1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sạp thái ở tây bắc xưa và nay ( nghiên cứu địa bàn huyện điện biên, tỉnh điện biên)

110 770 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 4,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với dân tộc Khơ Mú thì sạp được sử dụng trong nghi lễ cầu mưa, với người Thái và người Mường thì sạp không những được sử dụng trong các dịp lễ hội, vui chơi mà còn là hình thức sinh hoạt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐÀO VIẾT PHÚC

SẠP THÁI Ở TÂY BẮC XƯA VÀ NAY

(Nghiên cứu địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-* -

ĐÀO VIẾT PHÚC

SẠP THÁI Ở TÂY BẮC XƯA VÀ NAY

(Nghiên cứu địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên)

Chuyên ngành: Nhân Học

Mã số : 60310302

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Sỹ Giáo

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình nào khác Những luận điểm mà luận văn kế thừa của những tác giả đi trước đều được trích dẫn đầy đủ và chính xác

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2015

Học viên

Đào Viết Phúc

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn tới các thầy, các cô khoa Nhân học và các thầy,

cô đã và đang nghiên cứu, giảng dạy tại các viện nghiên cứu đã dạy dỗ tôi trong suốt khóa học vừa qua Cảm ơn các thành viên trong lớp cao học Nhân học khóa 2013 – 2015 đã luôn động viên, giúp đỡ, xây dựng ý tưởng đề tài trong suốt khóa học Được học tập dưới mái nhà Nhân học là niềm vui, hạnh phúc lớn của tôi

Xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc Bảo tàng Hà Nội và các anh chị đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho tôi đi học nâng cao trình độ kiến thức và động viên tôi trong suốt khóa học

Xin chân thành cảm ơn tới gia đình tôi đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt khóa học và hoàn thành cuốn luận văn này

Xin cảm ơn chân thành nhất tới Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên, phòng Văn hóa – Thông tin huyện Điện Biên, phòng Dân tộc huyện Điện Biên, phòng Thống kê huyện Điện Biên, phòng Du lịch huyện Điện Biên và nhân dân các dân tộc Thái ở các xã, các bản thuộc huyện Điện Biên đã giúp đỡ tôi hoàn thành cuốn luận văn này

Hà Nội ngày 16 tháng 11 năm 2015

Học viên

Đào Viết Phúc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 11

1.1 Điều kiện tự nhiên 11

1.2 Người Thái ở huyện Điện Biên 13

1.3 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội 16

1.3.1 Đặc điểm kinh tế 16

1.3.1.1 Sản xuất nông nghiệp 16

1.3.1.2 Kinh tế khai thác tự nhiên 24

1.3.1.3 Các ngành nghề khác 25

1.3.2 Đặc điểm văn hóa người Thái ở huyện Điện Biên 26

1.3.2.1 Văn hóa vật chất 26

1.3.2.1.1 Nhà ở 26

1.3.2.1.2 Trang phục 28

1.3.2.1.3 Tập quán ăn, uống, hút 31

1.3.2.1.4 Các phương tiện vận chuyển và đi lại 33

1.3.2.2 Văn hóa tinh thần của người Thái huyện Điện Biên 34

1.3.2.2.1 Tín ngưỡng, tôn giáo 34

1.3.2.2.2 Ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật 35

1.3.3 Đặc điểm xã hội người Thái ở Điện Biên 36

1.3.3.1 Cơ cấu xã hội truyền thống Bản-Mường 36

1.3.3.2 Các tầng lớp trong xã hội người Thái ở Điện Biên 41

Tiểu kết chương 1: 43

Chương 2: SẠP THÁI TRUYỀN THỐNG 44

2.1 Vị trí và vai trò của sạp Thái trong văn hóa Thái 44

2.2 Các ý kiến lý giải về nguồn gốc của sạp 45

2.3 Nhảy sạp - hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng 49

2.4 Nhạc cụ, đạo cụ trong nhảy sạp 51

2.4.1 Trống 51

Trang 6

2.4.2 Chiêng 53

2.4.3 Chũm chọe 53

2.4.4 Sạp tre 53

2.5 Các làn điệu, hình thức nhảy sạp 54

Tiểu kết chương 2 : 58

Chương 3: SẠP THÁI HIỆN NAY: BIẾN ĐỔI VÀ BẢO TỒN 59

3.1 Sự biến đổi của sạp đương đại 59

3.2 Sự phát triển của sạp Thái hiện nay 61

3.2.1 Sạp và hoạt động du lịch 61

3.2.1.1 Huyện Điện Biên - tiềm năng phát triển du lịch 61

3.2.1.2 Các chính sách, nghị quyết về phát triển du lịch 63

3.2.1.3.Sạp - Một nguồn lực văn hóa cho phát triển du lịch 69

3.2.1.4 Những thành tựu đạt được 72

3.2.2 Sạp trong các lễ hội đương đại 73

3.2.2.1 Lễ hội Hoàng Công Chất 74

3.2.2.2 Sạp trong lễ hội xên 74

3.2.2.3 Lễ hội mừng chiến thắng Điện Biên Phủ 81

3.3 Bảo tồn sạp Thái trong bối cảnh phát triển và hội nhập 82

3.3.1 Xu hướng phát triển sạp Thái hiện nay 82

3.3.2 Các giải pháp bảo tồn sạp Thái 83

Tiểu kết chương 3: 87

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sạp là hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính phổ biến ở Châu Á và đặc biệt là các nước Đông Nam Á Tại các nước như Việt Nam, Lào, Campuchia, Indonesia, Philippin, Malaysia sạp được sử dụng rộng rãi tại nhiều cộng đồng dân tộc Điều đó chứng tỏ sự thống nhất đa dạng của nền văn hóa cổ khu vực Đông Nam Á Sạp ở mỗi quốc gia có tên gọi, hình thức và cách lý giải về sự

ra đời khác nhau nhưng nó đều có vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của các cư dân trong khu vực

Ở Việt Nam, sạp là hình thức sinh hoạt văn hóa, tinh thần phổ biến ở các dân tộc Thái, Mường và Khơ Mú Hiện nay, có nhiều quan điểm cho rằng nguồn gốc của sạp là của dân tộc này mà không phải của dân tộc khác Tuy nhiên, không thể phủ nhận được vị trí và vai trò của nó trong đời sống tinh thần của các dân tộc này Với dân tộc Khơ Mú thì sạp được sử dụng trong nghi lễ cầu mưa, với người Thái và người Mường thì sạp không những được

sử dụng trong các dịp lễ hội, vui chơi mà còn là hình thức sinh hoạt văn hóa thu hút đông đảo khách du lịch tham quan tìm hiểu

Người Thái ở Việt Nam là một trong 54 thành viên của đại gia đình các dân tộc Việt Nam có vị trí và vai trò quan trọng đóng góp vào quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Thái ở Tây Bắc nói chung và Thái ở huyện Điện Biên nói riêng đã có những bản sắc riêng của dân tộc mình Người Thái ở Điện Biên gắn liền với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 đã chứng tỏ được tài năng và bản lĩnh của mình Sau chiến thắng lịch sử của thế kỷ XX, đóng góp lớn nhất của người Thái vào văn hóa dân gian chung của cả nước đó là điệu múa sạp, múa xòe Nếu như không có chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ thì nhân dân

cả nước sẽ không biết về một di sản văn hóa lâu đời của dân tộc Thái được cha ông để lại và nó có sức ảnh hưởng rất lớn đối với nhân dân cả nước Điệu

Trang 8

múa sạp không còn là điệu múa của một dân tộc nữa mà nó trở thành điệu múa của cả dân tộc và là chủ đề khai thác cho những nghệ sỹ đưa lên sân khấu chuyên nghiệp

Huyện Điện Biên là một huyện ở biên giới phía bắc thuộc tỉnh Điện Biên Lịch sử phát triển của huyện gắn liền với lịch sử phát triển của Mường Thanh Mường Thanh là tên cũ của Mường Then, một mường gắn liền với thần thoại, truyền thuyết về sự phát sinh dân tộc Thái Huyện Điện Biên là huyện có 8 dân tộc cùng sinh sống trong đó người Thái chiếm đa số Người Thái sinh sống tại đây trải qua hàng mấy thế kỷ, họ có kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất kinh tế và có một nền văn hóa lịch sử lâu đời Khi nhắc đến Tây Bắc ta thường bắt gặp các cô gái, chàng trai trong trang phục dân tộc nổi bật trong các điệu múa sạp, múa xòe đã đi vào lòng người

Sạp là một di sản văn hóa cổ truyền của dân tộc Thái được cha ông để lại Nguồn gốc của điệu múa sạp chính là điệu múa “cạm bẫy” là điệu múa do hai người hỗ trợ một người biểu diễn với chiếc chày giã gạo xếp hàng đôi Lịch

sử phát triển của sạp Thái gắn liền với lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ Các làn điệu, hình thức nhảy sạp đã có sự phát triển và biến đổi rất lớn Các chàng trai bộ đội và các cô gái Thái nhảy sạp là hình ảnh về sự đoàn kết giữa bộ đội

và dân bản Từ điệu múa của một dân tộc thì sạp đã lan tỏa và phát triển mạnh xuống vùng xuôi và trở thành một điệu múa của nhiều dân tộc

Để tìm hiểu về một loại hình sinh hoạt văn hóa độc đáo của dân tộc Thái, tìm hiểu về sự phát triển của nó trong lịch sử, vị trí và vai trò của nó

trong đời sống hiện nay Tôi chọn đề tài nghiên cứu “Sạp Thái ở Tây Bắc

xưa và nay” (nghiên cứu địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) làm đề

tài nghiên cứu của mình

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về người Thái

Người Thái và văn hóa của họ đã thu hút đông đảo các học giả quan tâm nghiên cứu Trong đó có các cuốn sách mang tính sử thi dân gian như

“Quán tố mương” (Truyện kể bản mường); “Táy pú xước” (Theo đường chinh

chiến của cha ông) là các công trình nghiên cứu viết bằng tiếng Thái cổ

Trong những giai đoạn gần đây, người Thái đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh Tác giả Đặng Nghiêm Vạn (1965) trong

bài viết “Sơ lược về sự thiên di của các bộ tộc Thái vào Tây Bắc Việt Nam”, bài viết “Quá trình hình thành các nhóm Tày Thái Việt Nam” năm 1967 Cuốn sách “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái” của nhà xuất bản khoa

học xã hội năm 1977 do Đặng Nghiêm Vạn làm chủ biên

Nhà dân tộc học Cầm Trọng (1978) viết cuốn “Người Thái ở Tây Bắc

Việt Nam” là công trình tổng kết tư liệu và ý kiến nhận xét về nhiều lĩnh vực

của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam Đặng Nghiêm Vạn và Đinh Xuân Lâm

(1979) cùng viết cuốn sách “Điện Biên trong lịch sử” nhà xuất bản khoa học

xã hội là sự tổng kết và hệ thống về lịch sử các dân tộc Điện Biên trong đó có

người Thái từ thời cổ đại đến nay Cầm Trọng (1987) trong tác phẩm “Mấy

vấn đề về lịch sử kinh tế xã hội cổ đại của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”

nhà xuất bản khoa học xã hội

Tác giả Lê Sỹ Giáo công bố một số công trình làm rõ nhiều vấn đề về

người Thái như “Vị trí của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái trong

bản đồ dân tộc học Việt Bắc” Tập san dân tộc học 1981; “Về bản chất và ý nghĩa của tên gọi Thái trắng Thái đen ở Việt Nam” Tạp chí dân tộc học số 3

năm 1988; “Các đặc điểm của nông nghiệp truyền thống của người Thái Việt

Nam” Tạp chí dân tộc học số 1 năm 1992; “Đóp góp của đồng bào các dân tộc miền núi vào chiến thắng Điện Biên Phủ” Tạp chí lịch sử quân sự số 1 năm

1994 và một số tác phẩm nghiên cứu về người Thái ở Tây Bắc và Thanh Hóa

Trang 10

Một số nhà khoa học bàn sâu về một số lĩnh vực khác như tác giả Hoàng

Nam và Lê Ngọc Thắng (1985) “Nhà sàn Thái”, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Cầm Trọng (1987) trong tác phẩm “Mấy vấn đề về lịch sử kinh tế xã hội cổ đại

của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hoàng

Lương (1988) “Hoa văn Thái”, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Hoàng Lương (1990) “Nghệ thuật trang phục Thái”, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc

Trong nhiều công trình nghiên cứu thì cuốn sách “Văn hóa Thái ở Việt

Nam” của tác giả Phan Hữu Dật và Cầm Trọng năm 1995 là tác phẩm nghiên

cứu công phu về người Thái ở Tây Bắc Việt Nam Tiếp theo đó, năm 1999

cuốn “Luật tục của Người Thái ở Việt Nam”, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc do

hai tác giả Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng nghiên cứu làm rõ hơn về lịch sử và

xã hội truyền thống của người Thái ở khu vực Tây Bắc

Ngoài ra, Năm 2001 cuốn sách “Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc

trong cuộc sống hiện đại” của Nguyễn Thị Thanh Nga, Nhà xuất bản khoa

học xã hội công bố hay “Thiết chế bản mường truyền thống của người Thái ở

vùng tây Nghệ An” của tác giả Vi Văn An, “Tri thức bản địa của người Thái ở miền núi Thanh Hóa” của tác giả Vũ Trường Giang, “Sự biến đổi kinh tế - xã hội của người Thái ở Điện Biên từ cách mạng tháng 8 -1945 đến nay” của tác

giả Pichet Saiphan, đặc biệt là 7 hội thảo được tổ chức vào các năm 1991,

1998, 2002, 2006, 2009, 2012, 2015 đã góp phần làm sâu sắc hơn nữa hiểu biết của chúng ta về nhiều khía cạnh của văn hóa Thải ở Việt Nam nói chung

và một số địa bàn cụ thể nói riêng

2.2 Lịch sử nghiên cứu về sạp

Sự hình thành và phát triển của sạp gắn liền với sự phát triển của ba dân tộc Thái, Mường và Khơ Mú Chủ đề nghiên cứu về sạp thu hút nhiều sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều học giả Theo tác giả Tạ Đức trong tác

phẩm “Cội nguồn và sự phát triển của điệu múa sạp” trong Tạp chí văn hóa

dân gian số 2 năm 1982 đã nêu múa sạp là điệu múa dân gian phổ biến của

Trang 11

nhiều dân tộc Đông Nam Á, phản ánh tính thống nhất đa dạng của nền văn hóa Đông Nam Á Ở Việt Nam, múa sạp tồn tại trong hai dân tộc chính đó là người Thái và người Mường Có thể nói rằng, cội nguồn điệu múa sạp chính

là điệu múa “chày giã gạo” có ý nghĩa ma thuật trong các lễ hội nông nghiệp mang tính phồn thực Điệu múa sạp chính là sự phát triển một biến thể của điệu múa giã gạo, trong đó từ động tác múa tới chày – cối thật, chày đặt dọc chuyển sang thành động tác múa với chày thật, cối tượng trưng (thanh gỗ đặt dưới đất) Múa sạp là điệu múa của trai gái hòa hợp, hòa hợp cộng đồng, điệu múa của lao động tình yêu, niềm vui, hi vọng, ấm no và hạnh phúc

Nhà dân tộc học Cầm Trọng (1978) trong tác phẩm “Người Thái ở Tây

Bắc Việt Nam” có nêu điệu múa “xé cắp” có nghĩa là “cạm bẫy” về sau được

các nghệ sỹ cải biên nâng cao thành điệu múa sạp nổi tiếng Điệu “xé cắp” rất đơn giản đó là điệu múa do hai người hỗ trợ một người biểu diễn

Tác giả Lệ Cung (1982) trong tác phẩm “Múa sạp từ múa dân gian đưa

lên sân khấu chuyên nghiệp” đề cập đến người ta bắt gặp múa sạp trong các

hình thức vui chơi, sinh hoạt của người Mường, người Thái và họ đã biết áp dụng vào vui chơi sinh hoạt trong đời sống hàng ngày Lần đầu tiên thì Mai Sao, Thúc Hiệp và Hoàng Bội đã chỉnh lý sáng tạo đưa lên sân khấu chuyên nghiệp của đại hội văn công toàn quân năm 1954 Lúc này múa sạp đã có âm nhạc được lựa chọn và một tốp Thái ngồi gõ sạp, một tốp Mường thì nhảy múa trên sạp

Tác giả Lâm Tô Lộc (1985) trong cuốn “Xòe Thái” xuất bản tại nhà

máy in Tiến Bộ đã trình bày về các điệu xòe của người Thái đó là xòe vòng

và xòe biểu diễn Cuốn sách cũng đề cập đến điệu múa sạp chính là điệu múa nhảy chày của dân tộc Thái Sau được các nghệ sỹ cải biên thành điệu múa sạp hiện nay

Tác giả Vũ Tự Lâm (1986) trong tác phẩm “Âm nhạc trong múa dân

gian hiện nay” có nêu âm nhạc và múa là những hình thức rất cổ xưa trong

Trang 12

lịch sử phát triển nghệ thuật của nhân loại và đó là những loại hình nghệ thuật lâu đời Vốn múa dân gian của các dân tộc Việt Nam hết sức phong phú và bao năm nay các nhà biên đạo ra sức khai thác và phát triển Trong đó sạp, xòe được khai thác nhằm phổ biến rộng rãi trong và ngoài nước

Tác giả Khánh Ngọc (2011) trong bài viết “Vũ điệu tre” trong Toàn cảnh

– sự kiện – dư luận số 247 đã trình bày khái quát cơ bản về sạp ở các nước Đông Nam Á Tác giả cho rằng sạp là điệu múa phổ biến ở các nước Châu Á và đặc biệt là Đông Nam Á Tác giả đã trình bày khá rõ về nguồn gốc, tên gọi và sự phát triển của múa sạp ở các quốc gia này trong đó có cả ở Việt Nam

Ngoài ra tác giả Ngân Quý (1986) trong tác phẩm “Múa dân gian với

thời đại và sự kế thừa phát triển múa dân gian trong lĩnh vực huấn luyện” đã

trình bày về kế thừa và phát triển nghệ thuật múa dân gian là nhiệm vụ tất cả các hoạt động biểu diễn, sáng tác, huấn luyện, nghiên cứu Đó là nhu cầu cấp thiết trong việc xây dựng nền nghệ thuật múa dân tộc hiện đại Múa sạp được sưu tầm, cải biên nhằm khắc phục những yếu kém về múa dân gian trên sân khấu hiện nay Kế thừa và phát triển múa dân gian nhằm đem lại những kiến thức sâu rộng về múa dân gian nhằm làm cho nó có thêm sức gợi cảm, đề cao tính thẩm mỹ trong huấn luyện múa dân gian

Tác giả Văn Lang (2004) với bài “Múa sạp – một vũ khúc kỳ vĩ” số 164

trong Toàn cảnh – sự kiện – dư luận trang 25 – 26 là hồi ức của tác giả về những bất ngờ của điệu múa sạp trong ngày giải phóng thủ đô 10 -10 -1954

và kể về sự ra đời của điệu múa sạp và lời nhạc cho múa sạp Tác giả nêu lên được tâm trạng của các bạn nước ngoài sau khi thưởng thức sự tuyệt diệu của điệu múa sạp

Các tác giả Trương Văn Sơn, Điêu Thúy Hoàn, Nguyễn Thị Mai

Hương (2003) trong cuốn sách viết chung “Múa dân gian một số dân tộc vùng

Tây Bắc” nhà xuất bản văn hóa dân tộc đã trình bày về các điệu múa, động tác

múa của các điệu múa dân gian tiêu biểu các dân tộc ở phía Tây Bắc như

Trang 13

Thái, Mông, Khơ Mú, Hà Nhì trong đó tác giả diễn đạt về các cách đi múa của các điệu múa của người Thái trong đó có múa xòe, sạp và các điệu múa tiêu biểu khác

Luận văn Thạc Sỹ văn hóa học của tác giả Nguyễn Thúy Nga (2005)

với đề tài “Múa dân gian Thái và việc đào tạo múa ở Việt nam” đã trình bày

về đặc điểm, hệ thống đạo cụ, vai trò và giá trị văn hóa – nghệ thuật của múa dân gian Thái và việc bảo tồn, kế thừa múa dân gian Thái trong hệ thống đào tạo trường học

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về sạp của người Thái, tìm hiểu về sự phát triển của sạp và những biến đổi, vai trò của sạp trong đời sống và văn hóa của dân tộc Thái ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên ở Tây Bắc Việt Nam, nơi có lịch sử phát triển lâu đời và gìn giữ được nhiều giá trị văn hóa dân tộc của người Thái ở Tây Bắc

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Khi nghiên cứu về đề tài: “Sạp Thái ở Tây Bắc xưa và nay” (Nghiên cứu

địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) tôi hướng đến một số mục tiêu sau:

Thứ nhất, lý giải một số nguyên nhân ra đời của sạp Thái

Thứ hai, tìm hiểu sự phát triển của sạp Thái trong truyền thống và hiện tại để tìm ra sự biến đổi về hình thức, đạo cụ, các làn điệu và phạm vi

Thứ ba, tìm hiểu vai trò của sạp Thái trong đời sống hiện nay, gắn liền với hoạt động kinh tế và lễ hội

Thứ tư, đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của sạp Thái

5 Cách tiếp cận

5.1 Cách tiếp cận lý thuyết

Theo cách tiếp cận lý thuyết “Sự chân thật và sự chân thật dàn dựng”

Maccannell cho rằng sự hàng hóa hóa đó được xem là tàn phá tính chân thật

Trang 14

của các sản phẩm văn hóa và mối quan hệ của con người; thay vào đó là một thứ “chân thật được dàn dựng” [ 5, tr 100] Và tất nhiên, điều đó chỉ là hình thức triển lãm cho du khách Sự dàn dựng ấy thậm chí còn được chuẩn bị rất công phu và tỉ mỉ đến mức sống động mà du khách có thể hóa thân vào đó để trải nghiệm “Sự chân thật được dàn dựng” được MacCannell lý luận rằng:

“Ý thức của du khách được thúc đẩy bởi mong muốn có những trải

nghiệm chân thật, và du khách có thể tin rằng anh ta đang đi theo đúng hướng này nhưng thường thì rất khó biết được chắc chắn liệu kinh nghiệm mà anh ta có được trên thực tế là chân thật hay không” [5, tr 100] “Du khách bước vào những khu vực du lịch một cách chính xác bởi vì trải nghiệm của họ

sẽ không có tính nhàm chán đối với họ Ngược lại, người dân địa phương tại những nơi mà họ đến thăm lại không xem trọng sự hiện diện của du khách và tiếp tục công việc thường nhật của họ, thậm chí là công việc kinh doanh du lịch của họ, ở mức cao nhất mà họ có thể làm được, đối xử với du khách như

là một phần trong cảnh quan của vùng Du khách thường thật sự xem các khía cạch lặp đi lặp lại trong cuộc sống hàng ngày như là nó thực sự được sống tại những nơi mà họ đến thăm, mặc dù là chỉ có ít du khách bày tỏ sự quan tâm nhiều về việc này” [5, tr 106]

Cách tiếp cận này nhằm nghiên cứu múa sạp trước được sử dụng trong hoạt động lễ hội, dịp vui thì nay được sử dụng trong du lịch, phát triển du lịch gắn liền với bảo tồn tại cộng đồng như là 1 nguồn thu nhập cho cư dân địa phương

5.2 Cách tiếp cận theo chủ nghĩa đặc thù lịch sử của Franz Boas

Theo Franz Boas thì các nền văn hóa khác nhau có thể được hình thành

từ các yếu tố khác nhau, yếu tố đó có thể là môi trường tự nhiên, sự tình cờ lịch sử hay cũng có thể là sự tương tác, tiếp xúc của các nền văn hóa trong quá trình buôn bán, trao đổi hay di cư Nó có thể tạo những yếu tố văn hóa giống nhau mang tính độc lập với bất kỳ phát triển mang tính tiến hóa phổ quát nào Mục đích tìm hiểu, lý giải sự ra đời của múa sạp là sự phát triển có

Trang 15

thể là nội sinh, gắn liền với nông nghiệp mang tính phồn thực, hay gắn liền với săn bắn, cũng có thể là sự giao lưu, học hỏi của các dân tộc khác

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình điền dã và khảo cứu tài liệu thực hiện luận văn này tôi

đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản của Nhân học để thu thập các

dữ liệu cần thiết nhằm tái hiện lại sạp Thái trong truyền thống và những biến đổi của nó trong đời sống hiện đại

Cụ thể, ngoài việc tổng hợp tài liệu nghiên cứu, một khối lượng khá lớn được viết về người Thái, văn hóa Thái, tôi còn tiến hành điền dã dân tộc ở địa bàn nghiên cứu Trong quá trình điền dã, tôi sử dụng quan sát tham gia như một công cụ nghiên cứu chính giúp tôi thâm nhập vào cộng đồng để thấy được nhưng thực hành sạp Thái và hiểu được giá trị, ý nghĩa và vai trò, vị trí của sạp Thái trong văn hóa Thái từ cả góc độ người trong cuộc và người ngoài cuộc

Bên cạnh đó, phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để lắng nghe, học hỏi và thu thập thêm các dữ liệu sâu hơn, cụ thể hơn về nhiều khía cạnh của vấn đề nghiên cứu Tôi đã phỏng vấn những người cao tuổi, các bộ địa phương và các cán bộ có trách nhiệm ở các cấp cao hơn, những người dân ở các cộng đồng ở địa bàn nghiên cứu

Trong quá trình điền dã dân tộc học, với sự hỗ trợ của máy ghi âm, máy ghi hình, tôi cũng thu thập và ghi lại được nhiều tư liệu sống giúp ích cho việc viết luận văn

7 Kết quả và đóng góp của luận văn

Luận văn là bước đầu tìm hiểu, lý giải một số nguyên nhân ra đời của sạp Thái, tìm hiểu vị trí, vai trò của sạp Thái trong đời sống tinh thần của dân tộc Thái ở huyện Điện Biên

Tìm hiểu về sự biến đổi của sạp Thái trong truyền thống và hiện tại Sự biến đổi về hình thức, nội dung và phạm vi của sạp Thái

Trang 16

Vai trò của sạp Thái hiện nay trong đời sống của đồng bào dân tộc Thái

ở huyện Điện Biên

Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Thái trước sự tác động của nền kinh tế hiện nay

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và một số phụ lục, tài liệu tham khảo, bản

đồ ra Bố cục của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số nét về địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Sạp Thái truyền thống

Chương 3: Sạp Thái hiện nay: Biến đổi và bảo tồn

Trang 17

Chương 1 MỘT SỐ NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Điều kiện tự nhiên

Huyện Điện Biên là một huyện vùng núi biên giới nằm ở phía Tây Nam tỉnh Điện Biên Huyện Điện Biên có diện tích tự nhiên là 163.926,03 ha, với

25 đơn vị hành chính xã, trong đó có 12 xã lòng chảo và 13 xã ngoài là vùng sâu, vùng xa Trong 25 xã của huyện có 18 xã, 8 bản thuộc xã khu vực II được thụ hưởng chương trình 135, có 12 xã biên giới Phía Bắc giáp huyện Mường Ẳng, huyện Mường Chà; phía Nam giáp huyện Phôn Thoong tỉnh Luông Pra Bang nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía Đông giáp huyện Sốp Cộp tỉnh Sơn La và huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên; phía Tây giáp huyện Mường Mày tỉnh Phong Sa Ly nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Huyện Điện Biên có đường biên giới Việt Lào dài 154 km, có cửa khẩu quốc tế Tây Trang và cửa khẩu quốc gia Huổi Puốc

Tên cũ của huyện Điện Biên là Mường Thanh Nhà Thái học Cầm Trọng cho rằng Mường Thanh là tên cũ của Mường Then, một tên mường gắn với các thần thoại, truyền thuyết về sự phát sinh ra dân tộc Thái, là đất tổ của nhiều ngành Thái ở Đông Nam Á Khi Lạng Chượng đưa bộ phận người Thái Đen từ Mường Lò vào Mường Thanh thì Mường Thanh lúc đó gọi là Song Thanh vì ở lòng chảo rộng lớn này có 2 Mường: Thanh Nưa (Thanh Trên) cắm từ bản Noong Hẹt đổ ngược về đầu sông Nậm Rốm, tại đây trung tâm Mường Thanh là của toàn châu mường Thanh Tảư (Thanh Dưới) từ bản Noọng Hẹt đổ về cuối sông Nạm Rốm, tại đây có Viêng Xam Mứn (Tam Vạn Thành) cổ kính của người Lự xây dựng

Huyện Điện Biên là vùng có địa hình phức tạp vừa có núi non và vừa

có cánh đồng rộng lớn Những dãy núi cao với độ cao từ 500-1000 mét so với mặt nước biển Dãy núi Pú Xam Xao chạy dọc biên giới Việt Lào, với đỉnh

Trang 18

núi cao nhất là đỉnh núi Pu Đen cao 1886m Phía Bắc là dãy núi lớn đá vôi đó là dãy Tây Trang của đất Điện Biên qua Lào Sang phía Đông là dãy núi cao 1200

m đến 1700m từ đó xòe ra thành ba dãy, dãy thứ nhất chạy theo hướng Tây Nam đến dòng sông Nậm Mức, dãy thứ hai chạy theo hướng Bắc Nam dọc theo phía Đông cánh đồng Mường Thanh tới Mường Phăng tạo thành một cao nguyên, dãy thứ ba ngắn nhất chạy theo hướng Đông Nam đến cánh đồng Tuần Giáo

Thung lũng lòng chảo Điện Biên gồm có hai con sông gồm sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa Sông Nậm Rốm phát nguyên từ dãy núi giữa Na Tấu

và Mường Đặng qua Na Nhan hợp lưu với Nậm Phăng, qua lòng chảo hợp lưu với 28 nhánh suối khác, chạy xuyên qua tiểu vùng theo hướng Bắc Nam Diện tích lưu vực 500 km2, độ dốc là 4%, các suối thuộc lưu vực sông Nậm Rốm có tất cả 28 nguồn suối trong đó có 7 nguồn suối có nước quanh năm và cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp Sông Nậm Núa có hai nhánh Nậm Núa chảy từ Mường Nha về Nậm Ngan chảy từ Pu Nhi về hợp lưu ở Nậm Ngan (Na Sang) lấy tên là Nậm Núa, chảy theo hướng Đông Tây đến Pá Nậm (Sa Mứn) hợp lưu với Nậm Rốm chảy qua Nong Luông, Pa Thơm sang Lào hợp lưu với Nậm U

Giữa các dãy núi trên là cánh đồng Mường Thanh rộng hơn 150 km2 là cánh đồng lớn nhất tỉnh cả Tây Bắc Có câu: “nhất Thanh, nhì Lò, tam Than,

tứ Tấc” thể hiện rõ vị trí và vai trò của cánh đồng Mường Thanh Mường Thanh là thuộc Điện Biên, Mường Lò là thuộc Yên Bái, Mường Than thuộc Lai Châu, Mường Tấc thuộc Sơn La

Khí hậu của huyện Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao Mùa Đông tương đối lạnh và ít mưa Mùa hè nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến bất thường, phân hóa đa dạng, ít chịu ảnh hưởng của bão, chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21-23

độ C, lượng mưa trung bình từ 1700-2500 mm, độ ẩm 83-85%

Trang 19

Đặc điểm tự nhiên của huyện Điện Biên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh tế, văn hóa tộc người Chính những điều kiện trên đã hình thành nên nền văn hóa người Thái ở huyện Điện Biên phong phú và đa dạng

1.2 Người Thái ở huyện Điện Biên

Theo thống kê của Phòng Dân tộc huyện Điện Biên thì năm 2014 dân

số của huyện là 113.651 người, gồm 8 dân tộc cùng chung sinh sống Trong

đó, dân tộc Thái có 57.512 người chiếm tỷ lệ 51,35% tổng dân số của huyện Tiếp đó, dân tộc Kinh gồm có 31.203 người, chiếm 27,86% Dân tộc Hmông

là 11.289 người chiếm 10,8% Dân tộc Khơ Mú là 6.160 người chiếm 5,5% Dân tộc Lào là 2.822 người chiếm 2,52% Còn lại là các dân tộc khác Như vậy người Thái là cư dân tập trung đông nhất của dân số toàn huyện

Từ trước tới nay, người Thái ở huyện Điện Biên nói riêng và cả Tây

Bắc nói chung đều nhận mình là “côn tay” hay “phủ tay” tức là người Thái

(côn, phủ là người) tay (Thái) cũng như người Tày ở vùng Đông Bắc tự gọi

mình là “cần tày” Có hai ngành Thái là “tay đăm” (Thái Đen) và “tay khao” hay “tay đón” (Thái Trắng) Người Thái Đen cư trú chủ yếu ở huyện Điện

Biên và thành phố Điện Biên Phủ, huyện Tuần Giáo Người Thái Trắng cư trú chủ yếu ở huyện Mường Lay, Mường Chà

Về lịch sử của người Thái ở Tây Bắc và người Thái ở huyện Điện Biên

là một vấn đề khá phức tạp Qua các nguồn tài liệu, tác giả Hoàng Lương khẳng định:

“Cư dân Phùng Nguyên - Đông Sơn và cư dân Tày Thái cổ có mối quan

hệ nội sinh Có thể người Tày Thái cổ xưa là một trong những thành viên quan trọng của khối cộng đồng cư dân Phùng Nguyên - Đông Sơn và họ tạo dựng và phát triển nền văn minh Đông Sơn ở Việt Nam” [20, tr 3-8]

Tác giả Hà Văn Tấn nhấn mạnh:

“Trong văn hóa Đông Sơn có những đặc điểm văn hóa tồn tại ở một số

dân tộc hiện nay nói tiếng Môn-Khơ me hoặc tiếng Thái cho nên cư

Trang 20

dân văn Lang (nói chính xác là cư dân Đông Sơn) chính là cư dân nông nghiệp lúa nước Trong lớp cư dân đó người Thái cổ lúc đó đang sinh sống xung quanh vịnh Hà Nội.” [ 28, tr.23-34]

Mường Thanh, Mường Then, Mường Theng hay Mănh Thiên là tên gọi xưa nhất của Điện Biên Thời Hùng Vương, đất Mường Thanh thuộc bộ Tân Hưng Thời Lý nằm trong địa hạt Châu Lâm Tây Đến Đời Trần, Mường Thanh thuộc châu Ninh Viễn, lộ Đà Giang Đầu thời Lê, Mường Thanh thuộc châu Phục Lễ (Lai Châu) trấn Gia Hưng Năm 1463 trấn Hưng Hóa được lập, Mường Thanh lúc đó thuộc phủ An Tây gồm 10 châu: Lai, Luân, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Tùng Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Tuy Phụ và Khiêm Đời

Lê Cảnh Hưng (1740-1768) 6 châu bị nhà Thanh chiếm, phủ An Tây chỉ còn

4 châu là Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Lai và Luân

Khoảng thế kỷ X, trong quá trình khai khẩn ruộng nước tạo thành cánh đồng rộng lớn, con cháu của Khum Bó Rôm đã xây dựng Mường Thanh thành một mường lớn Đến thời Lạn Chượng, Mường Thanh phát triển cực thịnh Sau này Mường Thanh được ghi chép trong sách Hưng Hóa xử phong thổ lục của Hoàng Bình Chính với cái tên Động Mãnh Thiên (một phiên âm của chữ hán) lúc đó thủ lĩnh phong trào nông dân nổi tiếng là Hoàng Công Chất đã lấy trung tâm Mường Thanh để xây đắp thành lũy gọi là thành Phủ Chiềng Lè (trình lệ) thời đó Mường Thanh trở thành một căn cứ trung tâm nông dân nổi dậy chống triều đình Lê Trịnh mục nát và là trung tâm của toàn khu vực

Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) tên Điện Biên Phủ được đặt cho vùng lòng chảo Mường Thanh, Điện có nghĩa là vững chãi, Biên có nghĩa là vùng biên ải; đổi phủ An Tây thành phủ Điện Biên Tháng 5 năm 1841 theo

đề nghị của Nguyễn Khắc Thuần xin lập phủ Điện Biên gồm châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu được vua Thiệu Trị phê chuẩn đóng phủ lị ở Chiềng

Lề Châu Ninh Biên nay thuộc Bản Phủ, xã Noong Hét Từ đó Mường Thanh mang tên Điện Biên Phủ [44,tr 232]

Trang 21

Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) đặt làm 2 tổng: tổng Phong Thanh gồm có 7

xã, tổng Tiên Phong có 6 xã Đến năm Tự Đức nguyên niên (1848) đặt riêng thành phủ Điện Biên và có 9 xã là Bà Man, Bình Đôm, Noọng Hẹt, Bá Đạo, Mãnh Gia, Trần Cư, Đồng Lâm, Chiêu Lai, Bình Thản và 4 xã cũ thành 13 xã

Năm 1883 quân đội Pháp bắt đầu đánh chiếm Hưng Hóa, mãi đến ngày

23 tháng 1 năm 1988 quân Pháp mới chiếm được Điện Biên Năm 1908 Pháp lập ra các tỉnh Sơn La, Lai Châu Thời Pháp, Điện Biên mấy lần thuộc các tỉnh này Sau cách mạng Tháng 8 thành công, thực dân Pháp quay lại chiếm Điện Biên và sau khi chiếm xong Tây Bắc thực dân Pháp lập ra “xứ Thái tự trị” (1948) gồm 16 châu chia làm 3 tỉnh và Điện Biên thành một châu

Ngày 7/5/1954 sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ từ đây Điện Biên

có tên trên bản đồ thế giới Khi nhắc tới Điện Biên là nhắc tới chiến thắng này Năm 1953 khu Tây Bắc được thành lập theo sắc lệnh số 134-SL ngày 28/01/1953 để củng cố căn cứ địa Tây Bắc mới giải phóng gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu Tháng 4 năm 1955 Điện Biên nằm trong khu

tự trị Thái - Mèo Tháng 10 năm 1962 đổi thành khu tự trị Tây Bắc gồm ba tỉnh Lai Châu, Nghĩa Lộ và Sơn La Năm 1975 khu tự trị Tây Bắc giải thể, tỉnh Lai Châu được thành lập bao gồm cả Điện Biên Năm 2004 Điện Biên là một tỉnh riêng gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện gồm huyện Điện Biên Đông, huyện Mường Nhé, Mường Ẳng, Mường Chà, huyện Tủa Chùa và huyện Tuần Giáo

Trải qua lịch sử nhiều thế kỷ, dân tộc Thái vẫn giữ gìn được văn hóa

của mình với hai yếu tố đó là bản lĩnh và bản sắc: “Một dân tộc có bản lĩnh

vững vàng sẽ phá huy được bản sắc của mình Một dân tộc luôn luôn phát huy được bản sắc của mình chứng tỏ dân tộc đó có bản lĩnh” [38, tr 24] Một

cộng đồng tộc người có nền văn hóa lâu đời

Trang 22

1.3 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội

1.3.1 Đặc điểm kinh tế

Cũng giống như các dân tộc khác ở miền núi phía Bắc, người Thái ở huyện Điện Biên có những hoạt động kinh tế trong đó nổi bật là ba hoạt động chính: sản xuất nông nghiệp ; hoạt động chăn nuôi, săn bắn và hoạt động kinh

tế tự nhiên

1.3.1.1 Sản xuất nông nghiệp

Đây là loại hình kinh tế chủ đạo và đóng vai trò chính trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm của người Thái Sản xuất nông nghiệp chiếm gần 80% số lượng cư dân Việt Nam làm nông nghiệp Trong các dân tộc thiểu số

ở Việt Nam thì người Thái có một nền nông nghiệp lâu đời trên cơ sở canh tác ruộng nước thung lũng Trong tiến trình phát triển nông nghiệp ở Việt Nam

và Đông Nam Á thì theo Giáo sư Hà Văn Tấn cũng khẳng định có hai giai đoạn nông nghiệp đó là giai đoạn củ - quả tương ứng với văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn và giai đoạn lúa tương ứng với giai đoạn Hậu kỳ đá mới Tác giả Lê

Sỹ Giáo nhận định rằng: “Nền nông nghiệp truyền thống của người Thái là

một thành tố quan trọng cấu thành nên nền nông nghiệp trồng lúa nước kiểu Đông Nam Á”[9, tr 36]

Người Thái rất coi trọng thóc lúa và sản xuất nông nghiệp trồng trọt

Người Thái có câu “khảu nặm năng nưa, ngấn cắm năng tảu” (thóc lúa ngồi trên, vàng bạc ngồi dưới) Người Việt có câu “ngồi đống thóc, móc đống tiền”

Người Thái Điện Biên canh tác chủ yếu trong cánh đồng Mường Thanh, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, các thung lũng thường có sông suối chảy tạo thành những đồng bằng lớn nhỏ, rất thuận lợi cho việc cấy lúa Các cánh đồng tiếp giáp với chân núi thuận lợi cho việc làm ruộng Người Thái đã khai thác thiên nhiên này hàng nghìn năm Nông nghiệp trồng trọt là cơ sở, tiền đề của hoạt động kinh tế Người Thái trồng nhiều loại cây nhưng lúa là cây phổ biến và mạng lại hiệu quả kinh tế cao nhất Bởi vậy, người Thái có truyền thống làm ruộng lâu đời

Trang 23

Sản xuất nông nghiệp chủ yếu dưới các hình thức ruộng và rẫy Người

Thái ở Điện Biên gọi là “po hay, me na” (ông rẫy - bà ruộng) giữa canh tác ruộng và rẫy thì người Thái coi trọng ruộng hơn rẫy, người thái có câu: “na

pên ải, hay pên noọng” (ruộng là anh, rẫy là em) và tầm quan trọng của ruộng

đã được đúc kết trong câu tục ngữ “hay têm ta bỏ, lừa na hới quàng” (ruộng rẫy hút tầm mắt cũng không bằng một thửa ruộng rộng” Lối canh tác “na” (ruộng) và “hay” (rẫy) là hình thức canh tác nông nghiệp rất quan trọng trong

đời sống cư dân người Thái mà cây lúa là cây lương thực chính Việc canh tác ruộng và rẫy được thể hiện như sau:

Canh tác ruộng nước

Thứ nhất, hoạt động canh tác ruộng nước đầu tiên phải kể đến là trồng lúa Cây lúa có nguồn gốc từ các loài cây hoang dại, và con người nhờ phát hiện nó thuần dưỡng trở thành cây lương thực chính Truyền thuyết của người Thái cũng cho rằng nhờ có loài chim sẻ biết ăn một thứ quả trong một loài cỏ dại mà con người bắt chước thu lượm làm thức ăn cho mình, ăn thứ quả này

và con người thấy khỏe mạnh và họ đã xua đuổi loài chim giành lấy quyền thu nhặt Loài cỏ dại đó chính là những hạt lúa dại đầu tiên mà người Thái cổ

biết đến và gọi nó là “khảu nộk pít” (lúa chim sẻ)

Về cây lúa của người Thái có hai loại lúa chính đó là lúa nếp và lúa tẻ

Lúa nếp gọi là “khảu niêu” có ý kiến cho rằng nó là cây lúa được thuần hóa

trước Cây lúa tẻ là “khảu tẻ” được thuần hóa sau Mặc dù ngày nay lúa tẻ được coi là cây lương thực phổ biến nhưng cũng phải thấy dấu ấn của thời ăn nếp đã qua của tổ tiên người Việt Vùng Đông Nam Á là vùng phân bố rộng lớn của lúa nếp và duy nhất trên thế giới

Người Thái đã chọn được hàng trăm loài lúa nếp và coi đây là cây

lương thực chính của mình Theo tác phẩm Quán Tố Mương thì “từ khi sinh

loài người ở trần gian đã có 330 giống lúa dưới rộng (mi xam họi xam xíp xính khảu naư nạ” [38, tr 17] Với số lượng lúa nếp tính đến hàng trăm ấy,

Trang 24

người ta đã phân thành hai loại đó là loại nếp mang tên “tan” là loại nếp dùng nhíp ngắt từng bông để bó thành từng cụm, treo trên gác trong nhà, gạo dẻo,

thơm ngon, dùng trong bữa ăn hàng ngày Loại thứ hai tên là “nhoi” nghĩa là

nếp thường là loại giống khỏe, trồng đại trà cả dưới ruộng hoặc trên nương

Các tác giả Lê Ngọc Thắng và Lâm Bá Nam cho rằng: “Người Thái có

nhiều loại lúa nếp trong đó “nếp tan” là loại có nhiều đạm, thân cứng, gạo thơm ngon, hạt nếp tan dài, vỏ màu vàng nhạt Nếp tan cũng có nhiều loại như “tan nhe” “tan lư” “tan lanh” “tan ngấn” được xếp vào loại tốt nhất và gọi là “me khảu” (mẹ lúa) Ngoài nếp tan còn có hàng chục loại nếp như

“khảu mắc khừa” “khảu lính” “khảu lá bài” còn “khảu xẻ” lúa tẻ được dùng rất ít vì thói quen của người Thái là ăn nếp Tục ngữ có câu: “mạ bâu kin nhà xảy, táy bâu kin khảu xẻ” (ngựa không ăn lá cỏ nước, người Thái không ăn cơm tẻ) [33, tr 31] Hiện nay, người Thái ở Điện Biên cũng chuyển

sang ăn cơm tẻ nhưng ngày lễ tết, ngày cúng cơm mới đều phải ăn nếp

Người Thái gọi ruộng lúa nước là “na” đây là vùng có diện tích mặt

bằng, có bờ ngăn giữ nước để trồng lúa Có hai loại hình đồng ruộng đó là bậc

thang và ruộng bằng phẳng Một cánh đồng được gọi là “tống na” trong “tống

na” có nhiều “hon na” (phần ruộng) và trong “hon na” lại có nhiều “hới na”

(thửa ruộng) Na của người Thái ở Điện Biên có diện tích mặt bằng tương đối

rộng lớn, có các bờ ngăn và giữ nước để trồng lúa Việc tạo ra các “tống na”

là làm bờ ngăn để chia thành nhiều thửa ruộng phù hợp với độ cao, thấp của

mặt bằng “na hon” và “na tén” vốn không có mặt bằng nên người dân phải

cải tạo ra mặt bằng rồi đắp bờ ngăn nước

Việc khai phá thành lập các ruộng đồng của người Thái có thể được sử dụng bằng hình thức tập thể của các thủ lĩnh quân sự đã dùng lực lượng lao động của các chiến binh vào công cuộc khai phá và sau này khi bản mường

được ổn định thì các “tạo” lại sử dụng các lực lượng lao động như “pụa, páy,

cuông, nhốc” để khai phá Ngoài ra, các nông dân cũng khai phá thêm các

ruộng như “na tí” để mở rộng sản xuất

Trang 25

Người Thái ở Điện Biên phân chia ruộng theo ba hình thức đó là phân chia theo địa hình, theo nguồn nước và theo địa vị xã hội: Việc phân chia theo địa hình có ruộng thung lũng và ruộng bậc thang Ruộng thung lũng được gọi

là “na tống” thường là bằng phẳng Ruộng bậc thang là “na xung” địa hình khác nhau gồm có “nà loọng” (ruộng trũng), “na hon” (sườn dốc) và “na tén” (ruộng cao ít nước) Việc phân chia theo nguồn nước có hai loại là “na nặm

phạ” hay “na nặm phổn” (ruộng nước mưa) và “na nặm ché” (ruộng nước

ngâm) Việc phân chia theo địa vị xã hội như ruộng do người đứng đầu khai

phá thì có “na tạo lo” (ruộng tạo lo); do mường khai phá thì là “na mương”; ruộng tự khai phá là “na tí” Ruộng của giai cấp trong xã hội thì có “na tạo”,

“na chảu sửa” là ruộng quý tộc “Na páy” là ruộng nhà nghèo và ruộng do dân tộc khai phá như “na phẻ” (ruộng người Lự, “na xả” (ruộng người Xá)

Về hệ thống thủy lợi thì người Thái đã canh tác ruộng nước kiểu thung lũng và thường được tạo bởi một hay nhiều dòng suối hoặc con sông và các chi lưu của nó Dòng sông Nậm Rốm và các con suối chảy qua cánh đồng Mường Thanh và người Thái đã có biện pháp dẫn thủy nhập điền Người Thái

đã có bốn chữ nói lên bốn giải pháp xếp gọn trong câu thành ngữ “mương,

phai, lái, lin” Người Thái có câu “mi nặm chẳng pên na, mi na chẳng pên khảu” (có nước mới lên ruộng, có ruộng mới lên lúa) Người Thái đã xây

dựng bản mường dựa trên một hệ thống thủy lợi ổn định Người Thái có câu:

“mi nặm chẳng mi nương, mi mường chăng mi tạo”

(có nước mới lên mương, có mường mới lên tạo)

Theo tác giả Lê Sỹ Giáo thì:

“a, “phai” là đập chắn ngang các dòng sông suối

b, “mương” là các đường dẫn nước to, nhỏ khác nhau trong đó có thêm

“lái, lin” là mối lái uốn dòng nước và dẫn nước từ cao xuống thấp, từ thửa này sang thửa khác” [ 9, tr 40]

Trang 26

Phai là một loại dập ngăn suối, sông, cọn được dựng bằng gỗ, tre, nứa và đất để dẫn nước đổ vào mương tới ruộng Phai quyết định lưu lượng nước trong mương Phai giữ vững thì mương có nước tưới cho ruộng và mùa màng đảm bảo thu hoạch tốt Ngược lại, phai vỡ, mương khô, ruộng cạn, mùa màng thất

bát Người Thái có câu: “po tai phai păng, po nhăng phai mẳn” (phai vỡ như

cha chết, phai vững như cha còn) Ở Điện Biên có hai kiểu phai đó là phai có

đà và phai không có đà Phai có đà là phai đặt một cây đà chéo theo dòng chảy, cây đà này được đặt trên các cành tre có ngạnh giữ và đóng cọc xuống đáy lòng sông, suối Sau đó đắp đất, đá, rơm ngăn dòng chảy Phai không có đà là những suối cạn, chảy chậm và đắp đất, đá rơm hình sống lưng trâu

Mương là đường dẫn nước vào ruộng thường có ba loại là mương chìm (mương đào), mương nối (mương đắp) và mương nửa chìm, nửa nổi (vừa đào, vừa đắp)

Lin là hệ thống máng dẫn nước vào ruộng Hệ thống này thường làm bằng các cành cây có dóng như tre, hương, vầu

Nhờ có hệ thống mương, phai, lái, lin mà người Thái dẫn nước vào và khai phá đồng ruộng và các đất ở thung lũng được khai phá, việc khai phá đất thành lập các bản, mường giúp cho người Thái ổn định cuộc sống Với những sáng tạo văn hóa thể hiện tư duy bản lĩnh của người Thái trong việc làm thủy lợi và ổn định cuộc sống

Người Thái có biện pháp kỹ thuật, chọn thời vụ, con giống và chăm sóc, thu hoạch lúa rất tốt Cũng kỹ thuật làm ruộng đất ngày xưa người Thái

đã sử dụng phương pháp trâu quần (ôn na) rồi cấy Đó là phương pháp canh tác kỹ thuật nguyên thủy xuất hiện trước khi có cày, bừa mà cha ông người Thái đã áp dụng và rất có hiệu quả Phương pháp này là trước khi cấy, người

ta tháo nước vào các chân ruộng để ngâm nước cho đất mềm và ngấm nước Sau đó lùa trâu sơ qua một lượt rồi phát bờ, nhổ mạ Sau đó lùa trâu lần 2 để sục bùn, đất nhuyễn mới cấy Phương thức trâu quần theo đường vòng tròn rồi

Trang 27

lan rộng ra ngoài Hiện nay, nhờ xuất hiện có cày mà người Thái thường cày 2 lần, lần đầu là cày lật đất, tháo nước, ngâm ruộng và lần hai là cày tơi đất, để tiến hành cấy Khâu làm mạ cũng được coi trọng thóc được làm sạch, ngâm nước ba ngày ba đêm, rồi vớt lên, ngâm ủ nảy mầm rồi gieo hạt sau ba mươi ngày thì đem cấy

Việc cấy lúa phải đúng thời vụ, việc làm đất phải nhanh để kịp thời vụ nếu làm đất tốt mà cấy không đúng thời vụ thì năng suất sẽ thấp Người Thái

có câu: “dệt đi tai giác, dệt cá xác cá xịch đầy kin” (làm lâu chết đói, làm vội được ăn) hay “hua pi đăm xở ké pá nhà cá pên, là pi đăm xở ké pống quái cỏ

bỏ pên” (đầu vụ cấy lúa trên đám cỏ cũng lên, cuối vụ cấy lúa trên vũng trâu

bùn cũng hỏng)

Người Thái xưa chỉ cấy một vụ và chỉ ăn nếp, các loại lúa tẻ cấy rất ít Sau khi học hỏi kinh nghiệm của người Kinh thì người Thái ở Điện Biên cũng

đã cấy hai vụ Vụ mùa “na mua” năng suất cao hơn nên được gọi là vụ anh

Vụ chiêm “na xeng” là vụ em

Người Thái thường gặt lúa bằng liềm sau khi gặt xong thì phơi thóc, lúa ngay ở bờ ruộng rồi sau đó mang về kho,về nhà Hiện nay, người Thái gặt xong, mang về nhà, người Thái bón phân rất nhiều các loại phân mùn của rừng, còn ủ cả rơm, phân chuồng và phân hóa học các loại

Canh tác nương rẫy

Ngoài canh tác ruộng nước ra, người Thái còn canh tác nương rẫy Sở

dĩ người Thái canh tác nương rẫy là vì một số lý do sau: Thứ nhất là nương rẫy cung cấp thức ăn tinh bột, các loại sắn, ngô, kê nó đa dạng các loại cây trồng Thứ hai là khi xưa chế độ phìa tạo dựa trên bóc lột tô thuế vào nền tảng ruộng nước thì nương rẫy được thừa nhận là đất không chủ Thứ ba là rẫy có

thể bù đắp nếu như làm ruộng lúa bị mất mùa đói kém Tục ngữ có câu: “xia

mua na, nhăng mi mua hay” (mất mùa ruộng còn có mùa rẫy bù đắp)

Trang 28

Rẫy (hay) là khoảng đất rừng được người ta chặt phá, đốt để lấy diện tích

trồng trọt Đây chính là lối canh tác “đao canh hỏa chủng” (phá đốt gieo trồng)

còn có các loại rẫy như hay lao (nương mới chặt), hay lộc (nương rẫy trồng vụ thứ hai) và hay lựm (nương rẫy trồng vụ thứ ba) Người Thái ở Điện Biên canh tác nương rẫy kết hợp với làm ruộng giúp cho họ có cuộc sống tốt hơn Ở Điện

Biên có các nương rẫy như rẫy lúa (hay khảu) rẫy ngô (hay bí) rẫy kê (hay

phàng) Dựa theo địa hình thì có rẫy dốc - rẫy bằng (hay pu - hay piêng) Theo

kỹ thuật thì có (hay bai) rẫy dùng cuốc, (hay thay) rẫy dùng cày, (hay huốt) rẫy phá dao, rìu Các loại hình rẫy có (hay pá đông) rẫy phát từ rừng già (hay pá

láu) rẫy phát từ rừng non Công việc làm rẫy được tiến hành từ tháng hai âm

lịch Đầu tiên, người ta đi quan sát các khu rừng có thể làm rẫy để chọn mảnh nào ưng ý nhất, theo kinh nghiệm của người Thái khi chọn đất phải có địa hình lòng máng, thoai thoải, độ dốc vừa phải là đất tốt, nơi đất ít bị giun đào xới, đất

có màu đen, xốp, hơi ướt và có thể dùng dao cắm xuống đất được là đất tốt, khi

chọn đất xong người ta đánh dầu bằng cách cắm “ta leo”

Việc phát nương rẫy bắt đầu từ tháng 3 và tháng 4 khi mà thời tiết khô ráo, người Thái dàn hàng ngang rồi phát từng phần một theo chiều từ dưới lên đỉnh núi, khi phát thường nhổ sạch cỏ, phát dứt dây leo rừng, các loại cây nhỏ, bụi nứa phát hết không cho mọc quá cao Sau đó chặt bỏ các cây to, phát cành và lá Khi phát xong, họ để cách rừng khoảng 3 đến 10 mét để khi đốt cây khô, không ảnh hưởng đến cháy rừng Tháng 5 khi mà trời khô, có gió lào, nóng là lúc thích hợp nhất để đốt nương Khi đốt hết phải đảm bảo không gây cháy rừng và đốt hết các cành cây Sau khi đốt xong, họ để khoảng 3 ngày trở đi mới bắt đầu gieo hạt Khi gieo hạt người Thái thường theo hàng ngang từ dưới chân núi đi lên Việc gieo thường là theo hốc và mỗi hốc cách nhau từ 30 đến 50cm Từng người có thể tự chọc lỗ và tra hạt cũng có khi nam chọc lỗ, nữ tra hạt Công việc khẩn trương để đón cơn mưa đầu mùa vào tháng 6 Khi mưa thì nước mưa chảy theo bề mặt cuốn theo lớp tro cháy tràn

Trang 29

vào các hốc phủ kín lỗ tra hạt vừa giữ ẩm vừa là phân bón cho cây Người Thái Điện Biên cũng làm rẫy theo mùa vụ Một năm có thể làm một đến hai

vụ nhưng hiện nay chủ yếu là hai vụ (“hay mua” là rẫy vụ mùa còn “hay đo”

là rẫy vụ chiêm)

Việc làm rẫy phải khẩn trương cho phù hợp với sự phát triển của các loại hoa quả trong rừng Người Thái đã trải qua bao đời, đúc kết được những

câu thành ngữ về sự phát triển của cây lúa nương “bươn chết khảu heo hẹt,

bươn pét khảu màn, bươn càu khảu dú lộc hoi quai cả cộng, bươn xíp bỏ híp

cả đòi” (tháng bảy lúa mọc cao, tháng tám lúa làm đòng, tháng chín lúa ở vết

chân trâu cũng trổ, tháng mười không gặt lúa sẽ mục thân, gãy gọng)

Nếu ở ruộng khâu cấy quyết định kịp thời vụ hay không thì ở làm nương khâu đốt và gieo quyết định đạt thời vụ và năng suất làm nương Người Thái ở Điện Biên thường chọn nhiều loại cây trồng và nhiều loại lúa làm nương để đề phòng mất mùa, mất loại này còn có loại khác thay thế

Người Thái thường trồng nhiều loại lúa nếp, mỗi loại có đặc tính riêng

về sức chịu đựng và nắng hạn, năng suất cao hay thấp, dẻo hay cứng, bông dài hay bông ngắn, hạt tròn hay mẩy Có nhiều loại nếp được gieo trồng trên

nương như Khảu dòi (hạt màu đỏ, bông dài) khảu boóc mạy, khảu lệp mươi (hạt đen) khảu lương cuối (màu vàng) khảu cắm (nếp cẩm) khảu vai, khảu

hin, khảu tin cú, khảu hang ngua

Việc làm rẫy người Thái thường làm hai đợt đó là đợt một khi cấy lúa sau một tháng, việc làm cỏ, chặt bỏ dây leo, cỏ mầm, việc này vất vả và bận rộn nhất Đợt hai là khi lúa làm đòng, việc chặt bỏ dây leo, phá bỏ ổ chuột và phát quang bụi rậm, rào lúa và làm chòi để bảo vệ ruộng, đặt các loại bẫy và

cờ xua đuổi các loại phá hoại mùa màng

Khi lúa chín vào tháng chín, tháng mười âm lịch thì người Thái thu

hoạch, trước khi thu hoạch người Thái làm lễ cúng nương (hạch) để mở màn

mùa gặt Lúa được ngắt từng bông, bó thành cum, phơi trên nương, rồi vận chuyển về nhà Ngày nay, người Thái vận chuyển lúa về ngay sau thu hoạch

Trang 30

Như vậy, việc canh tác nương rẫy vừa tận dụng được diện tích đất rừng, vừa khai thác được tài nguyên đất của rừng Việc chọc lỗ tra hạt làm đất ít bị bạc màu và chống xói mòn tốt Việc luân phiên canh tác diện tích đất giúp cho đất được nghỉ ngơi đảm bảo tái sinh rừng Nâng cao đời sống của nhân dân và hạn chế du canh du cư

1.3.1.2 Kinh tế khai thác tự nhiên

Các hoạt động kinh tế tự nhiên của người Thái bao gồm các hoạt động như hái lượm, đánh cá và săn bắn góp phần phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống Hoạt động hái lượm là khai thác các sản vật thu được từ hái lượm rất phong phú Các loại rau rừng, rễ cây, các loại lá, các loại lộc non, hoa quả, măng, rêu đá, các loại nhuyễn thể, tôm, cua, ốc, hến Việc hái lượm chủ yếu là phụ nữ và trẻ em Việc đi rừng lấy các loại măng, mật ong đòi hỏi sức lao động của đàn ông Việc sống ở rừng và khai thác các sản vật có sẵn trong tự nhiên đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh tế của người Thái ở Điện Biên

Đánh cá là một ngành kinh tế phụ trong đời sống của người Thái Đánh bắt cá là công việc của nam giới và đòi hỏi sức khỏe, nhanh nhạy và tinh thần

tập thể Người Thái có câu: “nhinh dệt phải, trai xán he” (gái dệt vải, trai

đánh cá) đây là một trong những hoạt động kinh tế truyền thống của người Thái Người Thái đã sáng tạo ra nhiều phương thức đánh bắt cá với những dụng cụ như he (chài) duốc cá, lưới, thả lưới, quăng chài, đặt đó, làm chặng, làm li để chắn dòng suối bắt cá Ngoài đánh bắt cá bằng hình thức cá nhân,

người Thái còn đánh bắt cá tập thể (tức văng) tại những vùng cấm (văng hảm)

thuộc các con suối gần bản, mà theo quy định của bản là chỉ một năm mới được đánh bắt một lần Trước kia việc nuôi cá tại ruộng là hình thức truyền thống của người Thái khi lúa gần được thu hoạch, người Thái tháo nước và đánh bắt cá, mang cá về làm mọc, nướng để cúng cơm ma nhà Ngày nay, người Thái học người Kinh đào ao, thả cá và xuất hiện hình thức nuôi cá chuyên nghiệp trên ruộng

Trang 31

Săn bắn là công việc của nam giới và nó vừa mang mục đích tiêu khiển, bảo vệ mùa màng, đáp ứng nhu cầu thịt cải thiện bữa ăn Tuy nhiên việc săn bắn chỉ tiến hành theo mùa cho nên hoạt nó chiếm vị trí thứ yếu so với đánh

cá và hái lượm Ngày nay, khi mà các cánh rừng được bảo vệ, việc săn bắn bị nghiêm cấm thì nó dần dần ít đi Ngày xưa người Thái thường săn lợn rừng,

hổ, nai, gấu, gà rừng vũ khí chủ yếu là súng kíp, nỏ, đặt bẫy

1.3.1.3 Các ngành nghề khác

Ngoài các hoạt động kinh tế làm lúa nước, làm nương rẫy, hoạt động hái lượm, đánh cá, săn bắn ra, người Thái ở huyện Điện Biên còn phát triển các hoạt động chăn nuôi và các hoạt động thủ công nghiệp Hoạt động chăn nuôi trong xã hội cổ truyền của người Thái gồm chăn nuôi gia súc và gia cầm Hầu hết các gia đình đều nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan Một số nơi nuôi ngựa làm phương tiện đi lại Tuy nhiên, việc chăn nuôi chủ yếu đáp ứng nhu cầu của gia đình như về sức kéo, cải thiện bữa ăn, các dịp tế lễ, tết của người Thái Việc chăn nuôi phục vụ các lễ quan trọng của người Thái như xên mường, xên bản, xên nhà, xên ma (phi) xên khoăn (hồn) Chăn nuôi còn phụ thuộc và trồng trọt Xưa kia chăn trâu trong vụ cày bừa là công việc của trẻ

em, còn chăn lợn là việc của phụ nữ Hiện nay, người Thái đã biết chăn nuôi các đàn gia súc, gia cầm lớn phục vụ mục đích mua bán nhưng chưa phát triển mạnh Phương thức chăn nuôi của người Thái là nửa chăm sóc, nửa thả tự nhiên Các loại như lợn, trâu, bò được thả tự nhiên ở trên quả đồi, trâu bò được đeo mõ vào cổ, tối đến lùa vào chuồng Ngoài ra một số gia đình còn lùa trâu, bò chăn ở các ven đường theo kiểu chăn dắt Gà vịt được nuôi ở vườn, thả vừa cho ăn

Thủ công nghiệp tương đối phát triển ở người Thái, các ngành nghề như đúc bạc, làm răng vàng, làm cúc bướm, vòng cổ Ngoài ra người Thái còn phát triển mạnh về đan lát và dệt vải, dệt vải tương đối phát triển Nghề dệt đạt được các tiến bộ đáng kể về kỹ thuật, mỹ thuật, sản phẩm nghề dệt khá

Trang 32

phong phú được các dân tộc xung quanh ưa chuộm Tuy nhiên, sản phẩm nghề dệt chủ yếu là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong gia đình mà mang ít tính trao đổi Nghề thủ công nghiệp nói chung hay nghề dệt nói riêng chủ yếu là bám theo mùa, khi lúc nông nhàn Chưa có đội ngũ lành nghề, chưa có các công xưởng sản xuất lớn, nghề dệt chủ yếu phát triển trong giới phụ nữ khi

mà nhu cầu sử dụng cho các nghi lễ vòng đời chiếm vị trí quan trọng hơn Nghề đan lát chủ yếu là đối với nam giới với các sản phẩm như rọ, rổ, gùi các sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu thiết yếu đời sống hàng ngày ít mang tính trao đổi Ngoài ra, người Thái còn biết làm mộc, làm gạch tuy nhiên nó chưa phổ biến lắm

1.3.2 Đặc điểm văn hóa người Thái ở huyện Điện Biên

1.3.2.1 Văn hóa vật chất

1.3.2.1.1 Nhà ở

Nếu như các dân tộc sinh sống ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên được biết đến với hình tượng ngôi nhà dài, nhà rông thì ở huyện Điện Biên, ngôi nhà của người Thái có mô hình là ngôi nhà sàn Có thể nói rằng, nhà sàn không chỉ là nơi cư trú, nơi diễn ra các sinh hoạt của con người từ lúc sinh ra cho đến lúc mất đi mà còn trở thành biểu tượng văn hóa của người Thái

Từ chỗ chỉ là phương thức để người dân thích nghi với môi trường sống, trải qua quá trình phát triển lâu dài, ngôi nhà sàn Thái dần dần được hoàn thiện và trở thành một loại công trình kiến trúc sinh hoạt độc đáo, biểu tượng văn hóa tộc người

Người Thái ở huyện Điện Biên vẫn giữ được kiểu nhà sàn truyền thống của tộc người mình Tuy nhiên, trong quá trình giao lưu văn hóa, tộc người ở đây đã có những cải tiến cho ngôi nhà phù hợp với cuộc sống mới Nhà sàn của người Thái thường dựa vào núi, hướng ra suối, phía đầu nguồn cũng là đầu nhà Theo kinh nghiệm xưa, khi bị lạc đường cứ xuôi theo dòng nước, thế nào cũng bắt gặp được bản người Thái, các nếp nhà sàn ven suối

Trang 33

Cấu trúc ngôi nhà sàn người Thái với mỗi gia đình là một tế bào của xã hội Gia đình của người Thái đen thường là đại gia đình, gồm nhiều gia đình nhỏ với nhiều thế hệ cùng sinh sống trong ngôi nhà Người Thái gọi ngôi nhà

của mình là chum hươn (cộng đồng nhà)

Vật liệu là những nguyên liệu tại chỗ như các cây gỗ tốt, tre, nứa Những cây này trên rừng rất có sẵn Nó cũng là vật liệu để diễn ra các hoạt động hàng ngày, các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng như múa xòe, múa sạp việc chọn nguyên liệu là rất lâu và mất thời gian thường là vài năm Loại gỗ thường dùng

để làm nhà là gỗ lim, nghiến, pơ mu loại gỗ mà người Thái ở nơi đây ao ước là

gỗ vàng tâm với vỏ đen, ruột vàng, vừa cứng và chắc không bị mối mọt

Nhà sàn người Thái trước kia chỉ gồm một gian, hai chái, mái lợp gianh hình kiểu mai rùa, hay các nhà dân tộc học gọi là hình thuyền úp ngược với trang trí biểu tượng khau cút, xung quanh có lan can chạy dọc theo hiên Phần mái có bốn mái với hai mái lớn và hai mái nhỏ Hai mái lớn chạy dài theo suốt chiều dài của ngôi nhà, hai mái nhỏ nằm che hai trái khum khum như cái mai rùa Nhà nào cũng có hai cầu thang lên xuống Thang lên xuống thường

có 7 và 9 bậc, thang 7 bậc ở phía đầu nhà là “quản” là cửa chủ (chẩu hươn)

thường chỉ có chủ nhà lên xuống cửa này, đôi khi con trai có thể được lên, tục kiêng không cho phụ nữ và con rể đi, không mang rau xanh, thịt sống lên qua quản Khách quý được chủ nhà mời mới được lên qua đằng quản Ngày nay,

do nhu cầu tăng lên và nhu cầu giao tiếp nên bên quản thường có thêm một ô

có giường ngủ cho hai hoặc ba khách và nhà sàn nào cũng được kéo dài ra bằng cách tăng số gian, có khi tăng hai hoặc ba gian Cầu thang phía dưới gọi

là “chan” thường có 9 bậc, là lối lên xuống thường xuyên phục vụ cho đời

sống hàng ngày Chan thường có sân chan, ngay đầu thang là nơi để nước Để tránh các điều kiêng cấm thì đi lối cửa chan mà lên, trừ khi cột chân cầu thang

có dấu hiệu kiêng khi thấy có mảnh phên tre đan mắt cáo (cành lá xanh) giắt ở cửa trước thì kiêng, chỉ được đứng ở xa gọi, khi chủ nhà ra đón thì được vào

Trang 34

Nội thất trong nhà bố trí như sau: từ cửa quản vào là các gian hóong

(gian thờ) phía trong có các túi bùa tượng trưng cho linh hồn người đã quá cố, phía ngoài là nơi chứa các thứ rượu, đồ thờ Trừ lối đi thì đây là nơi linh thiêng nhất trong nhà Nửa trong của nhà là nơi ngủ, cứ mỗi cặp vợ chồng là một ô, ô đó được che bằng một mảnh vải đen, có thêu hoa văn đẹp mắt vừa đủ che, phía trong là một cặp đệm đủ cho hai người Thứ tự sát gian hóong là ông chủ nhà, sau đó là thứ tự từ lớn đến bé trong nhà, những người chưa lập gia đình, trẻ, bé thì đều ở ngoài cùng Tuy các ô được ngăn bằng màn nhưng nó là cấm địa của các cặp vợ chồng, mỗi người không ai được phép xâm phạm Người ta không được phép vượt qua ranh giới này nếu không phải nộp cúng, cố

ý thì gây hậu quả tai hại Phía nửa bên kia gian nhà cũng tính từ đầu quản qua gian hóong sẽ có một bếp lửa bập bùng dành cho chủ nhà, phía trong có sẵn một ghế chủ dành cho chủ nhà, chủ nhà về đến nhà thì có người nhóm bếp, đưa điếu Gian bếp này chỉ giành cho chủ nhà ngồi, có chăng chỉ có con trai trưởng mới được phép ngồi Khách đến nhà, có ghế ngồi đối diện với chủ nhà Sau gian bếp là khoảng trống để bày mâm ăn và tiếp đón khách, tiếp đến là một bếp nữa để nấu ăn, sát vách là đựng các thực phẩm và dụng cụ nhà bếp

Ngày nay, người Thái học người Kinh xây dựng những ngôi nhà bằng

bê tông theo kiến trúc hiện đại Một phần do diện tích đất ở và các cây gỗ trên rừng quý hiếm

1.3.2.1.2 Trang phục

Cùng với ngôn ngữ thì trang phục là một trong những dấu hiệu nhận biết các tộc người rõ nét nhất Nhắc đến người Việt ta nghĩ đến hình ảnh của chiếc áo dài, người Hoa là hình ảnh của chiếc áo sườn xám, hay trang phục Kimono là biểu tượng của người Nhật Người Thái với những chiếc khăn đội

đầu sặc sỡ màu sắc (piêu) hay như chiếc áo ngắn (sửa cóm) mỗi cộng đồng

người tùy vào các điều kiện sinh sống và sản xuất lại có cách thức ứng xử hợp

lý Trang phục của phụ nữ, đŕn ông vŕ trẻ em lại có những nét khác nhau

Trang 35

Trang phục của nam giới thường ngày là áo ngắn, quần ống kiểu “chân què” như quần của người Kinh Áo ngắn gồm có bốn thân, có xẻ tà, cổ cao, đóng khuy và cài khuy bằng vải thắt nút Áo có bốn túi, hai túi ở trên ở hai bên ngực, hai túi ở hai vạt áo dưới Áo được nhuộm màu chàm hoặc màu đen Chiếc quần

dài (suộng) màu đen hoặc màu trắng được may bằng loại vải bông Đây là quần

ống có đũng dài, cạp rộng được khâu, may đáp với thân quần Dải rút được luồn qua cạp nhằm giữ quần trên cơ thể không bị tụt xuống khi mặc Ngày thường

nam giới cũng đội khăn theo kiểu chít khăn mỏ rìu hoặc đội mũ (mụ) màu đen

hoặc màu chàm Chiếc khăn thường có độ dài một sải tay

Vào ngày lễ thì trang phục của nam giới thường mặc áo màu đen dài,

xẻ nách, bên trong mặc thêm một lớp áo trắng, tương tự như chiếc áo đen dài bên ngoài để mặc lót, đi giầy vải, quấn khăn mỏ rìu

Tang phục (suồng sửa khốc) của nam giới cũng làm từ vải gai trắng, đó

là chiếc áo dài đến đầu gối, khoét cổ rộng, đóng cúc, cùng với áo, người đàn ông còn quấn khăn trên đầu, mặc quần trắng, đi chân đất Ngày cưới chú rể mặc áo bốn thân, xẻ tà, quần âu, đội mũ nồi đen, đi giày hoặc dép

Hiện nay, trang phục truyền thống của nam giới ít được sử dụng hầu như nam giới ăn vận theo lối phổ thông quần âu, áo cánh như người Việt dưới đồng bằng Trang phục vẫn được người già mặc và gìn giữ

Trang phục nữ là những cô gái Thái đội đầu với những chiếc khăn sặc

sỡ sắc màu (piêu) với áo cánh ngắn (sửa cóm) với một hàng khuy bạc (má

bém) nhiều hình thù chạy trên đường nẹp xẻ ngực (thường là hình bướm, ve

sầu và hình hoa lá) bó sát thân cùng với chiếc váy hình ống, màu thâm (sỉn)

và dây lưng xanh (sại eo), chùm xà tích bên hông (sại khoen eo) Tất cả đều

nổi bật lên những đường nét gợi cảm của thân hình người phụ nữ cũng như đức tính tốt đẹp của người phụ nữ đó Khi lấy chồng phụ nữ Thái búi tóc

ngược lên đầu (tằng cẩu) để đánh dấu một mốc quan trọng của đời người

Trang 36

Tang phục thì phụ nữ Thái mặc chiếc áo tang (sửa hi) bằng vải gai màu trắng, kích thước và kiểu dáng tương tự như sửa nhinh Họ quấn hoặc phủ lên đầu một chiếc khăn gai màu trắng (piêu nón)

Chiếc váy (sỉn) của phụ nữ Thái đen là loại váy ống, váy rộng 1 – 1,2

cm, dài khoảng 1,4 – 1,6cm, dài chấm mắt cá chân Váy gồm ba phần chính là cạp váy, thân váy và gấu váy Gấu váy đắp một dải vải đỏ rộng 4 – 6cm nổi bật trên nền vải sa tanh đen bóng Những người phụ nữ khá giả thường đeo một chùm dây xà tích bằng bạc bên hông nó vừa thể hiện mức độ kinh tế cũng như sự trưởng thành, đảm đang việc nhà của phụ nữ Nhắc đến trang phục Thái mà không nhắc đến một loại trang phục đặc biệt đó là chiếc khăn Piêu Chúng được làm bằng một loại vải bông nhuộm chàm, hai đầu khăn được đắp thêm hai miếng vải màu có thêu một số họa tiết trang trí và các tua chỉ nhiều màu sắc trong đó màu đỏ là màu ấm, nóng nên được sử dụng nhiều Họa tiết chủ yếu là hình thoi, hình quả trám hay các đường kỷ hà Ngoài ra, phụ nữ Thái còn đeo vòng tay gồm hai loại là vòng đơn và vòng kép, phụ nữ Thái còn đeo hoa tai có tiết diện hình tròn, to nhỏ khác nhau, khi đeo thì mặt của

toóng hu áp sát, che kín lỗ bấm nhìn rất giản dị và cũng sang trọng

Trong trang phục của phụ nữ Thái không thể quên được hai thứ quan trọng là đệm và màn Đệm Thái nổi tiếng là ấm, bền và đẹp Đạt được tiêu chuẩn đó là nhờ kỹ thuật khéo léo của những người phụ nữ Thái Hai mặt của chiếc đệm được làm bằng vải chàm đen, còn giải viền của thành đệm là vải thổ cẩm mà tiếng Thái gọi là khít Đệm Thái được phân biệt bằng đệm bông nhồi, đệm bông tranh và đệm bông lau Đi cùng đệm là ga, có màu trắng hay màu kẻ sọc đẹp mắt Ngoài đệm nằm thì người Thái đen còn có đệm ngồi, các thứ đệm này là quà của các cô gái đi lấy chồng làm quà biếu cho các bậc ông

bà, bố mẹ nhà chồng

Trang 37

1.3.2.1.3 Tập quán ăn, uống, hút

Người Thái ở huyện Điện Biên với đặc trưng là sản xuất ruộng nước

cho nên nguồn lương thực, thực phẩm chính của người Thái là gạo (khẩu), ngô (khẩu đí), khoai (mắn co), cá (pa) Ngoài ra, còn một bộ phận lương thực,

thực phẩm khá lớn được cung cấp từ các hoạt động tự nhiên

Vào mùa Xuân và mùa Hè thì khí hậu ẩm, mưa nhiều nên sinh vật sinh sôi nảy nở với tốc độ nhanh Trong mùa này, người Thái ở huyện Điện Biên không phải đi quá xa để kiếm các loại thức ăn như rau, măng đắng, rau cỏ bợ… đây là mùa mà thành phần bữa ăn của đồng bào khá phong phú, với nhiều món ăn đa dạng Vào mùa Thu và mùa Đông do khí hậu khô, lạnh nên nguồn lương thực, thực phẩm có phần hạn chế, các loại lương thực chủ yếu là hoa chuối, cây chuối non, ngô và các loại măng khô

Lương thực chính của đồng bào Thái ở huyện Điện Biên là lúa nếp và lúa tẻ, ngô, củ mài, của đậu…rừng cung cấp các loại thức ăn như măng, nấm, mộc nhĩ, rau má… và các loại rau do người Thái làm vườn như rau muống, rau bí, rau ngót, cà chua…

Nguồn lương thực chính làm nên bữa ăn của người Thái ở huyện Điện Biên là thóc nếp, gạo nếp Lúa nếp được gieo trồng tại nương và cánh đồng Mường Thanh sao cho dùng được quanh năm Lương thực chính là gạo nếp cho nên các món ăn chế biến cũng gắn liền với gạo nếp Có hai món quen thuộc đó là xôi và cơm lam

Xôi là khẩu phần lương thực thông dụng Từ xôi mà người ta làm thành các món ăn có ý nghĩa như quà bánh cho người già, trẻ con…gạo nếp được ngâm nước qua một đêm, vo sạch và để ráo nước rồi đổ gạo và hay Hay là một dụng cụ

để đồ, người Thái chủ yếu dùng xôi trắng không nhuộm màu như người Mường, người Tày Người Thái còn chế biến các món xôi như xôi cặp, xôi vừng

Ngoài chế biến thành xôi thì người Thái ở huyện Điện Biên còn chế biến thành các món khác nhau như bánh chưng, bánh gio, xôi lam, xôi màu, xôi nướng…

Trang 38

Ngoài xôi ra thì người Thái ở đây còn chế biến món cơm lam, món ăn được chế biến theo phương thức khá sơ khai nguyên thủy Gạo nếp được ngâm qua đêm cho mềm rồi sau đó đổ vào ống tre, nứa hoặc bương rồi cho lên ngọn lửa nướng chín Việc nướng đòi hỏi khéo léo nếu không sẽ bị cháy

và sống Món cơm lam dùng cho người già, trẻ nhỏ, người đi rừng và nhất là phụ nữ sinh con

Bánh chưng cũng được người Thái sử dụng, cũng giống với bánh chưng của người Việt với nguyên liệu là lá dong rừng, thịt lợn, muối tiêu, gạo nếp, hành khô và thưởng thức Bánh chưng của người Thái ở huyện Điện Biên chủ yếu được gói dài, hình chữ nhật

Nguồn thực phẩm với đặc trưng là nền nông nghiệp tự cấp, tự túc điển

hình với “cơm cày ruộng, cá kiếm ăn”, thực phẩm dùng trong bữa ăn của

người Thái nơi đây với thói quen ăn các loài động vật thủy sinh và số lượng khá nhiều rau trong bữa ăn Người Thái ở huyện Điện Biên có tập quán nuôi

cá trong ruộng nước cho nên họ có thể bắt cá trong ruộng lúa và cánh đồng của mình Cá được chế biến thành nhiều món khác nhau Cá có thể được làm

gỏi, kho, nấu canh Trong đó món cá nướng (pa pỉnh tộp) được người Thái ưa

chuộng, cá nướng trên than hồng Người Thái rất thích ăn chua nên món cá nấu măng chua nổi tiếng

Người Thái còn chế biến cá và các loài thủy sinh thành nhiều loại mắm Mắm là món ăn dự trữ, cũng có thể là món ăn gia giảm Mắm được chế biến

và để hàng năm, mắm được dùng để chấm xôi, chấm măng, chấm rau, các quả non và thịt

Với các món ăn từ thịt, người Thái ở huyện Điện Biên có món điển hình như xa, lạp Xa được làm từ thịt nạc thái mỏng, để ống, ngâm vào nước măng chua cho tái đi rồi ăn Món này được dành cho đàn ông Thịt băm nhỏ rồi đem nhúng tái hoặc rang chín dậy mùi thơm, đổ vào nước chua có các gia

vị chuẩn bị sẵn gọi là lạp chín, thường dành cho phụ nữ và trẻ em Ngoài ra,

Trang 39

người Thái còn nổi tiếng với món nậm pịa Món nậm pịa là nhũ tương trong ruột non của các loài động vật (bốn chân) ăn cỏ, có vị vừa bùi, vừa đắng

Người Thái ở huyện Điện Biên còn có món chéo (chẩm chéo) với thành phần không đổi là muối và ớt Ngoài ra, có thể thêm các gia vị như hành, mắc khén, các loại rau thơm, các nướng làm món chấm thịt, rau, cá, măng

Ngoài ra, tục lệ uống rượu, rượu cần, tục ăn trầu, hút thuốc lào cũng được người Thái nơi đây biết đến như là một tập quán quen thuộc

Nhìn chung, cơ cấu bữa ăn của người Thái ở huyện Điện Biên là xôi –

cá – rau Tuy nhiên, do áp lực của tăng dân số và cơ cấu chuyển dịch cho nên cây lúa tẻ dần được thay thế cây lúa nếp, người Thái ở đây chuyển dần sang

ăn cơm tẻ, nguồn cá tự nhiên khan hiếm dần và thay thế các nguồn thịt chăn nuôi đã giúp cho bữa ăn của người Thái khá dần lên

1.3.2.1.4 Các phương tiện vận chuyển và đi lại

Người Thái ở huyện Điện Biên với địa hình lòng chảo và có các con sông chảy qua Phương tiện vận chuyển không có gì đặc biệt Người Thái chủ yếu là đi bộ, đi chơi, hội hè, đình đám, đi làm chủ yếu là đi bằng đôi chân Việc di chuyển bằng thuyền, bè là rất ít Ngoài ra, người Thái còn vận chuyển bằng trâu, ngựa…

Bên cạnh đó, các dụng cụ truyền thống như các loại sọt để đựng lương thực, thực phẩm, đòn gánh, đòn sóc để gánh hay xóc đồ chiếc gùi là một dụng cụ vận chuyển phổ biến của người Thái nơi đây

Hiện nay, do sự phát triển mạnh của nền kinh tế, người Thái ở đây đã phát triển mạnh về kinh tế, nhiều gia đình người Thái đã mua xe máy, ô tô để

đi làm và vận chuyển Với sân bay Điện Biên Phủ, người Thái đã tham gia dịch vụ hàng không để trao đổi, giao lưu và học tập với bên ngoài

Trang 40

1.3.2.2 Văn hóa tinh thần của người Thái huyện Điện Biên

1.3.2.2.1 Tín ngưỡng, tôn giáo

Người Thái ở huyện Điện Biên vẫn sống chủ yếu bằng canh tác lúa nước, chịu ảnh hưởng bởi sự tác động của thiên nhiên Người Thái vẫn giữ được những phong tục, tập quán cổ xưa

Quan niệm về hồn ma và cái chết của người Thái cho rằng Then sáng tạo ra trời đất và muôn loài Then cai quản con người, cuộc sống và cái chết ở trần gian đều do Then quyết định Bên cạnh đó, người Thái cho rằng có Phi – tồn tại ở rừng, núi, sông ngòi, đất đai và ruộng nương Tất cả đều ảnh hưởng đến cuộc sống của con người Đối với người Thái cõi trời cũng là một mường với cái tên mường Phạ do Then làm chủ

Mỗi bản thờ một ma chung cho cả bản gọi là ma bản Một hai năm dân làng tổ chức cúng ma bản, làm lễ xên bản Lễ vật cúng tại cây thiêng ở gần bản Những năm gần đây, huyện Điện Biên tổ chức lễ hội Xên Mường

Người Thái có tín ngưỡng vạn vật hữu linh không chỉ con người mà các con vật nuôi, cây cối hay những vật vô tri khác cũng có khoăn như khoăn đất, khoăn nước

Người Thái có nghi lễ cúng tổ tiên Việc thờ cúng tổ tiên là sợi dây liên kết giữa người sống và người chết, giữa người sống và người sống, giữa anh

em ruột thịt trong một gia đình với nhau Người Thái ở huyện Điện Biên thờ cúng tổ tiên ở gian Hoóng, đây là nơi thờ cúng cha mẹ đã khuất của chủ gia đình người ta vẫn gọi là Phi Hươn Gian Hóong nằm cạnh chỗ ngủ của chủ nhà Hàng năm gia đình làm lễ cúng tổ tiên để cầu may mắn, làm ăn phát đạt, con cháu khỏe mạnh

Hàng năm sau khi thu hoạch xong, thời tiết khô ráo, bà con trong các bản lại tụ tập nhau làm lễ xên bản Những người già cùng trưởng bản hội họp nhau lại tại nhà trưởng bản để bàn bạc các công việc trong lễ tế bản Mỗi gia đình đóng góp một chút lễ vật để cùng nhau cúng bản và liên hoan tại nhà văn hóa của bản

Ngày đăng: 05/12/2016, 19:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vi Văn An (1999), Thiết chế xã hội truyền thống của người Thái ở Miền tây Nghệ An, Luận án Tiến sĩ lịch sử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết chế xã hội truyền thống của người Thái ở Miền tây Nghệ An
Tác giả: Vi Văn An
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
2. Lệ Cung (1982), Múa sạp từ múa dân gian đưa lên sân khấu chuyên nghiệp, Tạp chí Văn hóa dân gian, tr 70 – 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn hóa dân gian
Tác giả: Lệ Cung
Năm: 1982
3. Phan Hữu Dật (1999), Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
4. Tạ Đức (1982), Cội nguồn và sự phát triển của điệu múa sạp, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 2, tr 55 – 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn hóa dân gian
Tác giả: Tạ Đức
Năm: 1982
5. Dean Maccannell (1976); Ths Trương Thị Thu Hằng dịch: Sự chân thật dàn dựng. Trích trong “The tourist: A New Theory of the Leisure Class” , Tr 100 - 106; Nxb Schocken, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: The tourist: A New Theory of the Leisure Class
Tác giả: Dean Maccannell, Trương Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Schocken
Năm: 1976
6. Vũ Trường Giang (2000), Hệ thống truyền thông cổ truyền của người Thái ở miền tây Thanh Hóa, Luận văn Thạc sỹ lịch sử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống truyền thông cổ truyền của người Thái ở miền tây Thanh Hóa
Tác giả: Vũ Trường Giang
Năm: 2000
7. Lê Sỹ Giáo (1988), Về bản chất và ý nghĩa của tên gọi Thái trắng, Thái đen ở Việt Nam, Tạp chí dân tộc học, số 3 tr 77 – 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí dân tộc học
Tác giả: Lê Sỹ Giáo
Năm: 1988
10. Lê Sỹ Giáo (1994), Hội lễ mùa xuân của người Thái Việt Nam, Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 101 – 107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại
Tác giả: Lê Sỹ Giáo
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1994
11. Lê Sỹ Giáo (2003), Dân tộc học đại cương, nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Tác giả: Lê Sỹ Giáo
Nhà XB: nxb Giáo dục
Năm: 2003
12. Lương Thị Thu Hằng (2001), Phụ nữ Thái đen với việc bảo tồn văn hóa trong thời kỳ đổi mới (qua nghiên cứu ở xã Thanh Luông, Điện Biên, tỉnh Lai Châu), Luận Văn Thạc sỹ lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ Thái đen với việc bảo tồn văn hóa trong thời kỳ đổi mới (qua nghiên cứu ở xã Thanh Luông, Điện Biên, tỉnh Lai Châu)
Tác giả: Lương Thị Thu Hằng
Nhà XB: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
15. Đinh Xuân Lâm (2004), Từ phủ Điện Biên đến Điện Biên Phủ, Trong chiến thắng Điện Biên Phủ cột mốc vàng lịch sử, tr 232, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ phủ Điện Biên đến Điện Biên Phủ
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
18. Hoàng Lương (2001), Về người Thái đen ở Việt Nam, Tạp chí dân tộc học, số 1, tr 32 – 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về người Thái đen ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: Tạp chí dân tộc học
Năm: 2001
19. Hoàng Lương (2015), Người Tày – Thái cổ ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Tày – Thái cổ ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
20. Hoàng Lương (2006), Cư dân Tày – Thái và cư dân Việt – Mường chung, hai người bạn láng giềng gần gũi từ thời cổ đại, Tạp chí dân tộc học số 3, tr 3 – 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí dân tộc học số 3
Tác giả: Hoàng Lương
Năm: 2006
23. Nguyễn Thúy Nga (2005), Múa dân gian Thái và việc đào tạo múa ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Văn hóa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Múa dân gian Thái và việc đào tạo múa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thúy Nga
Nhà XB: Luận văn Thạc sỹ Văn hóa học
Năm: 2005
24. Khánh Ngọc (2011) Vũ Điệu Tre, tạp chí Toàn cảnh – Sự kiện – Dư luận, số 247, tr 96 – 97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Điệu Tre
Tác giả: Khánh Ngọc
Nhà XB: tạp chí Toàn cảnh – Sự kiện – Dư luận
Năm: 2011
25. Pichet Saiphan (2011), Sự biến đổi kinh tế - xã hội của người Thái ở Điện Biên từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay, Luận án Tiến sỹ Lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi kinh tế - xã hội của người Thái ở Điện Biên từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay
Tác giả: Pichet Saiphan
Nhà XB: Luận án Tiến sỹ Lịch sử
Năm: 2011
26. Ngân Quý (1986), Múa dân gian với thời đại và sự kế thừa phát triển múa dân gian trong lĩnh vực huấn luyện, Tạp chí văn hóa dân gian, số 3, tr 64 – 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí văn hóa dân gian
Tác giả: Ngân Quý
Năm: 1986
27. Trương Văn Sơn, Điêu Thúy Hoàn, Nguyễn Thị Mai Hương (2003), Múa dân gian một số dân tộc vùng Tây Bắc, Nxb Văn hóa dân tộc 28. Hà Văn Tấn (1975), Văn hóa Phùng Nguyên và nguồn gốc dân tộcViệt, Tạp chí dân tộc học, số 1, tr 23 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Múa dân gian một số dân tộc vùng Tây Bắc
Tác giả: Trương Văn Sơn, Điêu Thúy Hoàn, Nguyễn Thị Mai Hương
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2003
29. Hà Văn Tấn (1994), Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Viện Khảo cổ học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn
Nhà XB: Viện Khảo cổ học
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w