Đảng và Nhà nước Lào đã có sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy lý luận: từ quan điểm tăng cường đoàn kết toàn dân, tăng cường đoàn kết nội bộ lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế trước
Trang 1giải phóng dân tộc
Hà Nội - 2016
Trang 3Bản đồ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Đỗ Thị Ánh
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8 7
Chương 2: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CUỘC BẢO VỆ,
CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA DÂN CHỦ
Chương 3: THỰC TIỄN BẢO VỆ, CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA
CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TỪ NĂM 1991 ĐẾN
3.1 Đường lối bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của Cộng hoà dân chủ nhân
3.2 Thực tiễn 20 năm bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Cộng hoà dân chủ
Chương 4: ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG CUỘC BẢO VỆ, CỦNG CỐ ĐỘC LẬP
DÂN TỘC CỦA CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TỪ
NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2011 VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 103
4.1 Đánh giá những thành tựu và hạn chế của công cuộc bảo vệ, củng cố
độc lập dân tộc của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 103
4.2 Một số kinh nghiệm từ quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
Trang 6STT
viết tắt Nghĩa Tiếng Anh Nghĩa Tiếng Việt
châu Á
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Organization
Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Liên hợp quốc
rộng
Aviation Organization
Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế
Trang 7Tổ chức Văn hoá, Khoa học
và Giáo dục Liên hợp quốc
Drugs and Crime
Cơ quan phòng chống ma túy
và tội phạm Liên hợp quốc
Trang 8Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Lào (2005-2011)
TÊN BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Biểu đồ 3.1: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2005-2013
(Đơn vị: Triệu USD)
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước hết, có thể khẳng định, mỗi quốc gia - dân tộc trên thế giới dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển đều có quyền lựa chọn cho mình một mục tiêu, một con đường phát triển Song sự lựa chọn đó có thể đúng, phù hợp, có thể chưa đúng, không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, điều này trước hết phụ thuộc vào trí tuệ, bản lĩnh, ý chí, thế giới quan của giai cấp, nhà nước cầm quyền
Trong thế kỷ XX, nhiều nước thuộc địa và nửa thuộc địa đã giành được độc lập, dẫn đến sự ra đời của các nước đang phát triển, trong đó có Lào Củng cố độc lập dân tộc, lựa chọn con đường phát triển phù hợp với quốc gia dân tộc mình là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, sống còn đối với các nước đang phát triển nói chung và Lào nói riêng Độc lập dân tộc (ĐLDT) bao hàm hai nội dung cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau: quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mình và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế Quyền tối cao trong nước thể hiện ở quyền lực đầy đủ để giải quyết mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, mà không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế Quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế thể hiện ở chỗ tất cả các quốc gia tham gia quan hệ quốc tế đều là những chủ thể bình đẳng và hoàn toàn độc lập, tự quyết định các vấn đề đối nội và đối ngoại của mình Còn nếu như sự lựa chọn con đường phát triển đúng đắn thì việc bảo vệ và củng cố nền ĐLDT sẽ được thực hiện một cách tốt nhất
Trong bối cảnh quốc tế mới sau Chiến tranh lạnh, với những xu thế phát triển mới của các mối quan hệ quốc tế, của bối cảnh thế giới và khu vực, đã xuất hiện nhận thức, quan niệm và cách tiếp cận mới về ĐLDT và đấu tranh bảo vệ ĐLDT của các nước đang phát triển Trước hết, có thể khẳng định, mối quan hệ giữa ĐLDT và củng cố sức mạnh an ninh quốc gia, giữa ĐLDT
Trang 10và hội nhập quốc tế, giữa ĐLDT và các giá trị tự do, dân chủ là mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, ĐLDT là nền tảng cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, ngược lại, kinh tế - xã hội phát triển bền vững là cơ sở cho việc bảo vệ nền ĐLDT trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế
Đối với Lào, giống như các nước đang phát triển khác, ĐLDT là mục tiêu cao cả, giá trị tinh thần quý giá nhất của người Lào, là sự thể hiện tập trung của chủ nghĩa yêu nước và ý chí tự lực, tự cường của nhân dân các bộ tộc Lào - một dân tộc có bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước, đã từng chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược Chính quá trình lịch sử đó đã hun đúc nên ở nhân dân Lào ý chí đấu tranh bất khuất để bảo vệ và củng cố ĐLDT
Trong các nước Đông Nam Á, CHDCND Lào là quốc gia duy nhất không có biển, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á lục địa (tiếp giáp với 5 nước láng giềng: Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia và Myanma) với diện tích là 236.800 km2, dân số hơn 6,8 triệu người (với 49 dân tộc anh em) Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là Đảng NDCM Lào, quân và dân Lào đã đồng tâm hiệp lực làm nên chiến thắng, tô đậm thêm những trang sử hào hùng của nhân dân Lào Ngay sau khi giành được độc lập, Lào tuyên bố đi theo con đường XHCN, nhưng trong điều kiện nền kinh tế đi lên từ một điểm xuất phát thấp, bị chiến tranh tàn phá nặng nề cộng với sự bao vây cấm vận từ các thế lực thù địch trong và ngoài nước, nên công cuộc tái thiết đất nước vốn dĩ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn Đặc biệt, trong những năm cuối thập niên 80 - đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, CNXH hiện thực ở Liên Xô và Trung Đông Âu sụp đổ Sự kiện chấn động thế giới này đã khiến các nước đi theo con đường XHCN như Lào, Việt Nam, v.v mất đi chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần và vật chất Để chèo lái con thuyền cách mạng Lào vượt qua muôn vàn khó khăn, Đảng NDCM
Trang 11Lào một mặt vẫn kiên định con đường XHCN; mặt khác, đã điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại, ra sức nâng cao nội lực để đưa đất nước từng bước thoát khỏi khủng hoảng về kinh tế - xã hội
Chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa trở thành một hiện thực khách quan, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, v.v Đối với Lào, đây là một thời cơ thuận lợi để tranh thủ vốn, khoa học
- công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến của nước ngoài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, mặt trái của toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế đã làm cho nền ĐLDT và chủ quyền quốc gia của Lào đứng trước những thách thức mới, những nguy cơ tiềm tàng và đa dạng, nảy sinh từ những nhân tố bên ngoài cũng như từ chính quá trình phát triển của đất nước Nền tảng của ĐLDT bị thách thức gay gắt trên cả hai phương diện: quyền tối cao trong việc định đoạt các vấn đề trong nước và quyền bình đẳng trong quan hệ quốc tế Vấn đề bức thiết đặt ra cho Lào là làm sao giải quyết hài hòa hai nhiệm vụ chiến lược dài lâu là bảo vệ chính thể XHCN, ĐLDT, chủ quyền, an ninh quốc gia và hội nhập quốc tế thành công
Để hội nhập quốc tế hiệu quả, Lào phải củng cố nền độc lập, xây dựng
và phát triển kinh tế, từng bước khắc phục những yếu kém, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ của Lào so với khu vực và thế giới Đảng và Nhà nước Lào đã có sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy lý luận: từ quan điểm tăng cường đoàn kết toàn dân, tăng cường đoàn kết nội bộ lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế trước hết là đoàn kết với các nước XHCN anh em; sang quan điểm mở rộng quan hệ và hợp tác với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, bình đẳng đôi bên cùng có lợi, tranh thủ mọi điều kiện thuận lợi để phục vụ sự nghiệp đổi mới Tại Đại hội V (năm 1991), Đảng NDCM Lào đã khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và phát huy chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng các tiền đề để từng bước tiến lên CNXH Phát huy dân
Trang 12chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đề cao vai trò của các cơ quan tổ chức công chúng và cơ quan tổ chức xã hội, xây dựng bộ máy nhà nước trở thành của nhân dân, do dân và vì dân, theo Hiến pháp và pháp luật, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị Không ngừng, củng cố việc bảo vệ an ninh - quốc phòng toàn dân tộc, bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia và bảo vệ chế độ mới vững chắc, đảm bảo ổn định về chính trị, an ninh và trật tự xã hội Tiếp tục
mở rộng quan hệ và hợp tác với các nước và các cơ quan tổ chức quốc tế Tất cả là xây dựng nước Lào có hòa bình, tự do, dân chủ, thống nhất và bền vững, góp phần vào sự nghiệp hòa bình và tiến bộ về xã hội trong thế giới” [24, tr.24]
Tuy nhiên, từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình trong nước, khu vực và thế giới đã và đang có những biến động phức tạp, khó lường, đặt
ra nhiều thách thức rất mới và rất khác đối với công cuộc xây dựng đất nước của CHDCND Lào Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình bảo vệ, củng cố nền ĐLDT của Lào trong bối cảnh quốc tế mới sau Chiến tranh lạnh; từ đó rút ra những bài học cả về mặt lý luận và thực tiễn là một việc làm hữu ích với Lào
Do đó, tác giả lựa chọn vấn đề: “Quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc ở
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào từ năm 1991 đến năm 2011” để viết luận
án Tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích rõ những nhân tố trong nước và quốc tế tác động đến công cuộc bảo vệ ĐLDT của CHDCND Lào sau Chiến tranh lạnh
Trang 13- Phân tích làm rõ thực tiễn bảo vệ, củng cố ĐLDT của CHDCND Lào trong hai thập niên (kể từ năm 1991, khi Chiến tranh lạnh kết thúc, đến năm
2011, là năm diễn ra Đại hội lần thứ IX của Đảng NDCM Lào)
- Đánh giá những thành tựu và hạn chế của công cuộc bảo vệ ĐLDT ở CHDCND Lào giai đoạn 1991-2011 và rút ra một số kinh nghiệm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận án là quá trình bảo vệ, củng cố
ĐLDT của CHDCND Lào Các vấn đề được tiếp cận nghiên cứu là đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Lào cũng như thực tiễn triển khai thực hiện đường lối, chính sách đó của các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến cơ sở (trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2011)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt thời gian: Tập trung nghiên cứu quá trình bảo vệ và củng cố ĐLDT của Lào năm 1991 đến năm 2011 Sở dĩ tác giả chọn giai đoạn này có hai lý do:
Thứ nhất, năm 1991 là năm Liên bang Xô viết giải thể, năm chấm dứt
trật tự hai cực Ianta và cuộc Chiến tranh lạnh Đối với các nước lựa chọn con đường XHCN như Lào, Việt Nam, Trung Quốc, v.v thì sự kiện Liên Xô giải thể và CNXH hiện thực ở Liên Xô và Trung Đông Âu sụp đổ là thách thức lớn đối với ĐLDT của các quốc gia này Song, sự chấm dứt Chiến tranh lạnh cũng mở ra cơ hội thuận lợi để Lào mở cửa hợp tác với các quốc gia khác trên thế giới
Thứ hai, năm 2011 là năm diễn ra Đại hội IX của Đảng NDCM Lào
Đây là đại hội tạo bước đột phá trong tổ chức thực hiện đường lối đổi mới, tạo
cơ sở vững chắc đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển vào năm
2020 và tiếp tục tiến lên theo con đường XHCN
- Về mặt nội dung: Nghiên cứu quá trình bảo vệ, củng cố ĐLDT thông qua các chính sách phát triển cũng như quá trình triển khai thực hiện của Lào
Trang 14trên các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh; kinh tế; văn hóa - xã hội giai đoạn 1991-2011
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận mácxít Trong quá trình nghiên cứu và xử lý tài liệu tham khảo, luận án quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về quốc gia - dân tộc, về thời đại và quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc; về hoà bình và cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau; tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Cayxỏn Phômvihản; đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Lào về ĐLDT, bảo vệ và củng cố ĐLDT Ngoài ra, còn vận dụng những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận án là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, v.v cũng được sử dụng như là những phương pháp hỗ trợ cần thiết cho hai phương pháp chủ yếu nêu trên
5 Những đóng góp của luận án
- Luận án trình bày, phân tích một cách hệ thống các chính sách của Đảng và Nhà nước Lào, hướng vào nội dung xây dựng, bảo vệ nền ĐLDT của đất nước Lào; từ đó làm rõ một thời kỳ lịch sử quan trọng của Lào (1991-2011), góp phần làm phong phú thêm quá trình củng cố và bảo vệ nền ĐLDT trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
- Từ việc đánh giá những thành công, hạn chế của Nhà nước Lào trong việc bảo vệ, củng cố nền ĐLDT trong giai đoạn 1991-2011, luận án chỉ ra một số tác động của các chính sách đó đối với việc giải quyết các vấn đề kinh
tế - xã hội, củng cố ĐLDT, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Lào hiện nay
Lào giai đoạn 1991-2011, luận án đã rút ra một số vấn đề và bài học kinh nghiệm đối với bảo vệ, củng cố ĐLDT ở Lào trong những giai đoạn tiếp theo
Trang 15- Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu và giảng dạy về các vấn đề có liên quan
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo
vệ và củng cố ĐLDT của các nước đang phát triển nói chung, CHDCND Lào nói riêng trong bối cảnh thế giới mới sau Chiến tranh lạnh; quan điểm của Đảng NDCM Lào đối với bảo vệ, củng cố ĐLDT trong giai đoạn 1991-2011; thành tựu cũng như hạn chế và nguyên nhân; từ đó, rút ra một số kinh nghiệm đối với bảo vệ ĐLDT của CHDCND Lào trong những chặng đường tiếp theo
- Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các môn học lịch sử phong trào giải phóng dân tộc, lịch sử thế giới cận hiện đại Đồng thời, cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người nghiên cứu về quan hệ quốc tế ở các viện nghiên cứu, trường đại học và các cơ quan hoạt động thực tiễn có liên quan
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án
gồm 4 chương 8 tiết
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
CHDCND Lào được ví như chiếc cầu nối liền các nước trong khu vực Đông Nam Á trên đất liền Lào có tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, con người sống hiền hòa với thiên nhiên, v.v Đặc biệt, cho dù CNXH hiện thực ở Liên Xô và ở các nước Trung Đông Âu sụp đổ, nhưng Lào là một trong số ít các nước XHCN còn lại vẫn giữ được chế độ XHCN cũng như sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào và nền ĐLDT Đó là những lý do khiến Lào được các học giả trên thế giới, trong khu vực tìm hiểu, dành thời gian nghiên cứu
1.1 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC
1.1.1 Tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu lịch sử phát triển và cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
* Các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Việt Nam
Cuốn “Lịch sử Lào” của Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Nxb Văn hóa
- Thông tin, Hà Nội, năm 1998, dài 623 trang là một công trình có giá trị to lớn đối với các nhà nghiên cứu lịch sử Lào Ngoài lời nói đầu, lời kết, cuốn sách gồm 4 phần: Phần thứ nhất: Từ những di tích văn minh thời tiền sử và sơ
sử đến sự hình thành các mường cổ đại trên đất Lào; Phần thứ hai: Vương quốc Lào - Lạn Xạng thời xây dựng và bảo vệ đất nước; Phần thứ ba: Nước Lào trong thời kỳ thuộc Pháp (1893-1954); Phần thứ tư: Cuộc đấu tranh của nhân dân Lào chống chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào, thắng lợi vĩ đại năm 1975 Vì thời gian nghiên cứu của cuốn sách đến năm 1998, nên nó chỉ có ý nghĩa rút ra bài học cũng như tham khảo tư liệu về thời gian trước năm 1998
Cuốn sách “Lịch sử Lào hiện đại tập II” của hai tác giả Nguyễn Hùng
Phi - TS Buasi Chasơnsúc, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006 Cuốn sách dài 274 trang, gồm 4 phần: Phần I: Tình hình Đông Dương và Lào sau
Trang 17Hiệp định Giơnevơ 1954; Phần II: Đế quốc Mỹ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở Lào; Phần III: Nhân dân các bộ tộc Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975); Phần IV: Một số thành quả chính trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển nước CHDCND Lào cuối thế kỷ XX (1976-2000) Cuốn sách có giá trị to lớn đối với những bạn đọc muốn tìm hiểu lịch sử đất nước Lào qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và hơn 20 năm sau khi giải phóng đất nước
Cuốn sách “Lào đất nước - con người” của Hoài Nguyên, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, năm 2008 Cuốn sách dài 906 trang, được tập hợp từ thực tế điều tra ở các bản làng của các dân tộc, bộ tộc Lào; kết hợp với tư liệu báo cáo của các địa phương, tài liệu nghiên cứu khoa học của Lào Qua cuốn sách, người đọc có thể hiểu hơn về lịch sử đấu tranh cũng như quá trình dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của nhân dân các bộ tộc Lào
Ngoài ra, đề cập đến chủ đề này còn có các bài viết được đăng tải trên
các tạp chí, khái quát những thành tựu đã đạt được trong 30 năm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Lào (1975-2005) của các tác giả như: Trần Công Hàm - Nguyễn Hào Hùng: “Ba mươi năm nước CHDCND Lào: Những thành
tựu”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6-2005; Trương Duy Hòa: “Một số
thành tựu cơ bản trong 30 năm xây dựng và phát triển kinh tế ở CHDCND
Lào (1975-2005), Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6-2006; Lê Thanh
Hải: “Quá trình trưởng thành của mặt trận Lào xây dựng đất nước”, Tạp chí
Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6-2011, v.v
* Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu nước ngoài và Lào
Cuốn sách “Lào, con người, xã hội và văn hóa” được thực hiện theo dự
án nghiên cứu về văn hóa thế giới do Đại học Yale khởi xướng và đặt dưới sự bảo trợ của Fichier liên quan đến các mối quan hệ nhân văn, xuất bản lần đầu năm 1960 (được tái bản lần thứ ba năm 1967) tại Thái Lan Đây là công trình
Trang 18mô tả về cấu trúc xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị của nước Lào, lấy cảm hứng phần lớn từ những tài liệu do người Pháp đương thời viết ra, cung cấp bức chân dung về một xã hội truyền thống và sự biến đổi của nó dưới chế độ thuộc địa Pháp trước lúc “Chiến tranh đặc biệt” (1965-1967) của Mỹ xảy ra trên chiến trường Đông Dương
Từ năm 1961 trở đi là thời kỳ bùng nổ thực sự những nghiên cứu của người Mỹ về Lào Những lực lượng nghiên cứu về Lào được huy động rộng rãi từ các trường đại học, viện nghiên cứu, chính trị gia, quan sát viên có mặt tại Lào (các nhà báo, các nhà hoạt động chống chiến tranh, các nhân viên
chính phủ) Có thể nêu tên một số công trình tiêu biểu như: “Cuộc xung đột ở Lào: Các chính sách trung lập” của nhà báo Arthur J.Dommen; “Chiến lược cộng sản ở Lào” của A.M.Halpern và H.B.Fredman đã phân tích vai trò Hà Nội
(Việt Nam) và vai trò của Liên Xô, Trung Quốc đối với khu vực Đông Dương;
“Lào: Cuộc cách mạng khu vực theo chu kỳ” của Annes Jonas và George Tanham; tuyển tập các bài nghiên cứu “Nước Lào: Chiến tranh và cách mạng”,
Nxb New York, năm 1968 Các công trình này đã đưa ra những quan điểm đầy tranh cãi về tình hình Lào nhưng đây là tư liệu tốt cho tác giả thực hiện luận án
Cuốn “Laos and the victorious struggle of the Lao people against U.S Neo
- Colonialism” của Phoumi vongvichit (Lào và sự đấu tranh sôi nổi của nhân dân
Lào chống chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ), Nxb Neo Lao haksat publications, năm 1969 Cuốn sách gồm có 5 nội dung: 1 Nhận định chung về sự gieo trồng của chủ nghĩa thực dân mới trên đất nước này và những cuộc đấu tranh của nhân dân Lào; 2 Chiến thắng của nhân dân Lào đối với thực dân Pháp và can thiệp Mỹ trong lịch sử cách mạng của Lào; 3 Chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ và “chiến tranh đặc biệt” tại Lào; 4 Sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân mới và sự đấu tranh của nhân dân Lào; 5 Những thành tựu của cách mạng Lào trong đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ và ý nghĩa to lớn đối với nhân dân Lào Đây là những tài liệu tham khảo tốt về thời kỳ trước
Trang 19khi nước CHDCND Lào ra đời cũng như nhân tố lịch sử tác động đến công cuộc đổi mới của đất nước Lào hiện nay mà luận án nghiên cứu
Bản báo cáo “Serious bankruptcy of Nixon doctrine in Laos” (Sự phá
sản của học thuyết Nixon trên đất nước Lào) của Souphanouvong, cơ quan phát hành Neo Lao haksat press, năm 1971 Bản báo cáo dài 29 trang được hoàn thành vào ngày 2-10-1971 Bản báo cáo đã tóm tắt quá trình sụp đổ của học thuyết Nixon tại bán đảo Đông Dương Học thuyết do tổng thống Mỹ - Nixon đưa ra đã không thắng nổi tinh thần đoàn kết của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia Đây là tài liệu chính thống đáng tin cậy giúp tác giả có được những hiểu biết sâu sắc về lịch sử cách mạng của Lào
Cuốn “Hai ông Hoàng và cuộc đấu tranh cho độc lập” của Rungmani,
xuất bản năm 1974 tại Băng Cốc, Thái Lan Cuốn sách nghiên cứu phong trào đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
Cuốn “Lịch sử quân đội nhân dân Lào (1945-1995)” của Cục Khoa
học - Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng - CHDCND Lào, Nxb Quân đội nhân dân, Viêng Chăn, năm 1998 Nội dung tổng quát của cuốn sách đã tổng hợp lại những bài học kinh nghiệm của Đảng NDCM Lào trong lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động để tổ chức xây dựng lực lượng quân đội nhân dân Lào vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức Những thành tích to lớn và truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân Lào là thành tích chung của Đảng, Nhà nước và của nhân dân các bộ tộc Lào, được bắt nguồn từ tinh thần đại đoàn kết, mối quan hệ chặt chẽ giữa quân đội và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Đó là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nói chung, của quân đội nhân dân Lào nói riêng; đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo tốt cho tác giả thực hiện luận án
Cuốn “Tổng kết chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào (1945-1975)” của Bộ Chính trị, Ban Tuyên huấn Trung ương
Trang 20Đảng NDCM Lào, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, năm 2004 Nội dung xuyên suốt của cuốn sách đã tổng kết lại toàn bộ quá trình lãnh đạo của Đảng NDCM Lào trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
Cuốn sách “Quá trình phát triển của Nhà nước Lào” của Phongsavat
Bouppha, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, năm 2005 Cuốn sách đã trình bày khá
rõ các mốc lịch sử ra đời, phát triển của Nhà nước Lào; cũng như quá trình đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc
Cuốn “Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào tại các tỉnh Hạ Lào (1945- 1975)” của Vụ Khoa học và lịch sử Bộ Quốc phòng - CHDCND Lào, Nxb
Quốc gia, Viêng Chăn, năm 2005 Cuốn sách đã tái hiện những năm tháng lịch sử hào hùng của quân và dân các bộ tộc Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược
Cuốn sách “Lịch sử Đảng NDCM Lào” của Ban Nghiên cứu lý luận và
thực tiễn Trung ương Đảng NDCM Lào, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm
2005 Cuốn sách đã phân tích đầy đủ và chân thực nhất lịch sử hình thành của Đảng NDCM Lào, đồng thời, khẳng định mục tiêu của Đảng NDCM Lào là đấu tranh vì độc lập tự do của Tổ quốc Lào
Cuốn “Tổng kết chiến tranh” của Cục Khoa học - Lịch sử quân sự,
Phòng Nghiên cứu lịch sử Bộ Quốc phòng - CHDCND Lào, Nxb Quân đội nhân dân, Viêng Chăn, năm 2008 Nội dung trọng tâm của cuốn sách đã tổng hợp lại các sự kiện xảy ra trong các mặt trận lớn, nhỏ; thu thập, cập nhật các số liệu thông tin đáng tin cậy trong thời kỳ tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc; đồng thời tổng hợp lại những đóng góp to lớn của các tầng lớp nhân dân cả sức người, sức của để viện trợ, tiếp tế lương thực, thực phẩm
ra tiền tuyến, v.v
Trang 21Cuốn “Tìm hiểu các bộ tộc ở CHDCND Lào” của Viện Khoa học xã hội
và nhân văn quốc gia, Viện Nghiên cứu các bộ tộc - tôn giáo - CHDCND Lào, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, năm 2009 Nội dung của cuốn sách đã đề cập những nét đặc trưng về phong tục tập quán, tín ngưỡng, nguồn gốc hình thành, cơ sở kinh
tế và đời sống văn hóa - xã hội của các bộ tộc ở CHDCND Lào Kết quả nghiên cứu về dân tộc, tôn giáo là cơ sở quan trọng trong xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung, hình thức, biện pháp công tác dân vận của Đảng NDCM Lào để tuyên truyền vận động, triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Lào đi vào cuộc sống thực tế của mọi tầng lớp nhân dân thiết thực, hiệu quả
Nghiên cứu về quá trình trưởng thành, phát triển và vai trò của Đảng NDCM Lào cũng như Mặt trận Lào đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ
củng cố ĐLDT, có một số bài như của Cayxỏn Phônvihản: “Tư tưởng và tình cảm cách mạng cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi đường, là
nguồn cổ vũ của nhân dân các bộ tộc Lào”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5 (210)
tháng 5-2008; của Sủnthon Xaynhặchắc: “Đảng NDCM Lào - 55 trưởng
thành và phát triển”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3 (232), 3-2010, v.v
Tại Thái Lan các nhà khoa học cũng dành sự quan tâm nghiên cứu về Lào, tiêu biểu là Mayoury & Pheuiphanh Ngaosyvathn: “Lao historiography and Historians: Case study of the war between Bangkok and the Lao in 1827” (Nghiên cứu cuộc chiến tranh giữa Băng Cốc và Lào trong năm
1872), Tạp chí Journal of Southeast Asian Studies (Chuyên đề nghiên cứu
Đông Nam Á), XX -1(1989); Đại học Chụ La Lông Kon: “Lào”, Tạp chí
Châu Á thường niên, số 12, Nxb Băng Cốc, năm 1999
1.1.2 Tiếp cận dưới góc độ lựa chọn con đường phát triển nhằm củng cố độc lập dân tộc và phát triển đất nước của Lào
* Các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Việt Nam
Cuốn “Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN” của Nguyễn Xuân Sơn
và Thái Văn Long (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Cuốn
Trang 22sách đã đề cập đến đường lối đối ngoại của các nước trong khu vực Đông Nam
Á, trong đó trình bày rất cụ thể đường lối đối ngoại của Lào, từ sau khi giành độc lập đến khi bắt đầu công cuộc đổi mới (1986) và những năm tiếp theo Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả khi thực hiện luận án
Cuốn “Độc lập dân tộc của các nước đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa” của tác giả Thái Văn Long, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006
Trong chương II, tác giả đã phân tích những nhân tố tác động đến ĐLDT của các nước đang phát triển, chỉ ra những tác động thuận lợi cũng như thách thức đối với các nước đang phát triển Ở chương II, tác giả đã chỉ rõ và phân tích
cụ thể về những lực lượng chính tham gia đấu tranh bảo vệ và củng cố ĐLDT hiện nay của các nước đang phát triển Chương III, tác giả đã phân tích nội dung cơ bản về đấu tranh vì ĐLDT của các nước đang phát triển Chương 4, trên cơ sở phân tích những đặc điểm chung của cuộc đấu tranh bảo vệ, củng
cố ĐLDT của các nước đang phát triển, tác giả dành riêng để viết về cuộc đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập của Việt Nam, trong đó có nêu một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cao cho tác giả luận án
Cuốn “Kinh tế Lào và quá trình chuyển đổi cơ cấu” của Uông Trần
Quang, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999 Với 261 trang và nhiều bảng biểu, phụ lục, v.v cuốn sách đã miêu tả một cách nhìn tương đối toàn diện và sâu sắc về nền kinh tế của Lào trong mối liên hệ với những tác động của thế giới hiện đại mà Lào đang dần tìm cách hội nhập
Cuốn “Chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” của các tác giả Phan Văn Rân và Nguyễn Hoàng
Giáp (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Cuốn sách đã tiếp cận vấn đề bảo vệ ĐLDT của các nước đang phát triển trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ quyền quốc gia dân tộc, về toàn cầu hóa, từ đó công trình góp phần làm rõ thêm những nội dung mới và cấp thiết đặt ra đối với chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa hiện
Trang 23nay Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ quyền quốc gia dân tộc, về toàn cầu hóa, các tác giả đã góp phần làm rõ thêm những nội dung mới và những vấn đề cấp thiết đặt ra đối với chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay Đây cũng là một tài liệu tham khảo quý giá để tác giả triển khai một số nội dung của luận án
Cuốn sách “Một số vấn đề và xu hướng chính trị - kinh tế ở CHDCND Lào trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” của tác giả Trương Duy Hòa, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012 Cuốn sách dài 247 trang, đã phân tích và dự báo tình hình phát triển chính trị - kinh tế ở Lào giai đoạn 2011-2020, dựa trên
sự nhìn nhận và đánh giá những vấn đề nổi bật trong quá trình phát triển ở Lào
cả về kinh tế và chính trị Cuốn sách gồm có 3 chương: Chương I: Các vấn đề
và xu hướng chính trị ở CHDCND Lào; Chương II: Những vấn đề kinh tế nổi bật của Lào hiện nay và tầm nhìn đến năm 2020; Chương III: Tác động của tình hình chính trị - kinh tế ở CHDCND Lào tới Việt Nam giai đoạn 2011-
2020 Đây là một công trình có ý nghĩa đối với tác giả khi phân tích về đường lối phát triển kinh tế nhằm bảo vệ và củng cố ĐLDT của CHDCND Lào
Nghiên cứu về con người, kinh tế Lào, có các bài viết đáng chú ý như:
Nguyễn Đình Cử - Đặng Thảo Quyên: “CHDCND Lào: Tài nguyên con
người - khâu đột phá để phát triển”, Tạp chí Cộng sản, số 836 (tháng 6-2012);
Nguyễn Hồng Nhung: “Triển vọng phát triển kinh tế Lào nhìn từ thực trạng
các dòng vốn vào Lào trong những năm gần đây”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5-2012
Nghiên cứu về vấn đề đào tạo và phát triển nguồn cán bộ của
CHDCND Lào có bài viết của tác giả Lưu Đạt Thuyết - Cao Duy Tiến: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước Lào tại Học viện Chính trị -
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh trong 45 năm qua”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9-2007
Trang 24Nghiên cứu lĩnh vực truyền thông ở Lào đối với việc cân bằng giới,
góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, có bài viết của tác giả Phạm Thị Mùi:
“Truyền thông trong phát triển giới ở CHDCND Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1-2005
Về một số nội dung và bài học của Việt Nam cũng như của các nước đang phát triển về vấn đề bảo vệ ĐLDT và hội nhập quốc tế sau Chiến tranh lạnh, có các bài của các tác giả: Nguyễn Thị Quế, “Bảo vệ ĐLDT trong bối
cảnh hội nhập quốc tế”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10 (251), 10-2011; Nguyễn
Hoàng Giáp, “ĐLDT và chủ quyền quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 8-2011; Nguyễn Viết
Thảo, “Bảo vệ chủ quyền quốc gia và ĐLDT trong xu thế toàn cầu hoá”, Tạp
chí Lý luận chính trị, số 1-2014; Hà Mỹ Hương, “Kinh nghiệm trong xử lý mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế của Cadắcxtan”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 1-2015; Đàm Trọng Tùng, “Các yếu tố đe doạ an ninh phi truyền thống đối với ĐLDT, chủ quyền quốc gia”, Tạp chí Lý luận chính trị, số
6-2015 Những bài viết được đăng tải trong các tạp chí nghiên cứu nêu trên là những tài liệu tham khảo rất có ích cho tác giả khi nghiên cứu công cuộc bảo
vệ, củng cố ĐLDT của Lào sau Chiến tranh lạnh
Nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Lào từ năm 1986 đến nay, tác giả Uông Minh Long có bài viết: “Quan hệ với các nước láng giềng trong
chính sách đối ngoại của CHDCND Lào thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1-2012
Ngoài ra, còn có các luận án được bảo vệ trong thời gian gần đây có nội
dung liên quan đến luận án của tác giả như “Quá trình bảo vệ, củng cố ĐLDT của CHDCND Lào trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1975 đến năm 2010” của
Uông Minh Long, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,
năm 2012; luận án “Bảo vệ độc lập của CHDCND Lào trên lĩnh vực an ninh chính trị từ năm 1986 đến năm 2012” của Viêngxay Thammasith, năm 2016
Trang 25Tuy nhiên, những công trình này chỉ tập trung vào một lĩnh vực cụ thể trong công cuộc bảo vệ ĐLDT của Lào
* Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu nước ngoài và Lào
Chủ tịch Cayxỏn Phônvihản có cuốn sách: “Xây dựng cơ sở vững chắc để đưa đất nước vững bước tiến lên theo con đường XHCN”, Nxb Quốc gia, Viêng
Chăn, 1980 Nội dung xuyên suốt của cuốn sách đã luận giải và làm rõ vị trí, vai trò, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng chiến lược, lâu dài về chủ trương, chính sách, xây dựng cơ sở vững chắc của CNXH Tác giả đã phân tích nhiều vấn
đề quan trọng về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, hình thức xây dựng cơ sở toàn diện của CNXH, trong đó nhấn mạnh về xây dựng hệ thống chính trị và nền dân chủ XHCN Tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền vận động các tầng lớp nhận thức về quyền và nghĩa vụ công dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từng bước bảo đảm sự ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội v.v
“Les sources contemporaines du Laos 1976-2003” (Nguồn gốc sự phát
triển của Lào từ 1976-2003) của tác giả Khamla Sisomphu, Nguyễn Hào Hùng và Yang Baoyun Cuốn sách dài 1127 trang, được xuất bản tại Singapo năm 2003, đã phân tích những thành tựu cũng như những hạn chế trong đường lối, chính sách phát triển chính trị, kinh tế, xã hội của Đảng NDCM Lào sau khi kháng chiến chống Mỹ thành công
Cuốn “Cẩm nang hệ thống tập huấn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản
lý các cấp” của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng NDCM Lào, Nxb Quốc
gia, Viêng Chăn, 2001 Nội dung trọng tâm của cuốn sách là các quy định về nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác dân vận của Đảng mang tính chỉ thị hướng dẫn, nhấn mạnh các biện pháp, cách thức tổ chức nhằm triển khai nội dung Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, đưa Nghị quyết đi vào thực tế cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân
Cuốn “Đọc cho kỹ, cho hết, hiểu cho đúng, tổ chức thực hiện thành hiện thực, hiệu quả” của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng NDCM Lào,
Trang 26Nxb Xạ-phan Thoong-Can-phim, Viêng Chăn, 2002 Nội dung bao quát, trọng tâm của cuốn sách nhấn mạnh về mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ tiến hành cuộc vận động tuyên truyền trong quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân từ Trung ương đến địa phương nhằm quán triệt và thực hiện thành công mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Lào trong công cuộc đổi mới đất nước
Cuốn “Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng to lớn của Chủ tịch Cayxỏn Phônvihản, Anh hùng của dân tộc” của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng
NDCM Lào, Văn phòng nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, 2005 Cuốn sách đã nêu bật các phẩm chất năng lực, đạo đức cách mạng, nhân cách, phương pháp tác phong công tác gần gũi trong vận động tuyên truyền, thuyết phục đối với quần chúng nhân dân của Chủ tích Cayxỏn Phônvihản Đồng thời khẳng định cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là sự nghiệp vì nước, vì dân vượt qua muôn vàn khó khăn, để đổi lấy độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, v.v
Cuốn “CHDCND Lào 30 năm (1975-2005)” của Ban Tuyên huấn Trung
ương Đảng NDCM Lào, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, 2005 Cuốn sách mang tính tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo của ĐNDCM Lào từ năm 1975 đến năm 1989, tổng hợp những thành tựu thắng lợi của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào trong suốt quá trình tiến hành cuộc tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống bọn phản động tay sai, lưu vong trong và ngoài nước; đồng thời khắc phục hậu quả chiến tranh; xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền cách mạng của dân, do dân và
vì dân Những năm 1990-2005, Đảng NDCM Lào lãnh đạo và vận động nhân dân các bộ tộc Lào đẩy mạnh thực hiện công cuộc đổi mới đạt được thành tích quan trọng, tạo cơ sở vững chắc cho CHDCND Lào có chuyển biến tích cực về
phát triển kinh tế, xã hội và an ninh - quốc phòng v.v
Trang 27Cuốn “Ban Chỉ đạo chương trình phát triển nông thôn, xóa đói - giảm nghèo (2006-2010)” của Văn phòng Chính phủ, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn,
2008 Cuốn sách đã trình bày tính cấp thiết của chương trình phát triển nông thôn, xóa đói - giảm nghèo, đưa ra các nội dung, biện pháp, cách thức để thực hiện chương trình phát triển nông thôn, xoá đói, giảm nghèo ở Lào
Ở nước ngoài, cũng có một số nghiên cứu về Lào như: Cuốn “Country gender assessment for Lao PDR” (Đánh giá về sự bình đẳng giới ở
CHDCND Lào) của The world bank Lào, 2012 Cuốn sách dài 85 trang, gồm bốn chương: Chương I: Thúc đẩy bình đẳng giới trong thủ đô; Chương II: Kinh tế tạo ra sự cân bằng về những cơ hội và rủi ro; Chương III: Phụ nữ tham gia vào công việc xã hội và tiếng nói của họ; Chương IV: Khu vực mới nổi và những rủi ro Trong cuốn sách có những bảng tổng hợp số liệu về phát triển kinh tế - xã hội, những đánh giá về bình đẳng giới ở Lào trong thập niên đầu thế kỷ XXI Đây là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ quá trình thực hiện luận án của tác giả
Báo cáo “Lao PDR - UNESCO country programming document 2015” (Đất nước Lào - trong chương trình của UNESCO từ năm 2012 đến năm
2012-2015) của tổ chức UNESCO tại Băng Cốc, 2012 Báo cáo dài 45 trang, gồm bốn phần: Phần 1: Phân tích tình hình (Lào - quốc gia nhỏ, các vấn đề phát triển phù hợp, những thách thức và cơ hội cho UNESCO); Phần 2: Hợp tác trong quá khứ - hiện tại và kinh nghiệm; Phần 3: Đề xuất khuôn khổ hợp tác; Phần 4: Quan hệ đối tác Bản báo cáo như một bức tranh tổng thể về đất nước, con người, văn hoá - xã hội của Lào những năm gần đây Đây là tài liệu tham khảo về Lào trên lĩnh vực văn hoá - xã hội mà tác giả quan tâm
Đáng chú ý là hiện thực đổi mới ở Lào hướng vào nền kinh tế thị trường đã làm cho các tác giả Thái Lan bớt đi định hướng chính trị và tính ý thức hệ Từ đó, xuất hiện những công trình có tính chất khoa học như bài
nghiên cứu của Mana Malapetch (năm 1991) về “Kinh tế và chính trị ở Lào dưới chế độ XHCN” cũng như nhiều bài viết của các tác giả khác đăng trên tạp
Trang 28chí hàng năm của Viện Nghiên cứu châu Á thuộc Đại học Chulalongkorn với
sự chính xác và tôn trọng đường lối phát triển kinh tế và chính trị, đối ngoại của CHDCND Lào trong những năm qua
Từ năm 2005, nhờ triển khai các chương trình hợp tác tiểu vùng Mê Kông thuộc Đại học Ubon Ratchathani (Ubon Ratchathani: Mekong subregion social research center), đã có hàng loạt nghiên cứu mang tính thực tiễn cao về kinh tế
và xã hội học Lào Những nghiên cứu của học giả Thái Lan và nước ngoài tập trung vào những tác động của kinh tế thị trường, đặc biệt những tác động thương mại và du lịch vùng biên (trên hành lang Đông - Tây), sự đầu tư nước ngoài dẫn đến sự biến đổi kinh tế - xã hội - văn hóa Lào cùng với những hệ lụy của nó như:
“di cư và hoạt động buôn bán bất hợp pháp ở CHDCND Lào: Những câu hỏi thẩm tra các nạn nhân bị bóc lột tình dục” (Migrations and Trafficking in Lao PDR: Questions for Intervention with Victims of Sexual Exploitation) của Dedier Bertrand; “Những vấn đề xa lạ khác: vượt biên, bạo lực tình dục và chủ nghĩa sắc tộc ở vùng biên giới Thái - Lào” (The Exotic Others: Crossborder Mobility, Sexual Violence and Racism in Thai - Lao Border Zone) của Natedao
tại các tỉnh Luông NậmThà và Savănnakhệt (Economic integration and ethnic relations: Case studies from Luang Namtha and Savannakhet provinces, Lao PDR) của Andrew W.Dang; “Tác động của toàn cầu hóa đối với một cộng đồng vùng biên ở Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, sự nổi lên và phản ứng đối với chợ người Hoa tại Mường Huội Xài, CHDCND Lào” (The impact of globalization
on a borderland community in the GMS the emergence and reaction to Chinese market at Muang Huay Xai, Lao PDR) của Ekamol Saichan, Pittaya Phusai; “Sự phát triển kinh tế trì trệ ở CHDCND Lào: Tác động của những rào cản phi thuế quan và những kẽ hở kinh tế biên mậu áp vào các sản phẩm nông nghiệp từ CHDCND Lào sang Thái Lan bằng con đường chính thống qua biên giới” (Arresting economic development in the Lao PDR: The impact of non-tariff barries and economic rents imposed on the cross border trade in agricutural
Trang 29commodities from the Lao PDR to Thailand by border officials) của Krisada Pacharavanich, Titipo Phakdeewanich, Shane Tar
Nghiên cứu những vấn đề khác nhau trong phát triển kinh tế của CHDCND Lào: Cụ thể như về khó khăn khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, có các công trình của tác giả Khămpheng Saysômpheng: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những mâu thuẫn đặt ra cần giải quyết”, Tạp chí
Alunmay, số 6-2000; Khămpheng Saysômpheng: “Huy động sức mạnh toàn
dân tạo tiền đề kinh tế - xã hội cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí
Khòsana, Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng, 2001; về lý giải tại sao phải cổ
phần hóa doanh nghiệp ở Lào, có công trình của tác giả Phônthilát
Phômphôthi: “Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước”, Tạp chí Alunmay, số
5-2003; về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng NDCM Lào trong giai đoạn hiện nay có các bài của tác giả Vănnalạt Chaynhavông: “Một số vấn đề về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của CHDCND Lào trong
thập kỷ mới”, Tạp chí Nghiên cứu của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Lào, số 12-2012; National Assembly, Ministry of planning and
investment “Development plan (2011-2015), publisher by The State Press, Vientiane Capital, 2011 (Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư “Kế hoạch phát triển giai đoạn 2011-2015”, Nxb Quốc gia, Thủ đô Viêng Chăn, 2011)
Nghiên cứu về sự phát triển kinh tế ở CHDCND Lào có một số bài viết
bằng tiếng Việt tiêu biểu như: Khămpheng Saysômpheng, “Về tiền đề và bước
đi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở CHDCND Lào”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 2-2001; Phônthilát Phômphôthi, “Sự cần thiết khách quan tiếp tục đổi mới
tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước ở CHDCND Lào”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 12-2001; Vănnalạt Chaynhavông, “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của CHDCND Lào trong giai đoạn 2011-2020”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 1-
2012; Vănnalạt Chaynhavông, “Phát triển công nghiệp ở CHDCND Lào”, Tạp
chí Lý luận chính trị, số 6-2012; XổmPhon XỉChaLơn, “Thành tựu phát triển
Trang 30kinh tế ở Lào qua 25 năm đổi mới và tiềm năng hợp tác đầu tư Việt Nam - Lào”,
Tạp chí Lý luận chính trị, số 9-2012
Nghiên cứu về Đảng NDCM Lào, Nhà nước Lào, văn hoá chính trị ở Lào có các bài viết đáng chú ý như: Lachay Sinhsuvăn, “Đảng NDCM Lào lãnh đạo hệ thống chính trị ở CHDCND Lào”, Tạp chí Lý luận chính trị, số
3-2010; Thong Băn Sẻng A Phon, “Đảng NDCM Lào lãnh đạo giữ vững an
ninh chính trị - thành công và kinh nghiệm”, Tạp chí Lý luận chính trị, số
4-2010; Sủnthon Xaynhachắc, “Đại hội IX của Đảng NDCM Lào: Giai đoạn
phát triển mới của cách mạng Lào”, Tạp chí Cộng sản, số 824, tháng
6-2011; Khamla Lovanxay, “Quản lý nhà nước về đất đai ở CHDCND Lào”, Tạp
chí Lý luận chính trị, số 5-2012; Alun Bunmisay, “Những đặc điểm cơ bản của văn hoá chính trị nước CHDCND Lào”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8-2012
Nghiên cứu về vấn đề đào tạo và phát triển nguồn cán bộ của CHDCND
Lào có các bài viết: Phônthilát Phômphôthi, “Thực trạng giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước ở CHDCND Lào”,
Tạp chí Giáo dục lý luận, số 2-2004; ÙnKẹo SỉPạSợt, “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tổ chức - cán bộ cấp tỉnh ở Lào hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10-2009
Viết về giao thông nông thôn - một trong những mũi nhọn để phát triển
xã hội, xoá đi khoảng cách chênh lệch và nối liền các vùng miền ở Lào - có bài của tác giả Keng Lao Blia Yao, “Giao thông nông thôn Lào - những thành tựu
và dự án”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2-2005
Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào còn có các kế hoạch cụ thể trong tổng kết cũng như định hướng phát triển kinh tế - xã hội: “Kết quả tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước 5 năm (2001- 2005)”, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, năm 2006; “Kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội đất nước 5 năm (2006-2010)”, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, 2006; “Tổng kết giữa nhiệm kỳ tình hình tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010)”, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, tháng 7-2008; “Kế
Trang 31hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước (2008-2009)”, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, 2009; “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước (2009-2010)”, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, 2010; “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước (2011-2012)”, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, 2012
Nghiên cứu sơ lược sự nghèo khổ của nước CHDCND Lào trong khu
vực Châu Á, tổ chức OPMAC Corporation có bài: “Lao People’s democratic republic study for poverty profiles of the Asian”, 2010
Ngoài ra, trong các trang mạng thông tin có giá trị trao đổi nghiên cứu
về Lào đầy đủ nhất phải kể đến các Website của các tổ chức tài chính, tiền tệ, các tạp chí điện tử đã có mặt nhiều năm ở Việt Nam và Lào
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHƯA ĐƯỢC GIẢI QUYẾT VÀ CẦN TẬP TRUNG LÀM RÕ
1.2.1 Những vấn đề nghiên cứu chưa được giải quyết
Nghiên cứu về Lào thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, Lào và các nhà nghiên cứu ở các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, các công trình kể trên chưa mang tính toàn diện và tính hệ thống, do mục đích, phạm vi, thời gian nghiên cứu khác nhau hoặc tập trung vào những lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế - xã hội của Lào
Các công trình công bố kể trên chỉ nghiên cứu các vấn đề riêng lẻ về lịch sử, chính trị - xã hội, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, con người, v.v trong quá trình phát triển của CHDCND Lào Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về công cuộc bảo vệ, củng cố ĐLDT của Lào trên tất cả các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh, kinh
tế - thương mại, văn hóa - xã hội trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2011 Trong khi đó, kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Lào đã thực hiện chính sách đổi mới toàn diện về chính trị, kinh tế - xã hội, cải cách mở cửa thị trường, liên kết và hội nhập với khu vực và thế giới đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên, cả hiện tại và tương lai, con đường bảo vệ, củng cố ĐLDT của Lào không hề bằng phẳng, chính xác hơn là bên cạnh nhiều cơ hội thuận
Trang 32lợi là những thách thức không kém phần gay gắt Chính vì vậy, nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình bảo vệ, củng cố ĐLDT của CHDCND Lào trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2011 có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận để rút ra bài học của những năm đầu thời kỳ đổi mới đối với bảo vệ, giữ vững ĐLDT, phát triển kinh tế - xã hội ở CHDCND Lào
Các công trình đã nghiên cứu chưa chỉ ra những vấn đề trong bảo vệ ĐLDT cũng như kinh nghiệm từ quá trình đó trên các lĩnh vực của đời sống kinh
tế - xã hội; đồng thời, chưa chỉ ra được mối liên hệ giữa sự phát triển kinh tế với quá trình bảo vệ, củng cố ĐLDT ở CHDCND Lào Khoảng trống mà các công trình trên chưa đề cập đến chính là việc nghiên cứu tổng thể, toàn diện về một giai đoạn bảo vệ ĐLDT từ năm 1991 đến năm 2011 của đất nước Lào
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung làm rõ
Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận án tập trung và làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
- Thứ nhất, phân tích làm rõ những nhân tố chủ quan và khách quan,
bên trong và bên ngoài tác động đến quá trình bảo vệ, củng cố ĐLDT của CHDCND Lào từ năm 1991 đến năm 2011, cụ thể là những nhân tố trong nước và nhân tố quốc tế
- Thứ hai, đưa ra một bức tranh trung thực, sát đúng về thực trạng bảo
vệ, củng cố ĐLDT của CHDCND Lào từ năm 1991 đến năm 2011 Cụ thể là Luận án phân tích làm rõ đường lối, chính sách bảo vệ và củng cố ĐLDT; các nội dung và biện pháp bảo vệ, củng cố ĐLDT của CHDCND Lào trên các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh, kinh tế - thương mại, văn hóa - xã hội
- Thứ ba, đánh giá những thành công, hạn chế; từ đó chỉ ra những vấn
đề đối với Lào trong bảo vệ, củng cố ĐLDT ở những giai đoạn tiếp theo; đồng thời, rút ra kinh nghiệm từ quá trình bảo vệ, củng cố ĐLDT của CHDCND Lào từ năm 1991 đến năm 2011
Trang 33Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CUỘC BẢO VỆ, CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA DÂN CHỦ
NHÂN DÂN LÀO SAU CHIẾN TRANH LẠNH
2.1 NHÂN TỐ TRONG NƯỚC
2.1.1 Khái quát về Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý và ý nghĩa của nó: CHDCND Lào là quốc gia không lớn,
,nhưng lại có vị trí địa lý giao lưu với các nền kinh tế năng động trong khu vực Nhìn trên bản đồ tự nhiên, Lào có vị trí hết sức đặc biệt so với các nước Đông Nam Á khác: Lào nằm sâu trong lục địa, không có đường ra biển, nhưng là đất nước duy nhất có đường biên tiếp giáp với 5 nước láng giềng: Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Mianma, Campuchia Ngày nay, vị trí tương đối biệt lập của Lào vì không có biển đã trở thành vị trí trung chuyển của khu vực và là vùng đệm lý tưởng của nhiều nước trong cuộc cạnh tranh địa - kinh tế, địa - chiến lược quan trọng
Địa hình chủ yếu bao gồm núi và cao nguyên chiếm 3/4 diện tích của Lào (trong đó 1/3 lãnh thổ là núi đồi với độ cao từ 200m đến 2820m so với mặt nước biển), bên cạnh đó là núi, dốc, thung lũng, ít sông Các cao nguyên nằm xen kẽ với núi đồi, cho nên việc đi lại và giao lưu hàng hóa giữa các vùng không thuận tiện do địa hình phức tạp và hệ thống giao thông đường
bộ còn kém phát triển
khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, tiếp theo đó là mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau CHDCND Lào có các vùng khí hậu hình thành trên cơ sở khác biệt về tự nhiên Vùng miền núi của Lào có thể chia thành ba
Trang 34vùng khí hậu khá đặc trưng Vùng núi phía Bắc (bao gồm cả một phần vùng núi cao của Viêng Chăn và Bô Ly Khăm Xay) là khu vực có nhiều núi cao trùng điệp, khí hậu mát mẻ trong cả mùa hè lẫn mùa đông; do đó, phù hợp với chăn nuôi gia súc và một số loại cây ăn quả, sản xuất lâm nghiệp phát triển Vùng Trung và Nam Lào (tính từ phía Đông thuộc dãy núi Trường Sơn) là khu vực có nhiều dãy núi với độ dốc thấp hơn Bắc Lào, có đặc điểm khí hậu
ấm áp quanh năm, cũng là nơi có nhiều rừng rậm, rừng nguyên sinh với nhiều loại cây gỗ quý và thú rừng Vùng đồng bằng phía Tây ven bờ sông Mê Kông
có địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai phần lớn là phù sa nhưng thường bị mưa xói mòn, nhiều nơi đã trở thành chua phèn, bạc màu, hoang hóa Khí hậu
ở đây dường như nóng quanh năm Do dân cư tập trung đông nên trình độ sản xuất hàng hóa ở vùng này cao hơn các vùng khác
Tài nguyên thiên nhiên: Lào là quốc gia rất giàu lâm sản và khoáng sản
(cánh kiến trắng chiếm 70% sản lượng thế giới), mỏ thiếc có hàm lượng cao chiếm từ 50 - 63 %, các mỏ vàng nằm trên khắp đất nước Lào; ngoài ra, Lào
có các mỏ chì, sắt, đồng thau, kẽm, thạch cao, đá vôi, v.v., dọc theo biên giới Việt Nam - Lào còn có dầu mỏ, lưu huỳnh Lào có nhiều loài động vật quý hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ, tuy nhiên rất nhiều loài đang đứng trước hiểm họa tuyệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng Đặc biệt, Lào có nguồn tài nguyên nước khá phong phú, một số con sông bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn có lưu lượng nước chảy mạnh, vì vậy thích hợp với xây dựng nhà máy thủy điện
Điều kiện tự nhiên đa dạng tạo ra những thuận lợi và hạn chế đối với phát triển kinh tế - xã hội của Lào như sau:
Thuận lợi: CHDCND Lào có vị trí đầu mối giao thông, vị trí tiếp giáp
với nhiều nước ở khu vực ASEAN, châu Á Nếu cơ sở hạ tầng của Lào được nâng cấp, một số chính sách về thông quan hàng hóa được cải thiện hơn nữa thì Lào sẽ thật sự trở thành trung điểm trên con đường giao lưu hàng hóa giữa
Trang 35các nước Đây là một thế mạnh để Lào phát triển kinh tế hàng hóa và tăng thu ngân sách nhà nước Là đất nước có nhiều tài nguyên nước, vì vậy, nếu trong tương lai Chính phủ Lào thực hiện thành công chương trình đầu tư xây dựng
hệ thống thủy điện, thì không những Lào sẽ có nguồn năng lượng điện dồi dào phục vụ phát triển công nghiệp, dịch vụ trong nước, mà còn có thể xuất khẩu sang các nước láng giềng, thu về ngoại tệ với quy mô tương đối lớn Ngoài ra, theo đánh giá của các nhà địa chất, Lào có trữ lượng lớn về vàng, thiếc, chì, đá quý, than đá, v.v với chất lượng tốt; nếu được đưa vào khai thác thì sẽ có nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước
Hạn chế: Trong khi vùng núi và cao nguyên chiếm diện tích lớn, thì
vùng đồng bằng lại bị chia cắt, không thuận lợi cho phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn Đặc biệt, vì không có biển nên Lào khó khăn trong vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, trong khi kinh tế biển ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Mặc dù Lào có thể sử dụng các dịch vụ vận tải biển của nước khác, nhưng đường đi ra các cảng biển làm tăng chi phí chuyên chở, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu
2.1.1.2 Đặc điểm xã hội - văn hóa
Về dân cư, khoảng 60% dân cư là dân tộc Lào theo nghĩa hẹp, đây là
nhóm cư dân thống lĩnh trong chính trị, văn hóa sinh sống ở các khu vực đất thấp 8% dân cư thuộc các sắc tộc khác ở vùng đất thấp cùng với người Lào được gọi chung là Lào Lùm Các dân tộc sinh sống ở vùng cao là người H’Mông (Mèo), Dao (Yao hay Miền), Thái đen, Shan và một ít người gốc Tây Tạng - Miến Điện, sống tại các khu vực cô lập của Lào [204] Các bộ lạc vùng cao với một di sản ngôn ngữ sắc tộc hỗn hợp ở phía bắc của Lào Một cách tổng quát, tộc người này được biết đến như là người Lào Sủng hay người Lào vùng cao Còn các vùng núi ở trung tâm và miền Nam là nơi sinh sống của các bộ lạc thuộc sắc tộc Môn - Khmer, được biết đến như là người Lào Thơng Có một ít người là gốc Việt Nam, chủ yếu ở các thành thị, nhưng
Trang 36nhiều người đã rời khỏi đây sau khi Lào giành độc lập cuối thập niên 40 của thế kỷ XX và sau năm 1975 Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đa số người H’Mông tham gia kháng chiến, đóng góp công sức cho cách mạng Lào; bên cạnh đó, cũng có một bộ phận không nhỏ làm tay sai cho giặc, được xây dựng thành “lực lượng đặc biệt” do tướng Vàng Pao chỉ huy Trên thực tế, đây là lực lượng “xung kích” của Mỹ tại chiến trường Bắc Lào trong “Chiến tranh đặc biệt” ở Đông Dương, cũng là lực lượng nuôi dưỡng mưu đồ lập “Vương quốc H’Mông tự trị”
Về ngôn ngữ, ngôn ngữ chính thức của Lào thuộc nhóm ngôn ngữ Tai
Tiếng Tai là một bộ phận của họ ngôn ngữ trải dài từ Assam Ấn Độ đến tỉnh Vân Nam (miền Nam Trung Quốc) Đáng chú ý là kể cả những bộ tộc thiểu
số ở Lào cũng có ngôn ngữ và thổ ngữ riêng Tiếng Lào chuẩn được sử dụng
ở vùng Viêng Chăn trở thành quốc ngữ Tiếng Lào ngày nay rất khác tiếng Lào trước cách mạng, nhất là ở Viêng Chăn, khi nhiều lối nói lễ nghi và trang trọng đã biến mất trong một xã hội ít phân biệt giai cấp hơn
Về tín ngưỡng tôn giáo, hiện nay ở Lào Phật giáo được coi là quốc
giáo, tuy nhiên bên cạnh đó, còn có các loại tín ngưỡng khác Tín ngưỡng thờ cúng thần linh là một loại tín ngưỡng cổ ở Lào Mặc dù tôn trọng đạo Phật nhưng người Lào vẫn chú trọng thờ cúng các vị thần liên quan đến cuộc sống, đến sản xuất Tín ngưỡng thờ phỉ (ma) được người Lào quan niệm là người chết cũng có linh hồn, linh hồn người chết nhập vào một vật thể nào đó có uy lực thì trở thành vật linh thiêng Tín ngưỡng Bàlamôn từng xâm nhập vào Lào, nhưng hiện nay đã mờ nhạt dần và nhường chỗ cho đạo Phật Đặc điểm tôn giáo nói trên đã ảnh hưởng đến tác phong, lối sống của người Lào từ khi bắt đầu hình thành đất nước cho đến nay Vì vậy, xã hội Lào tương đối bình yên, mọi người ít bon chen và thích cuộc sống với nhịp độ chậm rãi
Nhìn chung, với đặc điểm văn hóa - xã hội như vậy, nhân dân các bộ tộc Lào lại có cuộc sống chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên, nên từ xa xưa đã
Trang 37hình thành nên tính cách con người Lào - chất phác, mộc mạc, giản dị và chân thành; gắn liền với đó là một nền văn hóa đa dạng các loại hình nghệ thuật từ
ăn, mặc ở, sinh hoạt hàng ngày đều mang đậm nét của đạo Phật
2.1.1.3 Đặc điểm chính trị
Xây dựng bộ máy quyền lực nhà nước và củng cố hệ thống chính quyền là vấn đề chính trị nội bộ cực kỳ quan trọng của chính quyền mỗi quốc gia Bộ máy quyền lực nhà nước và hệ thống chính trị của một đất nước phải hợp hiến, hợp pháp và được người dân tôn trọng, ủng hộ thì mới tồn tại vững chắc Ở CHDCND Lào, bộ máy quyền lực nhà nước, hệ thống chính quyền
đã được xây dựng từng bước khá thành công trong quá trình phát triển đất nước mấy chục năm vừa qua Trên thực tế, bộ máy quyền lực của CHDCND Lào hoạt động khá hiệu quả, phù hợp với tập quán sinh hoạt tôn giáo và văn hóa của nhân dân các bộ tộc Lào, đáp ứng cơ bản các quyền lợi về chính trị -
an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội Hệ thống chính trị - xã hội ở Lào là hệ thống các thiết chế chính trị, bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Lào xây dựng đất nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào, vì mục tiêu xây dựng nước Lào “Hòa bình - Độc lập - Thống nhất - Dân chủ - Thịnh vượng” Có thể thấy rằng, đây là một trong những thể chế chính trị có nhiều nét khác biệt so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Lịch sử xây dựng, phát triển của chính quyền dân chủ nhân dân ở Lào là một quá trình đấu tranh lâu dài, oanh liệt và phức tạp CHDCND Lào là quốc gia theo chế độ nhất nguyên chính trị, dưới sự lãnh đạo của một chính đảng duy nhất (Đảng NDCM Lào), tuyên bố xây dựng đất nước theo mô hình nhà nước pháp quyền XHCN - nhà nước “của dân, do dân, vì dân”
Năm 1991, Hiến pháp Lào được ban hành bằng sắc lệnh của Chủ tịch nước ký ngày 15-8-1991 và Lào quyết định tổ chức bầu cử Quốc hội khóa III (1991-1995) vào ngày 20-12-1991 theo tinh thần Hiến pháp 1991 và Luật bầu
Trang 38cử đại biểu Quốc hội mới Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình phát huy quyền làm chủ của nhân dân các bộ tộc Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào
Điều đặc biệt chú ý ở Lào hiện nay là người giữ chức vụ cao nhất về Đảng thường kiêm chức người đứng đầu chính quyền: Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Tỉnh trưởng, Bí thư Huyện ủy kiêm Huyện trưởng, Bí thư Đảng địa phương kiêm Trưởng ban, v.v., ở tất cả các cơ cấu chính quyền và đoàn thể khác cũng đều như vậy Thiết chế này giúp cho công việc tránh chồng chéo và tinh giảm bộ máy Đây là một thiết chế rất có ý nghĩa mà các nước có chế độ một đảng lãnh đạo có thể nghiên cứu, tham khảo, học tập Đối với cơ quan tư pháp, Lào thành lập hệ thống Tòa án và Viện Kiểm sát theo Luật Tổ chức Tòa án và Viện Kiểm sát nhân dân năm 1989 gồm: Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Tòa án và Viện Kiểm sát quân sự Trung ương Với mô hình này, nền dân chủ ở Lào được thực hiện theo hình thức tập trung dân chủ, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng Trung ương trên nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” Theo Hiến pháp của Lào thì người dân trực tiếp bầu ra Quốc hội (hiện nay gồm 132 đại biểu) là những người đại diện cho dân để họ bầu ra Chủ tịch nước và các thành viên Chính phủ
Đối với Lào, việc xác định một Đảng duy nhất lãnh đạo, một hệ thống quyền lực thống nhất có thể nói là phù hợp, nhưng khi vận hành cả hệ thống chính trị thì việc phân biệt vai trò, chức năng của Đảng và chính quyền cấp tỉnh, bộ, ngành còn hết sức phức tạp Từ trước đến nay, đặc điểm của thể chế chính trị Lào được hiểu là thống nhất cao với sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào Đảng là một thành viên của hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc cũng như xây dựng đất nước không thể
Trang 39phủ nhận Trong bối cảnh thế giới mới sau Chiến tranh lạnh, nhận thức này không sai nhưng chưa đủ; bởi vì, sự tham gia của đông đảo các lực lượng chính trị - xã hội đã làm thay đổi tính chất thuần nhất của hệ thống chính trị truyền thống Khách quan mà nói, kết quả hoạt động của cả hệ thống chính trị
là sản phẩm của sự tương tác về chính trị - xã hội rất đa dạng Trong tính thống nhất của lợi ích quốc gia, dân tộc vẫn có sự đa dạng về lợi ích giữa những nhóm xã hội khác nhau Chính vì vậy, nền chính trị hiện đại không thể
là sản phẩm của riêng hệ thống chính trị như quan niệm trước đây; do đó, để phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của Đảng; đồng thời nêu cao vai trò các thiết chế trong toàn bộ hệ thống chính trị - xã hội đó Sự hiện diện của các tổ chức xã hội rộng lớn, đặc biệt là các hội đoàn trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, kinh doanh, dịch vụ xã hội, v.v., tuy không trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng nhưng trong điều kiện nền dân chủ XHCN, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên, các tổ chức này có tác động to lớn đến đời sống kinh tế - chính trị của đất nước
Ở Lào, không có xung đột giữa chính trị và tôn giáo Trong một chừng mực nhất định, công tác vận động tôn giáo ở Lào có nhiều thuận lợi hơn so với các nước láng giềng như Thái Lan, Việt Nam, Campuchia v.v., vì ở Lào Phật giáo được xem như là quốc giáo, các tôn giáo khác như Thiên chúa giáo, Kitô giáo, đạo Tin lành, v.v đều có tồn tại ở Lào nhưng số lượng rất ít, không đáng kể nên phạm vi ảnh hưởng hẹp Phật giáo trên đất nước Lào thuộc dòng tiểu thừa đã hiện diện từ nhiều thế kỷ, bản chất đôn hậu, thuần khiết hơn nhiều so với Phật giáo ở một số nước Đông Nam Á khác
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đến nay, nhìn chung, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhận thức tương đối sâu sắc, rõ ràng về vị trí, vai trò của mình đối với công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời, đa số nhân dân tỏ thái độ tự hào,
Trang 40trân trọng về truyền thống vẻ vang của dân tộc cũng như những giá trị truyền thống cao đẹp, quý báu mà tổ tiên, cha ông đã để lại; tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước, của dân tộc Bên cạnh đó, người dân Lào, đặc biệt là thế hệ trẻ có trình độ văn hóa khá cao, am hiểu khá sâu sắc về nghĩa vụ và quyền lợi của mình trong đời sống chính trị, về đặc điểm, tình hình và xu hướng phát triển của thời đại ngày nay
2.1.2 Khái quát lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của Lào giai đoạn trước năm 1991
Quá trình bảo vệ và củng cố ĐLDT của nhân dân các bộ tộc Lào là những chặng đường lịch sử vẻ vang gắn liền với sự phát triển của đất nước Lào
2.1.2.1 Giai đoạn trước năm 1945
* Các cuộc đấu tranh trong lịch sử của nhân dân các bộ tộc Lào nhằm bảo
kỷ XIV là phong kiến Sukhôthay, v.v Để thực hiện nhiệm vụ lớn lao lúc đó
là giải phóng và thống nhất đất nước, đại quân của Phạ Ngừm đã thắng lợi vẻ vang vào năm 1357 Đặc biệt, nước Lào dưới triều đại Sulinha Vôngsa được
Nhưng sau khi vua Sulinha Vôngsa qua đời (1690), nội bộ hoàng tộc lại xảy ra mâu thuẫn tranh giành ngôi vua, dẫn đến năm 1707 đất nước bị chia cắt thành hai vương quốc Luông Pha Bang và Viêng Chăn Năm 1713, Mường Chămpaxắc lại tách khỏi Vương quốc Viêng Chăn, trở thành vương quốc thứ
ba Năm 1778, phong kiến Xiêm đã phá bỏ những hòa ước cam kết tôn trọng