1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn Hóa học THCS

22 1,5K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn Hóa học cung cấp cho học sinh những tri thức Hóa học phổ thông cơ bản, hoàn chỉnh, đầy đủ về các chất, sự biến đổi chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học với môi trường và con người. Những tri thức này rất quan trọng giúp học sinh nhận thức một cách khoa học về thế giới vật chất, góp phần phát triển nhận thức, năng lực hành động, hình thành nhân cách người học một cách toàn diện: có tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo, năng động, sáng tạo, tự tin... Giảng dạy bộ môn Hóa học ở Trường THCS có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học. Môn học này cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học, hình thành ở các em một số kĩ năng phổ thông, cơ bản và thói quen làm việc khoa học, góp phần làm nền tảng cho việc xã hội hóa giáo dục, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, kĩ năng vận dụng các tri thức..., chuẩn bị cho học sinh học lên và đi vào cuộc sống lao động.

Trang 1

2

I LỜI GIỚI THIỆU

Môn Hóa học cung cấp cho học sinh những tri thức Hóa học phổ thông cơ bản, hoàn chỉnh, đầy đủ về các chất, sự biến đổi chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học với môi trường và con người Những tri thức này rất quan trọng giúp học sinh nhận thức một cách khoa học về thế giới vật chất, góp phần phát triển nhận thức, năng lực hành động, hình thành nhân cách người học một cách toàn diện: có tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo, năng động, sáng tạo, tự tin

Giảng dạy bộ môn Hóa học ở Trường THCS có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học Môn học này cung cấp cho học sinh một

hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học, hình thành

ở các em một số kĩ năng phổ thông, cơ bản và thói quen làm việc khoa học, góp phần làm nền tảng cho việc xã hội hóa giáo dục, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, kĩ năng vận dụng các tri thức , chuẩn bị cho học sinh học lên

và đi vào cuộc sống lao động

Tuy nhiên việc lĩnh hội kiến thức hoá học của học sinh là hết sức khó khăn Mặt khác, Hóa học là một môn học hoàn toàn mới lạ đối với HS ở THCS, mà khối lượng kiến thức học sinh cần lĩnh hội tương đối nhiều Phần lớn các bài gồm những khái niệm mới, rất trừu tượng, khó hiểu Do đó, giáo viên cần tìm ra phương pháp dạy học gây được hứng thú học tập bộ môn giúp các em chủ động lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, không gượng ép là điều cần quan tâm Khi HS có hứng thú, niềm say mê với môn Hóa sẽ giúp HS phát huy được năng lực tư duy, khả năng tự học và óc sáng tạo Để từ đó nâng cao chất lượng bộ môn nói riêng và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung là vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình dạy học của giáo viên Chính vì vậy, tôi nghĩ đổi mới phương pháp dạy học phải thể hiện được ba tính chất

Ba là: Rèn luyện được kĩ năng sống cho học sinh

Kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy hóa học tôi nhận thấy rằng: Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hàng ngày Rất nhiều kiến thức hóa học có thể liên hệ được với các hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta

Xuất phát từ những thực tế đó và một số kinh nghiệm trong giảng dạy bộ môn hóa học, tôi thấy để có chất lượng giáo dục bộ môn hóa học cao, người giáo viên ngoài

Trang 2

3

phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm các hiện tượng hóa học thực tiễn trong đời sống đưa vào bài giảng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong

học tập bộ môn Từ những lí do đó tôi chọn đề tài: “Lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn hóa học THCS”, áp dụng cho chương trình Hóa

học cấp THCS

II TÊN ĐỀ TÀI: “Lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn Hóa học THCS”

III TÁC GIẢ ĐỀ TÀI

Họ và tên: Nguyễn Thị Hường

Địa chỉ: Yên Bình – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc

Điện thoại: 01686304263

Email: nguyenthihuong.gvcsyenbinh@vinhphuc.edu.vn

IV CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG TẠO:

V: LÍNH VỰC ÁP DỤNG ĐỀ TÀI: Các bài học có thể vận dụng thức kiến để

giải thích một số hiện tượng trong thực tế, các biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Hoá học bậc trung học cơ sở

VI: NGÀY ĐỀ TÀI ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU: Ngày 20 tháng 8 năm 2015 VII MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA ĐỀ TÀI:

Nội dung của đề tài:

em

Trong quá trình dạy học, dựa vào sự hướng dẫn của giáo viên học sinh thực hiện các hoạt động chủ yếu theo một quy trình sau:

Thu thập thông tin: thông qua việc tự làm thí nghiệm hoặc quan sát thí nghiệm

do giáo viên biểu diễn, quan sát hiện tượng tự nhiên, đọc tài liệu, xem tranh ảnh, ôn lại những kiến thức đã học, học sinh sẽ thu được những thông tin cần thiết về các hiện tượng hóa học cần học

Xử lí thông tin: thông qua một hệ thống câu hỏi, giáo viên hướng dẫn học sinh căn cứ vào thông tin đã thu thập để rút ra những kết luận cần thiết

Trang 3

4

Vận dụng: dựa vào kết luận đã rút ra từ bài học, học sinh vận dụng vào thực tiễn

để hiểu sâu bài hơn

Tuy nhiên tùy thuộc vào từng bài giảng cụ thể giáo viên có thể lồng ghép giải thích các hiện tượng trong thực tế vào bài dạy của mình cho phù hợp như:

+ Phần mở bài: Ví dụ trước khi vào giảng dạy bài “Sự ăn mòn kim loại và bảo

vệ kim loại không bị ăn mòn”, giáo viên có thể nêu vấn đề vào bài với câu hỏi sau:

“Tại sao những đồ dùng bằng sắt thường bị gỉ và dần dần đồ vật không dùng được?” Từ đó giáo viên hình thành cho học sinh kĩ năng để bảo vệ đồ vật bằng kim loại không bị ăn mòn

+ Lồng ghép trong quá trình giảng dạy: Ví dụ khi dạy xong phần tính chất vật

lí của axit sunfuric giáo viên có thể cho học sinh trả lời câu hỏi: “Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể rót từ từ axit sunfuric đậm đặc vào nước ?” Từ đó giáo viên hình thành cho học sinh kĩ năng pha loãng dung dịch axit sunfuric hoặc bất cứ dung dịch nào

+ Lồng ghép khi kết thúc bài học: Ví dụ: Khi giảng dạy xong bài: “Phân bón hóa học” giáo viên có thể cho học sinh giải thích câu ca dao sau:

“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.”

Từ đó các em có kĩ năng vận dụng kiến thức hoá học vào đời sống

* Giải pháp: để áp dụng việc lồng ghép giải thích các hiện tượng trong thực tế trong giảng dạy tôi đã thực hiện một số hoạt động sau:

- Giáo viên phải nắm chắc kiến thức xuyên suốt chương trình để xây dựng kế hoạch bài giảng cho phù hợp với đề tài

- Tổng hợp những hiện tượng trong thực tế liên quan đến từng bài học sao cho phù hợp

- Điều tra về mức độ, thái độ của học sinh về nội dung của đề tài: điều kiện học tập của học sinh, cho học sinh mượn tài liệu để photo và hướng dẫn học sinh tìm hiểu

- Xác định mục tiêu, chọn lọc các trường hợp cần nhận biết, xây dựng nguyên tắc

áp dụng cho mỗi trường hợp, lựa chọn các câu hỏi cần thiết liên quan đến từng nội dung bài và dự đoán các tình huống có thể xảy ra khi thực hiện

- Sưu tầm tài liệu và trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp

2 C c t c vận dụng việc lồng g ép giải t íc c c iện tượng t ực tế trong giảng dạy

2.1 Lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế khi giới thiệu bài mới

Ví dụ : Trước khi vào bài "Sự ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại tránh bị ăn

mòn", GV có thể hỏi: Tại sao những đồ vật bằng sắt thường hay bị gỉ tạo thành gỉ

sắt và dần dần đồ vật sẽ bị hỏng không dùng được

Trang 4

5

- Giải thích: Trong không khí có oxi, hơi nước và một số chất khác Do tác dụng nhiệt độ cao của ánh sáng mặt trời, hơi nước, oxi và nước mưa (thường hòa tan khí CO2 tạo môi trường axit yếu) có phản ứng với sắt tạo thành một số hợp chất của sắt gọi là gỉ sắt Gỉ sắt không còn tính cứng, ánh kim, dẻo của sắt mà xốp, giòn nên làm đồ vật bị hỏng

2.2 Lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế trong quá trình giảng dạy

Cách tích hơp này thường sử dụng khi ta dạy xong một đề mục trong bài

Ví dụ : Tại sao khi cơm bị khê, ông bà ta thường cho vào nồi cơm một mẫu than

củi ?

- Giải thích: Do than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ hơi khét của cơm làm cho cơm đỡ mùi khê

- Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần tính hấp phụ của cacbon

2.3 Lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế sau khi đã kết thúc bài học

Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách tự hình thành kĩ năng sống ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng

đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo

Ví dụ : Sau khi học bài "Một số oxit quan trọng" (Hóa học 9), GV đặt câu hỏi:

Để Canxioxit (vôi sống) lâu ngày trong không khí sẽ bị kém phẩm chất Hãy giải thích hiện tượng này và viết phương trình hoá học có thể xảy ra

Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng kiến thức về tính chất hoá học của Canxioxit để nhận ra rằng CaO để lâu trong không khí sẽ hút ẩm trong không khí tạo thành Ca(OH)2, và chính CaO và Ca(OH)2 sẽ tác dụng với CO2 trong không khí làm cho vôi mất phẩm chất từ đó học sinh hình thành được kĩ năng vận dụng vào đời sống sản xuất

Ví dụ : sau khi học bài “ Tính chất vật lí của kim loại ” Giáo viên đưa ra vấn đề

“ Vì sao nhôm lại được dùng làm dây dẫn điện cao thế ? Còn dây đồng lại được dùng làm dây dẫn điện trong nhà ?”

Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng riêng của nhôm là 2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là…… Do đó, nếu như dùng đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc xây các cột điện sao cho chịu được trọng lực của dây điện Việc làm đó không có lợi về mặt kinh tế Còn trong nhà thì việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh hưởng lớn lắm vì vậy ở trong nhà thì ta dùng dây đẫn điện bằng đồng từ đó học sinh hình thành được kĩ năng vận dụng vào đời sống

2.4 Lồng ghép qua các hiện tượng trong thực tiễn

Trang 5

6

Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò

mò của học sinh Mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông

Ví dụ : Tục ngữ Việt Nam có câu: “Nước chảy đá mòn”, câu này mang hàm ý của

khoa học hoá học như thế nào?

Vì trong nước có lẫn khí CO2 nên sẽ xảy ra phản ứng:

CaCO3 + CO2 +H2O > Ca(HCO3)2

Khi nước chảy sẽ cuốn Ca(HCO3)2 trôi theo, qua thời gian đá sẽ bị mòn dần

- Áp dụng: Hiện tượng này thường thấy ở những phiến đá ở những dòng chảy đi qua Nếu không để ý, trong xây dựng sẽ có ảnh hưởng không ít, góp phần hiểu được dụng ý của khoa học của câu tục ngữ, làm cho hoá học trở nên gần gũi, giáo viên có thể xen vấn đề này trong khi dạy đến phần về muối CaCO3 (ở lớp 9)

Ví dụ : Tại sao nước máy lại có mùi clo?

- Khi sục một lượng nhỏ Clo vào nước có tác dụng sát trùng do clo tan 1 phần (gây mùi) và phản ứng 1 phần với nước:

H2O + Cl2 → HCl + HClO

- Hợp chất HClO không bền có tính oxi hoá mạnh, có khả năng diệt khuẩn

- Áp dụng: Vấn đề này đang đang được sử dụng làm sạch nước hiện nay trong các nhà máy nước cung cấp nước trong thành phố, thị xã, thị trấn… giáo viên có thể xen vấn đề này khi dạy xong bài clo

2.5 Lồng ghép thông qua các bài tập tính toán

Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích Vì muốn giải được bài toán hoá đó học sinh phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu

gì, và giải quyết như thế nào

* Ví dụ : Trên nhãn của các chai rượu có ghi các số: 45O

, 18O, 12O

a Hãy giải thích ý nghĩa của các số trên

b Tìm số ml rượu etylic có trong 500ml rượu 450

c Có thể pha được bao nhiêu ml rượu 250

* Ví dụ : Muốn chữa cơm khê người ta thường làm như thế nào?

Trang 6

7

GV có thể đưa vấn đề này vào trong bài cacbon (ở lớp 9), phần tính hấp phụ Muốn chữa cơm khê người ta thường cho vào nồi cơm một mẩu than củi Do than củi xốp

có tính hấp phụ, nên hấp phụ được mùi khét của cơm làm cho cơm đỡ mùi khê

* Ví dụ : Vì sao nước rau muống đang xanh, khi vắt chanh vào thì chuyển sang

- Áp dụng: Giáo viên có thể đưa các vấn đề thực tế này vào bài axit cacboxylic (ở lớp 9)

Trong quá trình thực hiện tôi đã lựa chọn những nội dung, hiện tượng trong thực tế có thể tích hợp kĩ năng sống liên quan đến các bài học trong chương trình hóa học 8,9 và phân bố chúng vào cụ thể từng bài học như sau:

* K ả năng p dụng :

C ương trìn o ọc 8

Bài 24: Tín c ất của oxi

Ví dụ 1: Tại sao khi lên núi cao người ta lại bị mệt mỏi, nhức đầu, buồn nôn, khó

thở, tím tái…., còn những người sống lâu dài ở trên núi thì lại không có hiện tượng

gì ?

- Giải thích: Vì oxi nặng hơn không khí nên càng lên cao không khí càng loãng, có

ít oxi Cơ thể con người không thích nghi với việc thiếu oxi dẫn đến các triệu chứng trên

Với những người sống lâu dài trên núi cao thì tình trạng thiếu oxi mãn được các cơ chế thích nghi bù đắp giải quyết, ổn định cân bằng nội môi: hồng cầu có thể tăng tới 7-8 triệu/mm3

máu, do đó cung cấp và sử dụng oxi của tế bào được đảm bảo và những người này có thể sống và lao động sản xuất như bình thường

- Áp dụng: Sau khi dạy xong phần tính chất vật lý của oxi

Ví dụ 2: Em hãy giải thích tại sao trong các hồ cá cảnh hoặc các đầm nuôi tôm

người ta phải “Sục” không khí vào hồ nước?

- Giải thích: Do khí oxi ít tan trong nước nên người ta “Sục” không khí nhằm hòa tan nhiều hơn khí oxi giúp tôm, cá hô hấp tốt hơn Từ đó nâng cao năng suất

- Áp dụng: Sau khi dạy xong phần tính chất vật lý của oxi

Bài 28: Không khí – sự c y

Trang 7

8

Ví dụ 1: Giải thích tại sao trong các nhà máy không được chất giẻ lau có dính dầu

mỡ thành đống?

- Giải thích: Trong nhà máy người ta không chất dẻ lau có dính dầu mỡ thành đống

vì những dẻ lau có dính dầu mỡ để ngoài không khí sẽ xảy ra sự ô xi hoá chậm các chất, kèm theo sự sinh nhiệt Nhiệt sinh ra đến một lúc nào đó làm chất đạt đến nhiệt độ cháy lúc đó sự ô xi hoá chậm chuyển thành sự tự bốc cháy

- Áp dụng: Sau khi dạy xong phần sự ô xi hóa chậm

Bài 31: Tín c ất c ung của Hiđro

Ví dụ 1: Quả bóng bay thổi bằng miệng thì không bay được nhưng bơm khí H2 vào thì bay được?

- Giải thích: Trong hơi thở của ta có khí cacbonic, khí này nặng hơn không khí, khi

ta thổi vào bóng làm cho bóng không bay được, còn H2 nhẹ hơn không khí, khi ta thổi vào bóng làm cho bóng bay được

- Áp dụng: Sau khi dạy xong phần tính chất vật lý của oxi

Ví dụ 2: Tại sao bóng bay nổ lại gây sát thương?

- Giải thích: Khí được bơm vào bóng bay thường là hydro, khí này rất dễ phát nổ

khi gặp nguồn nhiệt Khí hydro nhẹ, cấu trúc phân tử bé nên bơm vào bóng bay nó

thẩm thấu rất nhanh,bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng bóng bay, nguồn khí bên trong bóng bay rất dễ thẩm thấu ra ngoài, trong đó ra nhiều ở cuống bóng, chỗ buộc dây Vì thế nếu đốt dây buộc bóng bay hoặc để bóng bay ở gần nguồn nhiệt như bếp lửa, bóng đèn hoặc ngoài trời nắng vô tình khiến cho luồng khí bị đốt nóng, thể tích dãn nở gây ra nổ Những vụ nổ bóng bay thường nguy hiểm cho những người đứng gần, có thể bỏng da tay, da mặt là những vị trí nhạy cảm

- Áp dụng: Sau khi dạy xong phần tính chất hóa học của hđro

Trang 8

9

Bài 41: Độ tan của một c ất trong nước

Ví dụ 1: Tại sao không nên bảo quản mật ong trong tủ lạnh?

- Giải thích: Không nên bảo quản mật ong trong tủ lạnh vì khi để trong tủ lạnh mật ong bị kết tinh(đóng đường) làm giảm chất lượng của mật ong Nguyên nhân do mật ong là dung dịch chứa nhiều chất tan, trong đó có đường fructozo và glucozo ở trạng thái bão hòa, khi để trong tủ lạnh, nhiệt độ hạ xuống làm cho độ tan của các loại đường này cũng bị giảm, các tinh thể đường fructozo và glucozo bị tách ra kết tinh trong chai Để làm tan mật ong bị đóng đường cho chai mật ong bị đóng đường (kết tinh) ấy vào trong chậu, đổ nước nóng ngập phần mật bị kết tinh Nhiệt độ tăng lên làm độ tan của fructozo và glucozo tăng, các đường này lại tan trong dung dịch -Áp dụng: Sau khi dạy xong phần các yếu tố ảnh hưởng đến độ tan của một chất

C ương trìn o ọc 9

Bài 1: Tín c ất óa ọc của Oxit, k i qu t về sự p ân loại oxit

Ví dụ 1: “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?

- Giải thích: Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong (ô tô, xe máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi nước trong không khí nhờ xúc tác là các oxit kim loại (có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3

2SO2 + O2 + 2H2O → 2 H2SO4

2NO + O2 → 2NO2

4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3

Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit Trong đó H2SO4 là nguyên nhân chính gây ra mưa axit Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới Mưa axit làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến (các loại đá này thành phần chính là CaCO3):

CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O

CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O

-Áp dụng: Nêu vấn đề khi vào học bài mới

Trang 9

10

Bài 2: Một số oxit quan trọng

Ví dụ 1: Tại sao khi cho vôi sống vào nước, ta thấy khói bốc lên mù mịt, nước vôi như bị sôi? Tại sao cần tránh xa hố đang tôi vôi hoặc sau khi tôi vôi ít nhất 2 ngày?

-Giải thích: Khi tôi vôi đã xảy ra phản ứng tạo thành canxi hiđroxit:

CaO + H2O → Ca(OH)2

Phản ứng này tỏa rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên và bốc hơi đem theo

cả những hạt Ca(OH)2 rất nhỏ tạo thành như khói mù trắng Do nhiệt tỏa ra nhiều nên nhiệt độ của hố vôi rất cao Do đó người và động vật cần tránh xa hố vôi để tránh rơi xuống hố vôi tôi sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng

-Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài

Bài 3: Tín c ất óa ọc của axit

Ví dụ 1: Vì sao nước rau muống đang xanh khi vắt chanh vào thì chuyển sang

màu đỏ ?

Giải thích: Có một số chất hóa học gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm cho màu của dung dịch thay đổi khi độ pH của dung dịch thay đổi Trong rau muống (và vài loại rau khác) có chất chỉ thị màu này, trong chanh có 7% axit xitric Vắt chanh vào nước rau làm dung dịch có tính axit, do đó làm thay đổi màu của nước rau Khi chưa vắt chanh nước rau muống màu xanh là chứa chất có tính kiềm

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học của axit khi tác dụng với chất chỉ thị màu

Bài 4: Một số axit quan trọng

Ví dụ 1: Axit clohiđric có vai trò như thế nào đối với cơ thể ?

- Giải thích: Axit clohiđric có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất của cơ thể Trong dịch dạ dày của người có axit clohiđric với nồng độ khoảng chừng 0,0001 đến 0,001 mol/l (có độ pH tương ứng với là 4 và 3) Ngoài việc hòa tan các muối khó tan, nó còn là chất xúc tác cho các phản ứng phân hủy các chất gluxit (chất đường, bột) và chất protein (đạm) thành các chất đơn giản hơn để cơ thể có thể hấp thụ được Lượng axit trong dịch dạ dày nhỏ hơn hay lớn hơn mức bình thường đều gây bệnh cho người Khi trong dịch dạ dày có nồng độ axit nhỏ hơn 0,0001 mol/l (pH>4,5) người ta mắc bệnh khó tiêu, ngược lại nồng độ axit lớn hơn 0,001 mol/l (pH<3,5) người ta mắc bệnh ợ chua

- Áp dụng: Giáo viên có thể đưa vấn đề này trong phần ứng dụng của axit clohiđric

Ví dụ 2: Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể rót từ

từ axit sunfuric đậm đặc vào nước ?

- Giải thích: Khi axit sunfuric tan vào nước sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn trong nước Nếu cho nước vào axit, nước

sẽ nổi trên bề mặt axit Tại vị trí nước tiếp xúc với axit nhiệt độ cao làm cho nước

Trang 10

11

sôi mãnh liệt và bắn tung tóe gây nguy hiểm Trái lại khi cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy nước, sau đó phân bố đều trong toàn bộ dung dịch Như vậy nhiệt lượng sinh ra được phân bố đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ

từ không làm cho nước sôi lên một cách quá nhanh Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric “ phải rót từ từ ” axit vào nước và không nên pha trong các bình thủy tinh Bởi vì thủy tinh sẽ dễ vở khi tăng nhiệt độ khi pha

- Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời về cách pha loãng axit H2SO4 khi dạy phần tính chất vật lí của axit sunfuric đặc

Bài 7: Tín c ất óa ọc của bazơ

Ví dụ 1: Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ?

- Giải thích: Do trong nọc của ong, kiến, nhện (và một số côn trùng khác) có axit hữu cơ tên là axit formic (HCOOH) Vôi là chất bazơ nên trung hòa axit làm ta đỡ đau

- Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học của bazơ

Bài 8: Một số Bazơ quan trọng

Ví dụ 1: Tại sao khi tô vôi lên tường thì lát sau vôi khô và cứng lại ?

- Giải thích: Vôi là canxi hiđroxit, là chất tan ít trong nước nên khi cho nước vào tạo dung dịch trắng đục, khi tô lên tường thì Ca(OH)2 nhanh chóng khô và cứng lại

vì tác dụng với CO2 trong không khí theo phương trình:

Ca(OH)2 + CO2 → CaCO3 + H2O

- Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học của canxi hiđroxit

Bài 9: Tín c ất óa ọc của muối

Ví dụ 1: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng lại có lớp cặn ở dưới đáy ấm?

Cách tẩy lớp cặn này?

Trang 11

12

- Giải thích: Trong tự nhiên nước ở một số vùng nước có chứa muối Ca(HCO3)2, Mg(HCO3)2 Khi nấu sôi sẽ xảy ra phản ứng hoá học :

Ca(HCO3)2 → CaCO3 + CO2 + H2O

Mg(HCO3)2→MgCO3 + CO2 + H2O

Ca(HCO3)2, Mg(HCO3)2 sinh ra đóng cặn

Cách tẩy cặn ở ấm: Cho vào ấm 1 lượng dấm (CH3COOH 5%) và rượu, đun sôi rồi để nguội qua đêm thì tạo thành 1 lớp cháo đặc chỉ hớt ra và lau mạnh là sạch

- Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học

Ví dụ 2: Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?

- Giải thích: Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl Người bị đau dạ dày là người

có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn NaHCO3 dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng:

NaHCO3 + HCl →NaCl + H2O + CO2

- Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học

Bài 10: Một số muối quan trọng

Ví dụ 1: Vì sao muối thô dễ bị chảy nước ?

- Giải thích: Muối ăn có thành phần chính là natri clorua, ngoài ra còn có ít muối khác như magie clorua …, Magie clorua rất ưa nước, nên nó hấp thụ nước trong không khí và rất dễ tan trong nước Muối sản xuất càng thô sơ thì càng dễ bị chảy nước khi để ngoài không khí

- Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần trạng thái tự nhiên

Ví dụ 2: Muối ở biển có từ đâu ?

- Giải thích: Các con sông, suối, …Các dòng nước trên lục địa đều chảy về biển, đại dương và hoà tan mọi vật thể có thể hoà tan Do quá trình bay hơi, các nguyên

tố, hợp chất tụ tập trong nước biển ngày càng nhiều theo thời gian, trong đó nhiều nhất là NaCl, MgCl2 và một số ít muối khác tạo nên muối biển

- Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần trạng thái tự nhiên

Ví dụ 3: Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn (NaCl)?

- Giải thích: Do nhiệt độ sôi của nước ở áp suất 1at là 100oC, nếu ta thêm NaCl thì lúc đó làm cho nhiệt độ của nước muối khi sôi (dung dịch NaCl loãng) là > 100o

C

Do nhiệt độ sôi của nước muối cao hơn của nước nên rau chín nhanh hơn, thời gian luộc rau không lâu nên rau ít mất vitamin Vì vậy khi đó rau muống sẽ mềm hơn và xanh hơn

- Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài học

Bài 11: Phân bón hóa học

Ví dụ 1: Vì sao người ta dùng tro bếp để bón cho cây ?

Ngày đăng: 05/12/2016, 20:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w