm, định nghĩa về đọc Theo từ
điển Tiếng Việt: “ Đọc là hành động nhìn vào chữ hoạc kí hiệu, dấu hiệu để
hiểu nội dung” [17;520] Như vậy, theo định nghĩa này đọc được hiểu theo
nghĩa rộng, bao hàm cả đọc chữ, đọc số liệu, bản vẽ …
Tiến sĩ Nguyễn Trí cho rằng: “ Đọc cũng là một quá trình vừa tạo cảm
xúc, vừa thể hiện tình cảm của mình với nhân vật, với bức tranh cuộc sống hoặc với nội dung được nêu trong bài văn” [13, 7] Quá trình đọc gắn liền với
những biểu hiện cảm xúc của người đọc Đọc là suy ngẫm để thấy được cái hay trong ngôn từ
Trong cuốn “ Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng nga”(1998),
Viện sĩ M.R.Lơrôp đã định nghĩa: “ Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, lá
quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức
Trang 15chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (Ứng với đọc thầm)”
[8,8] Đây là một định nghĩa rất phù hợp dạy tập đọc ở tiểu học Định nghĩa này thể hiện một quan niệm đầy đủ về đọc, xem đó là quá trình giải mã hai bậc: Chữ viết -> âm thanh và chữ viết(âm thanh) -> định nghĩa
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nói trong bài “Dạy văn là một quá trình
toàn diện” đã nhắc đến như sau: “Phải làm sao có sách và hướng dẫn học
sinh đọc, phải đọc rất nhiều, đọc gấp mấy mươi lần những điều ông thầy giảng dạy ở lớp … và chốt lại yêu cầu đạt được là phải gợi ý suy nghĩ,tìm tòi,rèn luyện óc thông minh,sáng tạo Phải làm cho học sinh thấy được trong bài văn người ta nói gì, và đó là cái hay phải thấy” [1;17] Ông cho rằng đọc
chính là hoạt động tư duy, đọc để thấy được cái hay, cái đẹp trong văn
Sau khi xem xét các định nghĩa, quan niệm khac nhau về đọc, chúng tôi nhận thấy các định nghĩa thường nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau của đọc Đọc không chỉ là “đánh vần”, phát âm thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết, cũng không chỉ là quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những
gì được đọc Đọc chính lá sự tổng hợp của hai quá trình đó Như vậy, hoạt động đọc phải xem xét đồng thời hai mặt ngôn ngữ và tư duy Định nghĩa của viện sĩ M.R.Lơrôp đã xem việc học ở cả hai khía cạnh đó Do vậy, chúng tôi chọn và sử dụng định nghĩa này để làm cơ sở thực hiện đề tài
Và do đó, đọc chính là biến hình thức chữ viết của văn bản thành hình thức âm thanh để người đọc, người nghe hiểu được những điều mà tác giả nói qua chữ viết
1.1.2 Cấp độ đọc
Thế nào là học sinh “biết đọc”? Đó là vấn đề cần quan tâm và cần làm sáng rõ “Biết đọc” được hiểu theo nhiều mức độ Một em bé mới đi học,
biết đánh vần “mờ- e - me - nặng - mẹ”, ngập ngừng đọc từng tiếng một, thế cũng gọi là biết đọc Đọc, thâu tóm được tư tưởng của một cuốn sách trong
Trang 16vài ba trang cũng là biết đọc Chọn trong biển sách báo của nhân loại những
gì mình cần, trong một ngày nắm được tinh thần hàng chục cuốn sách cũng gọi là biết đọc
Như vậy, quan niệm về người “biết đọc” không phải là cái nhất thành bất
biến, nó không cố định, tùy thuộc vào trình độ của mỗi người Nhưng để đạt
được đến mức “biết đọc” thì người đọc phải đọc thông văn bản và nắm được
nôi dung, ý nghĩa từ những con chữ
1.2 Cơ sở ngôn ngữ của việc đọc
1.2.1 Cơ chế của đọc
Cơ chế của việc đọc là cơ sở của việc dạy đọc vì nó sẽ giúp chúng ta xác định mục đích, nội dung của quá trình đọc, cũng như xác định mục đích, nội dung của quá trình dạy học đọc
Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác, sử dụng bộ mã chữ -
âm dựa vào cơ quan phát âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn
tự ghi lại lời nói âm thanh Trong quá trình đọc con người tư duy để nhận thức, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc
Như vậy, đọc bao gồm nhiều yếu tố như tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của cơ quan phát âm, cơ quan thính giác và sự thông hiểu những gì được đọc Nhiệm vụ của sự phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì ciệc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác và biểu cảm bấy nhiêu
Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình tập luyện lâu dài Theo T.G.Egôrôp việc hình thành kĩ năng này chia làm ba giai đoạn: phân tích, tổng hợp và giai đoạn tự động hóa Giai đoạn dạy học vần (lớp 1) là
Trang 17sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng theo các âm Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó sự tiếp nhận bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa Bước sang lớp 2, lớp 3 học sinh bắt đầu đọc tổng hợp Trong những năm cuối cấp, học sinh đọc ngày càng tự động hóa, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến chính quá trình đọc mà chú ý đến việc chiếm lĩnh văn bản
Việc đọc có ý thức bài đọc nhằm vào sự nhận thức Chỉ có thể xem là đứa trẻ biết đọc khi nó đọc và hiểu được điều mình đọc Đọc là hiểu được nghĩa của chữ viết Nếu trẻ không hiểu những từ ta đưa cho chúng đọc, chúng
sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thành công Việc đọc không thể tách rời khỏi việc chiếm lĩnh một công cụ ngôn ngữ Mục đích này chỉ có thể đạt được thông qua con đường luyện giao tiếp có ý thức Một phương tiện luyện tập quan trọng và cũng là mục tiêu phải đạt tới trong sự chiếm lĩnh ngôn ngữ chính là việc đọc, cả đọc thành tiếng và đọc thầm
Dựa vào hình thức âm thanh có thể chia việc đọc thành bốn cấp độ: đọc
to - đọc thành tiếng; đọc nhỏ - giảm dần âm thanh; đọc nhẩm - chỉ mấp máy môi theo con chữ; đọc thầm - đọc bằng mắt Sự tri giác văn bản bằng mắt đi kèm với hoạt động của cơ quan phát âm và các cơ quan thính giác Điều này thể hiện rõ nhất khi đọc thành tiếng Lúc này cả ba kênh thông tin đều hoạt động đồng thời: mắt nhìn, miệng đọc và tai nghe văn bản đã được đọc lên Như vậy, ở cấp độ nào thì các công cụ để thực hiện đọc (thị giác, cơ quan phát âm, tư duy để nhận thức và thính giác) đều tham gia hoạt động Tùy thuộc vào cấp độ đọc nào yêu cầu mà từng công cụ, yếu tố phát huy thế mạnh, chiếm ưu thế
Dựa vào mức độ, phẩm chất, trình độ của đọc chia việc đọc thành bốn loại: đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm và đọc nghệ thuật Đọc đúng là đọc theo văn bản không thêm, không bớt, đọc đúng theo các cấp độ của ngôn ngữ
Trang 18trong văn bản từ đợn vị nhỏ đến lớn Đọc hiểu xác định bằng nội dung chứa trong văn bản, hiểu nội dung trong văn bản như thế nào sẽ đọc được như vậy
để thể hiện cảm hiểu của người đọc đối với văn bản Đọc diễn cảm là biết đọc nhấn vào những từ quan trọng trong câu (từ ngữ gợi tả, gợi cảm, từ ngữ “chìa khóa”) để làm nổi lên ý chính; biết điều chỉnh giọng đọc, ngữ điệu đọc để hiểu và biểu đạt nội dung, người đọc phải làm chủ giọng đọc của mình Đọc nghệ thuật là cấp độ đọc cao nhất Đó là khả năng nhập vai, hóa thân vào nhân vật trong quá trình đọc
Việc nghiên cứu cơ chế của đọc giúp chúng ta trải qua được nhiều hoạt động đọc theo chuỗi tuyến tính, nhờ đó có thể hình dung được trật tự các việc cần làm để tổ chức quá trình học đọc cho học sinh Từ đó, có thể dạy tốt các bài Tập đọc cho học sinh
1.2.2 Cơ sở về âm thanh của ngôn ngữ khi đọc
1.2.2.1 Chính âm
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực về mặt xã hội Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở tiểu học Hiện nay, trong trường học chưa có văn bản quy định về chuẩn chính âm Điều này làm cho việc xác định nội dung đọc thành tiếng ở tiểu học gặp nhiều khó khăn, không tránh khỏi những lúng túng khi xác định nội dung đọc đúng, đọc diễn cảm
Vấn đề đặt ra là phải giải quyết như thế nào những nét khác biệt trên bình diện ngữ âm giữa các phương ngữ, một hiện tượng khách quan có liên quan trực tiếp đến việc xác định chuẩn chính âm Trong bốn thập kỉ nay, giới Việt ngữ học có nhiều quan điểm khác nhau về chuẩn mực ngữ âm TV, trong
đó có ý kến cho rằng nên lấy phương ngữ Bắc Bộ (chuẩn là Thủ đô Hà Nội) lám cơ sở để xác định chuẩn mực ngữ âm TV đồng thời bổ sung một ngữ âm tích cực của các phương ngữ khác Đây là quan điểm được nhiều người tán
Trang 19thành Hiện nay trong trường học, một cách tự nhiên, hệ thống ngữ âm được phản ánh trên chữ viết được coi là hệ thống ngữ âm chuẩn mực của TV hiện tại Đó là cách phát âm lấy phương ngữ Bắc Bộ (tiêu biểu là tiếng Hà Nội) bổ sung ba phụ âm đầu của miền Trung, những âm được biểu hiện trên chữ viết bằng các con chữ tr, s, r và hai vần ươu, ưu Đây là cách phát âm có sự khu biệt âm vị học tối đa của chữ viết để khắc phục những âm đã bị mất đi hoặc bị biến dạng của tiếng địa phương
Phát âm đúng chuẩn chữ viết sẽ mang lại nhiều lợi ích: trước hết nó giúp học sinh viết đúng chính tả, sau đó còn giúp học sinh phát âm rõ ràng hơn khi học ngoại ngữ Song chúng ta không nên đẩy hết gánh nặng của chính tả sang cho ngữ âm Vì phát âm sai nên viết sai chính tả nhưng điều đó không có nghĩa là để viết đúng lại chỉ có cách là luyện phát âm Còn phải khắc phục điều này bằng cách dạy ý thức chính tả cho học sinh từ rất sớm Học sinh càng biết cách phát âm nhiều âm khác nhau càng có lợi Nhưng đặt thành vấn
đề có tính nguyên tắc bắt buộc thì lại không được vì cấp tiểu học chỉ có thể đặt ra vấn đề luyện các kĩ năng cơ bản không thể thiếu được mà chưa luyện được tất cả các kĩ năng cần có
Thực ra không thể lúc nào cũng bắt học sinh phát âm đúng theo chuẩn phát âm được Điều này không cần thiết Nếu làm như vậy sẽ gây ra biết bao nhiêu khó khăn đối với việc trau dồi cách phát âm chuẩn mực trong nhà trường Vì vậy, để luyện đọc đúng cho học sinh, chúng ta phải đặt vấn đề chấp nhận hai chuẩn chính âm Vậy những trường hợp nào cần xem là học sinh mắc lỗi phát âm phải sửa chữa và những trường hợp nào cần chấp nhận chuẩn chính âm thứ hai?
Dựa vào tâm lí của người bản ngữ, chúng ta có thể chia các trường hợp phát âm lệch chuẩn thành hai nhóm: nhóm lỗi phát âm và nhóm biến thể phương ngữ Chúng ta chỉ luyện cho các trường hợp được xem là mắc lỗi phát
Trang 20âm còn đặt vấn đề chấp nhận chuẩn chính âm cho các trượng hợp được xem là
biến thể phương ngữ Hiện nay, chỉ coi là lịch chuẩn khi phát âm lẫn l/n hay không tròn vành rõ chữ kiểu “Cuôn cùa bia bía” (Con cò be bé) của một số
người miền Bắc Những cách phát âm này làm cản trở hoặc làm giảm hiệu quả giao tiếp, ít ra là ở những cặp người nghe - người nói nhất định
Chúng ta nhận thấy cảm giác về phát âm hay hay không hay cũng là đánh giá tính hiệu quả của giao tiếp về mặt phát âm có thể mang tính chủ quan, tùy theo ngữ cảm của người nghe Tuy nhiên, không bắt lỗi đối với
trường hợp phát âm không phân biệt tr/ch, r/d/gi, s/x chấp nhận chuẩn chính
âm thứ hai Cũng như vậy, trong quá trình học sinh đọc diễn cảm giáo viên không nhất thiết yêu cầu học sinh phải đọc đúng ba âm quặt lưỡi và hai vần
ưu, ươu
Như vậy, luyện chính âm giúp học sinh có một giọng đọc trau chuốt hơn, chuẩn hơn, hay hơn và có thể chấp nhận nhiều chuẩn chính âm Học sinh thuộc phương ngữ Bắc Bộ sẽ không bắt buộc phải phân biệt các cặp phụ âm
âm và không có trọng âm Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin mới hoặc có tầm quan trọng trong câu Trọng âm yếu đi với những từ không
có hoặc ít có ít thông tin mới
Từ ghép chính phụ chỉ có một trọng âm còn từ ghép đẳng lập hay hai từ đơn có quan hệ song song trong câu thì đều mang trọng âm Ở ngữ đoạn danh
từ, trọng âm mạnh thường rơi vào định ngữ, thực từ mới có trọng âm Loại từ
và hư từ mang trọng âm yếu
Trang 21Trọng âm không có tác dụng phân biệt các tiếng về mặt nghĩa mà chỉ có tác dụng phân cắt các ngữ đoạn và góp phần xác định ý nghĩa ngữ
pháp Trong câu, mỗi ngữ đoạn (mỗi chỗ ngắt nghỉ) được kết thúc là một trọng âm, trừ khi ngữ đoạn kết thúc bằng một ngữ thế từ
Ví dụ: khi đọc câu thơ:
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”
(Cảnh khuya - Hồ Chí Minh) Nếu ngắt ở trước từ trong nghĩa là trọng âm rơi vào từ suối sẽ hiểu nghĩa
câu thơ này là nhấn mạnh độ trong của tiếng suối Còn nếu ngắt ở trước từ
như trọng âm của câu sẽ rơi vào từ trong nhấn mạnh sự so sánh tiếng suối trong với tiếng hát xa
Sự kết thúc mỗi ngữ đoạn bằng một trọng âm là căn cứ quan trọng để xác định chỗ ngắt nghỉ trong câu văn, câu thơ, cũng là căn cứ để xác định những chỗ cần luyện ngắt giọng trong bài
1.2.2.2.2 Giọng điệu
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên cao hay hạ thấp giọng nói, giọng đọc Theo nghĩa rộng, ngữ điệu là sự thống nhất của một tổ hợp các phương tiện siêu đoạn có quan hệ tương tác lẫn nhau được sử dụng ở bình diện câu như cao độ (độ cao thấp của âm thanh), cường độ(độ lớn, nhỏ, mạnh, yếu của âm thanh), tốc độ(độ nhanh, chậm, ngắt, nghỉ), trường độ(độ dài ngắn của âm thanh) và âm sắc Những yếu tố này không tồn tại một cách cô lập mà thống nhất thành một tổ hợp phản ánh đúng thái độ, tình cảm, cảm xúc của tác giả khi mô tả mới tạo thành ngữ điệu Ngữ điệu chính là sự hòa đồng về âm hưởng của bài đọc
Luyện đọc thành tiếng không dừng lại ở việc luyện chính âm mà cần phải luyện đọc đúng ngữ điệu Để tạo ra ngữ điệu, học sinh phải làm chủ các thông số âm thanh của giọng tạo ra cường độ bằng cách điều khiển đọc to,
Trang 22nhỏ, nhấn giọng, lơi giọng, tạo ra tốc độ bằng cách điều khiển độ nhanh chậm,
và chỗ ngắt nghỉ của lời, tạo ra cao độ bằng cách nâng giọng, hạ giọng, tạo ra trường độ bằng cách kéo dài giọng (ngân) hay không kéo dài
Suy cho cùng muốn đọc được hay, diễn cảm thì người đọc cần chú ý đến trọng âm, ngữ điệu đọc đồng thời cần phát âm đúng chuẩn chính tả - đọc đúng chính âm của tiếng
1.3 Vị trí và nhiệm vụ phân môn Tập đọc ở lớp 5
1.3.1 Vị trí phân môn Tập đọc
Tập đọc cùng với Học vần và Tập viết là nhóm bài học khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh được công cụ mới - chữ viết; có được một năng lực mới - đọc thông, viết thạo Từ đó, mở cánh cửa bước vào thế giới của những người biết đọc, biết viết để có điều kiện tiến lên nắm lấy kho tàng tri thức và văn hóa của loài người Đối với học sinh tiểu học, nhờ biết đọc mà các em có điều kiện học các môn khác trong chương trình
Có một điều cần phân biệt ở đây là phân môn Tập đọc, Tập viết chứ không phải là phân môn Đọc hay phân môn Viết Tại sao lại như vậy? Đọc và Viết là hai trong bốn kĩ năng mà giáo viên cần rèn cho học sinh Học sinh khi mới bước chân vào cổng trường chưa có hoặc có nhưng chưa thành thạo các
kĩ năng đó mà phải học, phải tập luyện để có kĩ năng thành thục Quá trình rèn luyện để hình thành kĩ năng này kéo dài suốt những năm tháng học phổ
thông Tuy nhiên, do mục tiêu của môn TV cấp Tiểu học “Đứa trẻ khi kết
thúc năm năm học trong nhà trường tiểu học hiện đại là đứa trẻ đã có những
cơ sở ban đầu cho việc phát triển toàn diện về nhân cách và tình cảm, trí tuệ, thể chất: có những tri thức và kĩ năng cơ bản để học tập tiếp hoặc đi ngay vào cuộc sống và thích ứng với cuộc sống; biết sử dụng có hiệu quả tiếng mẹ
đẻ khi đọc, viết, nghe, nói phục vụ mục đích giao tiếp và thu nhận kiến thức
thông tin” [1;9] Hết lớp 5, học sinh phải có kĩ năng đọc thành thạo Lên các
Trang 23tâm mỗi bài đọc không còn là rèn kĩ năng đọc mà là rèn kĩ năng cảm thụ, hiểu biết của các em Bởi vậy, từ lớp 6 trở lên không còn gọi là phân môn tập đọc
mà trở thành môn ngữ văn Bản chất của nó chính là quá trình đọc hiểu
Có thể nói, đọc là kĩ năng quan trọng cần phải rèn luyện cho học sinh Phân môn Tập đọc rèn luyện và phát triển năng lực đó Bởi vậy, Tập đọc có vai trò rất lớn trong quá trình hình thành nhân cách cho học sinh tiểu học
1.3.2 Nhiệm vụ phân môn Tập đọc
Tập đọc được bắt đầu từ cuối học kì 2 của lớp 1 Kĩ năng đọc có ở học sinh, rèn cho học sinh từ đầu lớp 1 nhưng dưới dạng luyện đọc những từ khóa, câu, đoạn ngắn đơn giản, trong các bài văn Đến kì 2 thì Tập đọc được dạy riêng là một phân môn, mỗi bài đọc là những bài văn, thơ ngắn có nội dung dễ hiểu, dễ đọc, chứa đựng những âm, vần đã học Bắt đầu sang lớp 2 học sinh được học 4 tiết tập đọc trên một tuần chiếm 40% số tiết học TV, ở lớp 3 học sinh học 3 tiết Tập đọc trên tuần chiếm 33,33% tổng số tiết học Tiếng Việt Sang đến lớp 4, lớp 5 học sinh chỉ còn học 2 tiets trên một tuần chiếm 25% tổng số tiết học môn Tiếng Việt, phân môn tập đọc chiếm thời lượng khá cao
so với các phân môn khác Lớp 2, 3 tập trung phát triển kĩ năng đọc nên tập đọc chiếm tỉ lệ cao hơn; lớp 4, 5 học sinh đã đọc thành thạo, kĩ năng đọc được hình thành, ở giai đoạn này tập trung phát triển khả năng cảm hiểu cho các
em Đồng thời, cần phát triển ở các em những kĩ năng khác như kĩ năng dùng
từ, giao tiếp Do đó, mà thời lượng cho môn Tập đọc giảm đi và thời lượng cho phân môn “Luyện từ và câu” tăng lên
Tập đọc là phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng bộ phận là: đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc hay Bốn kĩ năng này được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm, chúng được rèn luyện dồng thời và hỗ trợ lẫn nhau, sự hoàn thiện tích cực kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến kĩ năng khác Vì vậy, trong dạy học
Trang 24không thể xem nhẹ kĩ năng nào và cũng không thể tách rời chúng
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc đối với học sinh lớp 5 là giáo dục lòng ham đọc sách của học sinh, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với sách cho học sinh Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc phải làm cho học sinh thích đọc và thấy được những khả năng đọc là có ích cho các em trong cả cuộc đời
Nhiệm vụ thứ ba là làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh Trong mỗi tiết học Tập đọc, mỗi bài học đếu có những từ mới, SGK đã giải thích cộng với sự giảng giải của giáo viên học sinh hiểu thêm ý nghĩa của các từ và biết cách sử dụng chúng Bên cạnh đó, qua mỗi bài học nội dung bài học phong phú hấp dẫn cung cấp thêm vốn hiểu biết cho các em Việc dạy học sẽ giúp các em hiểu biết hơn, giáo dục các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp… dạy đọc không chỉ giáo dục tư tưởng, đạo đức
mà còn giáo dục tính cách, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh
Như vậy, dạy đọc có nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển cho học sinh toàn cấp nói chung và cho học sinh lớp 5 nói riêng
1.3.3 Ý nghĩa của dạy Tập đọc
Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên của mỗi người đi học Đầu tiên trẻ phải học đọc sau đó đọc để học Đọc giúp các em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập, nó là công cụ giúp các em học các môn khác Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập, đọc tạo điều kiện cho học sinh khả năng tự học và tinh thần học, học nữa, học mãi
Tập đọc với tư cách là một phân môn của TV ở tiểu học có nhiệm vụ đáo ứng yêu cầu hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh
Trang 25Chương 2
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC TẬP ĐỌC Ở LỚP 5
Chúng tôi xin đưa ra nội dung chương trình phân môn tập đọc ở tiểu học
và quy trình chung khi giảng dạy một bài tập đọc để có thể đối chiếu với thực trạng dạy và học của học sinh lớp 5
2.1 Nội dung chương trình và phân bố thời lượng
Mỗi tuần hai tiết tập đọc
+ Số lượng bài: Có 60 bài Tập đọc, trong đó có 31 bài là văn xuôi, 17 bài là thơ và 9 bài không phải là văn bản nghệ thuật
+ Kĩ năng cần rèn luyện: Luyện cách đọc phù hợp với các loại văn bản khác nhau; tập đọc một màn kịch hay một vở kịch ngắn có giọng đọc phù hợp với nhân vật và tình huống kịch; tập đọc diễn cảm bài văn, thơ; tìm ý chính, tóm tắt bài văn, chia đoạn, rút ra đại ý của bài; nhận biết các mối quan hệ giữa các thông tin trong bài văn; tập nhận xét về nhân vật và ngôn ngữ trong các bài đọc có giá trị văn chương; đọc hiểu các kí hiệu, các dạng viết tắt thông thường, các số liệu trên sơ đồ, biểu đồ, bản đồ, bảng biểu… ; học thuộc lòng một số bài văn vần trong SGK