ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LĂNG THU NGÂN RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐƯA YẾU TỐ BIỂU CẢM VÀO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8 THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP Chuyên ngành: Lí luậ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LĂNG THU NGÂN
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐƯA YẾU TỐ BIỂU CẢM VÀO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8
THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LĂNG THU NGÂN
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐƯA YẾU TỐ BIỂU CẢM VÀO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8
THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THU HẰNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Lăng Thu Ngân
Xác nhận của khoa Văn Xác nhận của người hướng dẫn
TS Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực hiện chủ trương của lãnh đạo nhà trường về việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên, thấy rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của người giáo viên trong trường Trung học phổ thông Bản thân tôi đã theo học chương trình đào tạo Cao học khóa 21 (2013-2015), chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp cuối khóa, bản thân tôi đã được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau Đại học, Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Có được bản luận văn tốt nghiệp cuối khóa này, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ đặc biệt của TS Nguyễn Thị Thu Hằng Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Thu Hằng, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt và chỉ bảo những kiến thức về chuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quí báu
Xin chân thành cảm ơn quí thầy cô và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ nhiệt tình, vô tư về điều kiện vật chất, tinh thần và những kinh nghiệm làm khoa học
Cuối cùng, một lần nữa xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và cá nhân
đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Lăng Thu Ngân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Lịch sử vấn đề 3
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Giả thuyết khoa học 7
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Văn bản nghị luận và các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong văn bản nghị luận 9
1.1.2 Kĩ năng và việc rèn luyện kĩ năng 22
1.1.3 Bài tập và hệ thống bài tập kết hợp yếu tố biểu cảm trong VB nghị luận 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 30
1.2.1 Chương trình, sách giáo khoa dạy học văn nghị luận ở THCS 30
1.2.2 Giáo viên với việc hình thành kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận cho HS lớp 8 33
1.2.3 Học sinh với kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận 35
Trang 6Chương 2: HÌNH THÀNH KĨ NĂNG ĐƯA YẾU TỐ BIỂU CẢM VÀO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8 THÔNG
QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP 40
2.1 Mô hình chung của hệ thống bài tập đưa yếu tố biểu cảm vào văn bản nghị luận cho HS lớp 8 40
2.1.1 Bài tập làm theo mẫu 42
2.1.2 Bài tập sử dụng yếu tố biểu cảm 45
2.1.3 Bài tập rèn luyện 55
2.2 Phương hướng vận dụng hệ thống bài tập vào thực tiễn dạy học 60
2.2.1 Vận dụng hệ thống bài tập trong dạy - học văn bản nghị luận 60
2.2.2 Vận dụng hệ thống bài tập vào các phân môn khác của môn Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm 67
3.2 Phương pháp thực nghiệm 67
3.3 Nội dung và kế hoạch thực nghiệm 68
3.3.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 68
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 70
3.4 Kết quả thực nghiệm 84
3.4.1 Bảng thống kê kết quả thực nghiệm 84
3.4.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 86
3.4.3 Kết luận chung về thực nghiệm 88
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả phiếu bài tập 84
Bảng 3.2: Kết quả thực nghiệm đề 1 85
Bảng 3.3: Kết quả thực nghiệm đề 2 85
Bảng 3.4: Kết quả khả năng vận dụng yếu tố biểu cảm vào VBNL 85
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Hiện nay ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, giáo dục luôn được coi là "quốc sách hàng đầu", là nền tảng của mọi sự phát triển Trong sự nghiệp CNH - HĐH của đất nước, giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng nền kinh tế tri thức Để đạt mục tiêu trên, giáo dục phải được coi
là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà trường giữ vai trò quan trọng nhất Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT
Trong những năm gần đây, giáo dục (GD) nước ta đã có nhiều đổi mới, hiện đại hóa nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh (HS), đặc biệt nhấn mạnh đến yêu cầu phát huy năng lực của người học, học đi đôi với hành Trong phân môn làm văn, yêu cầu cuối cùng của quá trình dạy học là HS có năng lực tạo lập văn bản phù hợp với yêu cầu giao tiếp
1.2 Văn bản nghị luận (VBNL) có lịch sử từ rất lâu đời, nó không đơn thuần có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của đất nước, thời đại như công cuộc dựng nước, giữ nước, mà còn rất gần gũi và có ý nghĩa trong đời sống hiện nay Bên cạnh tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh và hành chính công
vụ, nghị luận là một trong sáu kiểu bài làm văn HS được học ở bậc THCS VBNL đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Việt Nam từ rất lâu, tuy nhiên mới chỉ chú trọng tới các thao tác chung mà chưa quan tâm nhiều tới việc đưa các yếu tố khác vào trong VBNL Năm 2002, chương trình và sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn (NV) được xây dựng theo hướng tích hợp đã thêm nội dung đưa các yếu tố khác vào VBNL như tự sự, miêu tả… và đặc biệt là biểu cảm vào giảng dạy
Trang 10nghị luận có sức lay động, cảm hóa lòng người, khiến người đọc người nghe tin
và đồng tình với mình Do vậy trong VBNL, ngoài những dẫn chứng, lí lẽ, người viết luôn luôn kết hợp yếu tố biểu cảm để tăng thêm sự thuyết phục đối với người đọc, người nghe
SGK NV8 đã có những tiết học về cách đưa yếu tố biểu cảm vào văn bản nghị luận Trong những tiết học này, ngoài việc cung cấp lí thuyết, SGK còn đưa ra một số bài tập để học sinh luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào văn bản nghị luận Song song với SGK, trên thị trường cũng xuất hiện những cuốn sách tham khảo trong đó có nội dung liên quan đến việc đưa yếu tố biểu cảm vào trong văn bản nghị luận Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu, đề xuất
hệ thống bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL một cách hệ thống, khoa học
1.3 Thực tế giảng dạy cho thấy VBNL là một trong những kiểu bài giáo viên (GV) khó dạy và cũng là kiểu văn bản HS khó viết được hay nhất Việc xây dựng hệ thống bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL giúp HS không chỉ biết viết đoạn văn NL với những chức năng, nhiệm vụ riêng từ đó triển khai thành bài văn NL hoàn chỉnh mà còn giàu sức biểu cảm, tính thuyết phục Hơn nữa, qua việc viết đoạn văn NL có sử dụng yếu tố biểu cảm sẽ giúp
HS tạo lập khả năng diễn đạt, trình bày một vấn đề thuyết phục người nghe, người đọc đồng thời nâng cao việc sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả
Từ các lí do trên, chúng tôi quyết định chọn: "Rèn luyện kỹ năng đưa yếu tố biểu cảm vào văn bản nghị luận cho học sinh lớp 8 thông qua hệ thống bài tập" làm đề tài nghiên cứu của luận văn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11văn theo yêu cầu hoặc là tạo lập văn bản nghị luận, từ đó giúp HS hình thành năng lực nghe – nói – đọc – viết, nâng cao năng lực thẩm mĩ cho người học
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu, xác định cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc xây dựng hệ thống bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS lớp 8
Đề xuất hệ thống bài tập để học sinh RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL
Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi của
những đề xuất về hệ thống bài tập mà luận văn đưa ra
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu các bài học về việc đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL trong chương trình và SGK NV8 cùng với thực trạng dạy và học hiện nay, chúng tôi tập trung hướng nghiên cứu của đề tài vào việc xây dựng hệ thống bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS lớp 8
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào việc xây dựng hệ thống bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho học sinh lớp 8
4 Lịch sử vấn đề
4.1 Nghiên cứu về văn nghị luận
Văn nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu Ở Trung Hoa, văn NL có từ
thời Khổng Tử (551 - 479) Khổng Tử nói với Từ Lộ về Chính danh “Danh
không chính thì nói không xuôi, nói không xuôi thì việc không thành, việc không thành thì lễ nhạc không hưng thịnh, lễ nhạc không hưng thịnh thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết xử trí ra sao cho khỏi bị hình phạt” Khi Khổng Tử dạy học trò như thế tức là ông đã dùng phép lập luận
Ở nước ta văn NL cũng là một thể loại có truyền thống lâu đời, có giá trị
Trang 12giữ nước Có thể kể từ Chiếu dời đô (1010) của Lí Công Uẩn; Hịch tướng sĩ (1285) của Trần Quốc Tuấn; Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi; Trích diễm thi tập (1497) của Hoàng Đức Lương; Chiếu cầu hiền (1788) của Ngô Thì
Nhậm… Ở thế kỉ XX văn nghị luận càng phát triển mạnh mẽ với tên tuổi các nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị luận bất hủ mà tiêu biểu là chủ
tịch Hồ Chí Minh với bản Tuyên ngôn độc lập (1945) Bên cạnh đó còn có các
nhà chính luận như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế… và các nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… cùng biết bao nhà văn viết nghị luận nổi tiếng sau này như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…
Trong “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông”, tác giả Nguyễn Quốc Siêu cũng đã giới thuyết chung về văn nghị luận Quá trình hình thành và phát triển, phân loại văn nghị luận, tác dụng của văn nghị luận, đặc trưng, các yếu tố
và quan hệ giữa các yếu tố trong văn nghị luận, phương thức biểu đạt của văn nghị luận
Nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi đã bàn đến một số vấn đề của văn nghị luận như nghị luận trong lịch sử, đặc điểm của văn bản nghị luận, cách làm bài văn nghị luận và đưa ra bài tập vận dụng cho kiểu văn này
Cuốn “Rèn kĩ năng làm văn nghị luận” của Bảo Quyến đã nêu ra phương pháp làm bài đối với từng kiểu bài nghị luận (phân tích, chứng minh, bình luận…), quy trình làm một bài văn nghị luận, kĩ năng xây dựng đoạn, liên kết đoạn và cách sử dụng dẫn chứng trong bài văn nghị luận
Với vai trò quan trọng như vậy, VBNL được đưa vào dạy trong phân môn Làm văn từ rất sớm Tuy nhiên, ban đầu, CT và SGK mới chỉ dừng lại ở việc dạy các lí thuyết, thao tác chung trong văn bản nghị luận Từ sau năm
2002, việc đổi mới CT, SGK Ngữ văn đã tạo ra những thay đổi đáng kể, đặc biệt là thêm vào chương trình việc RLKN đưa các yếu tố khác vào VBNL
Trang 13Chương trình SGK NV8 đã có những bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS làm nhưng chỉ gói gọn trong 2 tiết chưa tạo thành 1 hệ thống nhất định nên vẫn chưa thể giúp học sinh nắm rõ sự kết hợp này
Qua phần tìm hiểu trên chúng tôi rút ra được những nhận xét ban đầu:
1 Văn nghị luận có đã được quan tâm đưa vào giảng dạy từ lâu trong chương trình Ngữ văn THCS
2 Tuy nhiên phải đến sau khi đổi mới chương trình vào năm 2002, các yếu tố đưa vào trong văn bản nghị luận mới được quan tâm thêm vào chương trình dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp, trong đó có yếu tố biểu cảm
3 Các dạng bài tập về việc đưa yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận chưa phong phú, đa dạng và tạo thành 1 hệ thống
Vì vậy, xây dựng hệ thống bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS lớp 8 là rất cần thiết
4.2 Tình hình sử dụng yếu tố biểu cảm khi viết văn nghị luận
Những công trình nghiên cứu về xây dựng bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào văn nghị luận dần xuất hiện nhưng chưa có công trình nào bàn trực tiếp đến vấn đề này mà chỉ có những công trình có liên quan Sau đây là một vài công trình tiêu biểu:
Theo sách “Viết sáng tạo” của Adèle Ramet, sách “Tư duy trong khi viết
- Cấu trúc tu từ và suy nghĩ phê phán” của Rhetorical Patterns và Critical Response đã đưa ra các cơ sở khẳng định suy nghĩ của con người, sự quan sát cũng như cảm nhận của con người có vai trò quan trọng trong việc viết văn
Trong cuốn “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông” của Nguyễn Quốc Siêu, tác giả đã dành chương 10: Tình cảm trong biện luận để nói về tầm quan trọng của yếu tố biểu cảm trong VB nghị luận Chương này đã nêu ra yêu cầu tình cảm trong văn nghị luận, tác dụng và ý nghĩa của tình cảm trong văn nghị luận cũng như các màu sắc tình cảm trong văn nghị luận Tuy nhiên tác giả mới chỉ nêu lên được sự cần thiết của yếu tố biểu cảm đối với VB nghị luận mà
Trang 14Đỗ Ngọc Thống trong cuốn “Làm văn” đã dành chương 4 để nói về VB nghị luận cũng chưa chỉ ra việc cần thiết sử dụng các yếu tố phụ trợ trong VB nghị luận mà cụ thể hơn là việc đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận
Ở “Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận 7,8,9” của Đoàn Thị Kim Nhung mặc dù đưa ra những khái quát chung nhất về văn nghị luận, đặc điểm của văn nghị luận, các thao tác, yêu cầu cũng như cách làm một bài văn nghị luận nhưng lại chưa từng nhắc đến vai trò của yếu tố biểu cảm trong VB nghị luận cũng như cách đưa yếu tố này vào VB nghị luận
Như vậy, đã có những công trình nghiên cứu và đề cập đến yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, kĩ càng về kĩ năng vận dụng yếu tố biểu cảm trong VBNL
Căn cứ vào tình hình thực tế trên với mong muốn đóng góp một phần nhỏ nhằm nâng cao chất lượng dạy và học văn nghị luận hướng tới mục tiêu phát triển kĩ năng toàn diện cho HS, chúng tôi đề xuất ra hệ thống bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS lớp 8
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài "Rèn luyện kỹ năng đưa yếu tố biểu cảm vào văn bản nghị luận cho học sinh lớp 8 thông qua hệ thống bài tập" chúng tôi sử
dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Đây là phương pháp giúp cho chúng tôi tìm hiểu, đọc các tài liệu, nghiên cứu chúng để tìm ra các tiền đề lí thuyết cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS lớp 8
5.2 Phương pháp điều tra khảo sát
Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu việc dạy và học văn NL của giáo viên (GV) và HS Điều tra, khảo sát hệ thống bài tập làm văn trong SGK, sách bài tập (SBT) về việc đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL; khảo sát và điều tra tình hình viết bài văn NL của HS Từ đó nghiên cứu đề tài một cách tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học làm văn ở trường phổ thông
Trang 155.3 Phương pháp thống kê, phân loại
Đây là một trong những phương pháp của toán học Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra thực nghiệm Thống kê và phân loại một số dạng, kiểu bài tập đã có trong SGK và SBT
5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được áp dụng trong thực nghiệm dạy học, cho HS làm bài tập nhằm kiểm tra, chứng minh tính hiệu quả của hệ thống bài tập mà luận văn đề xuất
6 Giả thuyết khoa học
Trong nhà trường THCS hiện nay, HS chưa biết đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL là tình trạng khá phổ biến Đây là một hạn chế cần khắc phục trong dạy
và học VBNL Vì thế, nếu xây dựng được một hệ thống bài tập rèn luyện cho
HS kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL một cách phù hợp sẽ giúp HS khắc phục được tình trạng nêu trên, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tập làm văn (TLV) theo yêu cầu của CT và SGK Ngữ văn THCS
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 phần chính:
- Phần mở đầu: trình bày lí do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu vấn đề, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn
- Phần nội dung gồm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
+ Chương 2: Hình thành kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận cho HS lớp 8 thông qua hệ thống bài tập
+ Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Ngoài 3 phần chính, luận văn còn có:
- Phần Tài liệu tham khảo: thống kê toàn bộ tài liệu đã tham khảo và sử dụng trong luận văn
- Phần Phụ lục: giới thiệu phiếu điều tra về tình hình dạy HS kĩ năng đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL ở lớp 8, phiếu điều tra GV
Trang 171.1.1.1 Khái niệm văn bản nghị luận
Kiểu văn bản là dạng thức tồn tại của phương thức biểu đạt Phương thức biểu đạt nào sẽ tạo nên kiểu văn bản tương ứng với nó Mỗi kiểu văn bản phản ánh đặc trưng riêng của phương thức biểu đạt tạo nên nó Nói đến VBNL là để phân biệt nó với năm kiểu văn bản còn lại: văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm, văn bản tự sự, văn bản thuyết minh, văn bản hành chính - công vụ
Mỗi thể loại văn học vận dụng ngôn từ theo một PTBĐ khác nhau nên chúng có những đặc điểm riêng, cách nói riêng Nếu như văn miêu tả, kể chuyện chỉ qua một số từ ngữ mà lột tả và làm sống dậy trước mắt người đọc thần thái của sự vật, sự việc… thì văn nghị luận lại tiêu biểu cho cách nói chặt chẽ, hùng hồn, giàu sức thuyết phục Nếu như văn hư cấu tác động nhiều vào trí tưởng tượng, kích thích óc quan sát… thì văn nghị luận tác động mạnh mẽ vào nhận thức lí tính, nâng cao khả năng lập luận, rèn luyện tư duy logic cho người viết
Kiểu VBNL là tất cả các văn bản vận dụng phương thức nghị luận để tạo lập (bao gồm cả hai loại văn bản nói và văn bản viết)
Cho tới nay đã xuất hiện rất nhiều định nghĩa về văn nghị luận Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) thì: “Nghị luận là bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó Văn nghị luận (thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết vấn đề)” [28,678]
Trong cuốn “Làm văn” do Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) quan niệm: “Nói một cách khái quát văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc
Trang 18trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục…” [36,168]
Theo Nguyễn Thanh Hùng trong “Một số vấn đề văn nghị luận ở cấp hai” thì: “Văn nghị luận là một loại văn nhằm bàn bạc, thảo luận với người khác về thực tại đời sống xã hội bao gồm những vấn đề về văn hóa, triết học, đạo đức, lịch sử, chính trị, văn học nghệ thuật.” [16,4]
Trong cuốn “Rèn kĩ năng làm văn nghị luận 7,8,9” do Đoàn Thị Kim Nhung và Phạm Thị Nga viết quan niệm: “Văn nghị luận là một loại văn trong
đó người viết (người nói) đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó
và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người nghe (người đọc) hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất (đối với vấn đề đó)” [26,7]
Theo Nguyễn Quốc Siêu trong “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông” thì: “Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích lí lẽ Nó
là tên gọi chung một thể loại văn vận dụng các hình thức, tư duy logic như khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với khách quan và quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương, ý kiến, quan điểm của tác giả” [34,7]
Tóm lại, ta có thể hiểu: Văn nghị luận là loại văn mà trong đó người viết đứng trên một lập trường quan điểm nào đó và dựa vào một sự hiểu biết nhất định của mình về xã hội, văn học, dùng lí lẽ và dẫn chứng, dùng ngôn ngữ trực tiếp để trình bày, lập luận, phân tích, giảng giải, phê phán nhằm giải quyết một vấn đề xã hội, đời sống, tư tưởng, văn học, làm cho người đọc hiểu và tin vấn
đề để có nhận thức đúng, hành động đúng
VBNL là một trong những kiểu VB quan trọng trong đời sống xã hội, có vai trò rèn luyện tư duy và năng lực biểu đạt những vấn đề có ý nghĩa trong thực tế đời sống So với các kiểu VB như kể chuyện, miêu tả, biểu cảm…
Trang 191.1.1.2 Đặc điểm chung của văn bản nghị luận
a Các thao tác lập luận và sự kết hợp của chúng trong văn bản nghị luận
Văn nghị luận là sản phẩm của tư duy logic, giúp cho việc phát triển tư duy và nhận thức trừu tượng, lí tính, khoa học trước một vấn đề đặt ra trong cuộc sống Một bài văn nghị luận bao giờ cũng tập trung vào một vấn đề nào đó
- có thể là vấn đề xã hội hoặc vấn đề văn học Để thuyết phục được người đọc, người nghe, người viết văn nghị luận phải đặt ra hàng loạt các câu hỏi và trả lời
được những câu hỏi ấy như: Là gì? Như thế nào? Tại sao? Có những khía cạnh gì? Có ý nghĩa, giá trị gì? Được biểu hiện như thế nào trong cuộc sống và trong văn chương? … Người viết phải linh hoạt sử dụng nhiều thao tác nghị
luận đối với từng vấn đề được đặt ra như giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp… và những cách trình bày như diễn dịch, quy nạp…
Phân tích và tổng hợp có mối quan hệ biện chứng qua lại lẫn nhau chứ không đối lập, tách rời Phân tích xong ta cần tổng hợp lại để chỉ ra ý nghĩa, mặt khác, nhờ có phân tích từ trước ta mới có thể tổng hợp kết quả
Người ta thường sử dụng các phép diễn dịch và quy nạp để diễn đạt lập luận của mình Ví dụ về đoạn diễn dịch:
“Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.”
(Hồ Chí Minh - “Tuyên ngôn độc lập”) Đoạn văn trên có 5 câu Câu đầu là câu chủ đề, là câu mở đoạn, câu mang ý nghĩa chính của đoạn Bốn câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề
Ví dụ về đoạn quy nạp:
Trang 20“Xưa nay ta học chỉ đọc ngoài miệng thôi, ít khi chịu tách bạch cho phân minh từng nghĩa nên nhiều khi hiểu lầm Như chữ đạo đức và luân lý ta thường cho là một nghĩa chớ không biết rằng đạo đức là đạo đức, luân lý là luân lý Đạo đức gồm cả luân lý mà luân lý chỉ là một phần trong đạo đức mà thôi Đã
là người thì cần có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, cần, kiệm.”
(Phan Chu Trinh - “Đạo đức và luân lí phương Tây”) Đoạn văn trên có bốn câu: Ba câu đầu nêu lên thực tế dễ gây hiểu lầm giữa đạo đức và luân lý để đi đến nhận xét khái quát là: Đã là người thì cần có nhân, lễ, nghĩa, trí , tín, cần, kiệm (câu 4) là chủ đề
Tuy nhiên không phải bất cứ VBNL nào cũng cần có đủ các thao tác nghị luận mà tùy vào từng hoàn cảnh, từng điều kiện nhất định, người viết sẽ đưa ra những thao tác khác nhau để giải quyết vấn đề Bên cạnh đó, không chỉ
có các thao tác lập luận được sử dụng trong văn lập luận mà nhiều khi cả những yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm… cũng rất cần được người viết đưa vào, khiến cho bài văn nghị luận vừa có được sự chặt chẽ logic trong tư duy, vừa có được
sự sinh động tươi tắn hấp dẫn của những hình ảnh hình tượng Bài văn nghị luận hay là bài văn vừa giàu sức thuyết phục luận lí, vừa giàu hình ảnh
b Luận điểm của bài văn nghị luận
Bất cứ bài văn nghị luận nào cũng cần có luận điểm Một bài văn nghị luận hay là bài văn có hệ thống luận điểm rõ ràng, thuyết phục, thể hiện được trí tuệ của người viết Luận điểm thể hiện rõ tư tưởng, quan điểm, chủ trương, đánh giá của người viết đối với vấn đề cần thuyết phục và làm sáng tỏ Luận điểm của bài văn nghị luận thường được thể hiện dưới hình thức những câu văn ngắn gọn với những phán đoán có tính chất khẳng định hoặc phủ định Ví dụ:
- Không thể sáng tạo nếu thiếu trí tưởng tượng
- Lao động là vinh quang
- Nguyễn Bính - nhà thơ chân quê nhất trong những nhà thơ Mới
- Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước
Trang 21Luận điểm thể hiện rất rõ tư tưởng, quan điểm của người viết, nó đại diện và là linh hồn của bài văn nghị luận Tuy nhiên, có luận điểm chưa phải là yếu tố quyết định để có bài văn nghị luận hay mà điều quan trọng là luận điểm của bài văn ấy như thế nào, có đúng đắn, mới mẻ và độc đáo không? Luận điểm trong bài văn nghị luận cần đúng, sâu sắc, mới lạ, có cơ sở vững chắc để thuyết phục được người đọc, người nghe Vì vậy, việc xác lập hệ thống luận điểm là một công việc hết sức quan trọng và khó khăn Để tạo nên vẻ đẹp của bài văn, người viết cần suy nghĩ để tìm tòi những luận điểm hay, sáng tạo xuất phát từ thực tiễn cuộc sống
Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất toàn thắng, nhiều tướng sĩ nhà Trần có tư tưởng hưởng lạc, chủ quan, coi thường quân giặc,
sa vào cuộc sống ăn chơi, tiêu khiển… Trần Quốc Tuấn đã viết bài hịch nêu những luận điểm:
- Đã làm tướng sĩ thì phải có trách nhiệm trước triều đình, không được chủ quan coi thường kẻ địch
- Muốn có trách nhiệm thì phải biết chuyên tập sách Binh thư yếu lược,
theo lời dạy bảo của ta thì mới phải đạo thần chủ Nhược bằng khinh bỏ sách này… tức là kẻ nghịch thù
Đó là những luận điểm đúng đắn và mới mẻ nhằm khích tướng quân sĩ luyện tập võ nghệ, học tập binh thư, hạn chế tư tưởng cầu an, hưởng lạc
Như vậy, luận điểm là linh hồn của bài văn nghị luận Muốn có bài văn hay, người viết cần phải đầu tư nhiều công sức tìm tòi, phát hiện, xây dựng nên
hệ thống luận điểm vững chắc, phong phú để thuyết phục độc giả
c Lập luận trong bài văn nghị luận
Để thuyết phục được người đọc, người nghe, văn nghị luận cần có những lập luận chặt chẽ, logic, chính xác Để bài văn bảo đảm tính có lí, nhất thiết phải lập luận, tức là phải biết trình bày và triển khai luận điểm, biết nêu vấn đề
Trang 22muốn nói, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình Lập luận là sản phẩm của tư duy logic, muốn lập luận thì người viết phải có kết luận, luận cứ và biết cách luận chứng thích hợp
Cùng một nội dung, cùng hướng tới một mục đích nhưng hai cách nói, hai cách trình bày khác nhau có thể dẫn tới hai kết cục khác xa nhau Những bài văn nghị luận nổi tiếng đều là những bài văn hàm chứa trong đó cách lập luận sắc sảo, mẫu mực Tính logic, chặt chẽ với những lí lẽ rõ ràng, những chứng cớ hiển nhiên buộc người nghe không thể không công nhận là đặc điểm của những bài nghị luận này
Muốn viết được bài văn nghị luận hay thật không đơn giản Nếu có hệ thống luận điểm đa dạng, phong phú nhưng cách lập luận rời rạc, thiếu logic và trùng lặp có thể khiến bài văn sụp đổ hoàn toàn
d Ngôn ngữ của văn bản nghị luận
Ngôn ngữ trong văn bản nghị luận có tính đặc thù, nó không giống với ngôn ngữ trong các văn bản khác (thơ ca, truyện kí, tùy bút…) Do đặc điểm của nó, văn nghị luận ít dùng loại câu mô tả, trần thuật “kể lể” sự việc mà chủ yếu dùng loại câu khẳng định và phủ định với nội dung hầu hết là các phán đoán hoặc những nhận xét, đánh giá sâu sắc Ví dụ:
“Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan
Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập […]
Hỡi đồng bào yêu quý!
Chúng ta thương tiếc cụ Huỳnh vô cùng Nhưng chúng ta không nên thương tiếc bằng cách than khóc rầu rĩ Chúng ta thương tiếc bằng cách: càng đoàn kết chặt chẽ, càng hăng hái kháng chiến; bằng cách: theo gương dũng
Trang 23cảm, nối chí quật cường của cụ đã ra sức đeo đuổi suốt đời Chúng ta phải đồng thanh thề trước tiên linh của cụ Huỳnh rằng:
Đồng bào Việt Nam quyết theo gương kiên quyết của cụ
Con Rồng cháu Tiên quyết không làm nô lệ […]”
(Hồ Chí Minh - Gửi toàn thể đồng bào sau ngày cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tạ thế)
Do nhu cầu lập luận, văn nghị luận thường phải dùng đến hệ thống từ lập luận Hệ thống từ lập luận này có vai trò liên kết các ý, các vế, các đoạn nghị luận, tạo nên tính chặt chẽ trong lập luận Đó là những từ như: “Bởi lẽ”, “không những”, “còn”, “mà”, “càng”, “vậy nên”…
Văn nghị luận nói chung là loại văn của tư duy khái niệm, của duy lí logic Tuy nhiên, văn nghị luận cũng rất cần hấp dẫn, lôi cuốn bằng từ ngữ có hình tượng và có sức gợi cảm cao Bài văn nghị luận hay là bài văn vừa giàu sức thuyết phục luận lí, vừa giàu hình ảnh Hình ảnh làm tăng sức thuyết phục, làm cho chân lí vừa sáng tỏ, vừa thấm thía Đồng thời, văn nghị luận cũng rất cần có yếu tố biểu cảm, bởi hiệu quả tác động của văn nghị luận không chỉ ở lí trí mà còn ở tình cảm, cảm xúc của người đọc, người nghe Điều đó đòi hỏi người làm văn phải thực sự có cảm xúc trước những điều mình nói (hoặc viết)
và biết diễn tả cảm xúc đó bằng những từ ngữ, câu văn có sức truyền cảm cao
1.1.1.3 Ba yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong văn nghị luận
Bài văn nghị luận thường vẫn cần phải có các yếu tố tự sự và miêu tả, biểu cảm Ba yếu tố này giúp cho việc trình bày luận cứ trong bài văn được rõ ràng, cụ thể, sinh động hơn và do đó có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn Tự sự, miêu tả và biểu cảm là cách thức biểu đạt phụ trợ của văn nghị luận Rất nhiều khi chỉ do thiếu sự kể lại hay tả lại, đưa vào cảm xúc cần thiết mà nội dung nghị luận sẽ trở nên không sáng tỏ, khiến người đọc (người nghe) thấy khó, thậm chí không thể nào tiếp nhận hoặc khó bị thuyết phục
Trang 24Theo Hoàng Phê trong “Từ điển tiếng Việt” thì “tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách, thông qua một
cố truyện tương đối hoàn chỉnh” [28,1077]
Tự sự là kể chuyện thông qua các sự việc, nhân vật, chi tiết, cốt truyện… còn nghị luận là bàn bạc, thuyết phục bằng lí lẽ, chứng cứ Trong những áng văn nghị luận, nhờ có sự “kể lại” các dẫn chứng thông qua các sự việc, chi tiết
mà trở nên thuyết phục vô cùng
Trong “Hịch tướng sĩ”, Trần Hưng Đạo đã sử dụng yếu tố tự sự một cách hết sức khéo léo: “Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Ðế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước Kính Ðức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?”
Ở đoạn văn trên, Trần Hưng Đạo kể một loạt những tấm gương trung nghĩa của những bầy tôi trong lịch sử khiến cho các tướng sĩ phải thấy hổ thẹn Nếu muốn lưu danh sử sách thì bề tôi phải có lòng hi sinh không tiếc thân mình đối với chủ, trở thành trung thần nghĩa sĩ giống như họ
Một ví dụ khác:
“Hơn bao nhiêu người khác, ông biết rõ sự bất lực của nghệ thuật, của hội họa trong hành trình vĩ đại là cuộc đời Ông thấy ngòi bút của ông bất lực trên từng chặng đường đi nhỏ của ông, nhưng nó như là một quả tim nữa của ông, hay chính là quả tim cũ được “đề cao” lên, do đó mà ông khao khát, ông thêm yêu cuộc sống Thế nhưng, đối với chính nhà họa sĩ, vẽ bao giờ cũng là một việc khó nhọc, gian nan Làm một bức chân dung, phác họa như ông làm đây, hay rồi vẽ dầu, làm thế nào hiện lên được mẫu người ấy.”
Trang 25(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
Nhờ việc kể lại những suy nghĩ của người họa sĩ, tác giả đã phác họa nên bức tranh tâm trạng của nhân vật, để người đọc triền miên theo mạch kể của câu chuyện và đồng cảm với nó
Tự sự góp phần làm cho văn nghị luận có sự chân thực, gần gũi, thuyết phục hơn nên khi cần thiết, người ta sẽ lồng ghép một cách hợp lí yếu tố này vào VB nghị luận
b Yếu tố miêu tả trong VB nghị luận
Trong cuộc sống hằng ngày, miêu tả là một hành động có tính phổ biến Chẳng hạn, khi thấy một điều gì lạ chúng ta sẽ miêu tả lại nó cho những người khác để hỏi Theo “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê) thì “miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người” [28,632]
Miêu tả trong văn chương là một trong những hình thức miêu tả của nghệ thuật Đối với văn nghị luận, yếu tố miêu tả giúp những điều tác giả muốn gửi gắm trở nên rõ ràng, dễ hình dung hơn Ví dụ:
“Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn Hầu như bạn và tôi không bao giờ để ý rằng bài ca dao đã đổi vần một cách đột ngột… Đổi vần có khác nào như dòng nước đang chảy xuôi, ta dựng lên một cái đập, hoặc buộc dòng nước đổi chiều; đổi vần để bắt ta phải chú ý chỗ dòng thơ cuộn lên, buộc ta phải chứng kiến, phải quan sát một sự kiện gì đây… Nhịp thơ dồn dập, khẩn trương:
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Tưởng có gì mới! Té ra tác giả lạ nhắc lại câu thứ hai trong bài ca dao
ấy: Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng, chỉ có điều là đã lật ngược lại thứ
tự các hình ảnh: nhị vàng ở cuối câu trước thì nay lại để lên đầu câu sau v.v…
Nhưng chính cái mới lại nằm trong chi tiết ấy: Nhị vàng, bông trắng, lá
Trang 26nhị sen vàng như để phân vua cùng chúng ta: Đấy, bạn thấy rõ đấy nhé… nào nhị vàng, nào bông trắng, nào lá xanh (tôi đã lật đi lật lại từng cái một cho bạn xem kĩ); và: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Bây giờ thì bạn đã được thuyết phục hoàn toàn; cái chân lí “hoa sen trong sạch giữa bùn nhơ” (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) đã nhập tâm bạn, không cưỡng được.”
(Huy Cận, báo Văn nghệ số 327)
Huy Cận đã sử dụng yếu tố miêu tả trong đoạn văn trên để gợi lại chính xác vẻ đẹp của hoa sen mà hai câu thơ thể hiện lại làm rõ ý đồ nghệ thuật thuyết phục người đọc tin vào chân lí “hoa sen trong sạch giữa bùn nhơ”
Như vậy, miêu tả là một yếu tố phụ trợ thường được sử dụng trong VBNL để góp phần làm rõ, chứng minh cũng như tạo nên vẻ đẹp cho bài văn nghị luận Nếu không có miêu tả, những dẫn chứng đưa ra sẽ vô cùng mơ hồ, khó hiểu và khó tiếp nhận Người viết cần chú ý sử dụng miêu tả một cách hợp
lí, phù hợp để bài văn nghị luận của mình trở nên chân thực, sinh động hơn
c Yếu tố biểu cảm trong VB nghị luận
Yếu tố biểu cảm là một trong những yếu tố phụ trợ của VB nghị luận Nhờ có yếu tố này mà văn nghị luận tránh được sự khô khan, cứng nhắc, giàu tính thuyết phục hơn Con người không thể sống mà không có cảm xúc, văn chương càng cần nhiều hơn những cung bậc cảm xúc đa dạng, tinh tế Nhờ có yếu tố biểu cảm, nhà văn mới có thể bộc lộ xúc cảm của mình một cách chân thực nhất tới người đọc, giúp cho văn bản trở nên hấp dẫn, cuốn hút hơn
Biểu cảm là sự biểu lộ tình cảm, tư tưởng của con người nhờ ngôn ngữ hay một số phương tiện khác Trong tâm lí học, biểu cảm (còn gọi là diễn cảm - tiếng Pháp: Expession) được hiểu là việc “biểu lộ những tình cảm sâu kín qua một số hành động, lời nói, có thể là nhảy múa, là khóc, cười, nói, vẽ, diễn kịch…”
“Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Biểu cảm là biểu hiện tình cảm, cảm xúc (nói khái quát)” [28,66]
Trang 27Theo Đỗ Ngọc Thống trong cuốn “Làm văn” thì: “Biểu cảm là nhu cầu tất yếu của con người trong cuộc sống hằng ngày Những niềm vui, nỗi buồn, tình yêu thương, lòng căm giận…, tất thảy đều cần được phô diễn, sẻ chia, gửi gắm, cảm thông.v.v…” [36,129]
Trong cuộc đấu tranh sinh tồn và phát triển, con người luôn được đặt trong các mối quan hệ tự nhiên và xã hội; con người luôn cần có sự ủng hộ, sự cảm thông, hay nói cách khác, cần có sự giao cảm giữa người với người, giữa con người với tự nhiên Chính nhờ có mối quan hệ giao cảm ấy mà loài người mới có thể hình thành nên những cộng đồng văn hóa, cộng đồng tình cảm có tổ chức rộng lớn và bền vững như dân tộc, tôn giáo, quốc gia v.v… Có thể nói chính biểu cảm là sợi dây liên kết con người lại với nhau trong một sự đồng cảm vĩ đại, vững chắc và trường tồn Chính những mối quan hệ giao cảm của con người vì mục đích đoàn kết và phát triển là nguồn gốc sâu xa của hoạt động biểu cảm
Biểu cảm là yếu tố tình cảm, cảm xúc, nhiệt tình của người viết Nó có tác dụng rất lớn trong bài văn nghị luận Tình cảm giúp cho những điều được lí trí nêu ra thêm sức lay động, cảm hóa lòng người Đó là yếu tố không thể thiếu trong văn bản nghị luận Để văn bản nghị luận có sức biểu cảm cao ta phải thực
sự có cảm xúc trước những điều mình viết (nói) và phải biết diễn tả cảm xúc đó bằng những từ ngữ, những câu văn có sức truyền cảm Sự diễn tả cảm xúc cần phải chân thực và không phá vỡ mạch nghị luận của bài văn
Ví dụ điển hình về việc đưa yếu tố vào văn nghị luận có tác dụng rất lớn trong việc cảm hóa lòng người chính là đoạn văn sau:
“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.”
Trang 28Trần Hưng Đạo đã thêm vào “Hịch tướng sĩ” những cảm xúc của bản thân, cho thấy sự đau lòng của mình trước cảnh loạn lạc, quân giặc huênh hoang sỉ nhục triều đình, khinh rẻ dân tộc, tiếp đến là lòng căm thù giặc sâu sắc mong mỏi được rửa hận cho đất nước dù phải đánh đổi bất cứ giá nào Nhờ có yếu tố biểu cảm mạnh mẽ, áng văn trở nên hùng hồn, đánh vào lòng tự kiêu dân tộc của biết bao tướng sĩ, kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đất nước
Một đoạn văn nghị luận khác nhờ có yếu tố biểu cảm mà trở nên hùng hồn, thuyết phục người đọc hơn bao giờ hết chính là đoạn trích dưới đây trong
“Tuyên ngôn độc lập” của chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.”
Nhờ những từ, ngữ giàu tính biểu cảm như: “dã man”, “thẳng tay”, “tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”, “bóc lột dân ta đến xương tủy” “xơ xác”, “tiêu điều” “bần cùng”, “không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”, “vô cùng tàn nhẫn”… cùng việc dùng kết cấu câu lặp đi lặp lại đã nhấn mạnh tội ác tàn độc của giặc khi giày xéo đất nước ta cũng như thái độ đau xót, căm thù của tác giả
Trang 29Biểu cảm có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nghị luận vì biểu cảm không chỉ có mục đích biểu thị tình cảm mà còn có cả chức năng diễn đạt tư tưởng Cho nên, nhờ có biểu cảm mà tư tưởng của bài văn nghị luận dễ dàng thuyết phục được người đọc (người nghe) hơn, làm cho những lí luận đanh thép không trở nên khô cứng và dễ đi vào lòng người
Văn bản nghị luận rất cần yếu tố biểu cảm Yếu tố biểu cảm là phụ trợ khiến cho văn bản nghị luận có hiệu quả thuyết phục lớn hơn vì nó tác động mạnh mẽ tới tình cảm của người đọc (người nghe)
d Kết hợp 3 yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong VB nghị luận
Người viết cần chú ý vận dụng linh hoạt các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong bài văn nghị luận của mình để tạo sức hấp dẫn, thuyết phục độc giả, tuy nhiên, các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm chỉ đóng một vai trò phụ trợ trong bài văn nghị luận, không được làm mờ nhạt vai trò của nghị luận Tự sự, miêu tả
và biểu cảm chỉ có ý nghĩa khi chúng xuất phát từ yêu cầu nghị luận, và khi nhờ chúng mà nội dung nghị luận trở nên rõ ràng hơn, đáng tin cậy hơn, sắc bén hơn
Nói cách khác, ở một bài văn nghị luận, các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm được coi là hay không chỉ vì bản thân những lời tự sự, miêu tả, biểu cảm
đó hay, mà vì chúng giúp cho nghị luận trở nên hay hơn nữa Các yếu tố tự sự
và miêu tả được dùng làm luận cứ phải phục vụ cho việc làm rõ luận điểm và không phá vỡ mạch lạc nghị luận của bài văn
Ví dụ như trong đoạn trích sau ở “Tuyên ngôn độc lập” do chủ tịch Hồ Chí Minh viết, chất chính luận hòa quyện hài hòa với tự sự, miêu tả và biểu cảm làm nổi bật lên tội ác dã man của thực dân Pháp:
“Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào
Trang 30Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau
ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của
ta trong những bể máu.”
(Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn độc lập)
Như vậy, ta có thể thấy tác dụng rõ rệt của các yếu tố khác nhau trong văn bản nghị luận, nhưng trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi xin phép chỉ nghiên cứu việc đưa yếu tố biểu cảm vào văn bản nghị luận thông qua hệ thống bài tập cho học sinh lớp 8
1.1.2 Kĩ năng và việc rèn luyện kĩ năng
1.1.2.1 Quan niệm về kĩ năng
Khái niệm kĩ năng được các nhà tâm lí học, giáo dục học nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, không có sự trùng lặp hoàn toàn về nội hàm của khái niệm
I.F.Kharmatop quan niệm: “Kĩ năng là năng lực của học sinh có thể hoàn thành những hành động nào đó gắn liền với việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn” [19,28]
Đồng quan điểm trên, Đỗ Ngọc Thống trong cuốn “Làm văn” cũng cho rằng: “Từ những kiến thức được trang bị, người học cần phải có khả năng vận dụng chúng vào thực tế Khả năng vận dụng đó gọi là kĩ năng.” [36, 271]
Theo cách định nghĩa của Từ điển tiếng Việt: “kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn” [28,520] Đấy là cách định nghĩa phổ thông nhất, dễ hiểu nhưng chưa thật rõ để làm cơ sở cho quá trình xây dựng quy trình hình thành kĩ năng cho học sinh
Trong “Từ điển Tâm lí học”, Vũ Dũng (chủ biên) đã giải thích: “Kĩ năng được quan niệm là: năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương
Trang 31thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng: [7,131]
Theo Bùi Văn Huệ trong cuốn “Giáo trình tâm lý học” cho rằng: “Nắm được tri thức tức là hiểu biết và ghi nhớ được những quy luật khoa học tự nhiên
và xã hội Nếu tiến thêm một bước nữa để biết cách vận dụng tri thức vào thực tiễn tức là có kĩ năng.” [15,109]
Trong “Từ điển Giáo dục học” của Bùi Hiền, kĩ năng là “Khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [14,220] Tuy nhiên, có kĩ năng thì hành động phải có kết quả, thậm chí là kết quả ổn định trong các hành động tương tự có cùng điều kiện
Trên cơ sở tiếp nhận những quan điểm nói trên, chúng tôi cho rằng kĩ năng
là khả năng của con người thực hiện một cách có hiệu quả một hành động nào đó
để đạt được mục đích đã xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện nhất định
1.1.2.2 Rèn luyện kĩ năng
Trong lí luận dạy học, quá trình dạy học gồm có 3 mục tiêu: giúp HS nắm vững hệ thống kiến thức khoa học, giúp HS luyện tập hình thành hệ thống
kĩ năng kĩ xảo và giúp HS hình thành thái độ tích cực đối với cuộc sống
Trong cuốn “Giáo dục học”, Phạm Viết Vượng đã chỉ ra: “Theo B.S Bloom, kết quả nắm vững kiến thức của HS được thể hiện bằng sáu mức độ nhận thức tăng dần từ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và khả năng đánh giá” [41,119] Trong quá trình dạy học, GV phải giúp HS đạt được tất cả các mức độ nhận thức cần thiết đó Song song với việc tổ chức cho
HS nắm vững kiến thức khoa học, GV cần phải tổ chức cho các em luyện tập vận dụng kiến thức đã học để hình thành kĩ năng, kĩ xảo bởi vì mục đích cuối cùng của quá trình dạy học là để hình thành và phát triển năng lực hoạt động sáng tạo
Trang 32Theo quan niệm thông thường, học sinh có kĩ năng tức là đã biết làm được công việc theo yêu cầu và được đánh giá bằng một mẫu chuẩn đã được học, được thể hiện trong sách giáo khoa
Lí luận dạy học hiện đại cho rằng: quá trình hình thành kĩ năng của học sinh có sáu mức độ tăng dần từ làm được theo mẫu, mô tả được thao tác hành động, thành thạo công việc, hành động tự động hóa, sáng tạo ra phương pháp mới và đánh giá được kết quả và phương pháp hành động
Làm được theo mẫu do giáo viên hướng dẫn là trình độ kĩ năng sơ giản
đầu tiên của học sinh
Mô tả được thao tác hành động là khi học sinh đã nắm được quy trình,
biết thực hiện thứ tự các thao tác hành động
Thành thạo là lúc học sinh nắm vững cả lí thuyết và phương pháp tiến
hành công việc một cách chính xác
Tự động hóa là mức độ kĩ xảo, hành động không cần có sự can thiệp của
tư duy vẫn đem lại kết quả
Hình thành được phương pháp mới là trình độ sáng tạo, học sinh đã làm
chủ được hành động, đã có cách làm mới hiệu quả hơn mẫu ban đầu
Mức độ cao nhất của kĩ năng là biết nhận xét, đánh giá kết quả và phương pháp hành động để tìm ra phương pháp tối ưu
Như vậy là khi dạy học sinh thực hành không chỉ là dạy làm theo đúng công thức hay quy tắc mà cần phải dạy các em phương pháp sáng tạo ra cách làm mới, tìm được các phương án tối ưu
1.1.3 Bài tập và hệ thống bài tập kết hợp yếu tố biểu cảm trong VB nghị luận
1.1.3.1 Khái niệm bài tập và hệ thống bài tập
Bài tập là một khái niệm quen thuộc trong lĩnh vực dạy học, một bài học
lí thuyết thường có phần lí thuyết và phần bài tập Phần bài tập thường có vị trí sau phần lí thuyết, có nhiệm vụ củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh Ở bài học thực hành rèn luyện kĩ năng thì phần bài tập là chính Lí thuyết
Trang 33Có nhiều quan niệm về bài tập, trong đó có quan niệm sau đây khá phổ biến, được nhiều tác giả của các công trình nghiên cứu lí luận giáo dục và lí luận dạy học bộ môn sử dụng để nghiên cứu về bài tập: “Bài tập là bài ra cho học sinh để tập vận dụng những điều đã học” [29,27] Quan niệm này chủ yếu phù hợp với các bài học lí thuyết - là loại bài mà trong nội dung học, có sự phân biệt khá rạch ròi giữ lí thuyết và vận dụng, trong đó có phần lí thuyết được dạy trước, phần vận dụng được dạy sau bằng một hệ thống bài tập Theo
đó, bài tập ở phần lí thuyết chủ yếu giúp học sinh nắm chắc các khái niệm lí thuyết, củng cố các đơn vị lí thuyết vừa học
Trong các bài học thực hành RLKN, bài tập được coi là phương tiện chủ yếu Bài tập là yếu tố không thể thiếu, có vai trò, vị trí hết sức quan trọng Mặt khác, theo quan điểm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, hệ thống bài tập hiện nay không chỉ là những bài tập thực hành mà thông qua đó học sinh sẽ tự tìm kiếm tri thức, hình thành những kĩ năng cần thiết cho bản thân
Một bài tập là lí tưởng khi đáp ứng được những yêu cầu sau:
Thứ nhất: khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động bổ ích trong đó tốt nhất là những hoạt động một mình và càng cần ít đến sự hỗ trợ của giáo viên càng tốt
Thứ hai: bài tập có tính kiểm soát được về cả quá trình làm bài lẫn hiệu quả của nó
Thứ ba: đòi hỏi ít nhất sự nỗ lực tham gia của giáo viên
Thứ tư: không quá nặng đối với người học
Theo quan niệm này bài tập được hiểu rộng hơn và nhấn mạnh vào mặt hành động của yêu cầu, nhiệm vụ Như vậy, bài tập có nhiệm vụ củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho học sinh Bài tập chỉ phát huy được vai trò, tác dụng của mình khi các yêu cầu, nhiệm vụ của bài tập sát hợp với nội dung bài học, hướng vào thực hiện hiệu quả mục tiêu của bài học, phù hợp với trình độ
Trang 34của học sinh, khuyến khích được học sinh tham gia, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở học sinh
Tóm lại, có thể hiểu bài tập là tập hợp yếu cầu, hoạt động để đạt tới một kết quả nào đó Nếu là một loại bài tập cùng kiểu lặp đi lặp lại tới mức độ cần thiết thì
sẽ hình thành được kĩ năng tương ứng Nói cụ thể hơn, trong các bài học thực hành RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận, nhờ thực hiện các bài tập - tức là thực hiện các hoạt động học tập mà học sinh nắm được, vận dụng được các
kĩ năng bộ phận để tạo lập một VB nghị luận có đưa vào yếu tố biểu cảm
Hệ thống là tập hợp những yếu tố có liên hệ, quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau tạo nên 1 chất lượng mới Hệ thống bài tập là tập hợp của nhiều bài
tập được sắp xếp thành những nhóm (trong nhóm có thể có các loại nhỏ) theo một trình tự nhất định Thông thường, chúng được sắp xếp theo một trình tự từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ những kiến thức đơn lẻ đến những kiến thức tổng hợp nhằm rèn luyện cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo với việc rèn luyện kĩ năng, mỗi bài tập trong hệ thống có nhiệm vụ thực hiện việc rèn luyện một hay một số thao tác ở yêu cầu RLKN nào đó trong việc tạo lập một
VB nghị luận Các bài tập trong hệ thống là một chuỗi liên tục các hành động, thao tác Thực hiện đầy đủ các bài tập trong hệ thống học sinh mới hình thành được kĩ năng, kĩ xảo
Như vậy, việc RLKN kết hợp yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận cần một hệ thống bài tập đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng
cơ bản Các bài tập trong hệ thống xây dựng trên cơ sở gắn với thao tác cụ thể trong quá trình làm văn, gắn với các kiểu bài nghị luận trong sách giáo khoa và theo các yêu cầu RLKN cho học sinh Bài tập lúc này mới thực hiện đúng vai trò củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng… cho học sinh, đáp ứng hiệu quả mục tiêu của bài học
1.1.3.2 Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập
Trang 35a Phù hợp với mục tiêu của môn học: RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS
RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS là một trong những mục tiêu của phân môn TLV trong nhà trường THCS
b Đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng và phong phú
Hệ thống bài tập mà chúng tôi xây dựng trong luận văn cũng mang đầy
đủ các đặc trưng của hệ thống: đó là một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố có liên quan với nhau và giá trị của một yếu tố được xác định bởi mối quan hệ của nó với các yếu tố khác trong cùng một hệ thống Những mối quan hệ giữa các yếu
tố trong hệ thống không phải đơn tuyến, một chiều, theo đường thẳng mà tác động lẫn nhau theo nhiều chiều Bên cạnh đó, giống như các hệ thống khác, hệ thống bài tập này cũng có tính cấp bậc
c Phù hợp với thực tiễn dạy học văn nghị luận ở THCS, phù hợp với đặc điểm học sinh THCS
Xây dựng hệ thống bài tập cần xuất phát từ thực tiễn dạy học văn bản nghị luận ở THCS để có các bài tập đúng đắn, thích hợp cả về tính sư phạm và tính khoa học Hệ thống bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL sẽ giúp học sinh ý thức hóa và hoàn thiện điều các em đã biết, đồng thời bổ sung những điều các em chưa biết hoặc chưa nắm chắc, đặc biệt giúp các em biết vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL trong bài làm văn của các em
Việc xây dựng hệ thống bài tập cần phải phù hợp với đặc điểm của học sinh THCS Học sinh THCS ở lứa tuổi thường từ 11,12 tuổi tới 14,15 tuổi Đặc điểm tâm lí nổi bật của HS lứa tuổi này là tính vươn lên làm người lớn Tuy nhiên, thiếu niên chưa thực sự là người lớn mà vẫn còn cái đuôi trẻ con Do xu hướng vươn lên làm người lớn nên các em thường hay bắt chước người lớn, không thích cái gì quá dễ dưới tầm khả năng và năng lực của mình Do vậy, khi
Trang 36được quá dễ để các em coi thường nhưng cũng không được quá khó như đánh đố các em mà phải chú ý đến tính vừa sức, phù hợp với năng lực của người học
d Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Với tư cách là một biện pháp dạy học tích cực, hệ thống bài tập cần phải được xây dựng như là những nhiệm vụ mà HS cần thực hiện trong quá trình học TLV Các bài tập phải đưa học sinh vào trạng thái tâm lí tích cực, mong muốn được thực hiện và có khả năng thực hiện Ngoài ra, các bài tập còn phải
có tác dụng tạo sức cho các em Điều đó có nghĩa là trong hệ thống bài tập mà luận văn xây dựng, chúng tôi không chỉ chú ý đến khả năng vốn có của HS (nghĩa là không chỉ chú ý đến những loại bài tập quen thuộc với HS) mà chúng tôi còn chú ý tới việc cung cấp thêm một số loại bài tập mới tạo ra sức sáng tạo cho HS trong quá trình viết văn nghị luận
1.1.3.3 Hệ thống bài tập đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS lớp 8
Hình thành và rèn luyện kĩ năng là một mục tiêu quan trọng của các bài học, môn học người học cần lĩnh hội tri thức và chuyển hóa tri thức thành kĩ năng, kĩ xảo nhằm nâng cao năng lực cho bản thân Sau mỗi bài học, người học phải có kiến thức và kĩ năng để giải quyết các nhiệm vụ , các tình huống trong thực tế Như đã trình bày, kĩ năng thể hiện cách lựa chọn và vận dụng tri thức, kinh nghiệm để thực hiện có kết quả một hành động phù hợp với điều kiện cho phép Người có kĩ năng không những phải nắm vững lí thuyết về hoạt động, cách thức hoạt động mà còn phải biết vận dụng vào thực tế Kĩ năng thể hiện trình độ các thao tác tư duy, năng lực hoạt động và mặt kĩ thuật của hoạt động
Vì vậy, muốn hình thành kĩ năng phải bám vào kĩ thuật, thao tác của hoạt động, cách thức hoạt động và các tình huống trong thực tế
Con đường hình thành kĩ năng là qua thực hành, luyện tập Người học cần tham gia vào các hoạt động thực hành để RLKN Các hoạt động này được
cụ thể hóa bằng 1 hệ thống bài tập và sự phân loại có tầng bậc về yêu cầu RLKN, trình tự thao tác trong kĩ thuật của hành động Mỗi bài tập sẽ đảm
Trang 37nhiệm một nhiệm vụ hình thành kĩ năng cho người học Tập hợp yêu cầu hành động trong bài tập và hệ thống bài tập sẽ giúp cho người học qua thực hiện mà đạt tới kết quả một hành động nào đó Thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ trong bài tập, người học được trải nghiệm hoạt động Hành động trải nghiệm sẽ giúp người học nắm vững lí thuyết về hành động, có kĩ thuật, thao tác hành động trong trường hợp cụ thể Do vậy, xây dựng hệ thống bài tập phải tính toán đến việc tổ chức, sắp xếp nhiệm vụ rèn luyện các thao tác trong kĩ thuật hành động, rèn luyện theo yêu cầu RLKN thì người học mới hình thành được kĩ năng, kĩ xảo Nếu một bài tập bình thường cùng kiểu lặp đi lặp lại lớn hơn mức độ cần thiết thì sẽ hình thành được kĩ năng tương ứng Nhiệm vụ đặt ra trong bài tập được trừu tượng hóa hay bị che phủ bởi những yếu tố phụ sẽ làm lệch hướng tư duy, gây ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng Vì thế, tạo ra những bài tập dễ hiểu và tâm thế thuận lợi trong học tập sẽ giúp cho học sinh dễ dàng trong việc hình thành kĩ năng
Sử dụng hệ thống bài tập với những nhóm, loại, dạng tương ứng với các thao tác, kĩ năng ở những mức độ RLKN khác nhau sẽ có tác dụng tích cực trong việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh Vì vậy, bài tập RLKN cần:
- Khuyến khích được học sinh tự giác tham gia hoạt động luyện tập
- Phù hợp với trình độ, năng lực của học sinh
- Củng cố và khắc sâu kiến thức trong bài học
- Hình thành và RLKN, kĩ xảo tương ứng với nội dung bài học
Nhiệm vụ quan trọng trước khi xây dựng bài tập RLKN là xác định được
hệ thống năng lực và kĩ năng cần hình thành ở người học Nếu không xác định được cấu trúc năng lực, hệ thống thao tác cụ thể của hành động thì việc rèn luyện thực hành sẽ trở nên vu vơ, không định hướng, không hiệu quả Xác định được hệ thống năng lực rồi mà thiếu mất một hệ thống bài tập chặt chẽ thì năng lực và kĩ năng của học sinh cũng khó có thể hình thành Trong các bài học thực
Trang 38được và vận dụng được các kĩ năng sản sinh một VB nghị luận Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng cho học sinh được đề cập ở đây là loại bài tập được sử dụng trong phần thực hành của các bài học về đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL
ở sách giáo khoa Ngữ văn 8
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Chương trình, sách giáo khoa dạy học văn nghị luận ở Trung học cơ sở
Chúng tôi khảo sát CT và SGK chủ yếu dựa trên các tài liệu như: CT môn Ngữ văn ở THCS, SGK, một số tài liệu tham khảo khác (sách giáo viên, sách bài tập) được biên soạn phục vụ cho HS lớp 8 từ 2002 Dưới đây chúng tôi xin trình bày một số nội dung khảo sát có liên quan đến việc RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận của luận văn
1.2.1.1 Kiểu bài đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận
Trong CT và SGK Ngữ văn lớp 8 THCS, VBNL có thể kết hợp với các yếu tố: tự sự, miêu tả và biểu cảm
- Kiểu bài đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận: kiểu bài này được học trong CT Ngữ văn lớp 8 với 2 bài cụ thể sau: “Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận” và “Luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận”
- Kiểu bài đưa yếu tố tự sự, miêu tả vào VB nghị luận: trong VB nghị luận, tự sự và miêu tả là hai yếu tố phụ trợ giúp cho những luận cứ, luận chứng trở nên rõ ràng, chân thực và tin cậy hơn Vì vậy, kiểu bài đưa yếu tố tự sự, miêu tả vào VB nghị luận bao gồm 2 bài đó là: “Tìm hiểu về các yếu tố tự sự
và miêu tả trong văn nghị luận”, “Luyện tập đưa các yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận”
Để có thể viết được một bài văn nghị luận có sức thuyết phục cao, HS cần nắm vững cách thức triển khai các luận điểm, lập luận, luận cứ… kết hợp với các yếu tố phụ trợ mà ở đây luận văn tìm hiểu là yếu tố biểu cảm
1.2.1.2 Bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận
Trang 39Chúng tôi khảo sát, thống kê toàn bộ bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận trong SGK Ngữ văn 8 tập 2 Mục đích của việc khảo sát này
là xác định tính kế thừa của các dạng thức bài tập, đồng thời rút ra những kết luận về mặt phương pháp làm cơ sỏ cho việc xây dựng hệ thống bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận hợp lí hơn, đạt hiệu quả cao hơn
a Phân loại, miêu tả các dạng bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào
VB nghị luận
Theo số liệu thống kê, tổng số bài tập RLKN đưa yếu tố biểu cảm vào
VB nghị luận trong SGK Ngữ văn 8, tập 2 là: 8 bài tập
Trong số bài tập nói trên:
- Bài tập làm theo mẫu: 4 bài
- Bài tập mô tả thao tác hành động: 1 bài
- Bài tập ở mức độ thành thạo: 2 bài
- Bài tập ở mức độ tự động hóa: 1 bài
Trong số những bài tập trên, chưa có bài tập giúp cho HS hình thành được phương pháp mới và biết nhận xét, đánh giá kết quả, phương pháp hành động để tìm ra phương pháp tối ưu Hệ thống bài tập như vậy sẽ chưa đủ khả năng giúp cho HS hình thành kĩ năng đưa yếu tố biểu cảm vào VB nghị luận một cách thành thạo
b Nhận xét các bài tập RLKN kết hợp yếu tố biểu cảm trong VBNL
Việc nhận xét các bài tập trên được tiến hành dựa trên một số căn cứ sau: Thứ nhất căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng đã được quy định của chương trình Ngữ văn THCS và căn cứ vào mục tiêu RLKN của môn TLV ở THCS (yêu cầu về tính hướng đích của bài tập)
Thứ hai, căn cứ vào những yêu cầu về tính khoa học và tính sư phạm cần phải đảm bảo đối với các bài tập được sử dụng trong nhà trường
Thứ ba, căn cứ vào mục đích đặt ra của luận văn này
Trang 40(1) Nhìn chung, các bài tập RLKN kết hợp của yếu tố biểu cảm trong VBNL tương đối phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng đã được quy định của
CT Các bài tập đảm bảo tính hướng đích, tăng cường tính luyện tập thực hành cho HS
(2) Các bài tập được xây dựng theo quy trình tạo lập VB Trong đó, tập trung chủ yếu RLKN đưa các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm vào VB nghị luận cho HS Đây là một hướng đi đúng, phù hợp với yêu cầu tích hợp nâng cao ở vòng 2 cấp THCS: HS không chỉ biết tạo lập VB thông thường mà còn phải nâng lên ở mức VBNL đó phải hay và phong phú hơn
(3) Các mô hình bài tập được giới thiệu trong SGK là những mô hình có giá trị cả về mặt khoa học và mặt sư phạm
Có thể thấy, các bài tập RLKN kết hợp của yếu tố biểu cảm trong VB nghị luận được xây dựng trên mức độ nhận thức của HS, từ dễ đến khó Trong một tiết học, HS thông thường được rèn luyện từ 2 đến 4 bài tập Cách giao nhiệm vụ trong các bài tập không chung chung mà khá rõ ràng, có điều kiện để
HS làm bài đúng hướng, nhiều bài tập có gợi ý, chỉ dẫn cho HS
Những thành công trên của các bài tập đưa yếu tố biểu cảm vào VBNL là những điểm luận văn sẽ tiếp thu, kế thừa khi xây dựng hệ thống bài tập kết hợp của yếu tố biểu cảm trong VB nghị luận
Tuy nhiên, theo chúng tôi, thiết kế hệ thống bài tập RLKN kết hợp của yếu tố biểu cảm trong VB nghị luận cần quan tâm hơn nữa đến các vấn đề sau:
(1) Độ khó của một số bài tập cần phù hợp với đặc điểm nhận thức của
HS THCS Kiểu, loại bài tập cần đa dạng, đầy đủ hơn Đặc biệt cần có nhiều bài tập hướng dẫn cụ thể cho HS cách làm bài văn nghị luận hay, hấp dẫn nhờ đưa vào các yếu tố phụ trợ, cụ thể ở đây là biểu cảm
(2) Cần xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ cho việc dạy học VNL trong nhà trường, ứng với CT lớp 8 để giúp GV có thể vận dụng linh hoạt trên từng đối tượng HS cụ thể