1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo Cáo Về Tính Hài Hòa Và Tuân Thủ Trong Hỗ Trợ Kỹ Thuật (HTKT) Cho Lĩnh Vực Y Tế Việt Nam

16 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 235,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Dự án do GTZ và JICA tài trợ • Mục tiêu dự án: – Đánh giá mức độ hài hòa và tuân thủ của HTKT trong lĩnh vực Y tế; – Đề xuất phương án khắc phục các tồn tại và kiến nghị phương pháp

Trang 1

Báo cáo về Tính hài hòa và tuân thủ trong Hỗ trợ kỹ thuật (HTKT) cho lĩnh vực Y

tế Việt Nam (Cột mốc số 2 - SOI)

Ron van Konkelenberg

Lê Đức Chung Phùng Văn Quân

Trang 2

Dự án Cột mốc số 2 - SOI

• Cột mốc số 2 trong Văn bản thỏa thuận chung:

– Tiến hành một nghiên cứu đánh giá mức độ hài

hòa và tuân thủ của HTKT trong lĩnh vực Y tế.

• Dự án do GTZ và JICA tài trợ

• Mục tiêu dự án:

– Đánh giá mức độ hài hòa và tuân thủ của HTKT

trong lĩnh vực Y tế;

– Đề xuất phương án khắc phục các tồn tại và kiến

nghị phương pháp giám sát phát triển ngành về vấn đề hài hòa và tuân thủ.

Trang 3

Phương pháp

• Dự án bao gồm 3 bước:

– Xem xét tài liệu,

– Tham vấn,

– Báo cáo

• Bước thứ tư là bước trình bày và thảo luận

giữa các bên liên quan được lùi lại để thực hiện sau

Trang 4

Xem xét tài liệu: Hiệu quả viện trợ

• Vấn đề về hài hòa và tuân thủ của HTKT trong

lĩnh vực Y tế là một phần quan trọng trong bức tranh tổng thể về hiệu quả viện trợ nói chung.

• Các thỏa thuận quốc tế chủ chốt:

– Tuyên bố Paris năm 2005

– Chương trình hành động Accra năm 2008

– Tuyên bố chung Hà Nội năm 2005, phiên bản nội địa

của Tuyên bố Paris

– Văn bản thỏa thuận chung Nhóm Đối tác Y tế năm

2009

Trang 5

Xem xét tài liệu: Các vấn đề về tính

hài hòa và tuân thủ

• Vào năm 2003 tổ chức JICA (Nhật Bản) và Viện quản lý

kinh tế TƯ đã tiến hành một đánh giá toàn diện về các vấn đề liên quan đến Chính phủ và Nhà tài trợ tại Việt Nam.

• Vào năm 2006 Bijlmakers et al cũng đưa ra các vấn đề

tương tự.

• Trong giai đoạn chuyển giao, rất nhiều báo cáo đã

đưa ra những phát hiện giống nhau.

• Trong lĩnh vực Y tế, hầu như, nếu không muốn nói là

tất cả các vấn đề vẫn chưa được giải quyết

Trang 6

Xem xét tài liệu: Xây dựng năng lực

quốc gia

• Bộ KHĐT và các Đối tác phát triển (ĐTPT) đã cùng làm việc ở cấp TƯ nhằm:

– Xây dựng năng lực,

– Giảm bớt các chi phí giao dịch,

– Nâng cao chất lượng viện trợ và

– Tăng cường tính hiệu quả của viện trợ ODA nói chung,

• 3 mảng mục tiêu hành động

– Nâng cao năng lực pháp lý phục vụ cho việc tạo một môi trường quy chuẩn

minh bạch cho viện trợ ODA;

– Nâng cao năng lực tổ chức nhằm tạo một cơ chế quản lý vốn ODA hiệu quả;

– Nâng cao năng lực cho nguồn nhân lực nhằm quản lý nguồn vốn ODA theo

một cách thức chuyên nghiệp (bao gồm một loạt các công cụ quản lý báo cáo chung).

• Một số Bộ ngành như Bộ NN&PTNT, Bộ Giao thông vận tải và Bộ Giáo dục

đã sớm tuân thủ theo các hoạt động này, và với văn bản thỏa thuận

chung, Bộ Y tế đi tiên phong trong việc chính thức hóa sự tham gia của mình trong các hoạt động như vậy.

Trang 7

Xem xét tài liệu: Các vấn đề về Hoạt

động phát triển năng lực

• Công tác lập kế hoạch và quản lý tài chính công đã có những

tiến bộ đáng kể, tuy nhiên

• Các hoạt động thiên về củng cố Ban quản lý dự án (PMU)

– Emphasis inhibits mainstream management capacity building

– Mâu thuẫn với các nguyên tắc về hài hòa và tuân thủ trong

Tuyên bố Paris và Tuyên bố chung Hà Nội.

• Việc tập trung vào quản lý PMU gây ảnh hưởng đến hai yêu

cầu quan trọng về xây dựng năng lực:

– Năng lực cung cấp dịch vụ (để đạt được kết quả tốt hơn) và

– Năng lực quản lý dịch vụ (hỗ trợ cung cấp dịch vụ hiệu quả và

công bằng hơn).

– Mâu thuẫn với nguyên tắc về quản lý có hiệu quả của Tuyên bố

Paris và Tuyên bố chung Hà Nội.

Trang 8

Ý kiến tham vấn (1)

• Khẳng định những kết luận chung được đề cập đến

trong báo cáo.

• Một số ví dụ tổng quan về các vấn đề cần quan tâm:

– Quá phụ thuộc vào HTKT trong việc thiết kế và thực hiện

hoạt động (thiếu tính chủ quyền từ phía Bộ Y tế);

– Trì hoãn quá lâu việc thực hiện hoạt động (do hệ thống

phức tạp và/hoặc trùng lắp từ cả hai phía và thiếu vốn đối ứng);

– Chất lượng hoạt động kém (chất lượng của HTKT và cả

của cơ chế hỗ trợ HTKT);

– Thiếu tính nhất quán trong đường lối (vấn đề về tuân

thủ);

– Các trùng lặp hỗn độn (vấn đề về hài hòa)

Trang 9

Ý kiến tham vấn (2)

• Cả hai bênđều đồng ý rằng Hỗ trợ kỹ thuật và

Hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực Y tế còn rời rạc và cần điều phối tốt hơn nữa.

• Cả hai bên đều thừa nhận các vấn đề xuất

phát từ cả hai phía

• ĐTPT cần sớm hướng hỗ trợ của mình đến

những ưu tiên của Bộ Y tế và cấp tỉnh.

Trang 10

Ý kiến tham vấn (3)

• Một số ví dụ cụ thể về các vấn đề cần quan tâm:

– Hỗ trợ lập kế hoạch đồng thời hoặc tiếp nối cho tỉnh sử dụng

các tài liệu, phương pháp, khái niệm, đầu vào, đầu ra và/hoặc quy trình khác nhau, không liên quan đến công tác lập kế hoạch tuyến TƯ và/hoặc các yêu cầu ngân sách;

– Kinh phí lập kế hoạch và/hoặc các hoạt động phát triển như

hoạt động dự án riêng biệt không tính đến các yêu cầu liên kết nội tại;

– Hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ cùng loại tại các khu vực khác

nhau với các hình thức dịch vụ, cơ chế giám sát và đánh giá

khác nhau;

– Các hình thức hỗ trợ kinh phí khác nhau cho các CT mục tiêu

quốc gia có tiêu chuẩn đủ điều kiện tài trợ khác nhau và/hoặc phạm vi bao phủ của chương trình khác nhau;

– Thiếu vốn đối ứng cho việc sử dụng nguồn cung trang thiết bị;

Trang 11

Các yếu điểm về tính hài hòa và tuân

thủ có hệ thống

• Thiếu hiểu biết chung về nhu cầu phát triển ngành Y tế

và/hoặc các ưu tiên cần liên kết với HTKT.

– Yếu điểm này đang được khắc phục thông qua việc phát triển kế

hoạch quản lý ngành Y tế (Cột mốc số 8).

• Thiếu định nghĩa chung về tính hài hòa

– Tính hài hòa của HTKT không chỉ đơn giản là chia sẻ thông tin về

các hoạt động khác nhau Với mỗi mục tiêu cụ thể tính hài hòa chính là tiêu chuẩn hóa các thiết kế kỹ thuật cho HTKT.

– Có 2 dạng khác nhau của tiêu chuẩn hóa kỹ thuật:

• Trường hợp tất cả HTKT được thống nhất dưới một dạng tiêu chuẩn,

từ đó thúc đẩy quá trình mở rộng và nâng cao ngành Y tế.

• Trường hợp HTKT thực hiện dưới các phương pháp khác nhau nhưng

vẫn nằm dưới tiêu chuẩn kỹ thuật chung, từ đó có thể phân tích các phương pháp một cách khách quan (để xác định phương pháp là hiệu quả nhất hoặc, nói cách khác, các phương pháp khác nhau có phụ thuộc vào hoàn cảnh khác nhau hay không).

• Thiếu cơ chế Hài hòa hóa, tuân thủ và giám sát HTKT.

Trang 12

Đề xuất về Tính hài hòa và tuân thủ

của HTKT

• Thiết lập một Nhóm làm việc về kỹ thuật về Hài hòa và tuân thủ của

HTKT cùng với những điều khoản tham chiếu sau:

– Xem xét cơ sở dữ liệu về HTKT (Cột mốc số 1) đặc biệt là sự kiên kết

giữa HTKT với kế hoạch 5 năm ngành Y tế (Cột mốc số 8)

– Xem xét cơ sở dữ liệu về HTKT đặc biệt là nội dung kỹ thuật để đưa ra:

• Số lượng các dự án HTKT với các mục tiêu, vai trò và chức năng giống nhau;

• Mức độ hài hòa của các dự án HTKT giống nhau;

– Dữ liệu và định nghĩa; thuật ngữ; phương pháp; hình thức; quy trình và thủ tục quản lý, kỹ thuật và/hoặc hành chính; thời gian; phương pháp tính toán, và giải quyết nhu cầu báo cáo cũng như tiếu chuẩn chất lượng của chính quyền

TƯ và địa phương

– Tham vấn các bên liên quan để điều chỉnh những thiết kế KT chưa hài

hòa.

– Chuẩn bị kế hoạch về Hài hòa và tuân thủ của HTKT nhằm hỗ trợ việc

thực thi các đòi hỏi của kế hoạch 5 năm ngành Y tế.

– Đề xuất một đơn vị thích hợp cho việc quản lý và giám sát liên tục kế

hoạch Hài hòa hóa và tuân thủ của HTKT và các hoạt động điều phối HTKT/Hợp tác KT liên quan trong ngành Y tế.

Trang 13

Đề xuất về Tính hài hòa và tuân thủ

của HTKT (2)

• Xây dựng một bảng danh mục các thủ tục dành

cho cơ quan tài trợ đối với tất cả các đề xuất mới

về HTKT

• Đăng ký ban đầu của đề xuất này lấy trong cơ sở dữ liệu

HTKT Bộ Y tế

• Xác định các mục tiêu lập kế hoạch của bộ Y tế (trong KH 5

năm) và các hoạt động mục tiêu của HTKT.

• Xác định các hoạt động HTKT giống nhau đang được thực

hiện hoặc đã được đề xuất trong lĩnh vực Y tế hoặc những ngành khác.

• Danh sách các vấn đề về thiết kế KT trong trường hợp các

HTKT được đề xuất khác với thiết kế KT sẵn có (xem trang trước)

• Các nhóm làm việc KT về Hài hòa và Tuân thủ hoặc đơn vị

được giao trách nhiệm tiếp theo trong công tác lập KH, hỗ trợ và giám sát HTKT.

Trang 14

Giám sát

• Giám sát và báo cáo về tất cả các hoạt động HTKT mới

bắt đầu trong năm, chấm điểm từng dự án theo 5

mức như sau:

– Không đạt được mục nào trong bảng danh mục (0)

– Đạt được mục 1 trong bảng danh mục (1)

– Đạt được mục 1 và mục 2 hoặc 3 trong bảng danh mục (2) – Đạt được mục 1, 2 và 3 trong bảng danh mục (3)

– Đạt được tất cả các mục trong bảng danh mục (4)

• Báo cáo có thể dựa trên các hoạt động/ mục tiêu kế

hoạch và trên số lượng các hoạt động HTKT mới của ĐTPT tính theo điểm quy định

Trang 15

Nguồn lực

• Các nhóm làm việc KT về Hài hòa và Tuân thủ hoặc đơn vị được giao

trách nhiệm tiếp theo trong công tác lập KH, hỗ trợ và giám sát HTKT

sẽ đòi hỏi:

• Sự tham gia thường xuyên của Vụ KHTC Bộ Y tế và các Vụ cục khác

với sự quan tâm trực tiếp đến những HTKT đang được xem xét;

• HTKT (không phải bài trình bày) của các ĐTPT

• Hỗ trợ từ Ban thư ký trong việc chuẩn bị cuộc họp, thu thập và phân

phối dữ liệu, chương trình cho các hoạt động tiếp theo.

– Nếu hoạt động này được ghép với việc quản lý cơ sở dữ liệu về HTKT

(Cột mốc số 1), khối lượng công việc sẽ tương ứng với thời gian làm việc của một cán bộ hành chính toàn thời gian

• Cán bộ quản trị cơ sở dữ liệu về HTKT cần phải là một cán bộ nghiên

cứu chứ không phải là một chuyên gia về máy tính.

Trang 16

Kết thúc bài trình bày

Cảm Ơn

Ngày đăng: 05/12/2016, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w