Một mặt, nó bổ sung lí luận cho công tác đánh giá điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên cho các mục đích thực tiễn nhiên nói chung; mặt khác, kết quả của việc đánh giá tài nguyên sinh kh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ THANH HOA
ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của cô giáo, PGS.TS Nguyễn Khanh Vân, Viện Địa lý - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam người đã trực tiếp hướng dẫn em trong qua trình thực hiện luận văn này
Em cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Địa lý - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Địa lý đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo và cho em những ý kiến quý báu để bản luận văn được hoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở tài nguyên và Môi trường, Sở Thương mại và Du lịch Phú Thọ, Khu di tích lịch sử Đền Hùng, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn, để bản luận văn này có những số liệu cần thiết và cập nhật
Tác giả đặc biệt gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn này
Mặc dù đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu, và bản thân tôi cũng rất cố gắng thực hiện tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp từ các thầy, các cô để có thể hoàn thiện luận văn tốt hơn
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 8 năm 2016 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Trang 3DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Sơ đồ các lĩnh vực của khí hậu ứng dụng 15
Hình 2: Bản đồ hành chính tỉnh Phú Tho .22
Hình 3: Bản đồ địa hình tỉnh Phú Tho .24
Hình 4: Bản đồ thảm thực vật tỉnh Phú Tho 27
Hình 5: Bản đồ nhiệt độ trung bình năm tỉnh Phú Thọ 50
Hình 6: Bản đồ lượng mưa trung bình năm tỉnh Phú Thọ 50
Hình 7: Bản đồ sinh khí hậu tỉnh Phú Thọ 54
Hình 8: Giản đồ các vùng khí hậu với mức độ thích hợp cho sức khỏe con người theo quan hệ nhiệt độ - độ ẩm tương đối 60
Hình 9: Bản đồ du lịch tỉnh Phú Thọ 69
Hình 10: Lễ dâng hương ngày 10/3 âm lịch tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng 71
Hình 11: Đầm Ao Châu 73
Hình 12: Vườn Quốc gia Xuân Sơn 74
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tổng số giờ nắng trung bình các tháng và năm ở Phú Thọ 35
Bảng 2: Lượng mây tổng quan trung bình tháng và năm tỉnh Phú Thọ 36
Bảng 3: Tốc độ gió trung bình tháng và năm ở tỉnh Phú Thọ (m/s)………… 37
Bảng 4 Tốc độ gió mạnh nhất (m/s) và hướng theo tháng và năm Bảng 5 Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm ở tỉnh Phú Thọ (C) Bảng 6 Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm (mm)……… 39
Bảng 7 Số ngày mưa trung bình tháng và năm ……… 40
Bảng 8 Độ ẩm không khí trung bình tháng và năm (%)………40
Bảng 9 Bốc hơi không khí trung bình tháng và năm (mm)……… 41
Bảng 10 Số ngày sương mù trung bình tháng và năm (ngày)………42
Bảng 11 Số ngày sương muối trung bình tháng và năm (ngày)……… 42
Bảng 12 Số ngày mưa phùn trung bình tháng và năm (ngày)……….43
Bảng 13 Số ngày mưa đá trung bình tháng và năm (ngày)……… 43
Bảng 14 Số ngày dông trung bình tháng và năm (ngày)……… 44
Bảng 15: Tọa độ địa lý, độ cao các trạm khí hậu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 46
Bảng 16: Phân cấp nhiệt độ trung bình năm……… 48
Bảng 17: Phân cấp nhiệt độ trung bình năm với độ cao địa hình………48
Bảng 18: Phân cấp sự xuất hiện của số tháng lạnh……… …….49
Bảng 19: Phân cấp chế độ mưa……… …… 49
Bảng 20: Phân cấp tổng số ngày mưa……… ……… 49
Bảng 21: Hệ chỉ tiêu tổng hợp của bản đồ sinh khí hậu tỉnh Phú Thọ 51
Bảng 22 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người 58
Bảng 23: Phân loại khí hậu tốt – xấu đối với sức khỏe 58
Bảng 24: Chuyển đổi mức độ đánh giá bảng 22 và 23 về cùng khung xếp hạng mức độ thuận lợi và cho điểm số đánh giá 58
Trang 5Bảng 25: Đánh giá mức độ thuận lợi của một số yếu tố khí hậu cơ bản ở Phú
Thọ 59
Bảng 26: Biến trình năm của nhiệt độ - T (0C) và độ ẩm tương đối (%) 61
Bảng 27: Đánh giá số ngày mưa cho du lịch tỉnh Phú Thọ 62
Bảng 28: Số ngày mưa phùn trung bình tháng và năm (ngày) 62
Bảng 29: Đánh giá tổng hợp điều kiện SKH khu vực Thanh Sơn (trạmMinh Đài) phục vụ mục đích du lịch 63
Bảng 30: Đánh giá tổng hợp điều kiện SKH khu vực Phù Ninh (Trạm Phú Hộ ) phục vụ mục đích du lịch 64
Bảng 31: Đánh giá tổng hợp điều kiện SKH khu vực Việt Trì (Trạm Việt Trì) phục vụ mục đích du lịch 65
Bảng 32: Đánh giá tổng hợp các loại sinh khí hậu cho mục đích du lịch, nghỉ dưỡng tại tỉnh Phú Thọ 66
Bảng 33: Đánh giá quỹ thời gian cho mục đích du lịch nghỉ dưỡng ở Phú Thọ 68
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3
5 Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn (tính khả thi) 6
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN 8
SINH KHÍ HẬU PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH 8
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Trên thế giới 8
1.1.2 Ở Việt Nam 9
1.2 Các khái niệm cơ bản về tài nguyên du lịch và sinh khí hậu 11
1.2.1 Tài nguyên du lịch 11
1.2.2 Tài nguyên Sinh khí hậu 12
1.2.3 Điều kiện địa lí tự nhiên và ý nghĩa của nó đối với các hoạt động du lịch 14 1.3 Phát triển du lịch bền vững 18
1.3.1 Khái niệm phát triển bền vững 18
1.3.2 Khái niệm du lịch bền vững 19
Chương 2: KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 19
VÀ ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 19
TỈNH PHÚ THỌ 19
2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 19
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 19
2.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 24
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội có liên quan đến phát triển du lịch và tài nguyên du lịch nhân văn 26
2.2.1 Đặc điểm dân cư 26
Trang 72.2.2 Đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội 26
2.2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 28
2.3 Đặc điểm điều kiện khí hậu và sinh khí hậu tỉnh Phú Thọ 29
2.3.1 Chế độ bức xạ, mây, nắng 29
2.3.2 Chế độ gió 31
2.3.3 Chế độ nhiệt 33
2.3.4 Chế độ mưa 34
2.3.5 Chế độ ẩm - bốc hơi 35
2.3.6 Các hiện tượng thời tiết đặc biệt 36
Chương 3 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU 39
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ THỌ 39
3.1 Thành lập bản đồ sinh khí hậu phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng tỉnh Phú Thọ.39 3.1.1 Vai trò, ý nghĩa của việc nghiên cứu và thành lập bản đồ SKH phục vụ mục đích du lịch và nghỉ dưỡng 39
3.1.2 Nguyên tắc thành lập bản đồ SKH cho mục đích du lịch, nghỉ dưỡng 40
3.1.3 Hệ chỉ tiêu bản đồ SKH phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng tỉnh Phú Thọ 40
3.2 Đặc điểm các đơn vị SKH tỉnh Phú Thọ 46
3.2.1 Loại SKH IA1a: SKH nhiệt đới gió mùa (NĐGM), hơi nóng, có mùa lạnh hơi ngắn, mưa hơi nhiều, số ngày mưa nhiều 46
3.2.2 Loại SKH IB1b: SKH nhiệt đới gió mùa, hơi nóng, có mùa lạnh hơi ngắn, mưa vừa, số ngày mưa trung bình 46
3.2.3 Loại SKH IC1c: SKH nhiệt đới gió mùa, hơi nóng, có mùa lạnh hơi ngắn, mưa hơi ít, tổng số ngày mưa ít 47
3.2.4 Loại SKH IIA2a: SKH nhiệt đới gió mùa ẩm, ấm, có mùa lạnh ngắn, mưa hơi nhiều, tổng số ngày mưa nhiều 47
3.2.5 Loại SKH IIB2b SKH NĐGM, ấm, có mùa lạnh ngắn, mưa vừa, tông số ngày mưa trung bình 48
3.2.6 Loại SKH IIIA3a SKH NĐGM núi thấp, mát, có mùa lạnh trung bình, mưa hơi nhiều, tổng số ngày mưa nhiều 48
Trang 83.2.7 Loại SKH IVA4a SKH NĐGM núi thấp, hơi lạnh, có mùa lạnh dài, mưa
hơi nhiều, tổng số ngày mưa nhiều 48
3.3 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ 49
3.4 Đánh giá điều kiện sinh khí hậu cho phát triển du lịch bền vững 50
3.4.1 Lựa chọn đối tượng đánh giá 50
3.4.2 Đánh giá điều kiện sinh khí hậu cho sức khỏe của con người 51
3.5 Xác định thời gian hoạt động thích hợp với hoạt động du lịch và mùa vụ du lịch tỉnh Phú Thọ 61
3.6 Đề xuất khai thác và sử dụng hợp lý điều kiện SKH tại các vùng, điểm du lịch thuộc tỉnh Phú Thọ 63
3.7 Định hướng và các giải pháp sử dụng hợp lý điều kiện sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch Phú Thọ theo hướng phát triển bền vững 69
3.7.1 Lựa chọn loại hình du lịch phù hợp và khắc phục tính mùa vụ trong hoạt động du lịch tỉnh Phú Thọ 69
3.7.2 Một số kiến nghị giải pháp chính để khai thác tốt tài nguyên SKH tỉnh Phú Thọ đối với du lịch 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người, từ khi xuất hiện đã không ngừng tìm hiểu, nghiên cứu và khai thác các điều kiện tự nhiên để tồn tại và phát triển Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, con người không chỉ cố gắng thích nghi với điều kiện tự nhiên mà còn biết sử dụng chúng dưới dạng tài nguyên, trong đó có tài nguyên khí hậu
Tài nguyên khí hậu là một trong những nguồn tài nguyên có tầm quan trọng đặc biệt,
là một trong những nguồn lực cơ bản đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước Trong khi tiến hành các hoạt động kinh tế- xã hội của mình, con người luôn tìm cách khai thác những điều kiện thuận lợi của thời tiết, khí hậu nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh Đồng thời, việc nắm chắc những quy luật khí hậu, dự báo những biến đổi khí hậu, từ đó có biện pháp nhằm hạn chế những điều kiện không thuận lợi và thiên tai do thời tiết và khí hậu gây ra
Chính vì vậy, nghiên cứu khí hậu phục vụ đời sống con người là một trong những hướng nghiên cứu đang được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam rất quan tâm,
là mục tiêu hàng đầu của khoa học Khí hậu ứng dụng
Sinh khí hậu (SKH) là một hướng nghiên cứu trong tổng thể khoa học khí hậu ứng dụng, đã xuất hiện từ khá lâu nhưng mới được phát triển mạnh ở nước ta trong
khoảng hai chục năm trở lại đây Nghiên cứu điều kiện SKH và đánh giá chúng phục
vụ phát triển du lịch là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Một mặt, nó bổ sung lí luận cho công tác đánh giá điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên cho các mục đích thực tiễn nhiên nói chung; mặt khác, kết quả của việc đánh giá tài nguyên sinh khí hậu còn giúp cho những người làm công tác nghiên cứu và quản lí nhận thức rõ đặc điểm sinh khí hậu của từng khu vực, mức độ thích nghi của khí hậu thời tiết với từng loại hình du lịch, từ đó hoạch định chiến lược sử dụng và khai thác lãnh thổ một cách hợp lí mang lại hiệu quả cao nhất
Việt Nam có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn và tập trung chủ yếu ở một số khu vực
có tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng và đặc sắc; điều kiện kinh tế - xã hội phát triển
Tỉnh Phú Thọ - lãnh thổ mà học viên lựa chọn thực hiện đề tài luận văn, có vị trí, vị thế và tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt phát triển ngành kinh tế
du lịch Trong Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của tỉnh đến năm 2020, đã xác định, du lịch là một trong những hướng phát triển trọng tâm của tỉnh cần được ưu tiên phát triển [28]
Phú Thọ có văn hoá dân tộc giàu bản sắc gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước thời Hùng Vương với trên 200 di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, di tích cách mạng kháng chiến Ở tỉnh Phú Thọ có nhiều di tích nổi tiếng như: Khu di tích lịch sử Đền
Trang 10khoáng nóng Thanh Thuỷ, đền Mẫu Âu Cơ, đình Lâu Thượng, Hùng Lô, Đào Xá, chùa Xuân Lãng, chùa Phúc Khánh… Đây chính là tài nguyên du lịch quý đã và đang được khai thác ở các quy mô khác nhau cho kinh tế du lịch của tỉnh nhà
Phú Thọ còn là miền đất lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc có giá trị nhân văn sâu sắc của tổ tiên, mang tính giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn như: Lễ hội Đền Hùng, hội Phế (Hiền Quang), hội làng Đào Xá, Sơn Vi, nhiều làn điệu dân ca, xoan ghẹo, nhiều trò diễn dân gian,… mang nét đặc sắc của vùng đất Tổ, đặc trưng văn hoá Lạc Hồng Đây là miền đất du lịch hấp dẫn không chỉ với khách trong nước
mà còn đối với cả khách quốc tế đến thăm quan, tìm hiểu các tập tục văn hoá của Việt Nam từ thời sơ khai
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá điều kiện SKH phục vụ phát triển du lịch nói chung và tổ chức các loại hình du lịch, mùa vụ du lịch nói riêng ở khu vực lãnh thổ này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về thực tiễn, góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch và kinh tế- xã hội của tỉnh Phú Thọ
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ
phát triển du lịch bền vững tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học địa lý
của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu đánh giá điều kiện sinh khí hậu và các nguồn lực tự nhiên khác phục vụ phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất định hướng và các giải pháp khai thác hợp lý điều kiện SKH phục vụ phát triển du lịch bền vững tỉnh Phú Thọ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đề ra, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
- Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đánh giá điều kiện SKH và vận dụng để đánh giá điều kiện SKH tại tỉnh Phú Thọ cho sức khỏe của con người và cho
tổ chức các loại hình du lịch theo hướng phát triển bền vững
- Phân tích hiện trạng phát triển ngành du lịch của tỉnh để thấy rõ được tiềm năng, thế mạnh cũng như những hạn chế mà ngành du lịch đang gặp phải làm cơ sở cho những đề xuất phát triển du lịch Phú Thọ bền vững
- Xây dựng các chỉ tiêu, tiêu chí và thang điểm đánh giá điều kiện SKH cho sức khỏe con người, đánh giá mức độ thuận lợi và không thuận lợi, tính mùa vụ của điều kiện SKH đối với các loại hình du lịch
Trang 11- Đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý điều kiện SKH, tổ chức khai thác phát triển các loại hình du lịch khu vực nghiên cứu
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
Học viên dựa trên nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau, trong đó quan điểm hệ thống
và tổng hợp được Học viên sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Hệ thống tự nhiên cấu thành từ nhiều thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau theo những quy luật nhất định tạo thành các đơn vị địa tổng thể Mỗi địa tổng thể lại bao gồm những cấp thấp hơn Vì vậy, nếu không nghiên cứu các yếu tố trong các hợp phần tự nhiên và trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống tự nhiên, không nghiên cứu các lãnh thổ trong mối quan hệ với các hệ thống không gian xung quanh thì sẽ không có những nhận định đúng về đặc điểm của các điều kiện tự nhiên, nguyên nhân, diễn biến và các mối quan hệ giữa chúng
Vận dụng quan điểm này, mỗi một yếu tố tự nhiên có tác động đến du lịch phải được nghiên cứu với tư cách là một bộ phận của mỗi thành phần đó
4.1.2 Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp thể hiện qua sự nhìn nhận đối tượng nghiên cứu một cách đồng bộ, toàn diện, xem xét chúng là sự kết hợp, phối hợp có quy luật của các yếu tố tạo thành
Khí hậu tỉnh Phú Thọ là kết quả tác động tổng hợp của tất cả các yếu tố bao gồm: lượng mưa, gió, nhiệt độ, khả năng bốc hơi, bức xạ mặt trời…Đặc điểm của mỗi thành phần ấy cũng chịu tác động của tất cả các thành phần khác và ngược lại
Đánh giá dựa trên quan điểm tổng hợp tất yếu phải dùng hệ thống chỉ tiêu tổng hợp
4.1.3 Quan điểm lãnh thổ
Các đối tượng địa lí tồn tại trên những lãnh thổ nhất định do tác động tổng hợp của các hệ thống vật chất trong những điều kiện cụ thể nên các đối tượng đó có những đặc điểm đặc trưng trên mỗi không gian lãnh thổ riêng biệt
Cũng như tất cả các lãnh thổ khác thì Phú Thọ có sự phân hóa thành các thành phần tự nhiên theo chiều ngang lẫn chiều thẳng đứng Do các điều kiện phát sinh không đồng nhất trên toàn lãnh thổ nên khí hậu đối với sức khỏe con người và phục vụ
Trang 12đa dạng của các loại hình và sản phẩm du lịch trên toàn lãnh thổ Tổ chức lãnh thổ du lịch vì thế phải xuất phát từ những đặc thù cụ thể của địa phương
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại và không làm tổn hại đến khả năng phát triển của những thế hệ tương lai Phát triển bền vững phải đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định các điều kiện tự nhiên, môi trường
Do đó không chỉ sự phát triển kinh tế - xã hội một cách vững chắc nhờ khoa học công nghệ tiên tiến mà còn đảm bảo và cải thiện những điều kiện môi trường của con người Quan điểm này sẽ chi phối việc đề xuất các tuyến điểm, loại hình du lịch hay đề xuất giải pháp khai thác lãnh thổ du lịch đảm bảo phát triển bền vững
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập, tài liệu và xử lí số liệu
Phương pháp thống kê không chỉ được áp dụng trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, thu thập các tài liệu, các báo cáo, các đề tài nghiên cứu, các bài báo về khu vực nghiên cứu, mà còn sử dụng trong các quá trình phân tích, chọn lọc và xử lí số liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu Những tài liệu, thông tin về khu vực nghiên cứu phải luôn được bổ sung, cập nhật, đảm bảo cơ sở cho việc xử lí, phân tích, đánh giá các vấn đề của khu vực nghiên cứu được chính xác
Để thực hiện đề tài này, tác giả tiến hành thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh Phú Thọ Nguồn tài liệu này được khai thác từ những báo cáo tổng kết năm, quý của sở Nông nghiệp và phát triển nông thông, sở Văn hóa, du lịch và thể thao, sở Tài nguyên và môi trường, sở Khí tượng và thủy văn, Ban quản lí khu di tích lịch sử Đền Hùng, và các tài liệu có liên quan Trên
cơ sở đó chọn lọc, xử lí số liệu phục vụ cho nghiên cứu Những tài liệu, thông tin luôn được cập nhật, bổ xung, đảm bảo cho việc xử lí, phân tích, đánh giá các vấn đề nghiên cứu trong luận văn được chính xác hơn
4.2.2 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lí (GIS)
Ngay từ bước đầu tiếp cận vùng lãnh thổ nghiên cứu phương pháp này được sử dụng trong quá trình khảo sát, điều tra và nghiên cứu, tác giả đã sử dụng bản đồ hành chính, bản đồ địa hình, bản đồ lớp phủ thực vật, bản đồ du lịch, Kết quả nghiên cứu được thể hiện trên bản đồ với ý nghĩa thông tin mới và phản ánh những đặc điểm không gian của các thành phần cũng như tính quy luật của các hoạt động của cả hệ thống
Đề tài đã ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu
về khu vực nghiên cứu Cơ sở dữ liệu này được xây dựng bằng phần mềm Mapinfo 10.0, gồm: dữ liệu nền (bản đồ địa hình, bản đồ hệ thống giao thông, thủy văn, bản đồ hành chính, ) và dữ liệu du lịch như điểm du lịch, tuyến du lịch, hoạt động du lịch
Trang 134.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa thu thập số liệu
Thực địa là phương pháp nghiên cứu không thể thiếu được trong khi nghiên cứu địa lí
Để thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành một số đợt khảo sát thực địa vào tháng 1 - 2/2015 Mỗi tuyến khảo sát thực địa tác giả tập trung chủ yếu vào đặc điểm tự nhiên, điều kiện khí hậu, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu Đây là những tư liệu thực
tế quan trọng nhằm minh họa, bổ sung, chỉnh lí cho những nghiên cứu lí thuyết Và cũng chỉ có phương pháp khảo sát thực địa mới giúp tác giả quan sát rõ cảnh quan tự nhiên, cơ sở hạ tầng, và các thực tiễn các hoạt động du lịch đang diễn ra trong khu vực Đồng thời tìm hiểu văn hóa bản địa một các chính xác, tổng hợp, tiếp xúc với các nhà quản lí điều hành các khu du lịch, các cấp chính quyền địa phương, các cơ sở ban ngành liên quan và các hộ địa phương để có được nguồn tư liệu chính xác
và cập nhật nhất
4.2.4 Phương pháp đánh giá tài nguyên SKH
Căn cứ vào mức độ cảm nhận của con người đối với nhiệt độ, độ ẩm, phân tích về mức
độ ảnh hưởng của thời tiết nóng, lạnh, mưa hay không mưa đối với hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng , luận văn đã tiến hành phân chia các giới hạn tương ứng (thích hợp, tương đối thích hợp, kém thích hợp), cho điểm tương ứng
Đánh giá riêng tài nguyên SKH đối với du lịch, đầu tiên luận văn đánh giá riêng các
yếu tố khí hậu nhiệt độ, lượng mưa, xem xét ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu qua các tháng trong năm
Đánh giá tổng hợp tài nguyên SKH: Khí hậu tác động lên cơ thể con người một cách
tổng hợp, dựa vào ảnh hưởng tổng hợp của điều kiện nhiêt - ẩm, luận án tiến hành xây dựng bản đồ SKH sức khỏe con người với các chỉ tiêu: Nhiệt độ không khí trung bình năm, Tổng lượng mưa năm, Số tháng lạnh và Số ngày mưa trong năm Các chỉ tiêu này được phân chia theo mức độ thuận lợi của chúng cho sức khỏe con người cho phát triển du lịch Các đơn vị loại SKH là đơn vị cơ sở phục vụ cho đánh giá tổng hợp tài nguyên SKH du lịch
4.2.5 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng trong quá trình phỏng vấn các đối tượng bằng bảng hỏi, một số đối tượng điều tra gồm : Người dân địa phương, khách du lịch trong nước và nước ngoài, với 150 phiếu trong vòng một năm
Thực hiện phương pháp này là một quá trình với việc tiến hành hàng loạt các công việc khác nhau, song có liên quan và hỗ trợ lẫn nhau bao gồm các bước :
- Khảo sát, xác định nội dung và đối tượng cần điều tra Trong đó tác giả tập trung vào điều tra hai đối tượng chính là người dân địa phương và khách du lịch,
để nắm bắt được những thông tin cơ bản nhất về nhu cầu cung và cầu du lịch
Trang 14- Lựa chọn phương pháp điều tra : phương pháp này có ba cách tiếp cận
cơ bản : (1) phỏng vấn thông qua trao đổi, chuyện trò ; (2) phỏng vấn trên cơ sở phác thảo ý tưởng cơ bản ; (3) phỏng vấn bằng các phiếu, bảng điều tra với hệ thống câu hỏi lựa chọn và câu hỏi mở Trong đó thì tác gỉa sử dụng kết hợp cả ba cách tiếp cận nhưng chú trọng vào cách thứ 3, với các bước : thiết kế bảng hỏi (phiếu điều tra được thiết kế với một hệ thống các câu hỏi phù với với cấu trúc, nội dung và thời gian hỏi với từng đối tượng (khách du lịch, người dân địa phương) nhằm thu thập được những thông tin cần thiết nhât) ; điều tra thử (lựa chọn địa bàn điều tra và mẫu điều tra Kết quả sử dụng phương pháp này được áp dụng tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng
5 Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn (tính khả thi)
Luận văn có đầy đủ điều kiện cho việc hoàn thành như:
- Tên đề tài hoàn toàn phù hợp với mã số
- Học viên có đủ thời gian và kiến thức để hoàn thành luận văn Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại khoa địa lý trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, học viên đã được đào tạo và trang bị đầy đủ kiến thức cũng như tài liệu liên quan đến đề tài luận văn, được nghiên cứu và học hỏi qua các môn học như: Các phương pháp nghiên cứu khoa học, Tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững, Quản lý tài nguyên và quy hoạch môi trường, Phân tích chính sách tài nguyên môi trường,… đây là cơ sở kiến thức cơ bản để tác giả vận dụng thực hiện các nội dung nghiên cứu luận văn
- Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tham khảo một số nguồn tài liệu
từ các công trình khoa học đã được công bố của các tác giả trong và ngoài nước (tài liệu tham khảo); sử dụng các dữ liệu bản đồ của tỉnh Phú Thọ
- Luận văn được hoàn thành bởi sự hướng dẫn tận tình của PGS.TSKH Nguyễn Khanh Vân, Viện Địa Lý, Viện Hàn lâm Khoa Học và Công nghệ Việt Nam
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, phân tích các yếu tố, điều kiện thời tiết, khí hậu, tài nguyên SKH, một số tài nguyên du lịch khác, nghiên cứu các quy luật phân hóa của điều kiện SKH,
có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người và việc tổ chức các loại hình du lịch, mùa vụ du lịch tại khu vực nghiên cứu
6.2 Lãnh thổ nghiên cứu
Phạm vị lãnh thổ nghiên cứu của đề tài là toàn bộ lãnh thổ tỉnh Phú Thọ
7 Cấu trúc luận văn
Trang 16Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN
SINH KHÍ HẬU PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khí hậu ứng dụng nhằm nghiên cứu, đánh giá các yếu tố khí hậu phục vụ cho các mục đích khác nhau đã được thực hiện từ lâu trên thế giới và Việt Nam Việc ứng dụng khí hậu đầu tiên là cho mục đích nông nghiệp, sau đó ứng dụng trong các ngành kinh tế khác như lâm nghiệp, y học, kỹ thuật, giao thông vận tải, hàng không, du lịch…
Trong hoạt động du lịch, việc nghiên cứu, đánh giá các điều kiện thời tiết, khí hậu cho mục đích phát triển du lịch là một trong các hướng nghiên cứu đang được các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm đặc biệt Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu đều đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên trong đó có điều kiện khí hậu - như là một hợp phần của tự nhiên Đáng chú ý có một số tác giả tiêu biểu như sau:
1.1.1 Trên thế giới
Việc nghiên cứu và đánh giá các điều kiện tự nhiên phục vụ cho mục đích du lịch, nghỉ ngơi, an dưỡng, chữa bệnh, được các nhà địa lý, nhà y học, tâm lý học và những người yêu thích thiên nhiên quan tâm Nhiều nhà địa lý Xô Viết (A.G.Ixatrenko, V.G Preobragienxki, L.Y Mukhina, ) xác định đây là một hướng ứng dụng quan trọng của địa lý bên cạnh phục vụ các ngành nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng và quy hoạch
Các nhà địa lí Xô Viết đã có các công trình đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên phục
vụ giải trí (1973) đã tiến hành nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các địa điểm du lịch (Kadanxkaia, 1972; Sepier, 1973) Một số nhà địa lí cảnh quan của trường Đại học Tổng hợp Matxcơva như E.Đ.Xirnova, V.B.Nhefeđova, L.G.Svittrenco đã tiến hành nghiên cứu các vùng thích hợp cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô trước đây Nhà địa lí B.N Likhanop, 1973 đã xác định tài nguyên nghỉ ngơi giải trí là một dạng đặc biệt của tài nguyên thiên nhiên và việc nghiên cứu chúng là một nhiệm vụ quan trọng của địa lí giải trí - một nhánh mới của địa lí tự nhiên
- I.A Vedenhin và N.N Misônhitrencô đã đánh giá toàn bộ các tiêu chí tự nhiên làm tiền đề cho việc tổ chức các vùng du lịch nghỉ dưỡng
- Munkhina trong công trình “Đánh giá các thể tộng hợp tự nhiên phục vụ giải trí”,
năm 1973
- E.E Phêrôrốp đề xuất phương pháp đánh giá khí hậu tổng hợp và đã được các tác giả: Subukốp, I.X Kanđôrốp, D.N Đêmina…hoàn thiện Phương pháp này dựa trên cơ sở phân loại thời tiết trong SKH, qua đó xây dựng tổ hợp các kiểu thời tiết trong ngày với các mức độ khác nhau đến sức khỏe con người cũng như đến các hoạt động du lịch Đây là công trình nghiên cứu SKH con người có giá trị sử dụng của các nhà khí hậu trên thế giới
Trang 17- A.G Ixatsenko (1985) đã căn cứ vào sự đa dạng của môi trường, mức độ thích hợp của các điều kiện khí hậu, môi trường địa lý, điều kiện vệ sinh và các thuộc tính tự nhiên khác đặc trưng để xác định mức độ thích hợp cho mỗi loại hình du lịch, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của ĐKTN và TNTN đến các công trình du lịch
- I.I Pirôjnhic (1985) đã tiến hành đánh giá tổng hợp thành phần của hệ thống lãnh thổ
du lịch như tài nguyên du lịch, cấu trúc của các luồng khách và sơ sở vật chất phục vụ
du lịch theo các vùng và các đới du lịch nghỉ dưỡng Công trình này đã đề cập rất nhiều đến hoạt động khai thác lãnh thổ du lịch- không gian du lịch
- Một số tác giả phương Tây như Davis (1971) trong đề tài “Đánh giá tài nguyên phục
vụ mục đích giải trí du lịch”
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên nói chung và khí hậu nói riêng đến các hoạt động sản xuất, du lịch đã được một số tác giả nghiên cứu trong các công trình như:
- “Phân loại khí hâu của Côpen và một số ứng dụng trong công tác du lịch” của tác
giả Vũ Bội Kiếm
- “Khí hậu và phát triển kinh tế” D.H.K Lee
- “Đánh giá tài nguyên và điều kiện thiên nhiên về khí tượng thủy văn phục vụ sản xuất và quốc phòng, trọng tâm là phục vụ nông nghiệp” Chương trình tiến bộ khoa
học kỹ thuật trọng điểm cấp Nhà nước Mã số: 42
- “Đánh giá và sử dụng tài nguyên khí hậu trong việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế” của tác giả Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, 1985
- “Đánh giá khai thác và bảo vệ tài nguyên khí hậu và tài nguyên nước ở Việt Nam”
của Nguyễn Viết Phổ, Vũ Văn Tuấn, 1993
- “SKH ứng dụng trong nông lâm nghiệp” của tác giả Lâm Công Định, 1992
- “Đánh giá điều kiện khí hậu vùng Bắc Trung Bộ phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp
và du lịch” của các tác giả Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Khanh Vân
- Đánh giá điều kiện SKH phục vụ du lịch ở một số điểm du lịch trên lãnh thổ Việt Nam của các tác giả Viện Địa lý : Đặng Kim Nhung, Nguyễn Khanh Vân, Nguyễn Thị
Hiền - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- “Đánh giá và khai thác điều kiện tự nhiên và tài nguyên tự nhiên huyện Ba Vì phục
vụ mục đích du lịch” của tác giả Đặng Duy Lợi
- “Khí hậu với vấn đề tổ chức lao động, nghỉ ngơi và du lịch trên lãnh thổ Việt Nam”
của Trần Việt Liễn
Trang 18- “Sử dụng hợp lý tài nguyên SKH phục vụ cho mục tiêu phát triển sản xuất, dân sinh
và du lịch ở vùng hồ Hòa Bình” Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, No3/1993, Hà Nội, Nguyễn Khanh Vân
- Bioclimatic Resource Assessment for Convalescence and Some Weather therapies in
Mountainous Regions of Vietnam, Ukrainian Geographical Journal, National
Academy of Science Ukrainian, Kiev, Vol 50, N°2/2005 pp 70 - 74 Nguyen Khanh Van
- Cở sở sinh khí hậu (Giáo trình cao học), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Nguyễn
Khanh Vân, 2006
- Bioclimatic Assessment for Sea Vacation Tourism in Coastal Zone of Vietnam
Ukrainian Geographical Journal, National Academy of Science Ukrainian, Kiev, Vol
58, N°2/2007, pp 60 - 64 Nguyen Khanh Van
- Classification and assessment of bioclimatic conditions for tourism, health, resort and some weather therapies in Vietnam Journal of Science, Earth Sciences, VNU,
N°3/2008 Ha Noi Nguyen Khanh Van
- Sử dụng phương pháp thang điểm có trọng số đánh giá tổng hợp tài nguyên khí hậu cho
du lịch, nghỉ dưỡng tại một số trung tâm du lịch ở Việt Nam Tạp chí Các Khoa học về
Trái dất, N°4/2008, Hà Nội Nguyễn Khanh Vân
Tổng quan các công trình nghiên cứu ở Phú Thọ
- Giai đoạn trước năm 1997: Chủ yếu là các công trình nghiên cứu chung toàn
tỉnh Vĩnh Phú về điều kiện tự nhiên và lãnh thổ
- Giai đoạn từ 1997 đến nay:
Kể từ 1997 trở về trước, mọi tài liệu nghiên cứu mang tính tổng hợp đối với toàn tỉnh Vĩnh Phú Chỉ bắt đầu từ 1/1/1997, sau khi tách thành hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc, đã bắt đầu có một số tài liệu nghiên cứu riêng của tỉnh
Về nghiên cứu địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng có một số tài liệu như: “Đánh giá mức
độ thích nghi của đất đai đối với phát triển nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ” (2005) của
Sở TN&MT Phú Thọ; “Hiện trạng sử dụng đất đai tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2002- 2005”
Luận án thạc sĩ địa lí của Chu Diệu Thu;
Về nghiên cứu hợp phần khí hậu, thủy văn có : “Nghiên cứu điều kiện sinh khí hậu
tỉnh Phú Thọ và sơ bộ đánh giá mức độ thích nghi của nó đến sự phát triển một số cây
nông - lâm nghiệp”.(2001) Luận văn thạc sĩ địa lí của Đặng Thị Huệ
Về định hướng phát triển các ngành kinh tế nông, lâm và du lịch của các ban ngành
Phú Thọ có các báo cáo “Quy định điều chỉnh phát triển du lịch giai đoạn 2006-2010 định hướng 2020”, “Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2020” và các báo cáo “Quy hoạch nông, lâm nghiệp và thủy sản tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006-2010, và
Trang 19định hướng đến năm 2020”, “Quy hoạch phát triển 3 loại rừng tại Phú Thọ, giai đoạn 2005-2010” Tuy nhiên, các định hướng phát triển các ngành kinh tế nông, lâm
nghiệp và du lịch trong các tài liệu này chỉ mang tính kế hoạch, tổng kết, chưa có quan điểm và phương pháp đánh giá
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác có liên quan đến lãnh thổ như :
“Đánh giá tiềm năng đất đồi núi huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ”, Ngô Tiến Đức (2000);
“Đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ” Đỗ Văn Nhạ (2001); “Đánh giá thực trạng các hệ thống sử dụng đất nông, lâm nghiệp phục vụ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 của huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ” Nguyễn Hữu Hảo (2005)
Nhìn chung tài nguyên khí hậu trong các nghiên cứu trên được đề cập đến trong nền chung của điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên lãnh thổ , chưa có những nghiên cứu sâu về đặc điểm, tài nguyên khí hậu và đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu khí hậu như là một nhân tố tác động quan trọng đối với phát triển du lịch nói chung đến các loại hình du lịch hay mùa vụ du lịch nói riêng trên lãnh thổ Phú Thọ
1.2 Các khái niệm cơ bản về tài nguyên du lịch và sinh khí hậu
1.2.1 Tài nguyên du lịch
Khái niệm du lịch:
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy lạp, với ý nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được latinh hoá thành tornus và sau đó thành touriste (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh) Theo Robert Lanquar từ touriste lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800
Trong tiếng Việt, thuật ngữ “touriste” được dịch thông qua tiếng Hán Du nghĩa
là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải
Du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép Một mặt nó mang ý nghĩa thông thường của từ: việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí… Mặt khác, du lịch được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là hoạt động gắn chặt với những kết quả kinh tế (sản xuất, tiêu thụ) do chính nó tạo ra
Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi, liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá (I.I Pirogionic
- 1985)
Định nghĩa tài nguyên du lịch
- Tài nguyên du lịch: Theo khoản 4 (Điều 4, chương I) Luật du lịch Viêt Nam 2005
quy định “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người,và các giá trị nhân văn khác có
Trang 20thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các
khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Theo khoản 1 (Điều 13 chương II) Luật du lịch Việt
Nam quy định “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”
- Tài nguyên du lịch nhân văn: Theo khoản 2 (Điều 13 chương II) Luật du lịch Việt
Nam quy định “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng với mục đích du lịch”
1.2.2 Tài nguyên Sinh khí hậu
Khí hậu: Khí hậu được định nghĩa phổ biến là thời tiết trung bình trong khoảng
thời gian dài Tiêu chuẩn trung bình là 30 năm, nhưng khoảng thời gian đó có thể khác tùy theo mục đích sử dụng Khí hậu cũng bao gồm các số liệu thống kê theo ngày hoặc năm khác nhau[22]
Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố thời tiết khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định Điều này trái ngược với khái niệm Thời tiết về mặt thời gian, do Thời tiết chỉ để cập đến các diễn biến hiện tại hoặc tương lai gần Khí hậu của một khu vực ảnh hưởng bởi tọa độ lý, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết bao phủ cũng như các dòng nước lưu ở các Đại dương lân cận Khí hậu phân ra các kiểu khác nhau dựa
trên các thông số chính xác về nhiệt độ và lượng mưa [22]
Khí hậu học là ngành khoa học nghiên cứu về các quy luật và hiện tượng của khí hậu và dự đoán thay đổi khí hậu Đây là một ngành của khoa học quyển khí
Khí hậu ứng dụng: Khí hậu ứng dụng là một ngành khoa học nghiên cứu khí
hậu trong mối quan hệ với từng đối tượng cụ thể, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn Nó tạo những bước tiến lớn cho sự phát triển của ngành khí tượng và khí hậu học Đồng thời các kết quả của khí hậu ứng dụng cũng thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế, các lĩnh vực sản xuất phụ thuộc vào khí hậu thời tiết, làm cho các ngành này đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, lợi ích nhiều hơn [9].
Trang 21Khí hậu ứng dụng có thể được phân chia theo các hướng cơ bản sau:
Hình 1 Sơ đồ các lĩnh vực của khí hậu ứng dụng [9]
Sinh khí hậu: Theo từ điển Bách Khoa Nông Nghiệp: Sinh khí hậu là bộ môn
khoa học liên ngành giữa Khí hậu học và Sinh thái học, nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu tới cơ thể sống “Sinh khí hậu chú trọng nghiên cứu tác động của các yếu tố khí hậu (bức xạ, nhiệt độ, độ ẩm…) trong thời gian dài và theo dõi tác động của thời tiết trong từng ngày, từng tháng Nghiên cứu khí hậu trong phạm vi vùng và trong từng khu vực nhỏ (vi khí hậu), trong cảnh quan và thiết bị chuồng trại do con người tạo nên cho cây trồng vật nuôi Nghiên cứu sinh khí hậu là cơ sở cho việc nghiên cứu tính
thích nghi của sinh vật để nâng cao sức sản xuất của một môi trường nhất định” [9]
Trong giáo trình Cơ sở SKH [31], SKH nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, chế độ khí hậu đối với các cơ thể sống của hệ sinh thái Theo Cơ sở sinh thái học [E.P.Odum, 1978], hệ sinh thái được chia thành hai phần: Sinh thái cảnh và sinh vật cảnh [15]; lúc này SKH được hiểu là những điều kiện khí hậu, thời tiết - các yếu tố sinh thái cảnh tác động lên tất cả giới sinh vật của hệ sinh thái, bao gồm từ các quần xã thực vật, động vật, tới quần xã vi sinh vật và cả con người[31]. Nói cách khác, thời tiết
là những nhân tố sinh thái quan trọng không thể thiếu được trong sự tồn tại, sinh
trưởng và phát triển của giới sinh vật
SKH được phát triển theo nhiều hướng, ứng với từng nội dung nghiên cứu cụ thể như: SKH người, SKH vật nuôi, SKH nông nghiệp, SKH thảm thực vật tự nhiên
Các hướng nghiên cứu của sinh khí hậu ứng dụng:
- Sinh khí hậu thảm thực vật tự nhiên: Nghiên cứu điều kiện khí hậu - thời tiết như là
một yếu tố sinh thái, ảnh hưởng đến sự hình thành, phát sinh, diện mạo, cấu trúc sinh thái cũng như sự phát triển của lớp phủ thực vật
Khí hậu ứng dụng
Khí hậu lâm nghiệp
Khí hậu giao thông vận tải
Khí hậu quân
Trang 22- Sinh khí hậu sức khỏe con người: Bao gồm sinh khí hậu du lịch, sinh khí hậu y học, sinh
khí hậu xây dựng…“ Sinh khí hậu sức khỏe con người là bộ phận sinh khí hậu nói chung, nhằm nghiên cứu các quá trình tương tác môi trường khí hậu – con người từ các góc độ, những mục tiêu khác nhau Nó là một mảng quan trọng của bộ môn nghiên cứu khí hậu ứng dụng”
- SKH nông nghiệp: Nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết lên quá trình
sinh trưởng, hình thành năng suất, chất lượng sản phẩm của cây trồng - hướng nghiên cứu đó đã tồn tại bao đời, từ khi con người tiến hành các hoạt động nông nghiệp
- SKH vật nuôi, gia súc, thủy hải sản: Nghiên cứu ảnh hưởng của khí thậu, thời tiết lên
quá trình sinh trưởng, sinh sản của vật nuôi, đại gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản
- SKH du lịch: Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện khí hậu, thời tiết tác động lên
cơ thể con người trong các hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu khám phá tự nhiên, Bên cạnh đó căn cứ vào nhu cầu đòi hỏi về thời tiết, khí hậu của các loại hình
du lịch khác nhau, nghiên cứu SKH chỉ ra những thời kì thuận lợi cho sức khỏe con người, cho từng loại hình du lịch, điều dưỡng cụ thể, ở các vùng cụ thể Nhờ đó mà hoạt động du lịch ít bị ảnh hưởng do sự cố thời tiết khí hậu một cách đang tiếc, kinh tế
du lịch thu được lợi nhuận cao [9]
Sinh khí hậu và sinh khí hậu ứng dụng có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với khoa học và thực tiễn Góp phần làm phong phú thêm nội dung của khí hậu học, tạo ra một bước tiến mới, đồng thời kết quả nghiên cứu này còn được đem ra ứng dụng trong thực tế sản xuất đối với các ngành phụ thuộc nhiều vào khí hậu nhằm đem lại hiệu quả cao
Trong khuôn khổ đề tài, thuật ngữ SKH được đề cập nghiên cứu hướng SKH du lịch,
có nghĩa là nghiên cứu, đánh giá điều kiện SKH cho mục đích phát triển du lịch (tổ chức các loại hình du lịch, tổ chức mùa vụ du lịch) tại địa bàn tỉnh Phú Thọ
1.2.3 Điều kiện địa lí tự nhiên và ý nghĩa của nó đối với các hoạt động du lịch
Nói đến tiềm năng thiên nhiên, thường đề cập đến tổng thể thiên nhiên và các hợp phần của tự nhiên, mỗi hợp phần đó đối với du lịch có tiềm năng riêng trong một tổng thể thống nhất chung Tuy nhiên, các điều kiện tự nhiên đó lại được khai thác cho du lịch trong thời gian khác nhau như: mùa hè nóng nực của đồng bằng thì nhu cầu ra biển hay lên núi để nghỉ mát… Như vậy mỗi dạng du lịch khai thác các mặt khác nhau của tổng thể tự nhiên cũng không giống nhau Có thể điều kiện này thích hợp với dạng du lịch này song lại không thích ứng với dạng du lịch khác Vì thế, xem xét tiềm năng của
tự nhiên cho du lịch cũng rất đa dạng và phức tạp; có thể xem xét các điều kiện tự nhiên
và tổng thể tự nhiên theo các dạng du lịch khác nhau
1.2.3.1 Đối với dạng du lịch chung
Trang 23Dạng du lịch chung thường không xác định theo các mục đích cụ thể mà chủ yếu
để vãn cảnh, thư giãn, giải trí hoặc xem xét chung một vùng, một đất nước, một điểm lãnh thổ nào đó Vì các mục đích không cụ thể nên có thể tiến hành du lịch theo nhiều cách và nhiều hướng khác nhau, không đòi hỏi nghiêm ngặt những điều kiện đặt ra Đối với dạng du lịch này, sự thay đổi các dạng địa hình khác nhau cũng tạo nên hấp dẫn cho tổ chức du lịch Những người dân thành thị, thành phố có thể lên rừng hay xuống biển; có thể người ngoại ô vào thăm thành phố hoặc cũng có thể khách từ vùng này sang vùng khác…Vì thế đâu đâu trên đất nước cong hình chữ S cũng có thể tìm thấy những điểm du lịch mà tự nhiên đã tạo khả năng đó
Đặc điểm của địa hình như thung lũng, một vách núi, một đập thủy điện, một khối đá vôi, một bãi bồi ven sông….đều là địa điểm tổ chức các cuộc du ngoạn Trên
đó mỗi điểm độ cao có thể khai thác cho dạng du lịch này là:
+ Độ cao địa hình
+ Đèo ở trên núi hay một vạt yên ngựa
+ Khe hẻm hay một hang động
+ Dòng sông đào, hệ thống kênh rạch…
+ Nguồn nước khoáng hay một cửa biển
Trang 24+ Vũng, vịnh biển đẹp như: vịnh Nha Trang, vịnh Bái Tử Long…
+ Những mặt nước trong quần thể như : hồ Tây, hồ Gươm (Hà Nội)… với các đền đài, miếu mạo xung quanh
Những đặc điểm của các quần thể sinh vật khác nhau cũng là những điểm thu hút khách du lịch
+ Những quần thể rừng nguyên sinh như: rừng quốc gia Cúc Phương, Tam Đảo, Hoàng Liên Sơn, Bạch Mã…
+ Các quần thể rừng đặc biệt như: rừng mưa nhiệt đới; quần thể cây bụi khô Ninh Thuận - Bình Thuận; các quần thể rừng đước Miền Nam, quần thể rừng dừa, rừng tràm, các sân chim miền Tây Nam Bộ, các miệt vườn miền Đông Nam Bộ….là những địa điểm du lịch hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước
+ Nhiều vườn cây, công viên, vườn đồi, vườn nhà tạo nên khả năng du lịch trong
đó dưới bàn tay con người tạo nên quần thể vừa sặc sỡ, vừa sống động như các tập đoàn cây, hoa xen kẽ…
Thiên nhiên nước ta rất phong phú về quần xã sinh vật, từ quần xã nhiệt đới ẩm đến nhiệt đới khô, từ quần xã chân núi đến các quần xã núi thấp và núi cao, từ những quần xã ven biển đến các quần xã nội địa trải dài trên khắp miền đất nước tạo nên khả năng khai thác du lịch Rõ ràng trong dạng du lịch chung hay du lịch tổng hợp có thể khai thác tiềm năng của tự nhiên nước ta cho nhiều hướng khác nhau
1.2.3.2 Đối với dạng du lịch đi bộ
Có những yêu cầu tự nhiên như dạng du lịch chung song lại có những điểm riêng
vì trong dạng này có cả những nhà nghiên cứu tham gia du lịch Đó là du lịch nghiên cứu các đặc điểm tự nhiên hay xem xét phong cảnh Vì vậy, ngoài các dạng địa hình chung, các điểm độ cao, các đèo, khe, những tảng đá đẹp cần lưu tâm đến:
Trang 25+ Và những dạng địa hình khác…
Ngoài những dòng sông, những thác nước các nhà du lịch còn lưu tâm đến các hẻm vực như: hẻm sông Đà, các ghềnh đá, có khi chỉ một ao nước, một nguồn nước, một khu vực thủy sinh…
1.2.3.3 Đối với dạng du lịch ô tô
Dạng du lịch này đòi hỏi chủ yếu phong cảnh trên các tuyến có lộ trình dài như các tuyến xuyên Việt, chạy từ Hà Nội đi Tây Bắc hay đi Huế - TP Hồ Chí Minh; vào Tây Nguyên hay vùng đồng bằng sông Cửu Long…Trên các tuyến du khách có thể ngắm nhìn sự thay đổi cảnh quan khi thì ngắm nhìn những dãy núi trùng điệp, vào thung lũng đá vôi, vượt đèo lên núi, có lúc xuống đồng bằng rồi ra biển….Vì vậy dạng
du lịch này tổng quát hơn dạng du lịch đi bộ, song lại ít yêu cầu sâu hơn
lịch săn bắn dài ngày trên các vùng núi
1.2.3.4 Đối với dạng du lịch câu cá
Với dạng du lịch này đòi hỏi những yêu cầu liên quan đến nước và cá, trong đó cần có một dòng sông, một khoảng nước tĩnh bên sông, một cái hồ nước, một vách bờ
đá, trong đó thích thú nhất là một khúc suối hoặc một hồ nước trong rừng, bên bờ là các vách đá hay các tảng đá đẹp để có thể vừa thả câu vừa ngắm cảnh Nhiều người thích bơi thuyền ra xa góc hồ, ra một góc sông câu cá chảy, như thế ngoài một mặt nước còn đỏi hỏi khá nhiều cá để thực hiện dạng du lịch này
1.2.3.5 Đối với dạng du lịch thể thao
Thể thao leo núi đòi hỏi những đỉnh núi cao, đôi khi là những vách núi dốc không cây và đẹp Ở nước ta đã có những đợt leo đỉnh Phanxipang, mở đầu cho du lịch leo núi của các chuyên gia Liên Xô (cũ) trên thủy điện sông Đà Ngày nay loại hình du lịch thể thao đa dạng hơn như xe đạp địa hình leo núi Bên cạnh đó thì loại hình thể thao dưới nước có bơi lội, nhảy cầu, lướt ván…hay bơi thuyền trên sông được tổ chức khắp các địa phương trong cả nước vào các dịp lễ hội Để đáp ứng các hoạt động thể thao dưới nước cần có các đoạn sông thẳng, rộng, không có dòng xoáy, mặt hồ thì phải thoáng
1.2.3.6 Dạng du lịch hang động
Đây là dạng du lịch đặc biệt vừa mang tính thể thao, vừa mang tính chất nghiên cứu đòi hỏi các hang động đẹp như động Phong Nha (Quảng Bình); động Tam Thanh (Lạng Sơn); động Puông (chợ Rã - Cao Bằng)….là những thắng cảnh nổi tiếng hay
Trang 26động thác Bờ (Hòa Bình), động trên núi Non nước (Quảng Nam) và các động tích khác như ở chùa Thầy, chùa Hương (Hà Nội)
Động Phong Nha đã được các nhà hang động học Anh và Việt Nam đến khảo cứu hàng tháng trời, hay như các động khác cũng thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan,
du lịch, cầu may…Vì thế, có thể khẳng định mỗi hang động ngoài đặc điểm tự nhiên còn có các huyền thoại riêng của mình để thu hút du khách thập phương
1.2.3.7 Dạng du lịch nghỉ dưỡng
Dạng du lịch nghỉ dưỡng có nhu cầu riêng cho các loại bệnh nhân khác nhau như đối với người bệnh tim thường đến nơi có phong cảnh đẹp, yên tĩnh, có không khí dịu mát, không ẩm thấp, có những bệnh nhân tìm đến các nguồn suối nước khoáng như Kim Bôi (Hòa Bình), suối Bang (Quảng Bình), suối Kênh Gà (Hà Nam)…Những người mắc bệnh hen, người có bệnh khớp đi du ngoạn xuống phía Nam tìm mùa đông
ấm áp, khô; nhiều người khác lại đi du lịch nghỉ dưỡng trên Tam Đảo, Sa Pa, Đà Lạt…để tìm không khí dịu mát của miền sơn cước
Với những bệnh nhân về đường hô hấp lại tìm đến các nhà nghỉ trong các rừng thông, rừng phi lao ven biển Chắc không từ chối những ngày nghỉ hè sau thời gian làm việc căng thẳng trên các bãi biển trải dọc bờ biển nước ta từ Trà Cổ, Đồ Sơn đến Nha Trang, Vũng Tàu, Phú Quốc…
Vì thế, người ta thường gọi du lịch là một trong những dạng nghỉ ngơi tích cực, chứa đựng những yếu tố thể thao Do vậy du lịch giúp cho việc giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước nói riêng và yêu cuộc sống trên hành tinh chúng ta
Khái lược nhu cầu về đặc điểm tự nhiên cho các dạng du lịch khác nhau trên cho
ta thấy tiềm năng du lịch của các điều kiện tự nhiên thực sự rất to lớn Tuy nhiên để khai thác tiềm năng đó phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố kinh tế - xã hội khác nhau, trong đó quan trọng nhất là cở sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng cho phát triển mục đích du lịch, nghỉ dưỡng
1.3 Phát triển du lịch bền vững
1.3.1 Khái niệm phát triển bền vững
Theo Uỷ ban Môi trường và Phát triển thế giới (World Commission and
Environment and Development, WCED) thông qua năm 1987: “Những thế hệ hiện tại
Trang 27cần đáp ứng nhu cầu của mình, sao cho không làm tổn hại đến khả năng các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ”
“Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh
tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai” (Gôdian và hecdue, 1988, GS Grima Lino)
1.3.2 Khái niệm du lịch bền vững
- Du lịch bề vững là: Việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hóa kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương (Theo World Conservation Union, 1996)
- Phát triển du lịch bền vững: là sự đáp ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến vùng, điểm du lịch ngày nay đồng thời bảo vệ và nâng chất lượng cho tương lai Nó được định ra để hướng việc quản lý toàn
bộ các tài nguyên, các điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và các điều kiện kinh
tế, xã hội, văn hoá kèm theo, theo cách mà chúng ta có thể thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, đồng thời duy trì tính toàn vẹn về văn hoá, các quá trình sinh thái chủ yếu, sự đa dạng sinh học và các hệ thống duy trì nuôi dưỡng sự sống
Chương 2: KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
VÀ ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TỈNH PHÚ THỌ 2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
- Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lí mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông - Bắc) Tọa độ địa lí từ 20055’B đến 21043’B và từ
104047’Đ đến 105027’Đ
- Phía Đông Nam giáp Hà Nội, phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Bắc giáp Tuyên Quang, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Tây giáp Sơn La, phía nam giáp Hòa Bình Với vị trí “ngã ba sông” cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội, Phú Thọ cách Hà Nội 80
km, cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai, cửa khẩu Thanh
Trang 28- Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông từ các tỉnh thuộc Tây-Đông-Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác Là cầu nối giao lưu kinh tế- văn hóa- khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc
- Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam, quốc lộ 32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La, cùng với các tỉnh bạn trong cả nước và quốc tế
Với vị trí đó đã tạo cho Phú Thọ có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế, là cầu nối giao lưu kinh tế giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi Tây Bắc có thị trường lớn để tiêu thụ nông sản và các sản phẩm thế mạnh của tỉnh Có thể đánh giá vị trí địa lí của tỉnh Phú Thọ là một yếu tố quan trọng tạo nên tiềm năng phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, du lịch nói riêng và kinh tế của tỉnh nói chung
- Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hòa, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị-kinh tế-văn hóa của tỉnh với 274 đơn vị hành chính: gồm 14 phường, 10 thị trấn và 250 xã,
trong đó có 214 xã miền núi, 7 xã vùng cao và 50 xã đặc biệt khó khăn (hình 2)
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân hóa từng loại SKH, đây còn là yếu tố quan trọng tạo nên các loại cảnh quan đặc trưng cho từng vùng nhất định Các dạng địa hình khác nhau tạo nên sự hấp dẫn du lịch khác nhau Phú Thọ
là một tỉnh trung du phía Bắc, tiếp giáp với tam giác châu đồng bằng sông Hồng và các dãy núi ở rìa phía Nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn Địa hình của Phú Thọ thấp ở trung tâm và cao dần về phía tây - tây bắc Về thực chất đây là mặt san bằng cổ tương đối ổn định về kiến tạo, đã bị xâm thực chia cắt từ lâu và đang nằm trong sự phát triển
đi xuống, biểu hiện ở chỗ các đỉnh đồi ngày càng bị san bằng, các sườn thoải hơn và các thung lũng càng được mở rộng Như vậy địa hình Phú Thọ khá đa dạng và phong phú, đã tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên độc đáo Tuy nhiên, chỉ một số dạng địa hình đặc trưng của tỉnh Phú Thọ hấp dẫn khách du lịch là địa hình núi đá vôi với các
hang động (karst), địa hình núi thấp và địa hình đồi thoải dạng bát úp (hình 3)
Địa hình karst
Địa hình karst là địa hình đặc trưng cho vùng núi đá vôi Địa hình này thường tạo nên các khối núi đá vôi sót với các vách đá lởm chởm hoặc các hang động karst hấp dẫn cho khách du lịch mạo hiểm, leo núi, khám phá hang động Ở Phú Thọ dạng địa hình này khá hấp dẫn ở các điểm du lịch sau:
- Hang Lạng: thuộc vùng Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, đây là hang lớn nhất, dài
nhất trong số hang động thạch nhũ ở Xuân Sơn Hang ăn sâu vào trong lòng núi Ten, cửa ra vào hang nhìn thẳng ra cách đồng Mường Lạng Vòm hang Lạng có chỗ cao
Trang 29đến mười lăm, hai mươi mét, chiều dài khoảng 6000m Chạy dọc đáy hang là một con suối lớn Nhiều chỗ thạch nhũ buông xuống, qua hàng triệu năm tạo nên muôn hình dạng như ngàn vạn toà thờ Phật, thờ thần Trong hang có nhiều nhũ đá, măng đá với nhiều hình dạng khác nhau như hình các pho tượng vừa giống như ma quỷ, vừa giống như thần linh Nhũ đá ở đây không sỉn thành một màu xám như nhiều hang động núi đá vôi mà sáng trắng và sáng lấp lánh rất kì lạ Với sự kỳ diệu của thiên nhiên, đã tạo nên một kì quan để cho du khách tham quan chiêm ngưỡng
- Động Tiên: thuộc xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, đây là hang ngầm trong lòng
núi dài khoảng 10km, trong động có nhiều hình thù tự nhiên, màu sắc lung linh huyền
ảo Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu Động Tiên nằm trong hệ thống núi đá vôi của vườn quốc gia Xuân Sơn cũng làm tăng thêm độ hấp dẫn đối với du khách
- Động Thử Thần: thuộc huyện Tân Sơn, là một hang động rất độc đáo, động có
lối xuống nhỏ hẹp, thẳng đứng, chỉ đủ một người xuống nhưng khi vào trong thì rất rộng, có sức chứa hàng trăm người, trong hang có nhiều thạch nhũ đẹp lộng lẫy, có thạch nhũ cao tới 10m, khi gõ tiếng kêu vang lớn như tiếng chuông với nhiều âm thanh khác nhau
Địa hình karst đã tạo cho Phú Thọ những cảnh quan thiên nhiên kì thú hấp dẫn khách du lịch, thích hợp cho các loại hình du lịch tham quan, du lịch sinh thái, leo núi
và khám phá hang động
Địa hình núi thấp
Phân bố ở Tây, Tây Bắc và Tây Nam: phân bố chủ yếu ở các huyện Thanh Sơn,
Tân Sơn, Yên Lập, phía Tây Cẩm Khê và một phần của Hạ Hoà Đặc điểm vùng này là núi cao trung bình,và núi thấp ở đây có các thung lũng nằm dưới chân núi cao từ 100 đến 150 m, cao độ ruộng đất từ 30 đến 40m Địa hình sắp xếp theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Do ảnh hưởng địa hình núi chia cắt, đây là vùng khó khăn trong việc đi lại, giao lưu với các nơi khác Tuy nhiên, ở đây còn nhiều tiềm năng phát triển, nhất là
về lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, du lịch sinh thái Ở Phú Thọ dạng địa hình này khá hấp dẫn ở một số điểm du lịch sau:
- Núi Nghĩa Lĩnh: Đây là ngọn núi cao nhất vùng Việt Trì với độ cao 175m so
với mực nước biển Đứng tại đỉnh núi Nghĩa Lĩnh có thể phóng tầm mắt bao quát cả một vùng rộng lớn suốt từ huyện Lâm Thao tới ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì) với những đồi núi san sát, hai dòng sông Hồng và sông Lô như hai dải lụa đào bao lấy miền trung tâm của cố đô xưa
- Núi Thắm: núi Thắm còn có tên là núi Đầu Rồng, dài khoảng 4km chạy dọc
khu du lịch Thanh Ba Trên đỉnh núi còn có ao Tiên, nước trong xanh, không bao giờ cạn Núi Thắm là một thắng cảnh đẹp thu hút khá đông khách du lịch
Trang 30Đây là dạng địa hình phổ biến ở Phú Thọ, phân bố chủ yếu ở phía đông bắc thuộc Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, TX Phú Thọ và một phần Tam Nông - Thanh Thuỷ Đặc điểm chung của dạng địa hình là các đồi thấp, cân đối,
độ dốc vừa phải, hình dạng khá giống nhau, nối liền nhau tạo thành những dải đồi liên tiếp nhau Điều đặc biệt là trên những đồi bát úp được phủ xanh bởi rừng cọ tạo nên cảnh quan đẹp và hấp dẫn tiêu biểu cho cả vùng trung du Bắc Bộ
Ngày nay, rừng cọ Phú Thọ vẫn là nơi cung cấp nguyên liệu để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và hơn thế nữa nó là một cảnh quan rất hấp dẫn cho các chuyến du lịch sinh thái, nghỉ ngơi, thư giãn lý tưởng
2.1.1.3 Đặc điểm thủy văn
a Đặc điểm chế độ thủy văn: Phú Thọ là tỉnh có tài nguyên nước phong phú gồm cả
tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước ngầm đã tạo nên nhiều điểm du lịch hấp dẫn
du khách Trên địa bàn Phú Thọ có 3 con sông lớn chảy qua, đó là sông Thao, sông
Lô, sông Đà Mạng lưới sông suối thuộc hệ thống sông Hồng chiếm phần lớn lãnh thổ tỉnh
- Sông Thao: có lưu vực từ nơi bắt nguồn đến Việt Trì khoảng 55.605 km2, riêng phần Việt Nam là: 11.173 km, chiều dài chảy qua Phú Thọ từ Hậu Bồng (Hạ Hòa) đến Bến Gót (Việt Trì) khoảng 110 km, chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam Lưu lượng lũ lớn nhất trên 30.000 m3
lũ lớn nhất xấp xỉ 9.000 m3/s
- Sông Đà: Có lưu vực khoảng 50.000 km2, chảy qua Phú Thọ từ Tinh Nhuệ (Thanh Sơn) đến Hồng Đà (Tam Nông), khoảng 41,5 km theo hướng Bắc Nam Đây là con sông chảy qua các tâm mưa dữ dội nhất của vùng núi cao hiểm trở Tây Bắc nên có lưu lượng lũ khá lớn trên 18.000 m3/s, lượng lũ chiếm tới 49% tổng lượng lũ sông Hồng và là nguyên nhân gây lũ lụt nhiều nhất
Ngoài 3 dòng sông lớn kể trên, Phú Thọ có 130 sông ngòi lớn nhỏ, trong đó đáng kể như: sông Bứa, sông Dân, sông Chảy và 72 ngòi Đặc điểm chung của các sông ngòi là đều bắt nguồn từ đường phân thủy của sông Hồng và sông Lô hoặc từ những dãy núi cao của huyện Thanh Sơn, Yên Lập có độ dốc lớn, về mùa mưa nước dâng cao đột ngột thường gây lũ lụt, sạt lở ảnh hưởng xấu tới giao thông và phá hủy mùa màng Tổng lượng nước hàng năm đạt tới 70-100 tỉ m3; Lượng dòng chảy qua thành phố Ngã
ba sông Việt Trì đạt tới 30.000 m3/s
Trang 31Tài nguyên nước mặt của tỉnh đạt khoảng 2,64 tỷ m3 có nguồn gốc từ nước mưa, nếu chia theo đầu người chỉ bằng 20% trung bình của cả nước Nhưng do có vị trí địa lý thuận lợi, tỉnh có đủ cả 3 sông chính cấp 1 của hệ thống sông Hồng chảy qua, đó là các sông:
Đà, Thao và Lô Tỉnh Phú Thọ có khả năng tiếp cận dòng chảy của cả ba sông này trung bình hàng năm là 119 tỷ mét khối nước
Cũng như các nơi khác ở nước ta, mưa là nguồn cung cấp chính của dòng chảy sông ngòi Phú Thọ Do đó, chế độ nước sông phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và phân phối không đều trong năm Hàng năm, theo nhịp điệu biến đổi của mưa, nước sông chia làm hai mùa chính: mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ trên các sông suối ở Phú Thọ nói chung bắt đầu từ tháng 6 cho đến tháng 10, mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Mùa lũ của từng năm có thể bắt đầu, kết thúc sớm hoặc muộn hơn; thời gian kéo dài mùa lũ và mùa cạn có thể xê dịch trong vòng 1-3 tháng Lượng dòng chảy trong 5 tháng mùa lũ (5-10) thường chiếm 70-80% lượng dòng chảy toàn năm
Nhìn chung, tài nguyên nước của tỉnh Phú Thọ dồi dào, chất lượng còn khá tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, sinh hoạt và điều hòa môi trường khí hậu Nhưng cũng có nhưng thời điểm tài nguyên nước ở một số địa bàn đã có biểu hiện bị ô nhiễm,
có thời gian bị hạn hán, có thời gian mưa lớn gây lũ quét, lụt lội, sạt lở ảnh hưởng xấu tới giao thông và phá hoại mùa màng, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân trong tỉnh
Bên cạnh hệ thống sông Phú Thọ còn có nhiều đầm, hồ lơn như đầm Ao Châu, Ao giời - Suối Tiên, hồ Ly là nguồn dự trữ cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân vào mùa khô
Hệ thống sông, suối, hồ đầm của Phú Thọ còn là nguồn tiềm năng nuôi trồng thủy sản, cải thiện môi trường sinh thái, phát và phát triển các khu du lịch, giải trí thể thao
2.1.1.5 Tài nguyên sinh vật
Tiềm năng sinh vật của tỉnh Phú Thọ là khá lớn, có hệ động vật, thực vật phong phú với nhiều loài đặc hữu Rừng nguyên sinh ở Phú Thọ là rừng nhiệt đới thường xanh, diện tích này còn rất ít tập chung chủ yếu ở 2 huyện Tân Sơn, Yên Lập với diện tích khoảng 58.988,8ha (2009) Theo điều tra của Viện Điều tra quy hoạch rừng năm 2002, tỉnh Phú Thọ có 726 loài thực vật bậc cao thuộc 475 chi và 134 họ, trong đó ngành Ngọc lan chiếm đa số (82,8 % số họ 93,4% số chi, 92,5 số loài) sau đó đến Dương xỉ,
ít loài nhất là ngành Khuyết lá thông và Quản bút Với số liệu như vậy có thể thấy Phú Thọ chiếm 12,5 % số họ thực vật của cả nước (134/1064) và 2,51% số loài thực vật của cả nước (726/28863) Hệ thực vật ở đây không chỉ đa dạng về thành phần loài, mà
thành phần thực vật cũng rất phong phú (Hình 4)
Hệ động vật rừng ở Phú Thọ cũng khá phong phú với khoảng 180 loài động vật, bao
gồm: thú có khoảng 40 loài, chim có khoảng 100 loài, bò sát và lưỡng cư có khoảng 40 loài Trong đó, một số loài thú lớn có giá trị được kể đến là: Gấu, Hươu, Lợn rừng
Trang 32những loài leo trèo như Khỉ, Sóc, Chồn, đến các loài thú nhỏ như cầy, cáo, các loài bò sát như Tê tê, Kỳ đà, Tắc kè
Phú Thọ có vườn Quốc gia Xuân Sơn, và rừng Quốc gia Đền Hùng là nơi còn lưu trữ
đa dạng sinh học với nhiều loài đặc hữu
- Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm ở cuối dãy Hoàng Liên Sơn thuộc địa bàn huyện Tân Sơn, có diện tích rừng nguyên sinh 15.048ha với hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi - hệ sinh thái rừng điển hình của miền Bắc Việt Nam với kiểu rừng nhiệt đới và á nhiệt đới còn tồn tại khá nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm đặc trưng cho vùng núi Bắc Bộ, rất có giá trị nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen và giáo dục môi trường Trong Vườn Quốc gia có 726 loài thực vật, trong đó có 24 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam, 8 loài ghi trong sách đỏ thế giới Động vật: 365 loài, trong đó có 46 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam, 18 loài ghi trong sách đỏ thế giới Một số loài tiêu biểu như Vọoc sám, vượn chó, sói bụn đỏ đuôi trắng, gấu, báo, Bên cạnh đó Vườn Quốc gia Xuân Sơn còn được coi là “lá phổi xanh” nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, có tác dụng lớn trong việc điều hòa khí hậu Vẻ đẹp hoang sơ nơi đây là yếu tố hấp dẫn nhiều khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu khoa học
- Vườn Quốc gia Đền Hùng thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì với diện tích 538ha, là khu rừng tự nhiên còn khá nguyên sinh Trong rừng Quốc gia Đền Hùng thực vật 158 loài thuộc 328 chi của 131 họ, trong đó có 11 loài thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và 204 loài cây có tác dụng làm thuốc; động vật có 175 loài côn trùng, 95 loài động vật có xương sống, trong đó 7 loài quý hiếm cần được bảo
vệ nghiệm ngặt: chim, bói cá lớn, chim ác là, têtê, tắc kè, rắn ráo, rắn hổ mang, rắn cạp nong, [13] Đến với Đền Hùng, du khách không chỉ có cảm giác đang bước vào chốn tôn nghiêm, huyền ảo mà còn như được hòa mình vào thế giới thiên nhiên trong lành đầy quyến rũ Khu bảo tồn động thực vật Đền Hùng cũng là điểm đến của nhiều khách
du lịch tham quan, nghiên cứu hấp dẫn
Rừng Phú Thọ ngoài việc bảo tồn nguồn gen động thực vật còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa nguồn nước, khí hậu và tham quan du lịch Chính vì vậy việc bảo tồn đa dạng sinh học và khôi phục, phát triển rừng là một trong những nhiệm vụ cần được quan tâm đặc biệt trong các chương trình bảo vệ môi trường sinh thái của tỉnh
2.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Các điều kiện tự nhiên của Phú Thọ, đặc biệt là địa hình đa dạng đã tạo cho Phú Thọ một nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên khá phong phú và hấp dẫn với các loại hình có thể khai thác như: du lịch tham quan, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng chữa bệnh, du lịch sinh thái, Đáng chú ý trong số đó phải kể đến đầm Ao Châu (huyện Hạ Hòa), vườn quốc gia Xuân Sơn (huyện Thanh Sơn), mỏ nước khoáng nóng Thanh Thủy (huyện Thanh Thủy) Ao Giời - Suối Tiên (huyện Hạ Hòa),
Trang 33* Đầm Ao Châu: Thuộc thị trấn Hạ Hoà cách thành phố Việt Trì 60km về phía Tây Bắc, có diện tích mặt nước 300ha, xung quanh có núi non trùng điệp tạo thành 99 ngách nước đan cài vào các khe núi thu nước của 99 con suối nhỏ đổ về Cảnh trí xung quanh sơn thủy hữu tình, còn mang đậm nét nguyên sơ, thuần khiến của tạo hóa Đặc biệt quanh năm nước ở Ao Châu không bị cạn, nước trong xanh, không khí trong lành không bị ô nhiễm Trong hồ có nhiều đảo lớn nhỏ, khiến Ao Châu tựa như một Hạ Long thu nhỏ
Khí hậu khu vực Ao Châu mang tính chất khí hậu miền núi Tây Bắc Bộ mát
mẻ, dễ chịu, không xảy ra hiện tượng nhiệt độ quá thấp trong mùa đông hay thời tiết khô nóng gay gắt trong mùa hè như ở các vùng khác Không khí trong lành thích hợp cho việc du lịch nghỉ dưỡng Mỗi loại thảm thực vật ở Ao Châu lại tạo nên phong cảnh với nét đặc trưng riêng, hết sức độc đáo như: phong cảnh làng quê Việt Nam, thảm thực vật trên núi đá vôi, các quần xã thuỷ sinh… Chính vì những nét đẹp đó, Ao Châu có điều kiện thuận lợi để phát triển thành khu du lịch sinh thái có khả năng hấp dẫn nhiều đối tượng du khách với các loại hình du lịch chủ yếu như: nghỉ dưỡng, bơi thuyền, câu
cá, leo núi,…
* Vườn Quốc gia Xuân Sơn: Thuộc địa phận xã Xuân Sơn, huyện Thanh Sơn cách thành phố Việt Trì 80km, nơi đây có hệ thống núi cao từ 1.000 - 1.400m, với khoảng 15.048ha rừng nguyên sinh và đặc trưng của Xuân Sơn là có rừng nguyên sinh trên núi
đá vôi, nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm, nhiều suối và thác nước Đặc biệt có khoảng 16 hang động đá vôi do quá trình phong hóa, thủy hóa tạo thành, có hang rộng chiều dài từ 5.000 đến 7.000m, nhiều nơi lòng hang rộng đến 50m, thạch nhũ tạo thành muôn hình vạn trạng, màu sắc lung linh huyền ảo Vườn Quốc gia Xuân Sơn là nơi duy nhất trong vùng trung du miền núi phía Bắc có khí hậu phù hợp với loài rau Sắng đặc sản có giá trị kinh tế cao Ngoài các giá trị về sinh học và cảnh quan hang động đá vôi, trong Vườn Quốc gia Xuân Sơn còn có những dân tộc Mường, Dao cư trú lâu đời
và cách biệt với các địa phương khác nên còn giữ được nhiều phong tục tập quán và các nét văn hóa bản địa chưa bị pha tạp
* Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Thanh Thủy: Thuộc địa phận xã La Phù, huyện Thanh Thủy cách thành phố Việt Trì 30km Đây là khu mỏ nước khoáng nóng có diện tích khoảng 3km2 , mới được tìm thấy từ năm 1999 Qua nghiên cứu cho thấy trong nước khoáng nóng có nhiều chất vi lượng có lợi cho sức khỏe, nhiệt độ trung bình của nước nóng 37 - 40oC Tuy nhiên người dân trong khu vực có mở nước nóng đã khai thác một cách tự phát, mở các phòng tắm phục vụ cho nhu cầu tắm nước nóng thư giãn
và chữa bện của nhân dân trong vùng và các tỉnh lân cận cũng như các khách du lịch
từ Hà Nội lên
* Ao Giời - Suối Tiên: Suối Tiên thuộc địa phận xã Quân Khê, Hạ Hòa cách thành phố Việt Trì 70km, nằm trên núi Nả có độ cao từ 1.000 đến 1.200m, được phủ bởi màu xanh của rừng nhiệt đới, tại đây còn tồn tại nhiều động vật quý hiếm Từ trên núi Nả
Trang 34có vẻ đẹp kỳ ảo Dưới chân các thác nước cao là những phiến đá khồng lồ, trải qua thời gian dài bị sói mòn, đã thành những chiếc ao nhỏ mà đáy ao là cả một phiến đá, làm nên vẻ đẹp riêng ở nơi đây, nhất là vào các ngày hè nóng bức, có hàng trăm lượt người đến đây tắm mát, nghỉ ngơi, vãn cảnh
Ao Giời - Suối Tiên còn nguyên dạng hoang sơ, có tiềm năng du lịch dồi dào, có thể phát triển các loại hình leo núi, cắm trại, nghỉ dưỡng và nghiên cứu khoa học…
* Thác Cự Thắng: Thuộc xã Cự Thắng, huyện Thanh Sơn cách thành phố Việt Trì khoảng 60km Đây là vùng rừng núi với suối và thác nước còn nguyên sơ chưa được đầu tư khai thác, cảnh quan đẹp và hấp dẫn, là địa điểm lý tưởng cho người dân trong vùng và các tỉnh lân cận nghỉ cuối tuần
Nhìn chung tài nguyên du lịch tự nhiên của Phú Thọ khá phong phú, hấp dẫn và được phân bố đều trên toàn tỉnh Tuy nhiên những tài nguyên này còn đang ở dạng tiềm năng Để có thể trở thành các điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch và mang lại doanh thu cao cho ngành du lịch Phú Thọ, cần phải có sự đầu tư và quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành trong tỉnh
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội có liên quan đến phát triển du lịch và tài nguyên du lịch nhân văn
2.2.1 Đặc điểm dân cư
Tổng dân số toàn tỉnh thống kê năm 2014 hơn 1,350 triệu người, tăng 0,63%
so với năm trước trong đó dân thành thị có 249,6 nghìn người chiếm 18,49% tổng số dân, còn lại là dân cư nông thôn Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,4%
Trong cơ cấu dân số theo giới tính, nữ chiếm 50,76%, nam chiếm 49,24% Phân theo độ tuổi tuổi từ 0 - 59 chiếm 90,9%, chỉ tiêu này cho thấy đây là cơ cấu dân số trẻ, riêng dân số dưới 15 tuổi chiếm 37,9% đây là nguồn lực lao động dự trữ dồi dào của tỉnh, có thể tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hơn nữa với tỷ lệ nữ chiếm cao hơn thì đây cũng là một trong những thuận lợi đối với việc phát triển ngành du lịch, khi mà lao động nữ trong ngành này chiếm đa số
2.2.2 Đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội
Năm 2014 tình hình kinh tế xã hội cả nước nói chung, trên địa bàn tỉnh nói riêng tuy
đã có nhiều biến chuyển theo hướng tích cực nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức do kinh tế phục hồi chậm, nợ xấu còn ở mức cao, sức mua của thị trường yếu, sản phẩm sản xuất tồn kho nhiều, khả năng cạnh tranh thấp, Do chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và chính sách cắt giảm đầu tư công, giảm chi tiêu ngân sách nhà nước Bên cạnh đó là biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh vẫn xảy
ra đã ảnh hưởng tới kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Song với sự quyết tâm cao trong lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, sự hỗ trợ kịp thời của chính phủ, Bộ, Ban ngành Trung ương nền kinh tế của tỉnh cũng đạt được một số kết quả nhất định
Trang 35 Tăng trưởng kinh tế: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2014
theo giá so sánh năm 2012 ước đạt 23.357,5 tỷ đồng tăng 6,43% so với năm trước Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,63%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,76% và khu vực dịch vụ tăng 6,73% Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn so với bình quân cả nước, ước tăng 6,43% so với năm 2012, giá trị sản xuất nông nghiệp ước tăng 5,7%, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 6%, tổng thu ngân sách ước đạt trên 2.750 tỷ đồng, vượt dự toán được giao Các ngành dịch vụ, thương mại tiếp tục có bước phát triển, đáp ứng như cầu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân[27]
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, trong đó sản xuất nông lâm nghiệp chiếm 26,6%, công nghiệp xây dựng
chiếm 41,1%, dịch vụ 32,3% [27]
Năm 2014 là năm có tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm thấp so với những năm trước đây nhưng đã thể hiện sự cố gắng lớn của các cấp, các ngành trong chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, kinh tế của tỉnh đã bước đầu dần hồi phục, đời sống của nhân dân tiếp tục được nâng lên, GDP bình quân đầu người đạt 22,5 triệu đồng Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao có nhiều tiến bộ Kinh tế
xã hội tỉnh Phú Thọ dần có những bước phát triển mạnh là một thuận lợi đối với việc thu hút đầu tư cũng như phát triển khối du lịch - dịch vụ - thương mại góp phần thu hút khách du lịch trong và ngoài nước [27]
Hệ thống giao thông: Phú Thọ là một tỉnh có tốc độ đô thị hóa khá cao vì
vậy mà cơ sở hạ tầng ngày càng được hoàn thiện và đồng bộ Mạng lưới giao thông vận tải khá phát triển và phân bố đều với 3 loại: giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi có hệ thống giao thông đường bộ phát triển khá
so với nhiều tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và được phân bố tương đối đều, hợp lý Mật độ đường ô tô đạt 1.09km/km2 cao hơn cả vùng Đông Bắc (0,62km/
km2 ) Toàn bộ hệ thống đường bộ của tỉnh dài 3.965km trong đó với 5 tuyến quốc lộ,
một tuyến cao tốc, 31 tuyến đường tỉnh và nhiều tuyến huyện lộ, đường đô thị, đường liên xã và đường dân sinh khác
Trên địa bản tỉnh Phú Thọ có một tuyến đường sắt thuộc mạng lưới đường sắt quốc gia
là tuyến Hà Nội - Lào Cai và 3 tuyến nhánh phục vụ các khu công nghiệp, nhà máy Giao thông đường sắt đã góp phần vận chuyển một lượng lớn hành khách và hàng hóa, tạo sự giao lưu giữa Phú Thọ và các tỉnh
Với lợi thế có 3 con sông lớn (sông Hồng, sông Đà, sông Lô) chảy qua địa bàn tỉnh,
Trang 36huyện, thị xã đểu có sông chảy qua tạo thành một mạng lưới đường thủy rất thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển kinh tế Tuy nhiên thì giao thông đường thủy để phục vụ công tác du lịch thì chưa được sử dụng phù hợp
Một số cơ sở hạ tầng khác: Hệ thống thông tin liên lạc được trang bị
ngày càng hiện đại, đảm bảo được đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa - hiện đại hóa như hệ thống cấp nước sạch, thoát nước đô thị, dịch vụ bưu chính viễn thông ngày càng một phát triển góp phần không nhỏ vào việc thu hút khách du lịch trong và ngoài nước
Các cơ sở phục vụ vui chơi giải trí bao gồm: công viên, sân thể thao, nhà thi đấu, nhà văn hóa đã bước đầu được quan tâm đầu tư Nhưng nhìn chung các điểm vui chơi giải trí có quy mô nhỏ, các loại hình sản phẩm còn đơn điệu, các phương tiện vui chơi giải trí, tham quan còn thiếu chưa thu hút được du khách cũng như kéo dài thời gian lưu trú của khách
Các cơ sở hạ tầng phục vụ lưu trú khách du lịch: bao gồm nhà nghỉ,
khách sạn, quán ăn, nhà hàng, đã được quan tâm đầu tư, phát triển phục vụ khách du
lịch Tổng cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh gồm 101 cơ sở với tổng số phòng nghỉ phục
vụ khách là 1.879 phòng nghỉ tiêu chuẩn đáp ứng được nhu cầu lưu trú của khách du lịch Hiện nay chất lượng các cơ sở lưu trú ngày một được nâng lên, nhiều khách sạn, nhà hàng đã được sếp hạng sao và đầu tư đồng bộ về quy mô, tăng số lượng phòng, chấ lượng dịch vụ, Các nhà hàng, quán ăn ngày càng được trú trọng đầu tư, phát triển, các món ăn đặc sản của vùng được quan tâm, trú trọng giới thiệu đến khách du
lịch
Nhìn chung, so với các tỉnh Trung du miền núi Phía Bắc nói riêng cũng như đa số địa phương trên cả nước nói chung Phú Thọ có điều kiện cơ sở vật chất, kĩ thuật - hạ tầng tương đối thuận lợi cho phát triển du lịch Tuy nhiên để có thể kết nối thuận tiện hơn các tour du lịch ngoại tỉnh, tour du lịch nội tỉnh thì việc luôn luôn nâng cao chất lượng
cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật đồng bộ sẽ góp phần tăng sức hấp dẫn của môi trường du lịch tỉnh Phú Thọ
2.2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn
Phú thọ là tỉnh có lịch sử lâu đời, vùng đất phát tích của dân tộc Việt Nam Qua các cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ cho thấy Phú Thọ có rất nhiều hiện vật đồ đá, đồ đồng minh chứng cho thời kỳ các Vua Hùng dựng nước Văn Lang, trong đó có các di chỉ nổi tiếng như: Gò Mun, Sơn Vi, Làng Cả, Phùng Nguyên, Phú Thọ còn là nơi lưu giữ nhiều các di tích, sự tích, truyền thuyết về đời sống sinh hoạt, văn hóa, công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước qua hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam Các lễ hội diễn ra trên quê hương Phú Thọ cũng rất đa dạng, phong phú, mang nét văn
Trang 37hóa đặc sắc của những bản làng như: Hội Đền Hùng, Hội Phết - Hiền Quan, Hội bơi chải - Bạch Hạc, Hội rước voi - Đào Xá, Hội rước Chúa Gái - Hy Cương, Hội ném còn của đồng bảo dân tộc Mường, Phú Thọ còn có kho tàng thơ ca, hò, vè rất đặc sắc, những làn điệu hát Xoan, hát Gẹo, hát Đối, hát Ví mang âm hưởng của miền quê trung
du
* Khu di tích lịch sử Đền Hùng: Thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là nơi thờ cúng các Vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam Đền Hùng cách trung tâm thành phố Việt Trì 7km về phía Bắc, cách thủ
đô Hà Nội 90km Từ Hà Nội du khách có thể đến Đền Hùng bằng đường bộ theo đường quốc lộ 2, hoặc tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai Đền Hùng là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia - Kinh đô của nhà nước Văn Lang - Nhà nước sơ khai đầu tiên của dân tộc Việt Nam
* Đền Mẫu Âu Cơ: thuộc địa phận xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa Đền được xây dựng
từ thời Hậu Lê trên mảnh đất rộng giữa cánh đồng, nằm ẩn dưới gốc cây đa cổ thụ, mặt quay về hướng Nam, bên tả có giếng Loan, bên hữu có giếng Phượng, phía trước có núi Giacs, sau lưng là sông Hồng uốn khúc như rồng thiêng bao bọc, xung quanh đền
có cây cối xum xuê Kiến trúc của đền có những trạm gỗ quý giá được coi như những tiêu bản của nền nghệ thuật đương đại Đền Mẫu Âu Cơ là di tích thờ Quốc Mẫu quan trọng trong hệ thống di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Phú Thọ Hằng năm thu hút đông đảo nhân dân và khách thập phương về thăm tế lễ
* Di tích kiến trúc nghệ thuật: thể hiện qua nghệ thuật kiến trúc các đình, chùa, đền miếu hay một số khu phố cổ, thành lũy pháo đài, đặc biệt tập trung tại Phong Châu, Tam Thanh, Việt Trì như đình Hy Cương, đình Hùng Lô, đền Mẫu Âu Cơ, đền Hiền Quang, đình Bảo Bà, đình Đào Xá,
* Chùa Phúc Thánh: chùa tọa lạc trên núi Ngạc Phác, xã Hương Nộn huyện Tam Nông, chùa do phu nhân thứ 5 của Vua Lý Thần Tông là Lê Thị Xuân Lan dựng năm
1145 Bà đã tu hành và mất tại đây năm 1171 Chùa Phúc Thánh là một trong ít những ngôi chùa thời Lý còn lại đến ngày nay với nhiều kiến trúc cổ kính làm bằng gỗ Chò Chỉ
* Lễ hội truyền thống: Lễ hội truyền thống là một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc, một hình thức sinh hoạt tập thể của người dân sau những ngày lao động vất vả, là dịp để mọi người hướng về những sự kiên trọng đại hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng hay vui chơi giải trí Vì vậy
lễ hội có tính hấp dẫn cao với du khách và là một trong những tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị
2.3 Đặc điểm điều kiện khí hậu và sinh khí hậu tỉnh Phú Thọ
2.3.1 Chế độ bức xạ, mây, nắng
Trang 38Phú Thọ có lượng bức xạ tổng cộng trung bình nhiều năm đạt trị số 118,9
kcal/cm2/năm Thời kỳ có lượng bức xạ tổng cộng lớn trong năm là từ tháng 5 đến tháng 10, lượng bức xạ tổng cộng tháng lớn nhất đạt trị số trung bình 14,1 kcal/cm2(tháng 6 và 7) Các tháng còn lại từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau trị số bức xạ tổng cộng trung bình đạt giá trị nhỏ hơn: 6,5-6,8 kcal/cm2, nhỏ nhất trong các tháng đầu mùa xuân, tháng 1 và 2 đạt trị số trung bình 5,0-5,1 kcal/cm2
2.3.1.2 Số giờ nắng:
Phú Thọ có số giờ nắng thuộc loại trung bình với 1580 giờ/năm Khu vực Việt Trì với
độ cao 17 m có số giờ nắng cao nhất đạt trị số trung bình 1601 giờ/năm, tại Minh Đài với độ cao 100 m, số giờ nắng giảm xuống còn 1527,8 giờ/năm Ở mức độ nhất định, nắng có khuynh hướng giảm dần theo độ cao địa lí, càng lên các khu vực đồi núi phía tây và nam của Phú Thọ số giờ nắng lại càng giảm dần so với khu vực đồng bằng phía bắc và phía đông tỉnh
Từ tháng 5 đến tháng 10 là thời kỳ nhiều nắng, trung bình mỗi tháng có trên
155 giờ nắng, nắng nhất trong tháng 7: 195,0 giờ nắng, mỗi ngày cũng có khoảng 6,7 giờ nắng Thời kỳ ít nắng là tháng 1 và tháng 3, số giờ nắng trung bình chỉ còn dao động trong khoảng 55-56 giờ/tháng, thấp nhất trong tháng 2: 45,4-51,5 giờ, lúc này trung bình mỗi ngày chỉ có 1,7-1,8 giờ nắng
6,3-Bảng 1 Tổng số giờ nắng trung bình các tháng và năm ở Phú Thọ (giờ)
4, đây là thời kỳ ẩm ướt trong năm, lượng mây tổng quan lúc này trung bình đạt 8-9/10 bầu trời
Bảng 2 Lượng mây tổng quan trung bình tháng và năm tỉnh Phú Thọ (phần
mười bầu trời)
Trang 39Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Phú
Hộ 8.6 9.2 9.2 8.9 8.0 8.0 8.0 8.0 6.9 6.8 6.8 6.9 8.0 Việt
Tại Phú Thọ, tốc độ gió thường lớn ở các khu vực địa hình thấp, tương đối bằng
phẳng, thoáng gió Ở phía bắc, đông bắc, trị số trung bình năm đạt 1,6-1,8 m/s/năm, đi
về phía các khu vực đồi núi phía tây, tây nam của tỉnh tốc độ gió trung bình năm giảm dần xuống còn 0,7m/s
Do ảnh hưởng của chế độ gió mùa và tác dụng của địa hình, hướng gió thịnh hành của Phú Thọ diễn biến như sau:
Mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau): Thời kì đầu mùa đông hướng gió thịnh hành trên phạm vi toàn tỉnh là hướng Tây Bắc và Đông Nam, trong đó hướng Tây Bắc chiếm ưu thế Cuối mùa đông , từ cuối tháng 2 đầu tháng 3 trở đi hướng gió Đông Nam lại chiếm ưu thế [18]
Mùa hè (các tháng từ tháng 5 đến 9): Suốt mùa hè, hướng gió trên toàn tỉnh là hướng Đông Nam, phù hợp với sự di chuyển của của khối khí xích đạo, khối khí nhiệt đới biển Tây Thái Bình Dương [18]
Thời kì chuyển tiếp giữa các mùa: Tháng 4, thời kì chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hè Tuỳ thuộc vào sự phát triển của các khối không khí mà hướng gió ở Phú Thọ có sự xen kẽ các hướng Tây Bắc, Tây Nam, Đông Nam Tháng 10, thời kì chuyển tíêp từ mùa hạ sang mùa đông, tuỳ thuộc vào sự phát triển của các khối khí
mà hướng gió thịnh hành ở Phú Thọ có sự đổi hướng dần từ Đông Nam sang Tây Bắc Dương [18]
Trang 40Là địa bàn trung du có địa hình đồi là chính, ở Phú Thọ tốc độ gió trung bình năm nhìn chung thuộc loại trung bình, đạt khoảng 1 - 1,5 m/s Trong năm tốc độ gió phân hóa không nhiều tuy nhiên vẫn có thể thấy có một thời kỳ từ tháng 3 đến tháng 5 tốc độ gió trung bình cao hơn hẳn, đạt khoảng 1,7 – 2,0 m/s (bảng 8)
Bảng 8 Tốc độ gió trung bình tháng và năm ở tỉnh Phú Thọ (m/s)
2.3.2.2 Tốc độ gió tối cao tuyệt đối và hướng
Các số liệu thống kê tốc độ gió mạnh nhất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong một thời
gian dài [28] cho thấy ở đây đã gặp những tốc độ gió lớn nhất từ 26 - 40 m/s Cụ thể, tốc độ gió 26 m/s theo nhiều hướng Đông Nam (SE) đã quan trắc thấy ở Minh Đài
ngày 18 tháng 8 năm 1974; tốc độ gió 28 m/s theo nhiều hướng cũng đã quan sát thấy
ở Phú Hộ; đặc biệt tốc độ gió 40 m/s hướng Bắc đã thấy ở trạm Việt Trì vào ngày 25 tháng 6 năm 1962 (bảng 9)
Bảng 9 Tốc độ gió mạnh nhất (m/s) và hướng theo tháng và năm