Mục tiêu tổng quát của đề tài - Đánh giá thực trạng công tác quản lý và hiệu quả sử dụng đất trồng lúa huyện Phú Lương trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 là cơ sở định hướng quản l
Trang 1TRƯƠNG THỊ HỒNG DUYÊN
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 - 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2013
Trang 2TRƯƠNG THỊ HỒNG DUYÊN
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 - 2012
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Văn Minh
Thái Nguyên - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
N u n, n t n n m
Tác giả luận văn
Trương Thị Hồng Duyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới lãnh đạo phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký QSD đất, Chi cục thống kê, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng, phòng Lao động - thương binh và xã hội, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phú Lương đã tạo điều kiện và cung cấp
số liệu để tôi tiến hành nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ và người dân tại UBND xã Sơn Cẩm, UBND xã Tức Tranh, UBND xã Phấn Mễ đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai điều tra thu thập số liệu thực địa phục vụ cho nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Văn Minh - Thầy giáo hướng dẫn khoa học cùng toàn thể các Thầy cô giáo, cán bộ khoa Tài Nguyên và Môi trường, khoa Sau đại học Trường Đại học Nông lâm - Thái Nguyên
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới Gia đình của tôi, Gia đình đã thực sự là nguồn động viên lớn lao và truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành luận văn
Do thời gian có hạn, năng lực còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiết sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các đồng nghiệp để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
N u n, n t n n m
Tác giả luận văn
Trương Thị Hồng Duyên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất trồng lúa 4
1.1.1 Khái quát về đất trồng lúa 4
1.1.2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001-2010 phát huy được tiềm năng đất đai 4
1.1.3 Hiện trạng sử dụng đất trồng lúa tại Việt Nam 6
1.1.4 Định hướng sử dụng đất tới năm 2020 7
1.1.5 Sử dụng đất trồng lúa theo hướng phát triển bền vững 8
1.1.6 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững 11
1.1.7 Căn cứ pháp lý cho việc đánh giá công tác quản lý 11
1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới 12
1.2.1 Các hệ thống canh tác chính trong vùng nhiệt đới ẩm 13
1.2.2 Sự xuống cấp của đất trong vùng nhiệt đới ẩm 13
1.3 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững 15
1.3.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 15
1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 18
1.3.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng đất nông nghiệp 21
1.4 Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam 22
1.4.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới 22
1.4.2 Xu hướng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam 23
1.4.3 Sự cần thiết phải sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững 24
1.5 Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 24 1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 24
1.5.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam 25
Trang 6Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện 28
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất trồng lúa của huyện Phú Lương 28
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 28
2.2.4 Đánh giá tình hình quản lý và các nguyên nhân làm giảm diện tích đất trồng lúa 29
2.2.5 Đề xuất hướng sử dụng quỹ đất trồng lúa trên địa bàn huyện 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp 29
2.3.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 29
2.3.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 30
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 31
2.3.5 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất 31
2.3.6 Các phương pháp khác 32
Chương 3: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 33
3.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện liên quan đến sử dụng đất trồng lúa 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 35
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tác động đến việc sử dụng đất trồng lúa 40
3.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Phú Lương 42
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 42
3.2.2 Thực trạng sử dụng đất trồng lúa tại 3 xã nghiên cứu 42
3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện 49
Trang 73.3.1 Hiệu quả kinh tế 49
3.3.2 Hiệu quả xã hội 56
3.3.3 Hiệu quả môi trường 59
3.4 Tình hình quản lý đất trồng lúa giai đoạn 2008 - 2012 62
3.4.1 Công tác lập và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa 62
3.4.2 Quản lý việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa 68
3.4.3 Chính sách quản lý và bảo vệ đất lúa của địa phương 72
3.5 Đề xuất hướng sử dụng và quản lý đất trồng lúa 76
3.5.1 Quan điểm xây dựng định hướng 76
3.5.2 Căn cứ đề xuất hướng sử dụng đất trồng lúa theo hướng phát triển bền vững tại huyện Phú Lương 76
3.5.3 Lựa chọn các LUT bền vững trên đất trồng lúa tại huyện Phú Lương 77
3.5.4 Đề xuất hướng quản lý đất trồng lúa tại huyện Phú Lương 77
3.5.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa 78
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Đề nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
LUT : Land Use Type (Loại hình sử dụng đất)
Hlđ : Giá trị ngày công lao động
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Độ dốc trên các loại đất của huyện 34
Bảng 3.2 Diện tích, dân số và mật độ dân số huyện Phú Lương năm 2012 39
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất huyện Phú Lương năm 2012 42
Bảng 3.4 Biến động diện tích đất trồng lúa trên địa bàn huyện Phú Lương giai đoạn 2008 - 2012 43
Bảng 3.5 Chênh lệch số liệu thống kê đất lúa giữa Phòng TNMT và phòng Nông Nghiệp huyện Phú Lương 45
Bảng 3.6 Sản lượng lúa tại địa bàn nghiên cứu giai đoạn 2008-2012 45
Bảng 3.7 Các loại hình sử dụng đất trồng lúa của huyện Phú Lương 46
Bảng 3.8 Phân cấp hiệu quả kinh tế các LUT 50
Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất trồng lúa khu vực 1 50
Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất trồng lúa khu vực 2 53
Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất trồng lúa khu vực 3 54
Bảng 3.12 Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất trồng lúa 57
Bảng 3.13 Hiệu quả môi trường của các LUT 60
Bảng 3.14 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất so với quy hoạch được duyệt 63
Bảng 3.15 Chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 66
Bảng 3.16 Thu hồi đất trồng lúa tại một số dự án thực hiện trong giai đoạn 2008 - 2012 69
Bảng 3.17 Các trường hợp sử dụng sai mục đích trên đất lúa giai đoạn
2008-2012 71
Bảng 3.18 Số liệu hỗ trợ người sử dụng đất trồng lúa năm 2013 74
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Cơ cấu dân số huyện Phú Lương năm 2012 38
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng của môi trường sống và có vai trò đặc biệt quan trọng với sản xuất nông nghiệp Bất kỳ quốc gia nào đất đều là tư liệu sản xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân.[3]
Trong những năm gần đây, hòa cùng với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển Cùng với sự vận động và phát triển này, con người ngày càng sử dụng quá mức nguồn tài nguyên đất để phục vụ cho lợi ích của mình, dẫn đến sự thoái hoá đất, giảm tính bền vững trong phát triển kinh tế nói chung và trong nông nghiệp nói riêng
Tỉnh Thái Nguyên nằm ở vùng miền núi phía Bắc, cùng với xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới của cả nước, trong những năm qua nền kinh tế của tỉnh Thái Nguyên có những bước phát triển đáng kể Phú Lương là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên có diện tích 368,95 km2, trong đó đất nông nghiệp 119,79 km2; đất lâm nghiệp 164,98km2
(chiếm 44,73% tổng diện tích đất tự nhiên); đất nuôi trồng thuỷ sản 6,65km2; đất phi nông nghiệp 46,63km2; đất chưa sử dụng 30,9 km2 có nhiều tiềm năng để phát triển kinh
tế, trong đó sản xuất nông nghiệp có tầm quan trọng lớn đối sự phát triển của
huyện Có tới 80% dân số của huyện sống bằng nghề nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người còn thấp Vì vậy, việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả sẽ đem lại những sản phẩm có ý nghĩa lớn đối với tỉnh Thái Nguyên nói chung, huyện Phú Lương nói riêng Do phải chịu sức
ép về gia tăng dân số nên một số năm gần đây huyện Phú Lương chưa chú trọng đúng mức việc sử dụng đất trồng lúa.[22]
Trang 12Trước tình hình hiện nay do diện tích đất trồng lúa trên cả nước đang giảm sút, có nguy cơ đe dọa đến an ninh lương thực quốc gia Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đề nghị áp dụng chính sách thắt chặt quản
lý quỹ đất lúa Những chính sách này đã được đề cập trong đề án phát triển lúa gạo bảo đảm an ninh lương thực quốc gia từ năm 2015 đến năm 2020 và Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 42/NĐ-CP ngày 11/5/2012 về quản lý,
sử dụng đất trồng lúa Theo Nghị định này, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa là một trong những nội dung trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Hạn chế tối đa việc chuyển đất trồng lúa nước đang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp; khuyến khích việc khai hoang mở rộng diện tích đất trồng lúa, cải tạo đất lúa khác thành đất chuyên trồng lúa nước Khi lập kế hoạch chỉ cho phép chuyển đất trồng lúa nước đang sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng và phải được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xét duyệt Đất trồng lúa sẽ được Nhà nước bảo vệ chặt chẽ và
hỗ trợ bằng nhiều chính sách
Đất trồng lúa là một tư liệu sản xuất đặc biệt, đóng vai trò cốt lõi trong việc đảm an ninh lương thực Trong bối cảnh phải đảm bảo hài hòa các nhu cầu đất đai khác, trước thực trạng đất lúa đang chịu nhiều sức ép về việc giảm về diện tích và không thể mở rộng thêm, huyện Phú Lương thực sự cần những giải pháp quản lý, bảo vệ và sử dụng hết sức căn cơ trên từng cánh
đồng, từng sào ruộng Xuất phát từ thực tiễn đó, với mong muốn góp phần
nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Văn Minh,
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác quản lý và hiệu quả sử
dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2012”
Trang 132 Mục tiêu tổng quát của đề tài
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý và hiệu quả sử dụng đất trồng lúa huyện Phú Lương trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 là cơ sở định hướng quản lý và sử dụng quỹ đất trồng lúa trong tương lai theo hướng phát triển bền vững
3 Ý nghĩa của đề tài
- Mục đích chính là đáp ứng được nhu cầu bảo vệ diện tích đất trồng lúa
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý và hiệu quả sử dụng đất trồng lúa huyện Phú Lương trong giai đoạn 2008 đến năm 2012 là cơ sở định hướng quản lý và sử dụng quỹ đất trồng lúa trong tương lai theo hướng phát triển bền vững
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa về mặt kinh tế, xã hội và môi trường
- Xác định các nguyên nhân làm thay đổi diện tích đất trồng lúa từ đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất trồng lúa tại huyện Phú Lương
4 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu nghiên cứu phải trung thực chính xác, khách quan, phản ánh đúng thực tế
- Đề tài phải đảm bảo đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý và hiệu quả sử dụng đất trồng lúa tại huyện Phú Lương
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất trồng lúa
1.1.1 Khái quát về đất trồng lúa
Đất trồng lúa là đất có các điều kiện phù hợp để trồng lúa, bao gồm đất chuyên trồng lúa nước và đất lúa khác
Đất chuyên trồng lúa nước là đất đang trồng hoặc có đủ điều kiện trồng được hai vụ lúa nước trở lên trong năm
Đất lúa khác bao gồm đất lúa nước chỉ trồng được một vụ lúa nước trong năm và đất lúa nương Đất lúa nương là đất có các điều kiện phù hợp cho trồng lúa nương
1.1.2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001-2010 phát huy được tiềm năng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của nhà nước (thể hiện được đồng thời ba tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế) về tổ chức sử dụng đất đai phải hợp lý, đầy đủ và tiết kiệm nhất, thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoan định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai môi trường Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉ các mối quan
hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường
Từ đó, ta thấy việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài Căn cứ vào đặc điểm,điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh
Trang 15tế -xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp,các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai chi tiết của mình; Xác lập ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai,hạn chế sự chồng chéo gây lạng phí đất đai,tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất lâm nghiệp, lâm nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng), ngăn ngừa được các hiện tượng tiêu cực, chanh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất,phá vỡ môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và rất nhiều các hiện tượng gây ra các hiệu quả khó lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở tùng địa phương,đặc biệt là trong những năm gần đây khi nhà nước hướng nền kinh tế theo hướng thị trường Một cơ chế vô cùng phức tạp
Hơn nữa quy hoạch sử dụng đất đai còn tạo điều kiện để sử dụng đất đai hợp lý hơn Trên cơ sở phân hạng đất đai, bố trí sắp xếp các loại đất đai quy hoạch sử dụng đất đai tạo ra cái khung bắt các đối tượng quản lý và sử dụng đất đai theo khung đó Điều đó cho phép việc sử dụng đất đai sẽ hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hơn Bởi vì, khi các đối tượng sử dụng đất đai hiểu rõ được phạm vi ranh giới và chủ quyền về các loại đất thì họ yên tâm đầu tư khai thác phần đất đai của mình, do vậy hiệu quả sử dụng sẽ cao hơn
Quy hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa rất quan trọng cho các ngành, các lĩnh vực hoạt động trong xã hội Nó định hướng sử dụng đất đai cho các ngành, chỉ rõ các địa điểm để phát triển các ngành, giúp cho các ngành yên tâm trong đầu tư phát triển Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai cũng góp một
Trang 16phần rất lớn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.[6]
Mặc dù đất lúa nước đạt 103,55% (vượt chỉ tiêu), nhưng trong 10 năm qua đã sử dụng 270 nghìn ha chuyển cho các mục đích sử dụng khác Việc lấy đất chuyên trồng lúa nước có năng suất cao để phát triển công nghiệp, đô thị trong khi có thể bố trí trên các loại đất khác vẫn xảy ra ở một số địa phương Đất khu công nghiệp đạt 100%, nhưng đầu tư còn dàn trải, một số khu công nghiệp triển khai quá chậm
1.1.3 Hiện trạng sử dụng đất trồng lúa tại Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến năm 2010 cả nước có 267 khu công nghiệp, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL, với tổng diện tích 72 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt gần 46% Ngoài ra, cả nước còn 28 nghìn ha đất của 650 cụm công nghiệp, diện tích đã cho thuê hơn 10 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt 44% Trong
đó, theo thống kê của Phòng Thương mại, Công nghiệp Việt Nam, chỉ tính riêng vùng ĐBSCL, hiện có 20 khu công nghiệp lấn vào diện tích đất trồng lúa, với tổng diện tích 3.645 ha, diện tích cho thuê đạt 810 ha (chiếm tỷ lệ khoảng 22%) Ngoài ra, các tỉnh trong vùng còn có 177 cụm công nghiệp, với tổng diện tích hơn 15.400 ha, có 15 cụm được doanh nghiệp thuê với diện tích 700
ha (chiếm 4,5%)
Như vậy, đang có tới 17 nghìn 690 ha đất công nghiệp (trong tổng số 19 nghìn 102 ha) bị bỏ trống, chiếm hơn 92% diện tích Diện tích đất bỏ trống ở nhiều nơi đã khiến các khu vực này xảy ra những chuyện ngược đời là nông dân xin thuê lại đất quy hoạch khu công nghiệp để trồng lúa, trồng màu Còn một bộ phận lớn nông dân khác thì buộc phải di cư lên thành phố kiếm việc làm, tăng sức ép dân số lên khu vực thành thị, đồng thời cũng gia tăng những vấn đề xã hội khác cho khu vực nông thôn.[14]
Diện tích đất phi nông nghiệp trên cả nước có mức tăng trưởng tương đối nhanh và tuyến tính trong vòng một thập niên qua Trung bình mỗi năm, diện
Trang 17tích đất phi nông nghiệp gia tăng thêm khoảng 82.000 ha và tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm ở mức xấp xỉ 29%
Tổng diện tích nhóm đất chuyên dùng gia tăng mạnh nhất trong giai đoạn 2005-2010 (722.277 ha); tiếp theo là diện tích đất ở, tăng 237.300 ha; đất nghĩa trang, nghĩa địa tăng 7.200 ha; đặc biệt, nhóm đất sông suối và mặt nước chuyên dùng giảm mạnh xuống chỉ còn khoảng trên 1 triệu ha vào năm 2010 Đất tôn giáo, tín ngưỡng cũng có sự gia tăng đáng kể, tăng trên 1.800 ha sau 5
năm, từ năm 2005 đến năm 2010 (N uồn: ổn đ ều tra đất đa n m ,
n m 5 v n m )
1.1.4 Định hướng sử dụng đất tới năm 2020
Với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015), Chính phủ đề ra ba mục tiêu cơ bản đó là: Đáp ứng yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội (giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao…), công nghiệp và đô thị để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bảo đảm anh ninh, quốc phòng và an sinh xã hội; đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu
Từ đó, Chính phủ đã đưa ra phương án quy hoạch sử dụng đất cụ thể Đất nông nghiệp của cả nước đến năm 2020 là 26.732.000 ha, tăng 506.000
ha so với năm 2010 Đất phi nông nghiệp đến năm 2020, cả nước có 4.880.000 ha, tăng 1.175.000 ha so với năm 2010 Với đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng, năm 2010, cả nước còn 3.164.000 ha Trong thời kỳ quy hoạch
sẽ khai thác khoảng 1.681.000 ha sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp Như vậy, đến năm 2020, quỹ đất chưa sử dụng của cả nước còn lại khoảng 1.483.000 ha.[21]
Sự chuyển đổi của Việt Nam từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường và từ một đất nước rất nghèo trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp trong vòng chưa đến 20 năm đã trở thành một
Trang 18phần trong các sách giáo khoa về phát triển Nhưng một sự chuyển đổi khác của Việt Nam để trở thành một nền kinh tế công nghiệp, hiện đại vào năm
2020 hầu như mới chỉ bắt đầu
Để đạt được mục tiêu này, theo Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội mới nhất cho giai đoạn 2011-2020, Việt Nam cần phải bình ổn kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ sở hạ tầng tiêu chuẩn thế giới, xây dựng nguồn nhân lực có trình
độ, kỹ năng và tăng cường các thể chế kinh tế thị trường của mình
Đạt được những nguyện vọng này không phải là điều dễ dàng Việt Nam
đã phải trải qua những cơn sóng gió chưa từng có trong nền kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây lạm phát hai con số, tiền đồng mất giá, nguồn vốn tháo chạy và suy giảm dự trữ ngoại hối làm xói mòn lòng tin của nhà đầu tư Tăng trưởng nhanh cũng làm bộc lộ những vấn đề mang tính cơ cấu Chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng vẫn là nguyên nhân gây quan ngại nặng nề do tăng trưởng kinh tế sử dụng quá nhiều tài nguyên, ô nhiễm cao và hàng xuất khẩu thiếu đa dạng và ít có giá trị gia tăng, tỉ trọng đóng góp của năng suất vào tăng trưởng ngày càng giảm Năng lực cạnh tranh của Việt Nam đang bị đe dọa bởi sản xuất điện không theo kịp nhu cầu, chi phí hậu cần
và giá cả bất động sản leo thang, tình trạng thiếu lao động có kỹ năng ngày càng phổ biến
Vì vậy việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa nhằm thỏa mãn nhu cầu cho xã hội về an ninh lương thực đang trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất
1.1.5 Sử dụng đất trồng lúa theo hướng phát triển bền vững
Đất đai ngày càng thể hiện vai trò vô cùng quan trọng của nó không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai Khi dân số trên trái đất còn ít thì đất đai có thể đáp ứng một cách dễ dàng nhu cầu của con người về số lượng, chất lượng, trong điều kiện ấy con người cũng ít có tác động lớn đến tài nguyên quí báu này Một vài thập kỷ gần đây, dân số thế giới tăng nhanh kéo theo những nhu
Trang 19cầu về lương thực, thực phẩm, chỗ ở… tăng lên tạo nên một sức ép vô cùng lớn đến vấn đề sử dụng đất, những diện tích đất đai màu mỡ ngày càng bị thu hẹp trước những nhu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá… dẫn đến con người phải tìm cách khai thác những vùng đất ít thích hợp cho sản xuất Hậu quả của quá trình này là đất đai bị thoái hoá, rửa trôi, xói mòn nghiêm trọng làm một diện tích lớn đất đai trên thế giới bị suy kiệt, ngoài ra còn ảnh hưởng đến môi trường sống của con người và nhiều loài động thực vật khác.[4]
Nhằm đảm bảo cho cuộc sống của con người hiện tại cũng như thế hệ tương lai nên cần phải có những chiến lược sử dụng đất đảm bảo duy trì khả năng sản xuất của đất ở hiện tại cũng như tương lai Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” ra đời dựa trên những mong muốn trên Việc tìm kiếm các giải pháp
sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn của con người trong suốt cả thời gian Việc sử dụng đất bền vững là sử dụng đất với tất cả những đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất Thuật ngữ đất đai được đề cập đến ở đây gồm thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thực vật và động vật, kể cả vấn đề cải thiện các biện pháp quản
lý đất đai Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ “chất lượng đất đai” trong sử dụng đất bền vững bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến
sự bền vững của tài nguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng đất đai có thể khác nhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn, sức sản xuất tự nhiên và phân bố địa hình ảnh hưởng đến khả năng cơ giới hoá Để duy trì được sự bền vững của đất đai, Smyth AJ và Julian Dumánki (1993) đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là:
- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái
Trang 20hoá chất lượng đất và nước
- Khả thi về mặt kinh tế
- Được xã hội chấp nhận
Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả năm nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998), việc sử dụng đất bền vững dựa trên những nguyên tắc và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
và các sinh vật sống trên trái đất
Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều điện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được
Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền vững Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động
Trang 21kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng Khẳng định sự tồn tại và phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra
sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người.[1]
1.1.6 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp:
Tận dụng triệt để các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học,
kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ suất hàng hoá cao, tăng sức canh tranh và hướng tới xuất khẩu
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
Chú ý đầu tư có trọng điểm để tạo ra các vùng kinh tế làm động lực lôi cuốn nhưng không lãng quên đầu tư diện rộng nhằm giảm bớt sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư.[5]
1.1.7 Căn cứ pháp lý cho việc đánh giá công tác quản lý
- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ Về quản lý, sử dụng đất trồng lúa
- Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003
Trang 22- Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22 tháng 11 năm 2011 của Quốc hội khóa XIII về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) cấp quốc gia
- Thông tư liên tịch số 171/2010/TTLT-BTC-BNNPTNT ngày 01 tháng
11 năm 2010 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2009 về đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia
1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Vùng khí hậu nhiệt đới ẩm là một vùng chiếm một diện tích rộng lớn của
thế giới và chứa các phần lãnh thổ của khoảng 60 quốc gia (hoàn toàn hay một p ần tron vùn s n k í ậu n ) Việc sử dụng sáng suốt tài nguyên đất
và nước trong vùng nhiệt đới ẩm là những vấn đề chủ yếu của toàn thế giới hiện tại, vì những sự tương tác giữa dân số con người, các yếu tố xã hội - kinh
tế và chính sách, với tài nguyên thiên nhiên của các vùng sinh thái mong manh này Quản lý sai lầm tài nguyên đất và các hệ thống nông nghiệp dựa trên tài nguyên không hiệu quả đang gây ra sự xuống cấp nghiêm trọng các vùng sinh thái này cùng với tình trạng thiếu lương thực, suy dinh dưỡng và nghèo nàn đang đeo bám dai dẳng các cộng đồng dân cư Hiện nay nhiều diện tích rộng lớn của rừng mưa nhiệt đới đang bị biến mất hằng năm do lửa rừng, búa rìu, cưa xích, máy ủi, và thuốc khai quang, để sản xuất lương thực nuôi sống một dân số không ngừng tăng lên, nguyên liệu cho công nghiệp, và nông sản hàng hóa để xuất khẩu cũng như để phát triển cơ sở hạ tầng cho những người nhập cư mới đến khu vực và cho nhu cầu công nghiệp hóa Các phương pháp không tương thích về mặt sinh thái của sự chuyển hóa rừng, các hệ thống sử dụng đất không phù hợp, và sự quản lý đất và hoa màu không khoa học dựa trên các kỹ thuật bóc lột độ phì của đất, đã thúc đẩy xói mòn đất, góp phần ô nhiễm các mặt nước tự nhiên, phá vỡ cân bằng nước và năng lượng ở các hệ sinh thái với các cấp độ từ vi mô cho đến trung và vĩ mô, và phá vỡ các
Trang 23chu trình của các nguyên tố (ví dụ, C, N, và S) cùng với các hệ quả sinh thái toàn cầu Một hệ quả toàn cầu chính của sự mất, đốt, và chuyển hóa rừng thành các hệ thống sử dụng đất không bền vững là sự phóng thích của những lượng lớn CO2 và các chất hoạt động phóng xạ hay các khí gây hiệu ứng nhà kính vào khí quyển Nếu các phương pháp chuyển hóa rừng, sử dụng đất và các hệ thống nông nghiệp được cải thiện dựa trên các hiểu biết khoa học không được chấp nhận rộng rãi trong tương lai gần, sự nhiễu loạn lớn trong các hệ sinh thái mong manh của rừng mưa nhiệt đới có thể dẫn tới sự xuống cấp không hồi phục được của đất và môi trường
1.2.1 Các hệ thống canh tác chính trong vùng nhiệt đới ẩm
Vì các hệ thống canh tác trong vùng nhiệt đới dựa ít hay không dựa vào các nhập lượng từ bên ngoài và được tiến hành trên đất không màu mỡ, chúng thường có hiệu quả và năng suất thấp Các hệ thống này có các đặc trưng sau:
- Rất đa dạng và phức tạp, nông dân gieo trồng đồng thời đến 12 loài hoa màu trên cùng mảnh đất, vì đa canh là phương thức phổ biến
- Dựa vào tài nguyên và thâm canh lao động, với sự phụ thuộc tối thiểu vào các nhập lượng mua từ bên ngoài Sự phục hồi độ phì của đất dựa trên thời gian bỏ hóa dài Thời gian canh tác so với thời gian bỏ hóa phụ thuộc vào khí hậu, thảm thực vật, loại đất, và áp lực dân số
- Quy mô nông trại nhỏ (1-2 ha) phù hợp để quản lý bởi hộ gia đình và sản xuất thủ công
1.2.2 Sự xuống cấp của đất trong vùng nhiệt đới ẩm
Tổng diện tích bị xuống cấp do các tiến trình suy thoái của đất khác nhau trên thế giới được ước lượng vào khoảng 2 tỷ ha Diện tích đất bị xuống cấp lớn nhất là ở Châu Á (38%) và Châu Phi (27%) Phần lớn sự xuống cấp này gây ra bởi sự xói mòn gia tốc, là một vấn đề nghiêm trọng trong vùng nhiệt đới ẩm Tải lượng vật liệu bồi lắng cao đã được báo cáo từ các vùng ẩm của Costa Rica, Malaysia, Panama, Papua New Guinea, Australia, Philippines, và Thái Lan Mức
Trang 24độ xuống cấp của đất cao được quan sát trong các vùng nhiệt đới ẩm của Trung
Mỹ, Châu Phi, và Châu Á Sự xói mòn do nước xảy ra nghiêm trọng và phổ biến trong các vùng ẩm của Đông Nam Châu Á, bao gồm Mianma, Thái Lan, Malaysia, và Indonesia; nhiều đảo trong Thái Bình Dương và Châu Đại Dương; dọc theo các dãy núi của vùng bờ biển Thái Bình Dương ở Trung Mỹ, bao gồm vùng Đông Nam Mexico, Honduras, Nicaragua, và Costa Rica; và trong các vùng bị nhiễu loạn mạnh của lưu vực Amazon.[8]
Sử dụng đất không phân biệt và thâm canh để sản xuất hoa màu theo mùa hay lập vùng chăn thả gia súc có mật độ cao, các hệ thống sản xuất dựa vào tài nguyên không hay chỉ sử dụng rất ít nhập lượng mua từ bên ngoài vào
để trả lại dưỡng liệu bị lấy đi trong khi thu hoạch hoa màu và động vật, bản thân đất rất nghèo dưỡng liệu, và môi trường khắc nghiệt là một số yếu tố chịu trách nhiệm dẫn tới nhịp độ xuống cấp nhanh chóng của đất được quan sát trong vùng nhiệt đới ẩm Tính chất nghiêm trọng của sự xuống cấp của đất
là là do tác dụng tương hỗ giữa các nguyên nhân, yếu tố, và tiến trình của sự xuống cấp của đất Các nguyên nhân hay các tác nhân của sự xuống cấp của đất là các động lực xã hội-kinh tế và văn hóa, được thúc đẩy bởi các biến số dân số học (ví dụ mật độ dân số và sự di dân); các lý do chiến lược của sự mất rừng để tạo ra khả năng tiếp cận các tài nguyên có tiềm năng, bao gồm chính sách quốc gia và các yếu tố định chế như sự hỗ trợ hậu cần và kỹ thuật; tập quán về quyền sử dụng đất; và vài đặc trưng văn hóa và dân tộc học xác định nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên Các yếu tố của sự xuống cấp của đất
có liên quan đến các tài nguyên tự nhiên, bao gồm khí hậu vi mô và trung quy
mô, thủy văn, địa hình và cảnh quan, thảm thực vật, sử dụng đất, và các hệ thống quản lý đất và hoa màu Các yếu tố thể hiện các tài nguyên tự nhiên, hoạt động sử dụng đất, và mức nhập lượng dựa trên khoa học để khai thác các tài nguyên Tác dụng tương tác của các nguyên nhân và các yếu tố này kích
Trang 25hoạt vài cơ chế và tiến trình dẫn tới sự suy giảm khả năng chống chịu và chất lượng đất, chất lượng môi trường, và sức sản xuất của cơ sở tài nguyên
1.3 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển ền vững
1.3.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
a Một số vấn đề lý luận về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất:
Hiệu quả là một thuật ngữ mà con người thường dùng để chỉ mục tiêu cho mọi hành động có chủ đích Và sau này trong ngôn ngữ học phát triển, cụm từ
“hiệu quả” được hiểu như một phạm trù triết học Quan niệm khá “nguyên thuỷ” của một nhà kinh tế học người Mỹ, Piter F, Drucker, giáo sư về quản lý tại New York University, cho rằng: Xét cho cùng mang lại hiệu quả là cái mà mỗi người khi làm bổn phận của mình, dù trong môi trường nào đều mong đợi công việc được hoàn tất đúng Thật vậy trước kia khi nhận thức còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một Về sau xã hội càng văn minh, nhận thức con người phát triển lên thì dần đi đến sự phân biệt kết quả và hiệu quả Có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả, được đề cập đến mọi đối tượng,
dù là quản lý lao động chân tay hay mọi lĩnh vực kinh tế xã hội.[18]
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi
và hướng tới, nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả đất là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động
Trang 26được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước.
Hiện nay, khi nói đến hiệu quả sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, chúng ta thường đề cập đến 3 khía cạnh là kinh tế, xã hội và môi trường Sử dụng đất bền vững là đảm bảo được cả 3 yếu tố đó
* H ệu quả k n tế:
Là hiệu quả do tổ chức bố trí sản xuất hợp lý để đạt được lợi nhuận cao với chi phí thấp hơn Như vậy hiệu quả kinh tế của một hiện tượng hay một quá trình kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ khai thác các yếu
tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và phương thức quản lý Nó biểu hiện bằng
hệ thống các chỉ tiêu nhằm phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất phù hợp với yêu cầu của xã hội và được xác định bằng cách so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh trình độ
và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu
Hiệu quả kinh tế là tiêu chí được quan tâm hàng đầu, là khâu trung tâm
để đạt được các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hoá bằng các chỉ tiêu kinh tế tài chính
* H ệu quả xã ộ :
Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, có tác động tới mục tiêu kinh tế Hiệu quả xã hội được thể hiện bằng các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng
Theo Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự (2001) thì hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra
Trang 27Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp
* H ệu quả mô trườn :
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lý chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyênnhân gây nên gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường
do tác động vật lý dẫn đến
Hiệu quả môi trường là hiệu quả đảm bảo tính bền vững cho môi trường trong sản xuất và xã hội Hiệu quả môi trường là vấn đề đang được nhân loại quan tâm, được thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Theo tác giả Vũ Thị Phương Thụy (2000) thì tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả Đối với đất nông nghiệp thì tiêu chuẩn để đánh giá là mức độ đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội môi trường do xã hội đặt ra và cụ thể là: Tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
- Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường do xã hội đặt ra Cụ thể là tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn
Trang 28tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
- Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào và theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững.[11]
1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, đảm bảo tính so sánh
Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học, phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Xuất phát từ bản chất của hiệu quả là nói lên mối quan hệ giữa kết quả
và chi phí, mối quan hệ này có thể là quan hệ hiệu số hoặc quan hệ thương số nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả là:
Trang 29- Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
* H ệu quả k n tế:
+ G trị sản xuất GO (Gross Output): Là toàn bộ giá trị sản phẩm được
tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
Qi là sản phẩm thứ i
+ Chi phí trung gian IC (Intermediate Cost): Đó là toàn bộ chi phí vật
chất trực tiếp cho sản xuất như: giống, phân bón, bảo vệ thực vật, thuỷ lợi phí, thuê máy móc, chi phí công lao động…
+ G trị a t n VA (Value Added): Là giá trị tăng thêm hay giá trị sản
phẩm mới tạo ra trong quá trình sản xuất VA=GO - IC
+ u n ập ỗn ợp NVA (Net Value Added): Là phần trả cho người lao
động (cả lao động chân tay và lao động quản lý) cùng tiền lãi thu được trên từng loại hình sử dụng đất Đây chính là phần thu nhập đảm bảo đời sống
Trang 30người lao động và tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng
Ta có: NVA = VA - Dp - T (Dp là khấu hao tài sản cố định, T là thuế sử dụng đất)
+ Giá trị ngày công lao động (Hlđ):
Hlđ=VA/số công lao động/ha/năm
+ Hiệu quả đồng vốn (hiệu quả trên một đơn vị chi phí) = NVA/IC
* H ệu quả xã ộ :
+ Nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội, khoa học, kỹ thuật.: Kết quả của quá trình sử dụng đất phải đưa lại những lợi ích như nâng cao trình độ dân trí và những hiểu biết xã hội Kiến thức, kinh nghiệm của người nông dân có thể được trau dồi thông qua các hoạt động như đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hay sự nhạy bén đối với thị trường khi sản xuất hàng hoá phát triển Ngoài ra, khi đạt được hiệu quả kinh tế, người dân có điều kiện học tập hay đầu tư kiến thức cho bản thân hay con em mình + Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân: Sử dụng đất đạt hiệu quả trước hết phải đảm bảo được những yêu cầu về lươngthực, thực phẩm cho người dân Đối với sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển, đảm bảo lương thực được đặt lên hàng đầu Điều này có ý nghĩa quan trọng cả về mặt thoả mãn các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống cho sự tồn tại và cả về mặt ổn định chính trị, xã hội
+ Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng: Mỗi vùng
có những điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau, có vai trò khác nhau trong sự nghiệp phát triển chung Nền kinh tế muốn phát triển thì các ngành, các vùng cần
có những bước đi đúng đắn và phù hợp Sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng nên tuân thủ theo những định hướng mang tính chiến lược + Thu hút được nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân: Hệ thống nông nghiệp thu hút nhiều lao động, mang lại lợi ích cho người
Trang 31lao động sẽ giải quyết được vấn đề việc làm, giảm nạn thất nghiệp, giảm các tiêu cực trong xã hội góp phần ổn định và phát triển đất nước
+ Góp phần định canh, định cư: Thực tế cho thấy, hình thức du canh, du
cư không những làm cho cuộc sống thiếu ổn định mà còn gây nên tình trạng suy thoái môi trường đất, nước Sử dụng đất có hiệu quả là phải góp phần giúp người dân định canh, định cư, yên tâm đầu tư sản xuất
* H ệu quả mô trườn :
Trong sử dụng đất luôn có sự mâu thuẫn giữa những lợi ích vật chất, cá nhân trước mắt với những lợi ích xã hội, lâu dài Việc người dân khai thác từ đất nhiều hơn, trong khi cung cấp cho đất lượng phân hữu cơ ít và tăng các dạng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật đều là những nguyên nhân làm tổn hại môi trường Sử dụng đất thực sự đạt hiệu quả khi nó không có mâu thuẫn trên Vì vậy, một số tiêu chí đưa ra khi đánh giá đến hiệu quả môi trường trong sử dụng đất là:
+ Tăng độ che phủ rừng, giảm thiểu thiên tai
+ Cải tạo, bảo tồn thiên nhiên
+ Sự thích hợp môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất.[7]
1.3.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng đất nông nghiệp
- Tạo điều kiện sử dụng đất đai ngày càng tốt hơn, lâu dài hơn, phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
- Nâng cao thu nhập, tạo nhiều lợi ích cho người sử dụng đất
- Bảo đảm nguồn lực và động lực cho đầu tư bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất
Trang 32- Thực hiện phân bổ sử dụng đất hợp lý cho các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
1.4 Những u hướng sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật (1994) trong quá trình phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu những ảnh hưởng khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội của mỗi vùng nhưng đều có điểm chung là cùng giải quyết các vấn
Từ những mục đích trên tuỳ thuộc vào sự đầu tư và chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nên sự phát triển của nông nghiệp của mỗi nước có
sự phát triển nhưng nhìn chung là theo hai hướng chính sau:
- Nông nghiệp công nghiệp hoá
- Nông nghiệp sinh thái
Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu đạt được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ bởi vì tính phong phú đa dạng và đầy biến động của nông nghiệp đòi hỏi những hiểu biết và những
xử lý đầy trí tuệ và rất biện chứng Nông nghiệp trí tuệ thể hiện ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội biểu hiện trong mọi hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các giải pháp phù hợp, hợp lý Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển mới ở mức cao, là
sử dụng đất kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế,
Trang 33quản lý được vận dụng phù hợp và hợp lý vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi vùng Đó là nền nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững.
1.4.2 Xu hướng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
Theo văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006), định hướng phát triển ngành nông lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 sẽ là:
- Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị trường
và điều kiện sinh thái của từng vùng Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng
và sức cạnh tranh của sản phẩm Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong
và ngoài nước Quy hoạch hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất, nguồn nước, vốn rừng gắn với bảo vệ môi trường
- Điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả năng tiêu thụ, tăng năng suất đi đôi với nâng cao chất lượng Đảm bảo an ninh lương thực trong mọi tình huống Xây dựng các vùng sản xuất tập trung, có chính sách bảo đảm đảm lợi ích của người sản xuất lương thực
- Bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao độ che phủ của rừng lên 43% Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài theo hướng xã hội hoá lâm nghiệp, có chính sách bảo đảm cho người làm lâm nghiệp sống được bằng nghề rừng Kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp, đẩy nhanh trồng rừng kinh tế, tạo nguồn gỗ và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu, nâng cao giá trị sản phẩm rừng
- Chú trọng tạo và sử dụng giống cây có năng suất, chất lượng và giá trị cao Đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất xây dựng một số khu công nghệ cao
- Trên cơ sở chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác, từng bước tăng quỹ đất canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp,
mở rộng quy mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn
- Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thuỷ sản, lâm nghiệp) tăng bình quân hàng năm 4,0 - 5,0% Đến năm 2010 tổng sản lượng lương thực có hạt
Trang 34đạt khoảng 40 triệu tấn Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 16 - 17% Bảo vệ 10 triệu ha rừng tự nhiên, hoàn thành chương trình trồng mới 5 triệu
ha rừng
1.4.3 Sự c n thiết phải sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững
Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại
“Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 - 5 tỷ ha Nhân loại đang làm hư hại đất nông nghiệp khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do xói mòn và thoái hóa Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, con người phải thâm canh, tăng vụ tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp” (FAO, 1976)
Để nắm vững số lượng và chất lượng đất đai cần phải điều tra thành lập bản đồ đất, đánh giá phân hạng đất, điều tra hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất hợp lý là điều rất quan trọng mà các quốc gia đặc biệt quan tâm nhằm ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn về sử dụng đất và quản lý đất đai sao cho nguồn tài nguyên này được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì sản xuất trong tương lai Phát triển nông nghiệp bền vững có tính chất quyết định trong sự phát triển chung của toàn xã hội Điều cơ bản nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp xúc đúng đắn về môi trường để giữ gìn tài nguyên cho thế hệ sau này
1.5 Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Nhiều chương trình và dự án khai thác sử dụng đất đã được triển khai thực hiện ở nhiều nước trên thế giới như: Chương trình khai thác và sử dụng
Trang 35đất, chương trình giải quyết sức kéo nông nghiệp và thức ăn gia súc, chương trình phát triển thuỷ lợi, sản xuất hàng hóa đặc sản xuất khẩu, chương trình bảo vệ đất ở những nơi có hệ sinh thái bị phá vỡ và chương trình việc làm, sử dụng lao động nông thôn Mỗi chương trình có mục tiêu chủ yếu khác nhau, nhưng tựu chung lại các chương trình đều nhằm mục đích khai thác sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn
Ở Inđônêxia, Luật đất đai ghi rõ người dân có quyền sử dụng trong 10 năm, quyền sở hữu không được vĩnh viễn khi Nhà nước có nhu cầu xây dựng công trình công cộng Các chương trình bảo vệ đất cũng đã được thực hiện nhằm bảo vệ các vùng đất bậc thang và trồng cây theo đường đồng mức Ngoài ra, Chính phủ ưu tiên hàng đầu cho chương trình phát triển lương thực nhằm tìm ra các giống cây trồng lương thực, cây đậu đỗ phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên của từng vùng sinh thái Kết quả là đã tạo được một số giống ngô có năng suất cao chất lượng tốt, ví dụ: Giống ngô trắng Bague có thời gian sinh trưởng 90 ngày, năng suất đạt 4 - 5 tấn/ha so với giống ngô cũ chỉ đạt 1 - 2 tấn/ha; hoặc cây lúa Miến là loại cây có giá trị dinh dưỡng cao, làm thức ăn cho người và gia súc có năng suất đạt 3,50 tấn/ha có thể trồng tái giá, sức chống chịu sâu bệnh tốt với đầu tư chi phí thấp
1.5.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, đất đai càng có vai trò quan trọng do bình quân đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng trên đầu người thấp Chính vì thế, từ khi giành được độc lập được đến nay, chính sách đất nông nghiệp và nông dân luôn giữ vị trí quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta Hơn nữa, trong một nước còn hơn 70% dân cư sống ở nông thôn thì chính sách đất nông nghiệp còn có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc
Tuy được coi trọng và thực tế chính sách đất nông nghiệp đã được triển khai trong nhiều năm, nhưng việc hoạch định và thực thi chính sách đất nông nghiệp ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề cần phải xem xét thấu đáo hơn Nhất
Trang 36là từ khi đổi mới quản lý kinh tế đến nay, việc nhà nước can thiệp như thế vào phân bổ và sử dụng đất nông nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn đang gặp nhiều lúng túng Trên thực tế đã nảy sinh không ít hiện tượng phức tạp, bức xúc như nông dân mất đất dẫn đến đói nghèo hơn, nông dân trì hoãn, thậm chí phản đối chính sách giải phóng mặt bằng của nhà nước, thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hoạt động không hiệu quả với các vụ đầu cơ gây sốt đất, quản lý nhà nước về đất đai còn lỏng lẻo, tranh chấp, khiếu kiện đất đai không giảm, Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta đã nỗ lực đổi mới chính sách đất nông nghiệp theo hướng coi hộ nông dân là đơn vi tự chủ, nông dân được quyền sử dụng và quản lý ruộng đất được nhà nước giao Ngày 08/01/1988, Quốc hội thông qua Luật đất đai với nội dung cơ bản khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý
Ngay từ năm 1960, các nhà khoa học đã nghiên cứu đưa ra giống lúa xuân ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất, tạo ra sự kiện chuyển biến rõ nét trong sản xuất ở đồng bằng sông Hồng Sau đó, trong vài thập kỷ trở lại đây, hàng năm ở nước ta đã đưa ra một số giống cây trồng mới có năng suất cao vào sản xuất: Giống lúa xuân số 5, số 6 cho năng suất đạt tới 65 - 70 tạ/ha Giống ngô Bioseed; giống LVN10; LVN11 đạt năng suất trung bình 55
- 65 tạ/ha, nếu thâm canh tốt năng suất có thể đạt 80 - 90 tạ/ha Các giống cây thực phẩm như đỗ, đậu tương, lạc, cũng được chú trọng nghiên cứu để luân canh với ngô, lúa
Sản phẩm chính từ cây lúa là gạo làm lương thực Từ gạo có thể nấu cơm, chế biến thành các loại món ăn khác như bánh đa nem, phở, bánh đa,bánh chưng, bún, rượu Ngoài ra còn bánh rán, bánh tét, bánh giò và hàng chục loại thực phẩm khác từ gạo
- Tấm: sản xuất tinh bột, rượu cồn, Axê tôn, phấn mịn và thuốc chữa bệnh
- Cám: Dùng để sản xuất thức ăn tổng hợp; sản xuất vi ta min B1 để
Trang 37chữa bệnh tê phù, chế tạo sơn cao cấp hoặc làm nguyên liệu xà phòng
- Trấu: sản xuất nấm men làm thức ăn gia súc, vật liệu đóng lót hàng, vật liệu độn cho phân chuồng, hoặc làm chất đốt
- Rơm rạ: được sử dụng cho công nghệ sản suất giầy, các tông xây dựng,
đồ gia dụng (thừng, chão, mũ, giầy dép), hoặc làm thức ăn cho gia súc, sản xuất nấm
Như vậy, ngoài hạt lúa là bộ phận chính làm lương thực, tất cả các bộ phận khác của cây lúa đều được con người sử dụng phục vụ cho nhu cầu cần thiết, thậm chí bộ phận rễ lúa còn nằm trong đất sau khi thu hoạch cũng được cày bừa vùi lấp làm cho đất tơi xốp, được vi sinh vật phân giải thành nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây trồng vụ sau
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tình hình quản lý đất trồng lúa tại địa phương
- Đất trồng lúa và vấn đề liên quan đến sử dụng đất trồng lúa
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đất trồng lúa trên địa bàn huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện
- Đánh giá điều kiện tự nhiên về: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình, thuỷ văn, thực vật
- Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội: Cơ cấu kinh tế, tình hình dân số, lao động, y tế, trình độ dân trí, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm, dịch vụ, cơ
sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, công trình phúc lợi )
Từ đó rút ra những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất nói chung và trong sản xuất nông nghiệp nói riêng
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất trồng lúa của huyện Phú Lương
Đánh giá hiện trạng và biến động đất trồng lúa giai đoạn 2008 - 2012
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa
* Đánh giá hiệu quả kinh tế việc sử dụng đất trồng lúa theo các chỉ tiêu: + Giá trị sản xuất
+ Chi phí trung gian
+ Lợi nhuận
Trang 39+ Tỷ suất lợi nhuận
* Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội là một chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, do thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ đề cập đến các chỉ tiêu sau:
+ Mức độ thu hút lao động, khả năng giải quyết công ăn việc làm
+ Thu nhập của các nông hộ
+ Giá trị sản xuất trên công lao động
+ Đảm bảo an ninh lương thực
* Đánh giá hiệu quả về mặt môi trường của việc sử dụng đất trồng lúa thông qua sự ảnh hưởng của việc sử dụng: các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu
2.2.4 Đánh giá tình hình quản lý và các nguyên nhân làm giảm diện tích đất trồng lúa
2.2.5 Đề xuất hướng sử dụng quỹ đất trồng lúa trên địa bàn huyện
+ Quan điểm xây dựng định hướng
+ Căn cứ đề xuất hướng sử dụng đất trồng lúa theo hướng phát triển bền vững
+ Đề xuất hướng quản lý đất trồng lúa trên địa bàn huyện Phú Lương + Đề xuất hướng sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Phú Lương
+ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp
Thu thập thông tin, số liệu có sẵn từ:
- Các phòng ban chuyên môn của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Các công trình khoa học và nghiên cứu, sách, báo có liên quan
2.3.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): thông qua việc đi thực tế quan sát, phỏng vấn cán bộ và người dân để điều tra hiện trạng sử
Trang 40dụng đất của xã, thu thập các thông tin liên quan đến đời đời sống và tình hình sản xuất nông nghiệp
- Điều tra phỏng vấn với bộ câu hỏi soạn sẵn với nội dung về:
Về chi phí đầu tư cho sản xuất lúa/ha/năm? Giá trị kinh tế (bao nhiêu triệu đồng /ha/năm)? Về thể chế chính sách: thuế đất nông nghiệp hàng năm? Những ràng buộc trong sử dụng đất trồng lúa? So với các hình thức sử dụng đất khác như: trồng rừng, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất? Muốn chuyển từ đất trồng lúa sang hình thức khác? Cụ thể? Bằng cách điều tra phỏng vấn theo bộ câu hỏi: Xây dựng bộ câu hỏi theo các định hướng nghiên cứu
2.3.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
- Chia huyện Phú Lương thành 03 khu vực:
Khu vực 1: gồm các xã: Phấn Mễ, Hợp Thành, Yên Trạch, Yên Ninh, Yên Đổ, Phủ Lý, ôn Lương Trong đó chọn xã điểm là xã Phấn Mễ là đại diện cho các xã có diện tích đất lúa lớn và ít biến động nhất, diện tích đất lúa giảm chủ yếu để làm đường giao thông, trụ sở cơ quan, công trình công cộng và một diện tích nhỏ chuyển sang đất ở Dân cư thuần nông, sống chủ yếu bằng làm nông nghiệp
Khu vực 2: Giáp thành phố Thái Nguyên, khu đô thị và bám trục đường giao thông chính gồm các xã: Sơn Cẩm, Cổ Lũng, Thị trấn Đu, thị trấn Giang Tiên Trong đó chọn xã điểm là xã Sơn Cẩm, do Sơn Cẩm là một xã đông dân nhất và có mật độ dân số chỉ đứng sau 02 thị trấn Giang Tiên và Đu tại huyện Phú Lương, có nền kinh tế phát triển hơn so với các xã khác trong huyện Phú Lương Theo quy hoạch dự kiến của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xã Sơn Cẩm dự kiến sẽ hình thành cụm công nghiệp Sơn Cẩm 1 với diện tích 75
ha, cụm công nghiệp Sơn Cẩm 2 với diện tích 50 ha và bổ sung một cụm công nghiệp may với diện tích 15 ha Do vậy, đây cũng là địa bàn có tỷ lệ biến động lớn về đất lúa, chủ yếu là chuyển từ đất đất lúa sang đất phi nông nghiệp