1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

43 881 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu được thực hiện bởi nhóm sinh viên Đại Học Ngoại Thương Hà Nội. Trong tài liệu có xây dựng mô hình kinh tế lượng để làm rõ ảnh hưởng của già hóa dân số và tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giáo viên hướng dẫn: Nuyễn Hoàng Bảo Trâm.

Trang 1

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”

Trang 2

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”

NĂM 2014

Tên công trình:

TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Thuộc nhóm ngành khoa học: KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ 3

Họ và tên nhóm sinh viên:

Lớp, Khoa:KINH TẾ HỌC 53 Năm thứ: 3/4 Ngành học:KINH TẾ HỌC

Người hướng dẫn: PGS TS GIANG THANH LONG

HÀ NỘI, 2014

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 2

DANH MỤC HÌNH 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4

TÓM TẮT 5

I GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 6

II THỰC TRẠNG GIÀ HÓA DÂN SỐ Ở VIỆT NAM 7

III TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 12

1 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 12

2 Một số lý thuyết về biến đổi cơ cấu tuổi dân số và tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế 15

3 Các nghiên cứu về tác động của già hóa đến tăng trưởng kinh tế trước đây 19

IV SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

1 Cơ sở lý thuyết 23

2 Phương pháp nghiên cứu 25

3 Số liệu 26

V ƯỚC LƯỢNG VÀ DỰ BÁO TÁC ĐỘNG CỦA GIÀ HÓA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 27

1 Phân tích kết quả ước lượng tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1990 - 2012 27

2 Dự báo tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2009 - 2059 30

VI MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 32

VII KẾT LUẬN 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

PHỤ LỤC 38

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam 8

Bảng 2: Dự báo tuổi thọ trung bình Việt Nam (2005 – 2010) 9

Bảng 3: Tuổi thọ khỏe mạnh của Việt Nam so với khu vực 10

Bảng 4 Chỉ số già hóa và tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam, 1979-2049 10

Bảng 5: Công thức tính tỷ số phụ thuộc 17

Bảng 6 Thống kê tóm tắt số liệu 27

Bảng 7 Kết quả kiểm định Engle – Granger 29

Bảng 8.Kết quả hồi quy ước lượng .30

Bảng 9: Dự báo dân số và tác động đến tăng trưởng kinh tế (2009 – 2059) 31

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Số lần tăng so với năm 1979 9Hình 2 Thời gian để chuyển từ “bắt đầu già” sang “già” 11Hình 3 Tốc độ tăng trưởng lao động bình quân đầu người Việt Nam giai đoạn

1990 -2012 28Hình 4 Log(GDP bình quân đầu người) của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2012 28Hình 5 Tỷ lệ phụ thuộc người già của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2012 29

Trang 7

TÓM TẮT

Biến đổi cơ cấu dân số tuổi đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp các quốc giatrên Thế giới Việt Nam cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ khi dân sốtrẻ em có xu hướng giảm nhanh, dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh vàdân số cao tuổi cũng tăng Điều đặc biệt là sự thay đổi của dân số trong cấu trúctuổi ở Việt Nam xảy ra với một tốc độ nhanh hơn rất nhiều so với các quốc giakhác Việt Nam đã bắt đầu bước vào giai đoạn “già hóa dân số” từ năm 2011 với

tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm hơn 7% tổng dân số Và cũng chỉ mất có 20năm để dân số Việt Nam chuyển từ giai đoạn “già hóa” sang “dân số già” trongkhi ở Pháp quá trình này phải mất tới 115 năm, Thụy Điển mất 89 năm hay ở

Mỹ là 69 năm

Già hóa dân số không chỉ ảnh hưởng tới các vấn đề y tế, bảo hiểm và cácchính sách xã hội mà còn tác động trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế, vấn đề quantâm hàng đầu ở các quốc gia Già hóa dân số tác động trực tiếp tới việc thay đổi

cơ cấu tuổi trong lực lượng lao động cũng như quy mô lực lượng lao động và từ

đó tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn

Từ thực trạng dân số này, chúng tôi áp dụng mô hình hồi quy tĩnh để xemxét tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế bằng việc sử dụng sốliệu trong giai đoạn 1990-2012 và sau đó mô phỏng tác động trong giai đoạn đến

2059 bằng số liệu dân số được TCTK dự báo Kết quả cho thấy già hóa dân sốtác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn trước (1990 – 2012)nhưng sẽ tác động tiêu cực ngày càng lớn tới tăng trưởng kinh tế trong các giaiđoạn tiếp theo mà nguyên nhân chính là do sự thay đổi về tỷ lệ lao động trongtổng dân số Từ kết quả này, chúng tôi đề xuất rằng chính phủ cần các chínhsách đồng bộ cho tăng trưởng, phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội nhằmđảm bảo duy trì được mức tăng trưởng trong tương lai Cụ thể là cần đặt chiếnlược thúc đẩy phát triển kinh tế gắn liền với các mục tiêu xã hội; tập trung nângcao năng suất lao động vì đây là sẽ yếu tố chính quyết định tăng trưởng của ViệtNam trong tương lai; khuyến khích người cao tuổi tham gia hoạt động kinh tế,đặc biệt là những người có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao, góp phần duy trì

số lượng lao động trong nền kinh tế

Trang 8

I GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Sự biến động của dân số luôn có được sự quan tâm đặc biệt của các quốcgia trong khu vực cũng như trên toàn thế giới Trong thời gian gần đây, sự thayđổi của dân số có thể thấy rõ nhất là hiện tượng dân số già hoá nhanh Già hóadân số là một điều tất yếu sẽ xảy ra đối với mỗi quốc gia trên toàn thế giớinhưng nó đang xảy ra với một số nước có thu nhập trung bình và các nước đangphát triển, trong đó có Việt Nam Với một nền kinh tế đang phát triển với mứcthu nhập trung bình thấp, già hóa dân số thực sự là một thách thức lớn với lựclượng lao động nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung ở Việt Nam Mộtquốc gia có dân số trẻ sẽ năng suất hơn một quốc gia có dân số già vì nó sẽ cómột lực lượng lao động tương đối so với quy mô dân số lớn hơn Nhiều ngườilao động hơn đồng nghĩa với việc sản xuất ra nhiều hàng hóa dịch vụ hơn, vì vậycác quốc gia có dân số trẻ thường có xu hướng phát triển nhanh hơn về kinh tế

so với các quốc gia có dân số già(Feyer 2007, Tang và MacLeod, 2006).Già hóadân số có tác động tiêu cực hay tích cực phụ thuộc vào cơ cấu dân số cũng nhưchính sách của chính phủ thích ứng với dân số già hóa Nhận định này đượcBloom và cộng sự (2011), Nagarajan và cộng sự (2013) và nhiều nhà nghiên cứukhác chỉ ra trong các nghiên cứu thực chứng ở nhiều nước với trình độ phát triểnkinh tế khác nhau

Việt Nam cũng không ngoài xu thế già hóa dân số khi tỷ suất sinh và tỷsuất chết giảm cùng với tuổi thọ tăng Người cao tuổi Việt Nam đang tăng lên cả

về số lượng và tỷ lệ so với tổng dân số Dự báo dân số của Liên hợp quốc (2012)cùng với số liệu dân số ở nhiều nước cho thấy, thời gian cần thiết để chuyển từgiai đoạn “bắt đầu già” (khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 7% tổng dân số)sang giai đoạn “già” (khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 14% tổng dân số) củaViệt Nam chỉ có 20 năm và ngắn hơn rất nhiều nước (Pháp mất 115 năm, Mỹmất 69 năm, Nhật Bản và Trung Quốc mất 26 năm) Chính vì vậy mà già hóadân số là một vấn đề lớn cần được chúng ta quan tâm ngay từ lúc này để từ đóchuẩn bị tốt cho việc giải quyết những hệ quả kinh tế-xã hội do tác động của sựgià hóa dân số, trong đó có duy trì tăng trưởng kinh tế trong trung hạn và dàihạn

Trang 9

Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét tác động của già hóa dân đếntăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2014-2059 với bộ số liệu thứcấptừ cơ sở dữ liệu của tổ chức Ngân hàng Thế giới (WB) và Dự báo dân số củaTCTK (2011) Đầu tiên chúng tôi sử dụng số liệu trong giai đoạn 1990-2012 đểước lượng tác động tỷ số phụ thuộc của người cao tuổi (old-age dependencyratio) đến một trong những yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế là lao độngbình quân đầu người Tiếp đó, sử dụng dự báo dân số của TCTK (2011) cho giaiđoạn 2009-2059, chúng tôi dự báo tác động củagià hóa dân số đến tăng trưởngkinh tế trong thời kỳ 2014-2059 Từ các kết quả có được, chúng tôi đề xuất cácgiải pháp nhằm góp phần cải thiện các chính sách phù hợp cho sự phát triểntrong tương lai Để đạt được mục tiêu này, bài nghiên cứu xem xét, tập trung trảlời những câu hỏi sau:

(1) Già hóa dân số có ảnh hưởng như thế nào đến lao động bình quân

đầu người?

(2) Già hóa dân số có ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế

tại Việt Nam?

(3) Chúng ta cần phải có những chính sách, giải pháp phù hợp ngay

hiện tại và trong tương lai để ổn định tăng trưởng kinh tế trongtrung và dài hạn?

Nội dung bài nghiên cứu của chúng tôi gồm 7 phần chính Trong phần II tiếp theo chúng tôi sẽ chỉ ra thực trạng già hóa dân số ở Việt Nam Phần III sẽ tóm tắt một số nghiên cứu trước đây có liên quan và đưa ra khung lý thuyết cho toàn bộ nghiên cứu Phần IV sẽ nêu ra cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu

và số liệu sử dụng cho nghiên cứu Trong phần V chúng tôi phân tích kết hồi quy và sử dụng dự báo dân số để dự báo tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế cho thời kì tiếp theo Phần VI đề xuất một số chính sách Cuối cùng là phần VII đưa ra một số kết luận cho bài nghiên cứu

II THỰC TRẠNG GIÀ HÓA DÂN SỐ Ở VIỆT NAM

Những người 60 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi (Điều 2, Luậtngười cao tuổi Việt Nam) Ở một số quốc gia thì người cao tuổi là người 65 tuổi

Trang 10

trở lên Trên thế giới cũng như ở Việt Nam người cao tuổi đang tăng nhanh cả

về số lượng và tỷ lệ Quá trình tăng dần tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân sốgọi là “già hóa dân số” Đây là một đặc điểm lớn về dân số và xã hội của nhữngnăm gần đây, được cộng đồng quốc tế rất quan tâm “Già hóa dân số” đang làmột trong những thách thức chủ yếu của quá trình phát triển đặc biệt đối với cácnước thu nhập còn chưa cao

Ở Việt Nam, dân số cao tuổi đang tăng nhanh cả về tỷ lệ và con số tuyệtđối (Bảng 1) Cụ thể là nếu năm 1989 người cao tuổi (người trên 60 tuổi) chỉtăng thêm 93 vạn và tỉ lệ nâng cao thêm 0,3% thì năm 1999, các con số tươngứng là 155 vạn và 0,9% Đến năm 2011 thì số người cao tuổi đã lên đến 8.65triệu người và tỷ lệ người cao tuổi đã chạm ngưỡng 9.9% Điều đó cho thấy tốc

độ già hóa dân số ở Việt Nam cao chưa từng có và đã bước vào giai đoạn “bắtđầu già” từ năm 2011

Bảng 1 Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam

Năm Tổng dân số (triệu

Nguồn: GSO, Tổng điều tra dân số & nhà ở 1979,1989,2009

và Điều tra Biến động DS–KHHGD,2010,2011

Hình 1 Số lần tăng so với năm 1979

Trang 11

Dựa vào bảng 2 có thể thấy cùng với quá trình già hóa dân số nhanhchóng là sự gia tăng của tuổi thọ trung bình Từ 74.4 giai đoạn 2005 – 2010 tănglên 78 giai đoạn 2025 – 2030 Điều này là dễ hiểu, do sự tiến bộ không ngừngcủa khoa học công nghệ trong lĩnh vực ý tế, các chương trình giáo dục, kinh tế,

xã hội tuổi thọ của người Việt Nam sẽ tiếp tục tăng lên và hoàn toàn như dự báocủa UN Và tuổi thọ trung bình của nam giới thấp hơn là nữ giới, như giai đoạn

2025 – 2030 tuổi thọ nữ giới là 80 trong khi đó nam giới chỉ là 75.8

Bảng 2: Dự báo tuổi thọ trung bình Việt Nam (2005 – 2010)

Trang 12

ở mức khoảng 66 năm, do số năm ốm đau trung bình của một người Việt Nam làkhoảng 7,3 năm (hay 11% tổng tuổi thọ) (Bảng 3) Tuổi thọ cao nhưng gánhnặng bệnh tật cũng rất lớn, đặc biệt là đối với người cao tuổi càng dễ mắc bệnh.Dẫn đến nhu cầu chăm sóc ý tế tăng cao và tỷ lệ phụ thuộc người già tăng, gây

áp lực lên dân số lao động, chính phủ và hệ thống bảo hiểm xã hội

Bảng 3: Tuổi thọ khỏe mạnh của Việt Nam so với khu vực

Nước

Xếp hạng HDI (1)

Tuổi thọ khi sinh (2007) (2)

Tuổi thọ khỏe mạnh khi sinh (2007) (3)

Thời gian ốm đâu tính bằng phần trăm tuổi khi sinh (4)=[(2)-(3)]/

Bảng 4 Chỉ số già hóa và tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam, 1979-2049

Bảng 2 cho thấy, chỉ số già hóa sẽ vượt ngưỡng 100 vào khoảng năm

2033 Đây là thời điểm Việt Nam bắt đầu có dân số cao tuổi nhiều hơn dân sốtrẻ em Dự báo dân số cũng cho thấy tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng giảm nhanh chóngtrong thời gian tới khi tốc độ tăng của dân số cao tuổi ngày càng lớn Nếu năm

2009, cứ 7 người trong độ tuổi lao động sẽ hỗ trợ 1 người cao tuổi thì đến năm

Trang 13

2049, tỷ số này chỉ còn là 2, tức giảm hơn 3 lần.Việc tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng giảmnhanh chóng cho thấy trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của người già phụ thuộcngày càng đè nặng lên dân số ở độ tuổi lao động Làm cho lực lượng lao độngthu nhỏ và số lượng người cao tuổi phụ thuộc tăng lên sẽ có nghĩa là giảm sút vềthu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư và năng suất cũng như việctăng chi tiêu công cho an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ và phúc lợi của ngườicao tuổi Không những thế, tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng giảm còn dẫn đến nguy cơ vỡquỹ Bảo hiểm xã hội,đặc biệt đối với các hệ thống trả lương hưu nhưở Việt Namtheo hình thức trả lương trong đó những người lao động hiện tại chi trả chonhững người đang nghỉ hưu.

Hình 2 Thời gian để chuyển từ “bắt đầu già” sang “già”

Nguồn: Kinsella và Gist, 1995; U.S Census Bureau, 2005;

Việt Nam: GSO (2010), theo UNFPA (2011)

So với các quốc gia khác trên thế giới, thậm chí với nhiều nước phát triểnhoặc có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn, tốc độ già hóa dân số ViệtNam khá cao Hay thời gian cần thiết để chuyển từ giai đoạn “già hóa” sang

“già” là ngắn hơn nhiều nước (Hình 2): Pháp mất 115 năm, Mĩ mất 69 năm,Nhật Bản và Trung Quốc mất 26 năm, trong khi Việt Nam chỉ mất có 20 năm

Trang 14

Từ tất cả các thực trạng nêu trên, có thể thấy Việt Nam đang đối diện với

“sự già hóa” nhanh chóng Với điều kiện phát triển kinh tế và xã hội như hiệnnay thì đây là một thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với dân số

“già hóa” nhanh Việt Nam có thể sẽ trở thành một nước già trước khi giàu.Nhiều nước già hóa dân số diễn ra từ lâu, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệmđối phó với thực trạng này Trong khi đó, ở Việt Nam thời gian qua chính sáchdân số ở nước ta tập trung vào vấn đề giảm sinh nên các công trình nghiên cứucũng mới chỉ tập trung vào mức sinh và kế hoạch hóa gia đình, còn rất ít cáccông trình nghiên cứu toàn diện và sâu về người cao tuổi Do vậy, ngay từ bâygiờ cần đẩy mạnh nghiên cứu quá trình già hóa dân số ở nước ta làm cơ sở choviệc xây dựng và thực thi chính sách, chiến lược quốc gia nhằm đối phó với xuhướng già hóa dân số diễn ra ngày càng nhanh, mạnh Nhằm nâng cao chấtlượng sống của người cao tuổi cũng như ổn định nền kinh tế trong trung và dàihạn

III TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

1 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế.

Tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu phản ánh quy mô tăng lên hay giảm đicủa nền kinh tế ở năm này so với năm trước đó hay ở thời kỳ này so với thời kỳtrước đó Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GDP bình quân đầungười trong một thời gian nhất định, sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Sựgia tăng này thể hiện sự thay đổi cả về quy mô và tốc độ, quy mô thể hiện sựtăng nhiều hay ít còn tốc độ thể hiện sự tăng nhanh hay chậm

Để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường sử dụng chỉ tiêu về tốc

độ tăng trưởng kinh tế, thường được tính bằng mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo thời gian hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người theo thời gian Gần đây người ta sử dụng chỉ tiêu tăng trưởng GDP bình quân đầu người

để phản ánh đúng hơn về tăng trưởng kinh tế vì nó phản ánh được sự gia tăng dân số ảnh hưởng tới tốc độ tăng của GDP.Lý thuyết tăng trưởng kinh tế cổ điển của Adam Smith

Adam Smith cho rằng tăng trưởng kinh tế là tăng đầu ra tính theo bình

Trang 15

quân đầu người hoặc tăng sản phẩm lao động tức là tăng thu nhập ròng xã hội.Ông chỉ ra năm nhân tố tăng trưởng kinh tế gồm: lao động, tư bản, đất đai, tiến

bộ kĩ thuật và môi trường chế độ kinh tế - xã hội Xuất phát từ lý luận giá trị laođộng Adam Smith coi lao động là nhân tố tăng trưởng cực kì quan trọng

David Ricardo kế thừa tư tưởng của Adam Smith và chịu ảnh hưởng của

tư tưởng dân số học của T.R Malthus (1776-1834), cho rằng nông nghiệp

là ngành kinh tế quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế Xuất phát từ góc

độ phân phối thu nhập để nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, D.Ricardo nhấn mạnhyếu tố cơ bản của tăng trưởng là đất đai, lao động và vốn trong từng ngành vàphù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định, các yếu tố này kết hợpvới nhautheo một tỷ lệ cố định, không thay đổi Ông đặc biệt nhấn mạnh tích lũy tư bản

là nhân tố chủ yếu quyết định tăng trưởng kinh tế còn các chính sách của chínhphủ không có tác động quan trọng tới hoạt động của nền kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của K.Marx

Theo Marx những yếu tố tác động tới tăng trưởng là đất đai, lao động,vốn, tiến bộ kỹ thuật Trong đó ông đặc biệt quan tâm tới yếu tố lao động vàvai trò của nó trong việc sáng tạo ra giá trị thặng dư Theo Marx, sức laođộng đối với nhà tư bản là một hàng hóa đặc biệt, nó cũng như các hàng hóakhác, được các nhà tư bản mua trên thị trường và tiêu thụ trong quá trìnhsản xuất Nhưng trong quá trình tiêu thụ, giá trị sử dụng của hàng hóa sứclao động không giống với giá trị sử dụng hàng hóa khác Nó có thể tạo ragiá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao động cộngvới giá trị thặng dư Marx đưa ra quan hệ tỷ lệ phản ánh sự phân phối thờigian lao động của công nhân, một phần làm việc cho bản thân V, một phầnsáng tạo ra m cho nhà tư bản và địa chủ

Về yếu tố kỹ thuật: mục đích của nhà tư- bản là tăng giá trị thặng dư,

nên họ tìm mọi cách tăng thời gian làm việc của công nhân, giảm tiền côngcủa công nhân, hoặc nâng cao năng suất lao động bằng cải tiến k ỹthuật.Marx cho rằng, tiến bộ kỹ thuật làm tăng số máy móc và dụng cụ lao độnggiành cho người thợ, nghĩa là cấu tạo hữu cơ của tư bản có xu hướng ngày

Trang 16

càng tăng Do đó các nhà tư bản cần nhiều tiền vốn hơn đề khai thác sự tiến

bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động của công nhân

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của phái tân cổ điển

Các nhà kinh tế học cổ điển mới đã giải thích nguồn gốc của sự tăngtrưởng thông qua hàm sản xuất Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa sựtăng lên của đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động,tài nguyên và khoa học công nghệ Quan điểm này cũng cho rằng để tăngtrưởng thì các nhà sản xuất có thể lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều vốnhoặc công nghệ sử dụng nhiều lao động Ngoài vai trò tích cực của vốn đốivới tăng trưởng, mô hình Solow đã đưa thêm nhân tố lao động và tiến bộcông nghệ vào phương trình tăng trưởng Mô hình này cho biết tiết kiệm,tăng dân số và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng như thế nào tới mức sảnlượng và tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế theo thời gian

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow

Solow lập ra mô hình tăng trưởng kinh tế mới trong điều kiện tiến bộ

kỹ thuật Ông đã chỉ ra rằng: nếu nền kinh tế nằm ở trạng thái ổn định thì nó

sẽ đứng nguyên tại đó, và nếu nền kinh tế chưa nằm tại trạng thái ổn địnhthì nó sẽ có xu hướng tiến về đó Do vậy, trạng thái ổn định chính là cânbằng dài hạn của nền kinh tế

Vậy mô hình Solow cho thấy, nếu tỷ lệ tiết kiệm cao thì nền kinh tế

sẽ có mức sản lượng lớn hơn Tuy nhiên việc tăng tỷ lệ tiết kiệm chỉ đưađến tăng trưởng nhanh hơn trong một thời gian ngắn, trước khi nền kinh tếđạt tới trạng thái ổn định nếu một nền kinh tế duy trì một tỷ lệ tiết kiệm caonhất định nó sẽ duy trì được mức sản lượng cao nhưng không duy trì đượctốc độ tăng trưởng cao

Như vậy, các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đã chỉ rõ các yếu tố củatăng trưởng kinh tế Động lực phát triển kinh tế được kết hợp từ bốn yếu tốcủa tăng trưởng là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ.Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúngcũng khác nhau tạo nên kết quả tương ứng là khác nhau ở mỗi nước Tuy

Trang 17

nhiên có thể nói, trong bốn yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế thì nhómcác yếu tố liên quan đến con người (nguồn nhân lực) có vai trò quyết định.Những yếu tố thể hiện nguồn lực này là khả năng cung lao động với quy mô

và chất lượng lao động, cách thức phân công lao động trong hoạt động kinh

tế - hay là cơ cấu cầu lao động là những yếu tố tác động đến phát triển kinh

tế Chất lượng đầu vào của lao động thể hiện qua kỹ năng, kiến thức và kỷluật của đội ngũ lao động là yếu tốquan trọng nhất cho tăng trưởng kinh tế.Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thểmua hoặc vay mượn, nhưng nguồn nhân lực khó có thể làm tương tự Cácyếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ cóthể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ, có sứckhỏe và kỷ luật lao động tốt Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đãcho thấy ngay cả những nước bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh (như Đứcsau thế chiến thứ II) và nghèo nàn về tài nguyên (như Nhật Bản) vẫn có thểphục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục nhờ có được nguồn nhânlực dồi dào và chất lượng

2 Một số lý thuyết về biến đổi cơ cấu tuổi dân số và tác động của biến đổi

cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế

Một điểm hết sức quan trọng chỉ được nhận ra trong những năm gần đâyđối với các nghiên cứu về quan hệ dân số - kinh tế đó là việc các nghiên cứu đãchú trọng phân tích sự biến đổi của cơ cấu tuổi dân số và ảnh hưởng của nó tớităng trưởng kinh tế thay vì chỉ nghiên cứu về quy mô dân số như trước đây Về

lý thuyết, cho đến nay vẫn chưa có một học thuyết nào thể hiện nội dung chuyênbiệt về sự biến đổi cơ cấu tuổi dân số và sự tác động của biến đổi cơ cấu tuổidân số đến tăng trưởng và phát triển Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm vềquan hệ dân số -kinh tế trong thời gian gần đây đã cho thấy tầm ảnh hưởng quantrọng của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đối với tăng trưởng kinh tế

Cơ cấu tuổi dân số hay cơ cấu dân số theo độ tuổi là tỷ trọng dân số ởtừng độ tuổi so với tổng số dân Dân số là chủ thể của mọi quá trình phát triểnkinh tế - xã hội, và ở mỗi độ tuổi khác nhau con người có những hành vi kinh tế

Trang 18

khác nhau cho nên biến đổi cơ cấu tuổi dân số sẽ có tác động lớn đến quá trìnhphân bổ nguồn lực, mức độ tăng trưởng, phát triển và sự ổn định về chính trị, xãhội của mỗi nước Vì thế, khi có sự thay đổi về tỷ trọng dân số ở từng độ tuổitrong tổng dân số sẽ có những thay đổi về sản xuất, tiêu dùng và do đó tác độngtới tăng trưởng kinh tế Một quốc gia có dân số trẻ với tỷ lệ trẻ em cao thì đấtnước sẽ cần nhiều nguồn lực hơn để chi tiêu cho giáo dục, y tế và nuôi dưỡng.Trong khi đó, một quốc gia có tỷ lệ dân số trong tuổi làm việc lớn thì đất nước

có được cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ nguồn nhân lực dồi dào, tiếtkiệm và đầu tư cao và hệ thống tài chính vững vàng hơn, còn nếu một quốc gia

có tỷ lệ người cao tuổi nhiều hơn thì đất nước phải chi tiêu nhiều hơn cho chămsóc y tế, tiêu dùng tăng và các vấn đề về an sinh xã hội cần được giải quyết thỏađáng

Nghiên cứu và phân tích các lý thuyết về dân số trước đây cho thấy,thuyết “quá độ dân số” đã phân tích quá trình biến đổi dânsố gồm ba giai đoạnvới đặc trưng cơ bản là sự thay đổi về mức sinh và mức tử Dựa vào sự thay đổi

về mức sinh, mức tử có thể phân tích sự thay đổi về cơ cấu tuổi dân số ở mỗigiai đoạn Chẳng hạn, ở giai đoạn thứ hai của “quá độ dân số”,tỷ suất sinh giảmkhông đáng kể trong khi tỷ suất chết giảm mạnh, dân số bùng nổ và do đó cơcấu tuổi dân số đã biến động theo hướng tỷ trọng trẻ em tăng lên và tỷ trọngngười lớn tuổi giảm Nhưng bước sang giai đoạn ba, cả tỷ suất sinh và tỷsuấtchết đều giảm mạnh, dân số trẻ em sẽ giảm mạnh và cùng với đó là số trẻ em lớndần lên và bổ sung vào lực lượng lao động trong khi số trẻ em sinh ra lại ít hơnlàm cho bộ phận dân số trong tuổi lao động sẽ tăng lên mạnh mẽ cùng với sựtăng dần của số người cao tuổi Như vậy, chính sự thay đổi căn bản trong mứcsinh và mức chết sẽ tạo nên sự biến đổi rõ rệt về cơ cấu tuổi dân số ở mỗi giaiđoạn

Có thể nói lý thuyết “quá độ dân số” chính là cơ sở đầu tiên của khung lýluận về biến đổi cơ cấu tuổi dân số và mối tương quan giữa biến đổi cơ cấu dân

số theo tuổi với tăng trưởng và phát triển Chỉ có điều các nhà dân số học vàkinh tế học lúc đó chưa nhận ra hoặc coi trọng vấn đề này Cho đến những nămgần đây, khi biến đổi cơ cấu tuổi dân số đã thực sự tác động mạnh mẽ đến tăng

Trang 19

trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu về biếnđổi cơ cấu dân số theo tuổi đã được công bố rộng rãi Các nghiên cứu đã chỉ rarằng biến đổi cơ cấu tuổi dân số đem đến nhiều cơ hội cho thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, đặc biệt ở giai đoạn mà cơ cấu dân số có tỷ lệ người lao động chiếmphần lớn trong tổng dân số.

Một chỉ tiêu cơ bản được sử dụng để thể hiện cơ cấutuổi dân số, đó là chỉtiêu về tỷ số phụ thuộc dân số - tỷ số phản ánh mốiquan hệ giữa nhóm dân sốtrong độ tuổi lao động và các nhóm không nằm trong độ tuổi lao động (trẻ em vàngười cao tuổi – thường được coi là nhóm dân số phụ thuộc)

Bảng 5: Công thức tính tỷ số phụ thuộc

STT Tuổi

Tỷ số phụ thuộc chung

Tỷ số phụ thuộc trẻ em Tỷ số phụ thuộc già

1 15-59

2 15-64

3 19-64

Nguồn: Nguyễn Đình Cử (2011); UN World Population Prospect The 2010 Revision;

UNFPA Việt Nam ( 2010).

Chú thích: : Dân số từ 0-14 tuổi; : Dân số từ 15-59 tuổi; : Dân số từ 15-64 tuổi; : Dân số từ 60 tuổi trở lên; : Dân số từ 65 tuổi trở lên.

Biến đổi cơ cấu tuổi dân số làm thay đổi tỷ trọng của các nhóm dân số.Khi tỷ số phụ thuộc dân số nhỏ hơn 50, nghĩa là cứ hơn 2 người trong tuổi laođộng mới phải “gánh” một người phụ thuộc, dân số đi vào thời kỳ “cơ cấuvàng” Đây là thời kỳ mà biến đổi cơ cấu tuổi dân số đem đến nhiều cơ hội lớncho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bởi lực lượng lao động gia tăng trong tổng dân

số Tuy nhiên, cơ hội đó cần được hiện thực hóa bằng môi trường chính sách

Trang 20

phù hợp Mặt khác, ngoài cơ hội, biến đổi cơ cấu tuổi dân số cũng đem đếnnhiều thách thức cho tăng trưởng và phát triển như vấn đề thất nghiệp, tệ nạn xãhội hay gánh nặng tài chính hưu trí khi dân số già chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dânsố.Do vậy nhiều học giả (ví dụ Bloom và Williamsons, 1997; Faruqee vàMuhleisen, 2001) đã đưa ra những nhận định về việc già hóa làm tăng tỷ lệ phụthuộc, có thể ngăn trở tăng trưởng kinh tế mà ví dụ điển hình là Nhật bản.

Thuật ngữ “lợi tức dân số” hay “lợi tức nhân khẩu học” ra đời để phảnánh hiện tượng trong đó quá trình biến đổi cơ cấu tuổi dân số tạo ra cơ hội thúcđẩy tăng trưởng kinh tế do tăng tỷ lệ số người trong tuổi lao động Lợi tức dân

số chỉ có thể trở thành hiện thực trong những điều kiện nhất định, đó là trình độnguồn nhân lực, chính sách và thể chế hợp lý Trên thực tế, biến đổi cơ cấutuổi dân số dẫn đến sự thay đổi trong sản xuất và tiêu dùng, đồng thời dẫn đến

cả những sự thay đổi trong cấu trúc kinh tế và các vấn đề xã hội “Cơ cấu dân sốvàng” được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến với hàm ý đó là thời kỳ mà cơ hội làlớn nhất để thu được lợi tức dân số cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mặc dù lợitức dân số là có thực và đã được chứng minh là đã đóng góp đáng kể cho tăngtrưởng kinh tế ở nhiều nước đã trải qua thời kỳ dân số có một không hai này.Nhưng lợi tức đó đóng góp được nhiều hay ít lại phụ thuộc lớn vào môi trườngchính sách và thể chế, bởi thực sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chỉ là phầnchênh lệch giữa sản xuất và tiêu dùng xét trên cấp độ tổng thể

Cùng với phương pháp định lượng mới, trong các nghiên cứu của mìnhcác nhà nhân khẩu học đưa ra quan điểm về lợi tức nhân khẩu học thứ nhất vàlợi tức nhân khẩu học thứ hai (Faruqee và Muhleisen (2001), Andrew Mason vàRonald Lee (2004) Lợi tức nhân khẩu học thứ nhất xuất hiện khi tốc độ tăngdân số sản xuất lớn hơn so với dân số tiêu dùng (tỷ lệ phụ thuộc dân số nhỏ hơn50), từ đó làm tăng thu nhập bình quân đầu người, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Còn lợi tức nhân khẩu học thứ hai là những lợi ích có thể có được do những dựbáo về dân số già hóa làm tăng động lực tiết kiệm và tích lũy vốn trong nền kinh

tế, từ đó gia tăng số lượng và tỷ lệ những người có thu nhập cao thúc đẩy việctiêu dùng các sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất cũng như làm tăng nguồn

Trang 21

vốn cho sản xuất Nếu một quốc gia đối phó với dự báo dân số già hóa bằngnhững chính sách hợp lý thì sự gia tăng tiết kiệm ( từ khi những người lao độngcòn trẻ hay từ những khoản thu nhập chuyển giao ) và sự chuẩn bị sẵn sàng cho

hệ thống tài chính hưu trí có thể dẫn đến một dân số già khỏe mạnh, giàu có vàhơn thế nữa là một xã hội phồn thịnh

3 Các nghiên cứu về tác động của già hóa đến tăng trưởng kinh tế trước đây.

Trong nhiều thập niên qua, các nhà kinh tế và các nhà học giả nghiên cứu

xã hội đã tranh luận về ảnh hưởng của biến động dân số đối với tăng trưởng kinh

tế Người ta đưa ra 3 luận điểm về khả năng tác động: Dân số tăng làm hạn chếtăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hoặc trung tính, không liên quan

gì đến tăng trưởng kinh tế Có nhiều lập luận được đưa ra nhằm lý giải cho nhữngluận điểm này Tuy nhiên, những lập luận đó đều dựa trên vấn đề quy mô và tăngtrưởng dân số Trong những năm gần đây, cuộc tranh luận đã nêu và nhấn mạnhmột số vấn đề cốt yếu, cơ cấu tuổi của dân số (phân bố của các nhóm tuổi khácnhau của dân số) Cơ cấu tuổi thay đổi đáng kể khi dân số tăng trưởng

Theo Bloom, Canning và Sevilla (2011) thìhành vi kinh tế của con người thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời, những thay đổi trong

cơ cấu tuổi của một quốc gia có thể gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế của quốc gia đó Các quốc gia có tỷ lệ trẻ em cao sẽ phải dành nguồn lực nhiều hơn đầu tư cho chăm sóc trẻ em do vậy làm chậm đi nhịp tăng trưởng của kinh tế Ngược lại, nếu phần lớn dân số quốc gia nằm trong độ tuổi lao động, năng suất lao động tăng thêm của nhóm dân số này có thể tạo

ra lợi tức dân số và kéo theo tăng trưởng kinh tế với giả thiết có được các chính sách phát huy lợi thế này Thực tế, hiệu quả tổng hoà của việc có nhóm dân số độ tuổi lao động với quy mô lớn và sức khỏe, gia đình, lao động, tài chính và các chính sách nguồn nhân lực có thể tạo ra những chu kỳ phát triển của cải vật chất tốt Và nếu người già chiếm một tỷ lệ lớn trong dân số quốc gia, thì cũng chịu ảnh hưởng như quốc gia có dân số rất trẻ Phân chia nguồn lực cho các bộ phận dân số có năng suất lao động tương đối kém là

Ngày đăng: 07/12/2016, 12:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam - Tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Bảng 1. Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam (Trang 10)
Hình 1 cho thấy dân số cao tuổi tăng nhanh nhất trong các nhóm dân số. Trong giai đoạn 1979–2009, nếu lấy năm 1979 làm năm cơ sở thì tổng dân sốtăng 1.6 lần, dân số trẻ em  giảm chỉ còn 0.92 lần, dân số trong độ tuổi lao động gấp 2.08 lần, còn dân số cao  - Tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Hình 1 cho thấy dân số cao tuổi tăng nhanh nhất trong các nhóm dân số. Trong giai đoạn 1979–2009, nếu lấy năm 1979 làm năm cơ sở thì tổng dân sốtăng 1.6 lần, dân số trẻ em giảm chỉ còn 0.92 lần, dân số trong độ tuổi lao động gấp 2.08 lần, còn dân số cao (Trang 11)
Bảng 3: Tuổi thọ khỏe mạnh của Việt Nam so với khu vực - Tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Bảng 3 Tuổi thọ khỏe mạnh của Việt Nam so với khu vực (Trang 12)
Hình 2. Thời gian để chuyển từ “bắt đầu già” sang “già” - Tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Hình 2. Thời gian để chuyển từ “bắt đầu già” sang “già” (Trang 13)
Bảng 5: Công thức tính tỷ số phụ thuộc - Tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Bảng 5 Công thức tính tỷ số phụ thuộc (Trang 19)
Hình 3. Tốc độ tăng trưởng lao động bình quân đầu người Việt Nam - Tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Hình 3. Tốc độ tăng trưởng lao động bình quân đầu người Việt Nam (Trang 31)
Hình 4. Log(GDP bình quân đầu người) của Việt Nam - Tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Hình 4. Log(GDP bình quân đầu người) của Việt Nam (Trang 31)
Hình 5. Tỷ lệ phụ thuộc người già của Việt Nam - Tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Hình 5. Tỷ lệ phụ thuộc người già của Việt Nam (Trang 32)
Bảng 9: Dự báo dân số và tác động đến tăng trưởng kinh tế  (2009 – 2059) - Tác động của già hóa dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Bảng 9 Dự báo dân số và tác động đến tăng trưởng kinh tế (2009 – 2059) (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w