1.2 MỤC TIÊU CỦA THÍ NGHIỆM “Trò chơi ghép cặp” là một thí nghiệm kiểm soát được thực hiện nhằm mục đích đánh giá mức độ hợp tác giữa các cá nhân chưa từng gặp nhau trên cơ sở tối đa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ
BÀI TẬP NHÓM KINH TẾ HỌC HÀNH VI
GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ HỢP TÁC TRONG SINH VIÊN: NGHIÊN CỨU THÍ
NGHIỆM
Giảng Viên Hướng Dẫn: Sinh viên thực hiện: Nhóm 16
PhD Nguyễn Tuấn Kiệt Nguyễn Thị Kim Thoa B1401784
Trần Thị Diễm Trang B1401793 Đặng Thị Huyền Trân B1401795
Vỏ Thị Thom B1401848 Phạm Thị Kim Thoa B1507654
Cần Thơ, 11-2016
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu thí nghiệm 1
1.2 Mục tiêu của thí nghiệm 2
1.3 Tính kế thừa và tính mới 2
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
2.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu 3
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 3
2.1.3 Cở mẫu 3
2.2 Thiết kế thí nghiệm 3
2.2.1 Phương thức thực hiện 3
2.2.2 Hình thức câu hỏi 3
2.2.3 Nội dung bảng hướng dẫn 3
2.3 Các bước thực hiện thí nghiệm 4
2.3.1 Thiết kế bảng hướng dẫn 4
2.3.2 Hoàn chỉnh bảng hướng dẫn 4
2.3.3 Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 4
2.3.4 Thống kê và phân tích kết quả 5
2.3.5 Kiểm tra và hoàn chỉnh nội dung 5
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 6
3.1 Sự khác nhau trong lựa chọn của đáp viên trong ba bảng hướng dẫn 6
3.2 Sự khác biệt trong chọn lựa của phiếu 3 dưới tác động của việc nhận được phiếu trao đổi thông tin có dùng từ thuyết phục 7
3.3 Tác động của phiếu trao đổi thông tin đến lựa chọn của đáp viên 8
3.4 Ảnh hưởng của mức độ tin tưởng của đáp viên vào phiếu trao đổi thông tin đến kết quả lựa chọn 10
Trang 33.5 Phân tích mức độ lo ngại rủi ro của sinh viên thông qua lựa chọn theo
sự thay đổi xác suất số điểm nhận được 11
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ỨNG DỤNG 13
4.1 Kết luận 13
4.2 Ứng dụng thí nghiệm vào thực tế 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 4CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 GIỚI THIỆU THÍ NGHIỆM
Con người thường phải đối mặt với sự đánh đổi Để có được một thứ ưa thích, chúng ta thường phải từ bỏ một thứ khác mà mình cũng yêu thích Ra quyết định đòi hỏi phải đánh đổi mục tiêu này để đạt được một mục tiêu khác Việc nhận thức được những sự đánh đổi trong cuộc sống có ý nghĩa quan trọng, bởi vì con người có thể ra quyết định tốt khi họ hiểu rõ những phương án lựa chọn mà họ đang có (N Gregory Mankiw, 2010)
Theo N Gregory Mankiw (2010), những nhà kinh tế thường giả thuyết con người duy lý Con người duy lý cố làm tốt nhất để đạt được mục tiêu của
họ một cách có hệ thống và có mục đích với các cơ hội sẵn có Thuật ngữ thay đổi cận biên để chỉ những điều chỉnh nhỏ so với kế hoạch hành động hiện tại Những người duy lý thường đưa ra quyết định bằng cách so sánh lợi ích biên và chi phí biên Một người quyết định hợp lý thực hiện một hành động khi và chỉ khi lợi ích biên của hành động vượt quá chi phí biên
Một trong những nguyên lý về cách thức ra quyết định cá nhân là con người phản ứng với động cơ khuyến khích N Gregory Mankiw (2010) cho rằng một động cơ khuyến khích là một yếu tố nào đó thôi thúc cá nhân hành động chẳng hạn như khả năng bị trừng phạt hoặc được khen thưởng Vì người duy lý
ra quyết định dựa trên sự so sánh chi phí và lợi ích, họ rất nhạy đối với các động
cơ khuyến khích Lý thuyết kinh tế được tạo nên trên cơ sở một giống loài đặc biệt, thường được gọi với cái tên “con người kinh tế” Tuy vậy trong thực tế con người lại là “con người tự nhiên” Herbert Simon, một trong những nhà khoa học xã hội đầu tiên nghiên cứu ở ranh giới giữa kinh tế học và tâm lí học, đề xuất rằng những con người không nên được nhìn nhận như những kẻ tối đa hóa bằng lý trí mà là những kẻ có định mức (những người sẽ hành động cho đến khi những tiêu chuẩn của họ được thỏa mãn) Thay vì luôn chọn hành vi tốt nhất,
họ ra quyết định ở mức vừa đủ tốt
Rủi ro đề cặp đến sự biến đổi của kết quả của các hoạt động có tính chất không chắc chắn Người ta thường có thái độ khác nhau đối với rủi ro Một số
sợ rủi ro, một số thích rủi ro, trong khi một số lại bàng quan đối với nó Người
sợ rủi ro chuộng giá trị của cải hiện có hơn giá trị của cải gắn với một trò chơi may rủi nào đó và chuộng trò chơi với mức độ biến động của giá trị kết quả ít hơn so với trò chơi với mức độ biến động của giá trị kết quả nhiều hơn (Lê Khương Ninh, 2008)
Trang 5Xuất phát từ những khái niệm, hiện tượng trong kinh tế trên nhóm chúng
em quyết định thực hiện thí nghiệm “Trò chơi ghép cặp”
1.2 MỤC TIÊU CỦA THÍ NGHIỆM
“Trò chơi ghép cặp” là một thí nghiệm kiểm soát được thực hiện nhằm
mục đích đánh giá mức độ hợp tác giữa các cá nhân chưa từng gặp nhau trên cơ
sở tối đa hóa lợi ích nhận được, xem xét mức độ ảnh hưởng của thái độ của cá nhân đối với rủi ro và chi phí cơ hội đến quyết định của cá nhân đó; kiểm tra nhận định “con người không phải lúc nào cũng lý trí” trong thực tế; so sánh sự khác nhau trong quyết định lựa chọn của cá nhân khi các cá nhân được trao đổi thông tin với nhau về kết quả lựa chọn thông qua phiếu trao đổi trước khi ra quyết định cuối cùng và nguyên nhân của sự khác nhau đó
Trang 6CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu
“Trò chơi ghép cặp” được thực hiện tại khu 2, trường Đại học Cần Thơ
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên ở trường đại học Cần Thơ từ khóa 39 đến khóa 42
2.1.3 Cỡ mẫu
- Phiếu 1: 30 cặp sinh viên
- Phiếu 2: 30 cặp sinh viên
- Phiếu 3: 30 cặp sinh viên
2.2 THIẾT KẾ THÍ NGHIỆM
2.2.1 Phương pháp thực hiện
Nhóm sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp
2.2.2 Hình thức câu hỏi
Kết hợp cả câu hỏi đóng và câu hỏi mở
2.2.3 Nội dung bảng hướng dẫn
Nội dung chủ yếu dựa vào mục tiêu khảo sát đã được nêu ở trên Bảng hướng dẫn sẽ gồm 2 phần:
- Phần 1: Giới thiệu về trò chơi ghép cặp, những thông tin cần thiết để
đáp viên hiểu được nội dung bảng hướng dẫn, câu hỏi kiểm soát đáp viên có hiểu bảng hướng dẫn hay không và câu hỏi lựa chọn
- Phần 2: Thông tin đáp viên và câu hỏi phụ nhằm giúp cho người khảo
sát giải thích được nguyên nhân khách quan của lựa chọn mà đáp viên
đã trả lời
Tổng cộng có 3 bảng hướng dẫn:
- Phiếu 1: phiếu chưa có yếu tố tác động
- Phiếu 2: phiếu đã thêm yếu tố tác động là phiếu trao đổi thông tin về
kết quả lựa chọn
Trang 7- Phiếu 3: phiếu đã thêm yếu tố tác động là phiếu trao đổi thông tin lựa
chọn và có thể dùng từ ngữ thuyết phục người được ghép cặp
2.3 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN THÍ NGHIỆM
Khi đã đủ số lượng người tham gia khảo sát, chúng tôi sẽ bắt đầu khảo sát:
- Phiếu 2:
Người phỏng vấn sẽ tiến hành phát phiếu khảo sát kèm 1 phiếu trao đổi thông tin, hướng dẫn để đáp viên đọc và tìm hiểu bảng hướng dẫn
Trang 8 Giải thích những thắc mắc của đáp viên về bảng hướng dẫn trước khi làm câu hỏi kiểm soát
Hướng dẫn cho đáp viên điền vào phiếu trao đổi thông tin (phiếu trao đổi thông tin của phiếu 2, đáp viên chỉ cần trả lời lựa chọn dự định chọn là A hay B)
Trao đổi phiếu trao đổi thông tin với người được ghép cặp
Hướng dẫn đáp viên hoàn thành phần thông tin đáp viên Khi đáp viên hoàn thành phiếu khảo sát, chúng tôi sẽ thu lại bảng hướng dẫn
và phiếu trao đổi thông tin và cho đáp viên bốc thăm chọn 1 trong
10 số từ 1-10 tương ứng với 10 câu hỏi lựa chọn theo xác suất
- Phiếu 3:
Người phỏng vấn sẽ tiến hành phát phiếu khảo sát kèm 1 phiếu trao đổi thông tin, hướng dẫn để đáp viên đọc và tìm hiểu bảng hướng dẫn
Giải thích những thắc mắc của đáp viên về bảng hướng dẫn trước khi làm câu hỏi kiểm soát
Hướng dẫn cho đáp viên điền vào phiếu trao đổi thông tin (phiếu trao đổi thông tin của phiếu 3, ngoài việc ghi lựa chọn A hoặc B, đáp viên có thể ghi thêm câu thuyết phục để thuyết phục người được ghép cặp với mình tin vào lựa chọn trao đổi của họ)
Trao đổi phiếu trao đổi thông tin với người được ghép cặp
Hướng dẫn đáp viên hoàn thành phần thông tin đáp viên Khi đáp viên hoàn thành phiếu khảo sát, chúng tôi sẽ thu lại bảng hướng dẫn
và phiếu trao đổi thông tin và cho đáp viên bốc thăm chọn 1 trong
10 số từ 1-10 tương ứng với 10 câu hỏi lựa chọn theo xác suất
2.3.4 Thống kê và phân tích kết quả
2.3.5 Kiểm tra và hoàn chỉnh nội dung
Trang 9CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 SỰ KHÁC NHAU TRONG LỰA CHỌN CỦA ĐÁP VIÊN TRONG BA BẢNG HƯỚNG DẪN
Phiếu 1 với phiếu 2, 3 có sự khác nhau là trong phiếu 1 thì cả hai bên đều không có được thông tin về lựa chọn của đối phương mà phải tự mình đưa ra quyết định Phiếu 2 và phiếu 3, đáp viên sẽ biết được thông tin lựa chọn của người được ghép cặp Vì vậy, đối với phiếu 1 sẽ có xu hướng chọn A nhiều hơn
vì đây sẽ là lựa chon an toàn khi chưa biết thông tin của đối phương với 38 người chọn A trên tổng số 60 người, tương đương 63,3% và có 22 trên 60 người chọn B tương đương 36,7% Phiếu 2, phiếu 3 thì do biết được thông tin lựa chọn của đối phương nên đáp viên có xu hướng chuyển sang lựa chọn B Cụ thể là trong phiếu 2 có 33 trên 60 đáp viên chọn lựa chọn A tương đương 55% và 27 đáp viên lựa chọn B tương đương 45% Và ở phiếu 3 thì có 30 trên tổng số 60 đáp viên chọn A tương đương 50% bằng với số đáp viên lựa chọn B
Trong tổng số phiếu lựa chọn A thì phiếu 1 chiếm 37,6%, phiếu 2 là 32,7%
và phiếu 3 giảm còn 29,7% Ngược lại, đối với lựa chọn B thì có sự tăng dần,
cụ thể là phiếu 1 chiếm 27,8% , phiếu 2 chiếm 34,2%, và 38% ở phiếu 3
Trang 10Bảng 3.1: Sự khác nhau trong lựa chọn của đáp viên trong ba bảng hướng dẫn
Trong phiếu 3 có 55,6% lựa chọn A trong trường hợp phiếu trao đổi thông tin nhận được không có từ thuyết phục và 44,4% đáp viên lựa chọn B chiếm 40% trong tổng số lựa chọn B Khi có sử dụng từ thuyết phục trong phiếu trao đổi thông tin thì có 45,5% đáp viên chọn lựa chọn A Lựa chọn B chiếm tỷ lệ là 54,5% trong trường hợp phiếu trao đổi thông tin có dùng từ thuyết phục và chiếm 60% trong tổng số lựa chọn B ở phiếu 3 Đa số đáp viên có xu hướng chọn A nhiều hơn khi trong phiếu trao đổi thông tin nhận được không có từ thuyết phục do không có độ tin cậy cao nên lựa chọn an toàn vẫn được ưu tiên hàng đầu, phiếu trao đổi thông tin nhận được có từ thuyết phục giúp mỗi bên có thêm lòng tin vào lựa chọn nhận được từ bên còn lại Vậy, phiếu trao đổi thông tin nhận được có dùng từ thuyết phục là một trong những nguyên nhân làm thay đổi lựa chọn của đáp viên so với phiếu 1 và 2
Trang 11Bảng 3.2: Sự khác nhau trong lựa chọn của phiếu 3 dưới tác động của phiếu trao đổi thông tin nhận được có dùng từ thuyết phục
là 34, trao A nhận B và trao B nhận A có số phiếu bằng nhau là 25 phiếu trong tổng số 120 phiếu của phiếu 2 và 3
Trang 12Hình 3.1: Sự khác nhau trong lựa chọn trong bốn trường hợp trao nhận
ĐVT: % Trong trường hợp trao A nhận A thì có đến 91.7% số người quyết định lựa chọn A vì A là lựa chọn tối ưu trong trường hợp này Trường hợp trao A nhận
B thì có 84% lựa chọn A và trong trường hợp trao B nhận A thì có 76% lựa chọn
B Điều này cho thấy đa số sinh viên đều giữ nguyên quyết định lựa chọn của mình và ít bị tác động bởi lựa chọn nhận được của đối phương Tỷ lệ sinh viên chọn B trong trường hợp trao B nhận B là 91,2%, nguyên nhân là do họ chấp nhận rủi ro để mong đạt được lợi ích cao nhất và tin rằng người được ghép cặp với mình cũng nghĩ vậy khi nhận được phiếu trao đổi của đối phương
Trong tổng số đáp viên lựa chọn A thì trường hợp trao A nhận A chiếm tỷ
lệ cao nhất là 52,4%, trao B nhận A chiếm 9,5% và trong tổng số đáp viên chọn
B thì trường hợp trao B nhận B chiếm tỷ lệ cao nhất với 54,4%, trao A nhận B chiếm 7% Vậy, khi lựa chọn đáp viên trao và nhận được trùng khớp với nhau thì lòng tin của đáp viên vào lựa chọn đó sẽ càng cao dẫn đến lựa chọn cuối cùng sẽ là lựa chọn đã trao đổi với người ghép cặp Ngược lại, khi lựa chọn của người ghép cặp khác với lựa chọn của đáp viên thì rất ít đáp viên thay đổi quyết định của mình đã trao khi trao đổi thông tin lựa chọn
Khi thực hiện trò chơi với người lạ thì đa số sinh viên đều rất cẩn trọng trong việc ra quyết định vì nó ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân mà họ nhận được
Trang 13Chính vì thế, sinh viên lo ngại rủi ro khi phải thay đổi quyết định lựa chọn cuối cùng với lựa chọn ban đầu đã trao đổi
3.4 ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ TIN TƯỞNG CỦA ĐÁP VIÊN VÀO PHIẾU TRAO ĐỔI THÔNG TIN ĐẾN KẾT QUẢ LỰA CHỌN
Bảng 3.3: Mối liên hệ giữa mức độ tin tưởng và việc trao nhận thông tin
Như vừa phân tích ở phần 3.3, đa số đáp viên đều lựa chọn đáp án giống với đáp án đã trao đổi do lo ngại rủi ro trong trường hợp trao A nhận A, trao A nhận B và trao B nhận A nên mức độ tin tưởng thấp (từ 0-4 theo thang điểm 10) trong 3 trường hợp này chiếm tỷ trọng cao tương ứng với 52,8%; 64% và 56% Ngược lại, trong trường hợp trao B nhận B do đáp viên chấp nhận rủi ro và tin vào phiếu trao đổi nhận được của người ghép cặp nên tỷ trọng mức độ tin tưởng cao trong trường hợp này chiếm khá cao 55,9%
Nếu xét theo phần trăm mức độ tin tưởng, số đáp viên có mức độ tin tưởng cao (từ 5-10 theo thang điểm 10) không đồng đều Chiếm tỷ lệ cao là trao A nhận A và trao B nhận B tương ứng với 30,4% và 33,9%, 2 trường hợp còn lại
Phan Loai Muc do tin tuong Muc do tin tuong
Trang 14chiếm tỷ trọng thấp hơn Như vậy, mức độ tin tưởng của đối tượng vào kết quả
trao nhận có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả lựa chọn
3.5 PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ LO NGẠI RỦI RO CỦA SINH VIÊN THÔNG
QUA LỰA CHỌN THEO SỰ THAY ĐỔI XÁC SUẤT SỐ ĐIỂM NHẬN
ĐƯỢC
Trường hợp 1 với lựa chọn A chiếm 81,1% là lựa chọn chiếm tổng phần
trăm cao nhất trong tất cả trường hợp lựa chọn A Trường hợp 10 với lựa chọn
B chiếm 75% là lựa chọn chiếm tổng phần trăm cao nhất trong tất cả trường hợp
lựa chọn B
Hình 3.2: Lựa chọn của đáp viên trong từng trường hợp xác suất
Sự thay đổi về quyết định giữa các lựa chọn cũng như lợi ích kỳ vọng được
thể hiện ở trường hợp 6 với lựa chọn B tăng từ 42,2% trong trường hợp 5 lên
63,9% trong trường hợp 6 Tuy nhiên, sự thay đổi rõ ràng nhất được thể hiện
trong trường hợp 8 khi lựa chọn A chiếm gần 30% và lựa chọn B chiếm hơn
70% số phiếu Điều này cho thấy, đa số sinh viên lo ngại rủi ro khi lợi ích nhận
được thay đổi theo xác suất khi lựa chọn A hoặc B
Số điểm kỳ vọng đạt được trong trường hợp số 7 của lựa chọn B lớn hơn
A nhưng vẫn có 40,6% sinh viên chọn lựa chọn A vì họ sợ rủi ro rằng 30% xác
Trường hợp 3
Trường hợp 4
Trường hợp 5
Trường hợp 6
Trường hợp 7
Trường hợp 8
Trường hợp 9
Trường hợp 10
Lựa chọn B Lựa chọn A
Trang 15suất họ nhận được 10 điểm có thể xảy ra và lựa chọn A là lựa chọn vừa đủ tốt với họ khi 70% cơ hội nhận được 25 điểm và 30% cơ hội nhận được 20 điểm
Vì vậy, trong thực tiễn con người không phải lúc nào cũng lý trí
Trang 16CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ỨNG DỤNG
4.1 KẾT LUẬN
Khi thực hiện trò chơi ghép cặp với người lạ thì đa số sinh viên lo ngại rủi ro khi phải thay đổi quyết định lựa chọn cuối cùng với lựa chọn ban đầu đã trao đổi Tuy nhiên, sinh viên lại có mức độ tin tưởng cao vào phiếu trao đổi nhận được từ người ghép cặp trong trường hợp trao B và nhận được B Điều đó cho thấy, sinh viên có xu hướng chấp nhận rủi ro để đạt được lợi ích cao hơn khi được trao đổi thông tin về kết quả lựa chọn với người được ghép cặp (phiếu 2) thể hiện qua tỷ lệ sinh viên chọn lựa chọn B tăng lên và đặc biệt tỷ lệ này tăng lên đáng kể khi đáp viên được trao đổi thông tin với người ghép cặp và có thể dùng từ ngữ thuyết phục đối phương (phiếu 3)
Đa số sinh viên lo ngại rủi ro khi lợi ích nhận được thay đổi theo xác suất trong 10 trường hợp khi lựa chọn A hoặc B và trong thực tiễn con người không phải lúc nào cũng lý trí
số cao mà chẳng phải tốn công sức học hết tất cả Vậy, ứng dụng trong trường hợp này là giảng viên nên thu lại đề trong lúc nộp bài thi để tránh tình trạng sinh viên trao đổi đề thi với nhau và giảng viên nên thường xuyên thay đổi đề thi để tránh tình trạng sinh viên học để đối phó
Hầu hết sinh viên đều rất cẩn trọng trong việc ra quyết định khi giao dịch với người không quen biết nhưng họ sẵn sàng hợp tác với người lạ để nhận được lợi ích tối đa đặc biệt là khi được trao đổi thông tin với nhau và dùng từ ngữ thuyết phục đối phương Mặc dù thí nghiệm chỉ đưa ra tình huống lựa chọn đơn giản nhưng khi xét trên phương diện kinh tế, nếu sinh viên vì lợi ích cá nhân mà hợp tác, cấu kết trong kinh doanh thì sẽ gây ra tổn thất phúc lợi lớn cho xã hội Sinh viên là những nhân tài tương lai và là một trong những trụ cột của đất nước đặc biệt là sau khi ra trường nên nhà trường cần tuyên truyền, giáo dục cho sinh viên đặc biệt là sinh viên khoa kinh tế hiểu rõ hơn về những quy định của luật
chống độc quyền đặc biệt là một số hoạt động như cố định giá bán lẻ, bán phá giá, bán kèm sản phẩm,…