1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng tạo và việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học hàng hải việt nam hiện nay

161 683 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 3,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận: dựa trên quan điểm triết học Mác - Lênin về tư duy, hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người; quan điểm của Đảng Cộng sản V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

………

TRẦN VIỆT DŨNG

SÁNG TẠO VÀ VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

HÀNG HẢI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

………

TRẦN VIỆT DŨNG

SÁNG TẠO VÀ VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

HÀNG HẢI VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng &

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn và PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà Các số liệu, tài liệu trong luận án trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ rang

Tác giả Trần Việt Dũng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Phân loại vấn đề

Bảng 2.2: Biểu hiện cái mới có giá trị khi giải quyết 3 loại vấn đề Bảng 3.1: Mối quan hệ giữa năng lực sáng tạo và mức độ sáng tạo Bảng 3.2: Nhân tố thúc đẩy sáng tạo và nhân tố kìm hãm sáng tạo Bảng 3.3: Nhân tố thuận lợi của sáng tạo và nhân tố cản trở sáng tạo Bảng 4.1: Kết quả tốt nghiệp của sinh viên ĐHHHVN

Bảng 4.2: Nghiên cứu khoa học của sinh viên ĐHHHVN

Bảng 4.3: Yêu cầu đối với sinh viên mới tốt nghiệp ĐHHHVN Bảng 4.4: Tần suất đưa ra sáng kiến, ý tưởng sáng tạo của sinh viên Bảng 4.5: So sánh số lượng học hàm, học vị của 3 Trường Đại học Bảng 4.6: Về cấu trúc công việc – kiến thức – môn học

Bảng 4.7: Các nguồn tri thức – kỹ năng

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 12

1.1 Các công trình nghiên cứu về sáng tạo, năng lực sáng tạo 12

1.2 Các nghiên cứu về nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên Trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay 27

1.3 Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu……… 33

Chương 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ SÁNG TẠO 36

2.1 Định nghĩa khái niệm “sáng tạo” 36

2.1.1 Các định nghĩa tiêu biểu về sáng tạo 36

2.1.2 Định nghĩa khái niệm “sáng tạo” trên lập trường duy vật biện chứng

38 2.2 Những bộ phận hợp thành của hoạt động sáng tạo 46

2.2.1 Chủ thể sáng tạo và tư duy sáng tạo 47

2.2.2 Vấn đề của sáng tạo 63

2.2.3 Môi trường và sản phẩm sáng tạo 67

2.3 Các giai đoạn, đặc trưng và những thuộc tính của hoạt động sáng tạo 70

2.3.1 Các giai đoạn của hoạt động sáng tạo 70

2.3.2 Những thuộc tính và đặc trưng của hoạt động sáng tạo 73

Chương 3 NĂNG LỰC SÁNG TẠO VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUNG NÂNG CAO NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA CON NGƯỜI 78

3.1 Khái niệm “Năng lực sáng tạo” 78

3.1.1 Định nghĩa khái niệm “Năng lực sáng tạo” 78

3.1.2 Mức độ sáng tạo 83

3.2 Nâng cao năng lực sáng tạo của con người: những yếu tố làm cơ sở và các phương pháp chung 86

3.2.1 Những yếu tố làm cơ sở nâng cao toàn diện năng lực sáng tạo của con người 86

3.2.2 Các phương pháp chung nâng cao năng lực sáng tạo của con người 95 Chương 4 NÂNG CAO NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM HIỆN NAY 103

Trang 6

4.1 Năng lực sáng tạo của sinh viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay: quan điểm, thực trạng, nguyên nhân 103

4.1.1 Một số quan điểm về đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân 103 4.1.2 Về thực trạng và nguyên nhân 106

4.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay 115

4.2.1 Các giải pháp góp phần hình thành tư duy sáng tạo và động cơ sáng tạo ở sinh viên 117 4.2.2 Các giải pháp có tác dụng gián tiếp trong việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên 122

KẾT LUẬN 134 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 136 TÀI LIỆU THAM KHẢO 137 PHỤ LỤC 145

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sáng tạo là năng lực đặc biệt mang tính đặc trưng của con người, thể hiện khả năng vượt trội của con người so với thế giới loài vật Bằng lao động sáng tạo, nhân loại đã tạo ra một nền văn minh rực rỡ, tạo ra những sản phẩm kì diệu mà thiên nhiên hào phóng cũng không thể có được Những thành quả mà con người đạt được hiện nay trong mọi lĩnh vực từ khoa học công nghệ đến kinh tế, văn hóa,

xã hội đều là kết quả của hoạt động tạo ra sản phẩm mới có giá trị

Hiện nay, thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa

về kinh tế Quá trình đó một mặt làm cho các quốc gia xích lại gần nhau, ảnh hưởng, ràng buộc nhau ngày càng nhiều và chặt chẽ hơn trên mọi phương diện của đời sống xã hội; mặt khác, đã tạo nên sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các nền kinh tế, giữa các tổ chức và cá nhân Muốn tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia, ngay cả mỗi tổ chức, cá nhân đều phải không ngừng năng động sáng tạo, tạo

ra những sản phẩm mới ưu trội hơn, những giải pháp tối ưu và những quyết định mang tính đột phá Do đó, nâng cao năng lực sáng tạo là đòi hỏi cấp thiết đối với

sự tồn tại, phát triển của mọi quốc gia

Với tầm quan trọng của sáng tạo, nên đã từ rất sớm vào khoảng năm 300, Pappos - nhà toán học Hy Lạp nổi tiếng đã đặt nền móng chính thức cho khoa học sáng tạo Trong tập 7 của tác phẩm “Tuyển tập toán học” của mình, Pappos đã viết về một bộ môn khoa học (viết theo tiếng Anh) đặt tên là Heuristics (có gốc là

từ Eureka - tìm ra rồi) Heuristics hay Sáng tạo học có mục đích nghiên cứu tư duy sáng tạo, nhận thức các quy luật của nó và xây dựng các phương pháp, qui tắc tạo ra các phát minh và sáng chế Sau Pappos, các nhà khoa học đã cố gắng tiếp tục phát triển Heuristics để xây dựng nó thành một bộ môn khoa học hoàn chỉnh Trong số đó, phải kể đến các nhà triết học như Descartes, Leibnitz, Bolzano và Poincaré… Tuy nhiên, Heuristics bị quên lãng trong một thời gian dài bởi như theo nhận xét của G.Polya – nhà toán học người Mĩ gốc Hungary về Heuristics: “Đó là lĩnh vực nghiên cứu không có hình dáng rõ ràng… Nó được trình bày trên những nét chung chung, ít khi đi vào chi tiết” [trích theo 89, tr.5] Chỉ từ sau Thế chiến thứ hai, cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, ở những nước công nghiệp đã bắt đầu xuất hiện nhu cầu phải giải quyết nhanh chóng và hiệu quả các vấn đề nảy sinh trên con đường phát triển Nhờ vậy,

Trang 8

Heuristics đã hồi sinh, chuyển sang thời kỳ phát triển mới theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu Bắt đầu từ đây nhiều tổ chức, trung tâm nghiên cứu về sáng tạo, phương pháp luận sáng tạo ra đời và phát triển ở Mỹ, Tây Âu, Liên Xô (cũ) Như vậy, hiện nay Sáng tạo học nói chung, Phương pháp luận sáng tạo nói riêng

đã được nghiên cứu, phổ biến, ứng dụng ở nhiều nước phát triển Ở Việt Nam, năm 1991, được sự chấp thuận của lãnh đạo Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Sáng tạo khoa học - kỹ thuật (TSK) ra đời và trở thành cơ sở chính thức đầu tiên ở nước ta giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới với quy mô nhỏ, hẹp Nhìn chung, Sáng tạo học cả về lý thuyết lẫn thực tiễn chưa được phát triển, phổ biến ở Việt Nam

Từ xưa đến nay, người Việt Nam vốn có tư chất thông minh - sáng tạo nhưng

do hoàn cảnh lịch sử (luôn phải chống lại trước sự bành trướng, xâm lăng từ phương Bắc - kể cả hiện nay) mà người Việt chưa có điều kiện, môi trường để phát huy, phát triển năng lực sáng tạo của mình Bên cạnh đó, qua 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, thế và lực của đất nước ngày càng tăng cao Tuy nhiên, nền kinh tế của Việt Nam vẫn là một nền kinh tế mang tính chất gia công, kém hiệu quả và đang đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, chịu sự thách thức của “bẫy thu nhập trung bình” Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã xác định mô hình phát triển kinh tế chuyển từ xây dựng nền kinh tế theo chiều rộng sang kết hợp với phát triển kinh

tế theo chiều sâu Muốn vậy, cần phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, trong đó xây dựng nền giáo dục sáng tạo và đẩy mạnh sự sáng tạo trong khoa học - công nghệ là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao năng suất lao động xã hội, tăng cường hàm lượng chất xám trong sản phẩm và tăng hiệu quả kinh tế ở cấp vi mô và vĩ mô Ngoài ra, vấn nạn tham nhũng, suy thoái đạo đức, văn hóa xuống cấp đang gây bức xúc trong toàn xã hội buộc chúng ta phải có những giải pháp sáng tạo để giải quyết

Do vậy, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực sáng tạo cho người lao động là nhu cầu cấp thiết trong công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội phồn vinh, nhân dân hạnh phúc Muốn nâng cao năng lực sáng tạo, cần phải có sự nghiên cứu chuyên sâu một cách hệ thống trước hết về bản chất của sáng tạo, năng lực sáng tạo, để lấy đó làm cơ sở lý luận vững chắc cho việc nghiên cứu các

Trang 9

phương pháp sáng tạo (công cụ quan trọng nâng cao năng lực sáng tạo) và các chính sách, cơ chế xã hội nhằm kích thích, phát huy, phát triển năng lực sáng tạo của con người Việt Nam

Bên cạnh đó, hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền giáo dục - đào tạo của đất nước nói chung và giáo dục - đào tạo đại học nói riêng đang từng bước tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện Và trường Đại học Hàng hải Việt Nam - một trong những cơ sở đào tạo lớn nhất của ngành giao thông vận

tải, không phải là một ngoại lệ Về mục tiêu đổi mới giáo dục Đại học, trong Nghị

quyết số 29-NQ/TW của BCHTW Đảng đã nêu rõ: “Đối với giáo dục đại học, tập

trung đào tạo nhân lực trình đô ̣ cao , bồi dưỡng nhân tài , phát triển phẩm chất và năng lực tự ho ̣c, tự làm giàu tri thức , sáng tạo của ngườ i ho ̣c…” [114] Như vậy, nâng cao năng lực sáng tạo là một trong những mục tiêu của đổi mới giáo dục đại học nói chung và của trường Đại học Hàng hải nói riêng Tuy nhiên, cần phải có biện pháp cụ thể hơn trên cơ sở vận dụng quan điểm lý luận về sáng tạo để từng bước nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên tốt nghiệp ra trường

Với những lí do trên, tôi chọn vấn đề Sáng tạo và việc nâng cao năng lực

sáng tạo của sinh viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay làm đề tài

nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Làm sáng tỏ bản chất của sáng tạo, năng lực sáng tạo, xác định các

phương pháp chung nâng cao năng lực sáng tạo của con người cùng với việc khảo sát thực trạng (và nguyên nhân) năng lực sáng tạo của sinh viên Hàng hải hiện nay, từ đó nêu các giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo cho đối tượng này

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích đó, luận án cần giải quyết

những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Thứ nhất: làm rõ bản chất của sáng tạo thông qua việc xác định và phân tích

khái niệm sáng tạo; những bộ phận hợp thành của hoạt động sáng tạo; các giai đoạn, đặc trưng và những thuộc tính của hoạt động sáng tạo

- Thứ hai: làm rõ bản chất của năng lực sáng tạo qua việc xác định và phân

tích khái niệm năng lực sáng tạo, cấu trúc của năng lực sáng tạo, các cấp độ của năng lực sáng tạo, mức độ sáng tạo

- Thứ ba: từ sự phân tích toàn diện các nhân tố làm cơ sở, luận án xác định

các phương pháp chung nâng cao năng lực sáng tạo của con người

Trang 10

- Thứ tư, từ cơ sở lý luận ở trên, luận án thực hiện khảo sát thực trạng,

nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về sáng tạo và năng lực sáng tạo

của con người trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, lấy đó làm cơ sở nghiên cứu về năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học Hàng hải Việt Nam

hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Luận án không nghiên cứu sáng tạo như một diễn trình

lịch sử và cũng không nghiên cứu nó ở một lĩnh vực riêng biệt, mà dưới góc độ triết học luận án nghiên cứu sáng tạo, năng lực sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở tầm khái quát Đối với năng lực sáng tạo của sinh viên Hàng hải Việt Nam, luận án chỉ khảo sát nó từ năm 2013 đến nay Luận án cũng không quá đi sâu vào thực trạng, nguyên nhân yếu kém ở năng lực sáng tạo của sinh viên Hàng hải Việt Nam, mà chủ yếu đi từ lý luận để xây dựng các nhóm giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: dựa trên quan điểm triết học Mác - Lênin về tư duy, hoạt động

nhận thức và thực tiễn của con người; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về đổi mới giáo dục - đào tạo; vận dụng quan điểm định hướng trong Nghị quyết

số 29-NQ/TW của BCHTW Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo; ngoài ra, luận án kế thừa có chọn lọc những quan điểm đúng đắn, hợp lý

của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về sáng tạo, bản chất của sáng tạo

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận biện chứng

duy vật với các phương pháp cụ thể như thống nhất lịch sử - lôgíc; phân tích - tổng hợp; khái quát hoá và hệ thống hoá; thống kê, so sánh, điều tra xã hội học

5 Đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, luận án đã nêu và luận chứng một cách hệ thống những nội dung về

bản chất của sáng tạo, năng lực sáng tạo; xác định những phương pháp chung nâng cao năng lực sáng tạo của con người

Thứ hai, luận án xác định thực trạng, nguyên nhân và nêu các giải pháp năng

cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Trang 11

Thứ nhất, luận án góp phần làm sáng tỏ bản chất của sáng tạo, năng lực sáng

tạo và xác định các phương pháp chung nâng cao năng lực sáng tạo của con người, từ đó tạo cơ sở lý luận quan trọng để xây dựng chính sách, quy chế nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay

Thứ hai, luận án có thể cung cấp luận cứ để Ban giám hiệu Trường Đại học

Hàng hải Việt Nam (và có thể, cho nhiều trường đại học khác) đưa ra chính sách, biện pháp cụ thể hơn nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên Hàng hải, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của Nhà trường

Thứ ba, luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên cũng

như các nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến sáng tạo và đổi mới giáo dục Đại học ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, luận án gồm 4 chương, 10 tiết

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Các công trình nghiên cứu về sáng tạo, năng lực sáng tạo

Dưới góc độ triết học, tác giả của luận án tiến hành nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến sáng tạo một cách khái quát và toàn diện như: định nghĩa khái niệm sáng tạo, đặc điểm của sáng tạo, vấn đề sáng tạo, sản phẩm sáng tạo, ý tưởng, ý tưởng sáng tạo, môi trường sáng tạo, động cơ sáng tạo, tư duy sáng tạo, các giai đoạn sáng tạo, mức độ sáng tạo, các loại hình sáng tạo, đặc trưng của sáng tạo Những vấn đề này sẽ góp phần làm sáng tỏ bản chất của sáng tạo

Bên cạnh đó, việc tìm hiểu năng lực sáng tạo của con người và phương hướng nâng cao năng lực sáng tạo có vai trò đặc biệt quan trọng về phương diện lý thuyết và ứng dụng của Sáng tạo học Bởi nghiên cứu về sáng tạo, xét đến cùng cũng chỉ nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của con người

Sau đây là các công trình liên quan đến sáng tạo nói chung và năng lực sáng tạo của con người nói riêng

* Các công trình mang tính khái quát triết học về sáng tạo, năng lực sáng tạo

Sáng tạo với tính cách là môn khoa học đã ra đời từ rất sớm, khoảng từ thế

kỷ III nhưng mãi đến đầu thế kỷ XX nhất là sau Thế chiến thứ hai lý luận về sáng tạo và phương pháp luận sáng tạo mới thực sự chuyển mình phát triển

Các nhà kinh điển C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin chưa trực tiếp bàn và luận giải về sáng tạo, năng lực sáng tạo của chủ thể, tuy nhiên các ông đã nêu các

ý kiến khoa học có tính chất là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận trực tiếp cho những quan điểm về sáng tạo trên lập trường mácxít trong những công trình

tiêu biểu như: Luận cương về Phoiơbắc được C Mác viết năm 1845; Hệ tư tưởng

Đức do C Mác và Ph Ăngghen viết chung năm 1845 - 1846; Tuyên ngôn của Đảng cộng sản do C Mác và Ph Ăngghen soạn thảo năm 1848; Bộ Tư bản của

C Mác xuất bản tập I năm 1867, tập II và tập III do Ph Ăngghen tập hợp, hiệu

chỉnh và lần lượt công bố vào các năm 1884 và 1894; Chống Đuyrinh của Ph Ăngghen năm 1878; Bản sơ thảo tác phẩm Biện chứng của tự nhiên được Ph Ăngghen soạn thảo từ năm 1873 đến năm 1886; Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa

kinh nghiệm phê phán của V.I Lênin xuất bản năm 1909; Những ghi chép tóm

Trang 13

tắt, đánh giá của V.I Lênin trong những năm 1915 - 1916 về các công trình triết

học từ Arixtốt đến Hêghen và Látxan được tập hợp lại thành Bút ký triết học

Những tác phẩm trên đã đặt nền móng và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, do vậy có ý nghĩa là cơ sở triết học cho những quan điểm lý luận về sáng tạo, năng lực sáng tạo của chủ thể trên lập trường mácxít Chúng đã trả lời thuyết phục nhất cho vấn đề triết học cơ bản nhất của sáng tạo: Sản phẩm sáng tạo được hình thành từ năng lực (phản ánh sáng tạo -

ý thức) của kết cấu vật chất ở trình độ cao (não bộ con người) hay là do năng lực của thực thể tinh thần độc lập với (hoặc chi phối) não bộ, do sự ban phát của lực lượng siêu nhiên? Với quan niệm “Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn

là sự tồn tại được ý thức” [66, tr.37] và nhất là định nghĩa phạm trù “vật chất”:

“vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” [58, tr.151] đã toát yếu quan điểm duy vật biện chứng: vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức, ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn Nói cách khác đã đưa đến việc khẳng định: Sản phẩm sáng tạo hình thành xuất phát từ năng lực (phản ánh sáng tạo - ý thức) của kết cấu vật chất ở trình độ cao (não bộ con người)

Kế đến phải kể tới cuốn Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu để kích thích sự

sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay của Lê Huy Hoàng xuất bản năm 2002

là tác phẩm mácxít nghiên cứu trực tiếp về sáng tạo Ở nội dung chính, tác giả nhấn mạnh đến lý thuyết phản ánh duy vật biện chứng với tính cách là cơ sở triết học của sáng tạo Bên cạnh đó, tác giả đã nghiên cứu tương đối công phu những quan niệm trước Mác và ngoài mácxít về sáng tạo trên bình diện triết học Chẳng hạn, tác giả cho rằng các nhà triết học Hy Lạp thời cổ đại đã “ gắn bản chất của

sự sáng tạo với các quá trình diễn biến, chuyển hóa đó và cuối cùng dẫn đến một trạng thái tồn tại nhất định như là kết quả của sáng tạo Đặc biệt, người Cổ đại

Hy Lạp đã thần thánh hóa hoạt động sáng tạo trong nghệ thuật” [44, tr.14] Thời Trung cổ, hoạt động sáng tạo hoàn toàn mang tính tôn giáo Thời kỳ Phục hưng, bản chất của sáng tạo đã được trả lại cho con người Tuy nhiên, sự sáng tạo được

đề cập chủ yếu trong lĩnh vực nghệ thuật “ở thời kỳ này, sự sáng tạo luôn được thể hiện như một nghệ thuật, mà bản chất đặc trưng của nó là ở tính trực quan”

Trang 14

[44, tr.16] Thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVII - XVIII) cùng với sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học - kỹ thuật, triết học Khai sáng đã lý giải sự sáng tạo như là kết quả khác thường của sự kết hợp những yếu tố thực tại “sáng tạo không chỉ là sự phát minh ra cái mới qua một quá trình suy tư, mà còn là quá trình gắn bó lý trí với khả năng thao tác kỹ thuật, tạo ra sản phẩm cụ thể” [44, tr.17] Trong Triết học Cổ điển Đức (giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX), bản chất của sáng tạo được các nhà triết học Cổ điển Đức xác định là “sự tự hoạt động thực tiễn - tinh thần, sự tự hoạt động mang các đặc trưng cơ bản là tính hợp lý, tự do, tính phổ biến, tính toàn vẹn, mối liên hệ hữu cơ với sự phát triển của con người còn tính mâu thuẫn của hoạt động này là nguồn gốc nội tại của sự tự phát triển của sáng tạo” [44, tr.22] Tư tưởng triết học phương Tây hiện đại (cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX) xem sáng tạo như một khả năng ưu việt trong lĩnh vực hoạt động khoa học và kỹ thuật Ở phương Đông, quan niệm về sáng tạo còn mờ nhạt, nói chung chưa có các học thuyết về sáng tạo…

Tóm lại, trong công trình trên, tác giả Lê Huy Hoàng đã nghiên cứu khá hệ thống sự phát triển quan niệm về sáng tạo trong lịch sử dưới góc độ triết học, đặc biệt tác giả đã hệ thống hóa những quan niệm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về sáng tạo để cuối cùng đưa ra quan niệm mácxít về sáng tạo và bản chất của sáng tạo Mặc dù, những quan niệm về sáng tạo chưa được đi sâu, chi tiết

và một số ý kiến chưa thật thuyết phục, song công trình là cơ sở để chúng tôi tiếp tục phát triển quan niệm mácxít về sáng tạo nói chung và năng lực sáng tạo của con người nói riêng

Trang 15

* Các công trình nghiên cứu trực tiếp về sáng tạo, năng lực sáng tạo

Hiện nay những công trình tập trung nghiên cứu tương đối chi tiết, chuyên sâu về sáng tạo nói chung, năng lực sáng tạo nói riêng đều thuộc tâm lý học sáng tạo

Tâm lý học sáng tạo của Đức Uy xuất bản năm 1999 là cuốn sách đầu tiên ở

nước ta bước đầu trình bày một số vấn đề tâm lý của sáng tạo, tác giả coi tâm lý học sáng tạo chính là tâm lý học phát triển Một số vấn đề của tác phẩm liên quan đến sáng tạo như: định nghĩa khái niệm sáng tạo, ý tưởng sáng tạo, tư duy sáng tạo, động lực sáng tạo… được tác giả trình bày chủ yếu ở những nét phác họa ban đầu mang tính tìm tòi, đặt vấn đề Bên cạnh đó, năng lực sáng tạo của con người được tác giả nghiên cứu ở khía cạnh những phẩm chất nhân cách tiêu biểu của các

cá nhân có năng lực sáng tạo ở mức cao, đặc biệt là thiên tài Về vấn đề này, tác giả nhận định “hình như một trong những điều kiện để phát triển tài năng là tự do, không vâng lời” [102, tr.171] Đây là quan điểm đúng đắn mà tác giả của luận án

có thể tiếp thu

Kế đến là cuốn Giáo trình Tâm lý học sáng tạo của Huỳnh Văn Sơn xuất bản

năm 2009 Ở cuốn sách này, những nội dung cơ bản về sáng tạo như khái niệm sáng tạo, tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo, các giai đoạn sáng tạo, trình độ sáng tạo được tác giả trình bày (với sự tổng hợp của nhiều tài liệu tham khảo) một cách mạch lạc, khúc triết có sự hợp lý nhất định mà tác giả của luận án có thể kế thừa Chẳng hạn, tác giả quan niệm “tư duy sáng tạo là khả năng giải quyết vấn đề hiệu quả dựa trên sự phân tích lựa chọn các giải pháp tốt nhất có thể có Cách giải quyết vấn đề này thường là mới, mang tính sáng tạo và hướng đến xu thế tối ưu” [89, tr.28] Tuy vậy, ở công trình nghiên cứu này nếu xâu chuỗi các quan điểm lý luận về sáng tạo thì vẫn còn thiếu tính chỉnh thể của một lý thuyết hoàn chỉnh Về năng lực sáng tạo của con người, tác giả đề cập ở khía cạnh đo lường năng lực sáng tạo Việc đo lường có thể bằng nhiều cách, trong cuốn sách tác giả trình bày

sự đo lường năng lực sáng tạo thông qua các trắc nghiệm Về thực chất của sự đo lường, tác giả nhận định “Thực chất của việc đo lường năng lực sáng tạo là việc đánh giá năng lực sáng tạo theo chuẩn đo lường được xác định và thiết lập trước một cách khoa học” [89, tr.97] , đây là ý kiến xác đáng mà luận án có thể tiếp thu

và phát triển Có thể nói, cuốn sách là một trong những tài liệu tham khảo quan

Trang 16

trọng cho luận án, cung cấp nhiều tư liệu cần thiết để có thể tổng hợp và kế thừa những yếu tố hợp lý

Ngoài ra, còn có cuốn Giáo trình Tâm lý học sáng tạo của Phạm Thành

Nghị, xuất bản năm 2012 Với cách làm bài bản tập trung khảo cứu chủ yếu các tác phẩm bằng tiếng Anh, tác giả không chỉ trình bày những vấn đề của sáng tạo trên diện rộng dưới góc độ của Tâm lý học mà còn trình bày cơ sở sinh học và cơ

sở xã hội của sáng tạo Điều quan trọng hơn công trình đã đề cập đến gần như tất

cả những nội dung về sáng tạo mà luận án quan tâm nghiên cứu như định nghĩa sáng tạo, đặc điểm sáng tạo, các giai đoạn sáng tạo, ý tưởng sáng tạo, động cơ sáng tạo Tuy nhiên, ở công trình nghiên cứu này các quan điểm lý luận về sáng tạo chưa được định hình một cách hệ thống, chỉnh thể Về năng lực sáng tạo của con người, tuy chưa đưa ra định nghĩa khái niệm “năng lực sáng tạo” nhưng tác giả có sự tổng kết, nghiên cứu sâu về vấn đề phát triển năng lực sáng tạo của con người Năng lực sáng tạo của mỗi người đều có thể nâng cao, phát triển được thông qua đào tạo, tạo dựng môi trường và nâng cao động lực Tác giả nhận định

“phát triển năng lực sáng tạo thông qua việc tăng cường ba thành tố trong cấu trúc hoạt động giải quyết vấn đề mới: động cơ, hành động lôgíc và hành động trực giác” [74, tr.294] Nhìn chung, đây là công trình quan trọng đối với luận án vì đã cung cấp nhiều tư liệu về những vấn đề của sáng tạo, năng lực sáng tạo với không

ít những yếu tố tích cực mà luận án có thể kế thừa và phát huy, hơn nữa tác giả đã đưa ra bức tranh tương đối đầy đủ về sáng tạo dưới góc độ Tâm lý học trên cơ sở tổng kết những công trình tiêu biểu trên thế giới

Cuốn sách Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu để kích thích sự sáng tạo của

con người Việt Nam hiện nay đã nêu của tác giả Lê Huy Hoàng không chỉ đề cập

đến khái niệm sáng tạo dưới góc độ triết học mácxít mà còn đưa ra quan niệm về một số vấn đề khác của sáng tạo Tác giả đã nêu các cấp độ của sáng tạo, một số loại hình sáng tạo cơ bản trong hoạt động sống của con người Quan trọng hơn, về năng lực sáng tạo, tác giả đã giành nhiều trang viết về những yếu tố chủ quan và khách quan quy định năng lực sáng tạo của con người Rồi từ đó tác giả khẳng định sự kết hợp hài hòa giữa cá nhân và xã hội hay giữa yếu tố chủ quan và khách quan chính là điều kiện cần thiết để phát huy năng lực sáng tạo của con người Quan niệm này là một trong những cơ sở để tác giả luận án đưa ra quan điểm riêng về việc nâng cao năng lực sáng tạo trên cơ sở kế thừa yếu tố hợp lý trên

Trang 17

Nhìn chung, cuốn sách này là một trong những tư liệu quan trọng mà luận án có thể chọn lọc tiếp thu, bổ sung thêm những quan niệm mới về một số vấn đề của sáng tạo nhất là phương hướng nâng cao năng lực sáng tạo của con người

Hiện nay, trên thế giới lý thuyết về sáng tạo và (chủ yếu) phương pháp luận sáng tạo lớn, chuyên sâu và có hệ thống là “Lý thuyết giải các bài toán sáng chế” (TRIZ) của nhà bác học G.S Altshuller (1926 - 1998) (Liên Xô cũ) - được thế giới tôn vinh là cha đẻ của khoa học sáng tạo hiện đại Ông xây dựng TRIZ từ năm 1946 TRIZ là lý thuyết lớn với hệ thống công cụ hoàn chỉnh nhất trong khoa học sáng tạo Có thể nhấn mạnh đến lý thuyết này với 9 quy luật phát triển hệ thống, 40 nguyên tắc sáng tạo cơ bản để khắc phục các mâu thuẫn kỹ thuật, 11 biến đổi mẫu dùng để khắc phục các mâu thuẫn vật lý, hệ thống 76 chuẩn dùng để giải các bài toán sáng chế và đặc biệt ARIZ - chương trình giải các bài toán kỹ thuật

Với tư cách là người học trò trực tiếp của G.S Altshuller, Phan Dũng - giám đốc Trung tâm Sáng tạo khoa học kỹ thuật (TSK) đã du nhập, truyền bá, phát

triển và mở rộng TRIZ ở Việt Nam Ông đã viết bộ sách Sáng tạo và đổi mới gồm

10 tập xuất bản trọn bộ năm 2012 NCS thấy rằng, bộ sách này lấy TRIZ làm trục trung tâm và mở rộng theo các hướng: 1/ Về phía các nguồn kiến thức của TRIZ; 2/ Về phía các lĩnh vực không phải là kỹ thuật để thấy được phạm vi áp dụng rộng lớn của TRIZ; 3/ Về phía các phương pháp, các phương pháp luận sáng tạo khác đang có hiện nay để người học có thể cảm nhận khả năng của TRIZ, nếu được phát triển tiếp, sẽ trở thành lý thuyết rộng lớn, có thể bao quát những cái hiện có

Trong 10 tập đó, có 3 tập đầu tiên trực tiếp bàn về những vấn đề của sáng tạo, là những tập sau

Tập 1: Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới Đây là tập có

nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến sáng tạo, trong đó tác giả đã trình bày một

số khái niệm và nội dung cơ bản về sáng tạo như: định nghĩa khái niệm sáng tạo, vấn đề, các giai đoạn của sáng tạo, mức độ sáng tạo, tư duy sáng tạo Bên cạnh một số hạn chế nhất định (chủ yếu do lĩnh vực nghiên cứu chính của TRIZ là lĩnh vực khoa học kỹ thuật) nhìn chung quan niệm của tác giả về những khái niệm này

là một trong những cơ sở để luận án đưa ra quan niệm đầy đủ và khái quát hơn

Trang 18

Tập 2: Thế giới bên trong con người sáng tạo trình bày các hiện tượng thuộc

thế giới bên trong con người và ảnh hưởng của chúng lên các hành động của cá nhân Hơn nữa, tập sách đã xem xét tư duy con người trong ngữ cảnh mô hình nhu cầu - hành động và bàn về việc điều khiển các hiện tượng thuộc thế giới bên trong con người nhằm khai thác tối ưu năng lực của tư duy Đây là tài liệu tham khảo cần thiết cho NCS nghiên cứu về chủ thể sáng tạo

Tập 3: Tư duy lôgíc, biện chứng và hệ thống Ở tập này, bên cạnh việc trình

bày các quy tắc của lôgíc hình thức và phép biện chứng, thì điều đáng quan tâm hơn là tác giả đã trình bày mối quan hệ giữa phát triển và sáng tạo, các loại mâu thuẫn nảy sinh trong giải quyết vấn đề và ra quyết định Đây là tài liệu tham khảo cho NCS khi nghiên cứu về biện chứng của hoạt động sáng tạo

Bên cạnh những công trình có tính chất chuyên sâu về sáng tạo nêu trên, còn

có một vài công trình bước đầu bàn về một số vấn đề của sáng tạo nói chung, năng lực sáng tạo nói riêng và đã đạt được những thành tựu nhất định như:

- Cơ sở khoa học của sự sáng tạo của tác giả Nguyễn Văn Lê xuất bản năm

1998 đã trình bày một số cơ sở khoa học của việc giáo dục tính sáng tạo cho thanh thiếu niên Tác giả khái quát một số vấn đề liên quan đến sáng tạo như: năng lực, tài năng, tính sáng tạo, nguyên nhân của sự sáng tạo, mối quan hệ giữa thông minh và sáng tạo… trong đó nổi bật là định nghĩa của tác giả về “thông minh”: “Người thông minh là người có khả năng (năng lực) ở mức cao trong việc tiếp thu vấn đề và phản xạ nhanh, có năng lực tư duy cao (óc suy diễn quy nạp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…)” [57, tr.22] Trong cuốn sách, tác giả đã đề cập đến cơ sở sinh lí thần kinh của hoạt động sáng tạo, cơ sở tâm lý học của sự sáng tạo và khía cạnh xã hội của hoạt động sáng tạo Đây là cách tiếp cận về sáng tạo trên nhiều phương diện, tuy nhiên lại chưa được tác giả phân tích chi tiết Về nâng cao năng lực sáng tạo của con người, tác giả tập trung bàn về việc chăm sóc não bộ để nó phát huy năng lực sáng tạo ở mức cao nhất Nhìn chung, cuốn sách

là tư liệu giúp chúng tôi tìm hiểu về sáng tạo từ nhiều góc độ và tầm quan trọng của não bộ đối với năng lực sáng tạo

- Cuốn Khơi dậy tiềm năng sáng tạo của nhóm tác giả Nguyễn Cảnh Toàn,

Nguyễn Văn Lê và Châu An xuất bản năm 2004 đã trình bày sơ lược một số vấn

đề của sáng tạo như: định nghĩa khái niệm “sáng tạo”, động cơ sáng tạo, tư duy sáng tạo, môi trường sáng tạo, cơ sở sinh lí thần kinh của hoạt động sáng tạo Về

Trang 19

năng lực sáng tạo của con người, nhóm tác giả trình bày một số phẩm chất cần có của năng lực sáng tạo bao gồm năng lực tư duy sáng tạo, năng lực quan sát và sáng tạo, năng lực tưởng tượng và liên tưởng, năng lực phát triển vấn đề, năng lực đọc Ngoài ra, nhóm tác giả coi việc quan tâm, bồi dưỡng não bộ cũng là cách thức để nâng cao hiệu quả của tư duy sáng tạo

- Cuốn sách Nhập môn tư duy sáng tạo và phương pháp nghiên cứu khoa

học của nhiều tác giả (Ngô Kiều Nhi, Dương Nguyên Vũ, Nguyễn Nam Hải…)

xuất bản năm 2012 có 2 nội dung chính là về tư duy sáng tạo và phương pháp nghiên cứu khoa học Về tư duy sáng tạo, nhóm tác giả tập trung đề cập đến vấn

đề tạo ra ý tưởng mới trong khoa học và công nghệ Để tạo ra ý tưởng mới, theo nhóm tác giả chúng ta cần phải: phá vỡ tư duy khuôn mẫu; kết nối sự không kết nối; thay đổi nhận thức và dùng sự cộng hưởng Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã đưa ra cách thức rèn luyện để trở thành một người sáng tạo Nhìn chung, ở công trình này NCS có thể kế thừa một số yếu tố hợp lý trong quan niệm về tư duy sáng tạo, về cách thức nâng cao năng lực sáng tạo của con người

Có một số công trình tuy chưa trực tiếp bàn về năng lực sáng tạo nhưng đã

đề cập đến một số cách thức nâng cao năng lực sáng tạo của con người, đó là:

- Cuốn Đánh thức tiềm năng sáng tạo của Nguyễn Minh Triết xuất bản năm

2001 Bên cạnh việc giới thiệu về tính ì tâm lý và tư duy sáng tạo, cuốn sách chủ yếu giới thiệu khả năng ứng dụng các thủ thuật sáng tạo (trong 40 thủ thuật) của TRIZ (chẳng hạn nguyên tắc Kết hợp, nguyên tắc Bất đối xứng, nguyên tắc Phân nhỏ…) gắn với những câu đố và tình huống minh họa góp phần đánh thức tiềm năng sáng tạo của người đọc Có thể nói, tác phẩm này cho thấy để nâng cao năng lực sáng tạo thì không chỉ phải nâng cao nãng lực tý duy sáng tạo mà còn phải loại bỏ tính ỳ tâm lý

- Cuốn Hãy trở thành người thông minh sáng tạo của Lê Nguyên Long xuất

bản năm 2006 đã chủ yếu tiếp cận các vấn đề lý luận sáng tạo thông qua tìm hiểu bản thân hoạt động sáng tạo của các nhà phát minh nổi tiếng trong những lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kĩ thuật khác nhau với mục đích cung cấp cho người đọc những bài học sinh động, gợi ý độc giả đi theo con đường đầy lôi cuốn như những người xưa Bên cạnh đó, tác giả đã giới thiệu một số phương pháp sáng tạo như phương pháp tương tự, phương pháp “quay trở lại” các thành tựu cũ, phương pháp lật ngược và nhóm phương pháp tìm tòi ơrixtic Nhìn chung, cuốn

Trang 20

sách là tư liệu để NCS hiểu hơn về một số phẩm chất của các cá nhân có năng lực sáng tạo ở mức cao

- Cuốn Con đường dẫn tới phát minh, phát hiện khoa học nổi tiếng của Vũ

Bội Tuyền xuất bản năm 2006 đã trình bày khoảng 50 câu chuyện nhằm minh họa con đường dẫn tới phát minh, phát hiện khoa học nổi tiếng của các nhà khoa học trước đây thuộc nhiều lĩnh vực Điều này giúp NCS hiểu rõ hơn một số phẩm chất cần thiết của những cá nhân có năng lực sáng tạo ở mức cao

- Cuốn 365 lời khẳng định hàng ngày về sáng tạo của Janet Luongo xuất bản

bằng tiếng Việt năm 2010 do Nguyễn Minh Quang dịch Dưới hình thức là 365 những câu và đoạn văn ngắn diễn tả ở thì hiện tại, tác giả trình bày những suy nghĩ về những khía cạnh, tình huống, giai đoạn khác nhau liên quan đến hoạt động sáng tạo từ những xúc cảm, tình cảm, động cơ sáng tạo đến những trạng huống của tư duy giải quyết vấn đề Nó bao hàm cả những quan niệm và nguyên tắc mang tính thực hành của sáng tạo, những lời động viên, khích lệ sáng tạo, chẳng hạn “Cuộc sống nội tâm của một người sáng tạo càng phong phú và sâu sắc chừng nào thì những sáng tạo của họ càng độc đáo chừng ấy” [64, tr.49] Cuốn sách có tác dụng định hướng nâng cao năng lực sáng tạo của con người không chỉ

ở khía cạnh tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề mà còn ở khía cạnh động cơ và những yếu tố liên quan đến điều kiện vật chất của hoạt động sáng tạo Nhìn chung, nội dung của cuốn sách góp thêm tư liệu để NCS nghiên cứu về cách thức nâng cao năng lực sáng tạo ở mức khái quát, toàn diện hơn

Bên cạnh những cuốn sách chuyên khảo, có một số luận án tiến sĩ ít nhiều có bàn đến một số vấn đề liên quan đến sáng tạo nhất là khái niệm tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo như:

- Luận án tiến sĩ Phát triển tư duy sáng tạo kiến trúc ở sinh viên trong quá

trình đào tạo kiến trúc sư năm 2001 của Trần Đức Khuê Trong luận án, tác giả

đã xác định bản chất, cấu trúc và cơ chế vận hành tư duy sáng tạo trong thiết kế kiến trúc qua đó xây dựng những nguyên tắc có tính định hướng về mô hình đào tạo kiến trúc sư, đồng thời đề xuất phương thức cơ bản thúc đẩy sự hình thành và phát triển tư duy sáng tạo kiến trúc ở sinh viên Quan trọng hơn, tác giả đã xác định bản chất của tư duy sáng tạo là dựa trên hoạt động đặc thù của tinh thần (tư duy), từ đó tư duy sáng tạo kiến trúc được hiểu là năng lực hoạt động tinh thần để khám phá và sáng tạo ra nét mới, nét độc đáo trong thiết kế kiến trúc

Trang 21

- Luận án tiến sĩ Nâng cao năng lực tư duy sáng tạo của đội ngũ sĩ quan cấp

phân đội nhân dân Việt Nam hiện nay năm 2004 của Đào Văn Tiến đã ít nhiều đề

cập đến khái niệm, cấu trúc năng lực tư duy sáng tạo và biểu hiện của nó ở đội ngũ sĩ quan cấp phân đội Theo tác giả năng lực tư duy sáng tạo là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, liên tưởng, trừu tượng hóa, khái quát hóa, xử lý thông tin trong quá trình phản ánh tạo ra tri thức mới về đối tượng để chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người

- Luận án tiến sĩ Văn hoá thẩm mỹ và sự phát triển năng lực sáng tạo của con

người năm 2005 của Nguyễn Ngọc Thu Tác giả làm rõ vai trò của văn hoá thẩm

mỹ đối với sự phát triển năng lực sáng tạo của con người, phân tích những phương diện tác động căn bản của văn hoá thẩm mĩ đến sự phát triển năng lực sáng tạo của con người

Ngoài các công trình đã được in thành sách, những vấn đề về sáng tạo và liên quan đến sáng tạo thẩm mỹ (nghệ thuật) cũng đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên quan tâm viết thành một số bài đăng trên tạp chí Triết học như:

- Nguyễn Văn Huyên (1988), “Văn hoá thẩm mỹ và hoạt động sáng tạo của

con người”, Tạp chí Triết học (2), tr.39 - 45 Khi xác định vai trò của văn hóa

thẩm mỹ đối với sáng tạo, tác giả cho rằng cái cốt lõi nhất khi nghệ thuật tác động đến con người là làm cho trong năng lực cá nhân phát triển tất cả các tiềm năng: tiềm năng nhận thức, tiềm năng tạo dựng, tiềm năng định hướng - đánh giá và tiềm năng giao lưu Trình độ phát triển của các tiềm năng đó quy định sức mạnh của tính tích cực ở cá nhân trong toàn bộ các loại hoạt động sáng tạo

- Nguyễn Văn Huyên (1995), “Quá trình sáng tạo và sự phát triển nhân cách”,

Tạp chí Triết học (3), tr.9 - 12 Tác giả cho rằng, sáng tạo là một trong những

hình thức cao nhất trong việc khẳng định sự tồn tại và sự phát triển của chủ thể sáng tạo về mặt nhân cách Đặc trưng chủ yếu của quá trình sáng tạo là khi đạt được một mục tiêu nào đó thì mục tiêu đó lập tức phải trở thành tiền đề cho sự tìm tòi trên một trình độ mới; một kết quả phải vừa là nó, vừa là sự chuẩn bị cho

sự vượt qua chính nó Đây là biện chứng của sự phát triển sáng tạo

- Nguyễn Văn Huyên (1997), “Sự hình thành con người với tư cách chủ thể

sáng tạo”, Tạp chí Triết học (4), tr.12 - 15 Trên lập trường duy vật lịch sử, tác giả

khẳng định sự hình thành chủ thể sáng tạo diễn ra trong những điều kiện xã hội

mà ở đó cá nhân say mê với công việc mình lựa chọn, đã tích lũy được vốn tri

Trang 22

thức nhất định, ở đó con người vượt lên trên giới hạn tự nhiên của chính mình để tạo ra những giá trị mới Sự kết hợp hài hòa giữa hứng thú cá nhân với nghĩa vụ

xã hội, đáp ứng cả lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội (theo tác giả) là con đường phát triển của chủ thể sáng tạo

Như vậy, ở các bài báo trên tác giả đã nghiên cứu tính biện chứng của sáng tạo, của mối quan hệ giữa nghệ thuật và sáng tạo Đây cũng là những gợi ý rất quan trọng để tác giả luận án tham khảo xem xét vấn đề của mình rộng hơn dưới góc nhìn triết học

Là một chuyên gia nghiên cứu về tâm lý học sáng tạo, Phạm Thành Nghị không chỉ viết những giáo trình có quy mô lớn mà còn viết những bài báo trên các Tạp chí về nhân cách sáng tạo, sự sáng tạo của cá nhân và tổ chức trong các doanh nghiệp của Việt Nam, các bài báo như: Phạm Thành Nghị (2008), “Đặc

điểm nhân cách sáng tạo”, Tạp chí Nghiên cứu con người (3), tr.25-36; Phạm

Thành Nghị, Nguyễn Thành Đoàn (2013), “Quá trình sáng tạo của tổ chức trong

các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Tâm lý học (3), tr.1-11; Phạm Thành Nghị (2013), “Tính sáng tạo của cá nhân và tổ chức trong doanh nghiệp Việt Nam”,

Tạp chí Tâm lý học (2), tr.1-12 Nội dung những bài báo trên cũng góp thêm tư

liệu để luận án này có thể tổng hợp, khái quát ở mức cao hơn

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về sáng tạo ở nước ta và những cuốn sách của tác giả nước ngoài được dịch sang tiếng Việt đã có những luận bàn tương đối đầy đủ, chi tiết về những vấn đề của sáng tạo, năng lực sáng tạo của con người

Đó là những tư liệu rất cần thiết để NCS kế thừa những hạt nhân hợp lí và tiếp tục hoàn thiện hơn quan điểm về sáng tạo nói chung và năng lực sáng tạo nói riêng

* Các công trình nghiên cứu về tư duy dưới góc độ Sáng tạo học

Trong sáng tạo, tư duy có vai trò quan trọng bậc nhất, không thể có sáng tạo

mà không có tư duy, không cần đến tư duy Có nhiều công trình về tư duy ở góc tiếp cận triết học và ở các góc độ tiếp cận hẹp hơn khác nhau Một số công trình tiêu biểu về tư duy có thể kể ra như sau:

- Những tác phẩm làm rõ, sâu sắc hơn quan điểm duy vật biện chứng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về tư duy, nhận thức luận và lôgic học

như: Nguyên lý lôgíc biện chứng của M.M Rôdentan dịch sang Tiếng Việt năm 1962; Phương pháp nhận thức biện chứng của A.P Septulin dịch sang tiếng Việt năm 1987 bởi Nguyễn Đình Lâm và Nguyễn Thanh Thủy; Một số vấn đề về nhận

Trang 23

thức quy luật và mâu thuẫn của Nguyễn Ngọc Hà xuất bản năm 1998; Các dạng khái quát hóa trong dạy học của V.V Đavưđôv dịch sang Tiếng Việt năm 2000; Lôgíc học biện chứng của E.V ILencôv do Nguyễn Anh Tuấn dịch xuất bản bằng

tiếng Việt năm 2003; Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện

nay: một số vấn đề lý luận (Nguyễn Ngọc Hà chủ biên) xuất bản năm 2011

Những tác phẩm trên giúp NCS hiểu rõ ràng hơn quan niệm mác xít về tư duy và một số vấn đề liên quan

Trong lịch sử triết học quan niệm duy tâm tiêu biểu nhất về tư duy có thể kể đến là quan niệm của nhà triết học duy tâm biện chứng lỗi lạc G.W.F Hegel được

thể hiện trong các tác phẩm như Hiện tượng học tinh thần được Bùi Văn Nam Sơn dịch sang tiếng Việt và chú giải năm 2005, cuốn Bách khoa thư các khoa học

triết học I : Khoa học Lôgíc cũng do dịch giả nêu trên thực hiện năm 2008 Với

Hegel tư duy là hiện thân của ý niệm tuyệt đối trong hoạt động của con người và

xã hội

Một số công trình nghiên cứu về tư duy được thực hiện theo các hướng tiếp cận khác nhau Điều này xuất hiện yêu cầu cần phải tổng hợp, thống nhất các cách tiếp cận đó để đem lại cách hiểu về tư duy toàn diện hơn, sâu sắc hơn:

- Cuốn Phương pháp 3 Tri thức về tri thức của Edgar Morin xuất bản tiếng

Việt năm 2006 do Lê Diên dịch Với thuyết tư duy phức hợp, tác giả phân tích và luận chứng về tri thức luận phức hợp Tri thức không phải là những mảnh vụn, bị cắt xén mà cần phải là những tri thức phức hợp - như tấm thảm được đan kết bởi những tri thức riêng lẻ thành một khối Trong cuốn sách, tác giả đưa ra định nghĩa

về tư duy

- Cuốn Một tư duy hoàn toàn mới của Daniel H Pink xuất bản bằng tiếng

Việt năm 2008, Lotus dịch Với quan niệm “bán cầu não phải sẽ thống trị tương lai” tác giả không chỉ phân tích, lập luận cho ưu thế não phải đối với hoạt động sáng tạo, hoạt động trực giác mà còn đưa ra những chỉ dẫn cụ thể để phát huy tối

đa khả năng to lớn của bán cầu não phải - khả năng đồng cảm Cuốn sách làm rõ hơn cơ sở sinh lý thần kinh cao cấp của tư duy, tư duy sáng tạo

- Cuốn Tư duy như một hệ thống của David Bohm xuất bản bằng Tiếng Việt

năm 2011, Tiết Hùng Thái dịch Bên cạnh việc tiếp cận tư duy ở trạng thái phân mảnh, tách rời với các bộ phận khác, ông đã xem xét tư duy trong mối liên hệ chặt chẽ có tính hệ thống với cảm giác, cảm xúc, tình cảm và sinh lý cơ thể

Trang 24

- Cuốn Trí tuệ xúc cảm của Daniel Goleman xuất bản bằng tiếng Việt năm

2011, Nguyễn Kiến Giang dịch Với quan niệm “trí tuệ xúc cảm” là nghệ thuật kiểm soát cảm xúc và định hướng nó một cách đúng đắn, tác giả cuốn sách cho thấy tầm quan trọng của cảm xúc và ảnh hưởng của nó đến đời sống của con người Chủ đề này có mối quan hệ chặt chẽ với động cơ sáng tạo và do vậy góp phần làm sáng tỏ hơn vai trò của động cơ đối với hoạt động sáng tạo

- Cuốn 7 loại hình thông minh của Thomas Armstrong xuất bản bằng tiếng

Việt năm 2012, Mạnh Hải và Thu Hiền dịch Tiếp nối lý thuyết Đa trí thông minh của Howard Gardner, tác giả trình bày 7 loại hình trí thông minh: trí thông minh ngôn ngữ, trí thông minh không gian, trí thông minh âm nhạc, trí thông minh vận động cơ thể, trí thông minh logic, trí thông minh tương tác cá nhân và trí thông minh nội tâm và định nghĩa trí thông minh “là khả năng ứng phó thành công với hoàn cảnh, điều kiện mới và năng lực học hỏi được từ kinh nghiệm đã trải qua của cá nhân khác” [2, tr.17] Vậy có mối liên hệ gì giữa sáng tạo và trí thông minh, đây là vấn đề quan trọng mà luận án cũng cần giải quyết

- Cuốn Khinh - Trọng quyển II (Cơ sở lý thuyết) của Tô Duy Hợp xuất bản

năm 2012 Từ việc nghiên cứu và hóa giải song đề giữa lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng, tác giả xây dựng, phân tích cặp phạm trù khinh - trọng, nguyên tắc khinh - trọng và các khung mẫu khinh - trọng nhằm góp phần thấu hiểu và hóa giải các song đề (chính đề hoặc/và phản đề) nói chung, song đề lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng nói riêng

Như vậy, những công trình nghiên cứu trên cho thấy cần phải có cách hiểu về

tư duy một cách toàn diện và khái quát hơn trong đó cần phải tổng hợp được những yếu tố tích cực của các quan điểm khác nhau về tư duy

Bên cạnh đó, có những công trình nghiên cứu về cách thức hiệu quả của tư duy đưa ra ý tưởng, lời giải của vấn đề Đây là vấn đề quan trọng của tư duy, của hoạt động sáng tạo Có nhiều cuốn sách về vấn đề này như:

- Cuốn Luyện trí sáng tạo của Samm.S Baker xuất bản bằng tiếng Việt năm

2001, Dương Hội và Tạ Văn Doanh biên dịch, đã giới thiệu phương pháp sáng tạo sáu bước Trong đó, đáng chú ý ở bước 5: việc để cho các sự kiện và các ý tưởng

“âm ỉ” sôi trong tâm trí đã đề cao vai trò của tiềm thức và cả vô thức đối với hoạt động của tư duy hình thành ý tưởng

Trang 25

- Cuốn 6 chiếc mũ tư duy của Edward De Bono xuất bản bằng tiếng Việt năm

2003, người dịch Thanh Châu, đã đưa ra phương pháp tư duy giải quyết vấn đề chủ yếu được áp dụng trong việc giải quyết vấn đề chung của tập thể ở các công

ty, tổ chức… Tác giả đề xuất phương pháp tư duy song song cùng với trình tự tư duy theo biểu tượng của 6 chiếc mũ (mũ trắng, mũ đỏ, mũ đen, mũ vàng, mũ lục,

mũ lam) được coi là phương pháp tương đối hiệu quả

- Cuốn Suy nghĩ - hành động sáng tạo trong kinh doanh của Mỹ Ly và Lan

Khanh xuất bản năm 2004 Từ định nghĩa tính sáng tạo, các tác giả đã trình bày cách thức làm giàu bằng các phương pháp suy nghĩ mới để giải phóng các ý tưởng đột phá Bên cạnh đó, các tác giả còn trình bày phương pháp giải quyết vấn

đề sáng tạo theo mô hình CPS

- Cuốn Bí quyết sáng tạo của Jack Foster, Nguyễn Minh Hoàng biên dịch

xuất bản năm 2005, đã trình bày các cách tạo ra những điều kiện cần thiết cho trí não hoạt động phát sinh ý tưởng, từ sự tạo ra tâm lí thoải mái, đặt mục tiêu cho trí não đến việc học cách tư duy, phối hợp, thu thập thông tin, đi tìm ý tưởng, quên phứt nó đi và biến ý tưởng thành hành động

- Cuốn Sáng tạo sản phẩm mới (tập 1) của Phúc Kỳ xuất bản năm 2006, đã

đưa ra cách thức để sáng tạo ra sản phẩm mới trên con đường làm giàu đáp ứng nhu cầu của thị trường, bên cạnh đó còn có những lời khuyên, khích lệ hoạt động sáng tạo ra sản phẩm mới

- Cuốn Đột phá sức sáng tạo của Michael Michalko xuất bản bằng tiếng Việt

năm 2007, Mai Hạnh và Quỳnh Chi dịch Từ sự nghiên cứu cách thức tư duy của các thiên tài trong lịch sử, tác giả phát hiện những chiến lược tư duy như nhận ra những điều người khác không thấy (biết cách nhìn nhận, trình bày suy nghĩ bằng những hình ảnh trực quan), nghĩ những điều không ai nghĩ tới Và từ đó hướng dẫn cách áp dụng chúng để trở nên sáng tạo hơn trong công việc Nhìn chung, cuốn sách nghiên cứu về tư duy sáng tạo của những thiên tài khoa học trong lịch

sử đã cho thấy rõ nét hơn tầm quan trọng của tư duy sáng tạo đối với năng lực sáng tạo của chủ thể

- Cuốn Rèn luyện IQ phát triển tư duy sáng tạo của Kal Russell dịch sang

tiếng Việt năm 2008, Minh Đức biên dịch Cuốn sách là những bài tập thực hành (khoảng trên 120 bài tập) rèn luyện tư duy sáng tạo cùng với những đáp án gợi

mở Cuốn sách là một sự tập hợp các tình huống, vấn đề đòi hỏi cần có tư duy

Trang 26

sáng tạo mới giải quyết được điều này góp phần giúp người đọc nâng cao năng lực tư duy sáng tạo

- Cuốn Đổi mới tư duy - 101 cách khơi nguồn sáng tạo của Rob Eastaway

xuất bản bằng tiếng Việt năm 2012, Phạm Anh Tuấn dịch Tác giả chủ yếu đưa ra quan điểm gắn với những bài tập rèn luyện về cách thức phát sinh ý tưởng từ việc xác định thái độ sáng tạo đến cân nhắc vấn đề và đến các cách tiếp cận để có được những ý tưởng, ý tưởng sáng tạo

Bên cạnh những cuốn sách trên, trong bộ sách 10 tập xuất bản năm 2012 của tác giả Phan Dũng, có một số tập bàn trực tiếp về nguyên tắc, phương pháp tư duy giải quyết vấn đề như:

- Tập 4: Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (1) và Tập 5: Các thủ

thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (2), đã trình bày 40 thủ thuật sáng tạo cơ bản

của TRIZ và kèm theo các ví dụ minh họa

- Tập 6: Các phương pháp sáng tạo đã trình bày tổng quan các phương pháp

sáng tạo của và không phải của TRIZ Có thể nói, đây là tài liệu quan trọng trong nghiên cứu về cách thức nâng cao hiệu quả của tư duy sáng tạo

- Tập 8: Hệ thống các chuẩn dùng để giải các bài toán sáng tạo Ở tập này

tác giả đã giới thiệu các khái niệm về vepol (vepol được coi là hệ thống kỹ thuật nhỏ nhất gồm hai chất và một trường) Sử dụng các ký hiệu trong biểu diễn vepol

và phân tích vepol tác giả cho thấy sự giống nhau về cách giải các bài toán thuộc các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau, nhờ vậy, các lời giải chuẩn (các chuẩn) dần dần được phát hiện (TRIZ có 76 chuẩn)

- Tập 9: Algôrit (Algorithm) giải các bài toán sáng chế (ARIZ) là cuốn sách

trình bày nội dung cơ bản, là hạt nhân của TRIZ ARIZ là chương trình lôgíc mang tính định hướng, được kế hoạch hóa, gồm nhiều bước nhằm tổ chức hợp lý

và có hiệu quả quá trình suy nghĩ giải các bài toán sáng chế Xây dựng ARIZ từ năm 1946 nhưng G.S Altshuller đã liên tục hoàn thiện cải tiến dần dần với nhiều phiên bản, biến thể khác nhau và phiên bản ARIZ mới nhất, hoàn thiện nhất là ARIZ - 85C Có thể nói, ARIZ đã đem lại hiệu quả cao cho tư duy giải quyết các vấn đề sáng chế kỹ thuật Đây là một trong những tư liệu quan trọng để NCS nghiên cứu phương hướng nâng cao năng lực tư duy sáng tạo

Như vậy, có khá nhiều cách thức hiệu quả để tư duy đi đến ý tưởng, lời giải của vấn đề Những công trình trên là tư liệu quan trọng để NCS phân tích đưa ra

Trang 27

quan điểm khái quát, toàn diện về cách thức tư duy hiệu quả trong việc tạo ra ý tưởng, lời giải của vấn đề

1.2 Các nghiên cứu về nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay

* Một số công trình nghiên cứu về đổi mới giáo dục đại học Việt Nam hiện nay

Nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên Hàng hải Việt Nam trong bối cảnh hiện nay ở nước ta gắn với việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục - đào tạo đại học nói riêng

Đứng trước khủng hoảng về giáo dục - đào tạo, ở nước ta gần đây đã có nhiều cuộc hội thảo, các cuốn sách và bài báo đăng trên các tạp chí uy tín bàn về thực trạng, nguyên nhân và đề ra những giải pháp nhằm đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục - đào tạo nước nhà

Cuốn Những vấn đề giáo dục hiện nay: Quan điểm và giải pháp của nhiều tác

giả (Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Vũ Quang Việt…) xuất bản năm 2008 Đây là cuốn sách gồm các bài viết về các vấn đề mấu chốt và cấp bách của nền giáo dục nước nhà do các tác giả trong và ngoài nước viết Nhìn chung cuốn sách này chưa

đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên, các bài mới chủ yếu đề cập đến mục tiêu, phương hướng đổi mới giáo dục mà phần lớn hướng

đến đổi mới giáo dục đại học Trong đó đặc biệt là bản Kiến nghị của hội thảo về

chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục do 24 nhà khoa học, văn hóa lớn của

Việt Nam ở trong và ngoài nước (như GS Hoàng Tụy, GS Lê Dũng Tráng (Trung tâm quốc tế Vật lý lý thuyết (ICTP), Trieste (Ý)), Nhà văn Nguyên Ngọc…) gửi Trung ương Đảng và Chính phủ Đây là bản kiến nghị được soạn thảo rất công phu, mang tính khoa học và thực tiễn cao Ở bản kiến nghị có nêu lên thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh sự yếu kém về năng lực sáng tạo: “Nhân lực không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế Yếu kiến thức, kém kỹ năng thực hành, ít khả năng xoay xở, thiếu đầu óc tưởng tượng và năng lực sáng tạo…” [78, tr.33] Nhìn chung, công trình này góp phần giúp NCS đánh giá đúng đắn về thực trạng năng lực sáng tạo của sinh viên Hàng hải Việt Nam hiện nay

Cuốn Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam của Phạm Minh Hạc xuất bản

năm 2011 Với sự trải nghiệm và nghiên cứu lâu năm trong lĩnh vực giáo dục, tác

Trang 28

giả đã trình bày có hệ thống những quan điểm triết học, triết lý trên thế giới và Việt Nam Nhưng điểm nổi bật của tác phẩm là triết lý giáo dục giá trị bản thân của tác giả đề xuất Đây quả là công trình khoa học công phu và có nhiều điểm mới Nội dung triết lý giáo dục “giá trị bản thân” của tác giả Phạm Minh Hạc ngắn gọn ở chỗ: “Triết lý giáo dục “giá trị bản thân” hình thành, phát triển, phát huy tâm lực, trí lực, thể lực đặt mục đích giáo dục là phải đi đến chỗ tạo nên năng lực - cái có ý nghĩa - mang lại lợi ích - cho chính người đó và cho người khác (gia đình, xã hội…) Có thể nói, giá trị này có thể tạo ra giá trị khác, tạo ra cuộc sống cho con người và cộng đồng” [39, tr.277] Với quan điểm triết lý trên, thì vai trò của năng lực sáng tạo chưa được chú ý đúng mức

Cuốn Giáo dục: Xin cho tôi nói thẳng của Hoàng Tụy xuất bản năm 2011 là

tập hợp những bài viết của tác giả đã đăng tải trên các phương tiện truyền thông

về thực trạng, nguyên nhân và một số đề xuất giải pháp đổi mới giáo dục ở Việt Nam Cuốn sách thể hiện sự ưu tư, trăn trở và tấm lòng nhiệt huyết dành cho sự phát triển giáo dục nước nhà của một nhà toán học nổi tiếng Trong cuốn sách, những giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên chưa được đề cập

Cuốn Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc

tế của nhiều tác giả (Trần Quốc Toản chủ biên) xuất bản năm 2012 đã tập trung

nghiên cứu làm rõ bản chất của giáo dục, hoạt động giáo dục trong điều kiện kinh

tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, các tác giả đề xuất hệ thống các định hướng nội dung và giải pháp đổi mới, phát triển giáo dục - đào tạo Đây là công trình khoa học có chiều sâu và hệ thống với sự tham gia và cộng tác của đông đảo các nhà nghiên cứu trong nước Tuy nhiên, về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng thì cuốn sách mới chỉ nêu những mục tiêu và phương hướng đổi mới là chủ yếu, chưa đề cập hệ thống những giải pháp cụ thể và chưa đề cập trực tiếp việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên

Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

do Chính phủ ban hành ngày 4/11/2013 Đây là văn kiện quan trọng nhất đối với công cuộc đổi mới giáo dục - đào tạo của nước nhà Những quan điểm đổi mới trong Nghị quyết trở thành định hướng cho việc đổi mới toàn diện giáo dục ở các cấp (trong đó có giáo dục đại học) mà trước hết ở các cơ sở giáo dục công lập Do vậy, các quan điểm đổi mới khác chỉ mang ý nghĩa tham khảo hoặc là làm cụ thể

Trang 29

hơn, chi tiết hơn những quan điểm đổi mới trong Nghị quyết số 29-NQ/TW Trong Nghị quyết, mục tiêu đổi mới giáo dục đại học được xác định như sau (trích lược tại [114]): Mục tiêu cụ thể đối với giáo dục đại học (được trích lược):

thứ nhất, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao , bồi dưỡng nhân tài , phát triển

phẩm chất và năng lực tự ho ̣c , tự làm giàu tri thức , sáng tạo của người học ; thứ

hai, hoàn thiện ma ̣ng lưới các cơ sở giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c , cơ cấu ngành ngh ề và trình

độ đào tạo phù hợp với qu y hoa ̣ch phát tri ển nhân lực qu ốc gia (trong đó có mô ̣t

số trường và ngành đào ta ̣o ngang tầm khu vực và quốc tế ); thứ ba, đa dạng hóa

các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát tri ển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế

Nội dung trên cho thấy phẩm chất “sáng tạo” ở sinh viên được coi là một trong những phẩm chất cần có, cần hình thành Ngoài ra, những quan điểm trên

về mục đích và biện pháp chỉ mang tính phương hướng chỉ đạo Để có thể áp dụng được ở các trường đại học cần phải cụ thể hoá chúng Thêm nữa, nội dung

về đổi mới giáo dục đại học chưa được đề cập tương xứng với tầm quan trọng của

Cuốn Nghịch lý và lối thoát - Bàn về triết lý phát triển khoa học và giáo dục

Việt Nam của Vũ Cao Đàm xuất bản năm 2014 Đây quả là công trình nghiên cứu

công phu với tư duy sắc sảo đã thẳng thắn chỉ ra những nguy cơ, hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và chỉ ra cách khắc phục của nền giáo dục - đào tạo Việt Nam nhất là giáo dục đại học Nội dung nổi bật hơn cả là tác giả đề xuất và luận chứng

về triết lý phát triển khoa học và giáo dục áp dụng cho việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo ở nước ta Bằng cách tiếp cận hệ thống tác giả Vũ Cao Đàm đưa ra 6 Triết lý khoa học và giáo dục Việt Nam trong đó có những triết lý rất đáng quan tâm như: “Triết lý 1: Giáo dục phải vượt lên trước khoa học, đóng vai trò là người dẫn đường cho khoa học Việt Nam phát triển; Triết lý 2: Mẫu người được đào tạo phải là mẫu người lao động sáng tạo, biết khám phá tương lai

và biết tìm biện pháp thích ứng với tương lai luôn biến đổi ; Triết lý 3: Nội dung đào tạo phải hướng theo những nội dung về phương pháp lao động sáng tạo, về phương pháp khám phá tương lai và tìm biện pháp sẵn sàng thích ứng với tương

lai luôn biến đổi” [29, tr.350] Như vậy với những triết lý trên tác giả rất coi trọng

phẩm chất sáng tạo ở người học

Trang 30

Cuốn Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam - thời cơ, thách thức

và những vấn đề đặt ra của nhiều tác giả (Phạm Văn Linh chủ biên), xuất bản

năm 2014 Công trình là tập hợp những bài viết của nhiều tác giả tập trung vào việc đánh giá thực trạng, nguyên nhân và đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục từ giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến giáo dục đại học Tuy nhiên, trong cuốn sách các tác giả chủ yếu chỉ đưa ra mục tiêu và phương hướng đổi mới giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng, chứ chưa đề xuất những giải pháp cụ thể Bên cạnh đó, phẩm chất sáng tạo cũng được Bùi Anh Tuấn coi là phẩm chất quan trọng ở sinh viên trong bài “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam - thời cơ, thách thức và những vấn

đề đặt ra”

Như vậy, những công trình trên đã cung cấp cho NCS những tư liệu cần thiết

để phác họa một bức tranh khái quát về thực trạng, nguyên nhân và nhất là những quan điểm, triết lý đổi mới giáo dục đại học ở nước ta Tuy nhiên, ở những công trình trên việc nêu ra mục tiêu và giải pháp đổi mới giáo dục đại học chỉ mang tính định hướng, còn sáng tạo đã được coi là phẩm chất quan trọng ở người học (sinh viên), nhưng chưa có giải pháp cụ thể nào nâng cao nó

Bên cạnh các công trình tiêu biểu trên, còn có một số luận án tiến sỹ liên quan

ít nhiều đến việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên, nâng cao chất lượng, giáo dục đào tạo đại học như:

- Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục của Nguyễn Đức Ca: Quản lý chất lượng

đào tạo theo ISO 9001:2000 trong trường Đại học Hàng hải Việt Nam năm 2001

đã tiến hành điều tra, đánh giá thực trạng quản lý chất lượng đào tạo đại học cho ngành hàng hải trong trường Đại học Hàng hải Việt Nam theo ISO 9001:2000, từ

đó đề xuất các giải pháp triển khai công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhân lực ngành hàng hải;

- Luận án tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Bá Cần Hoàn thiện chính sách phát

triển giáo dục đại học Việt Nam hiện nay (năm 2001) đã phần nào làm rõ những

vấn đề cơ bản về chính sách phát triển giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường Hơn nữa, luận án này đã đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học ở nước ta trong những năm tới;

Trang 31

- Luận án tiến sĩ Tâm lí học của Đặng Thị Vân Biểu hiện sáng tạo trong học

tập của sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội năm 2005 đã đi tìm hiểu

biểu hiện sáng tạo trong học tập của sinh viên và một số nhân tố tác động, trên cơ

sở đó đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp phát huy tính sáng tạo của sinh viên

Những luận án tiến sĩ trên cung cấp cho NCS một số tư liệu tham khảo liên quan trực tiếp đến đổi mới giáo dục đại học từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Bên cạnh đó, có một số bài viết trên các báo điện tử về đổi mới giáo dục - đào

tạo như: Bài viết của tác giả Đặng Ngọc Dinh: Thử tìm nguyên nhân và giải pháp

chấn hưng nền giáo dục Việt Nam trên website http://nistpass.gov.vn đã nêu

những nguyên nhân của sự yếu kém trong việc đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam và từ đó đề ra giải pháp chiến lược: Cải cách GD&ĐT theo hướng hội nhập

quốc tế; Bài trao đổi của phóng viên Ngọc Quang với GS Nguyễn Minh Thuyết với nhan đề: Đổi mới giáo dục còn chạy vòng quanh đến bao giờ? trên website:

http://giaoduc.net.vn GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng lần cải cách lần thứ 5 này (Nước ta đã có 4 cải cách và đổi mới vào các năm 1950, 1956, 1979 và 2000, nhưng cả 4 lần chỉ liên quan đến giáo dục phổ thông) giáo dục đại học không được quan tâm đúng mức, trong khi đấy là nơi chịu trách nhiệm cuối cùng đưa sản phẩm giáo dục ra xã hội, là trận địa quyết định chất lượng nguồn nhân lực, nhưng lại là khâu yếu nhất; Bài viết trên website http://giaoduc.net.vn với nhan

đề: GS Hoàng Tụy chỉ đích danh "căn bệnh" tàn phá giáo dục Việt Nam Ở bài

báo này GS Hoàng Tụy cho rằng cái lỗ hổng quản lý gây nên hoặc làm trầm trọng thêm hầu hết căn bệnh trầm kha đã ra sức tàn phá giáo dục là lương thấp của đội ngũ giáo viên, giảng viên Do vậy, vấn đề cấp bách số 1 trong đổi mới giáo dục là cần cải thiện chính sách đối với người thầy

Tóm lại, những tài liệu trên là một trong những căn cứ để chúng tôi đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên

Hàng hải Việt Nam hiện nay

* Những tài liệu, thông tin làm cơ sở xác định thực trạng và xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay

Trang 32

Có thể nói hiện nay chưa có những giải pháp nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam, việc đổi mới giáo dục đại

học của Trường được tiến hành trên tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi

mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo do Chính phủ ban hành ngày 4/11/2013

Những tài liệu liên quan đến việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên Đại học Hàng hải Việt Nam bao gồm một số tư liệu, kênh thông tin, văn bản sau:

- Website http://www.vimaru.edu.vn là kênh thông tin hữu ích để NCS nắm bắt cụ thể một số mặt hoạt động của Nhà trường nhất là ở mảng giáo dục - đào tạo

- Cuốn Sổ tay Sinh viên (lưu hành nội bộ) của Trường Đại học Hàng hải Việt

Nam xuất bản năm 2014 là cuốn chứa nhiều thông tin về chương trình đào tạo, thi cử của Nhà trường

- Các dữ liệu, văn bản từ Phòng Đào tạo, Phòng Khoa học - Công nghệ, Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng… cung cấp cho chúng tôi những số liệu, thông tin phục vụ trong việc đánh giá thực trạng năng lực sáng tạo của sinh viên Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường của Trương Thị Như: Phát huy tinh

thần tự học của sinh viên Trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiệm thu năm 2005, là đề tài trực tiếp liên quan đến lĩnh

vực giáo dục ở Đại học Hàng hải mà tác giả của luận án có thể sử dụng một số kết quả nghiên cứu cũng như số liệu cần thiết

Như vậy, những tài liệu trên giúp NCS hiểu rõ về thực trạng năng lực sáng tạo của sinh viên hàng hải Việt Nam hiện nay

Về việc đổi mới giáo dục đại học ở trường Đại học Hàng hải Việt Nam

Ngay từ khi Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo do Chính phủ ban hành ngày 4/11/2013 có hiệu lực, Ban giám hiệu trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã triển khai đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo theo tinh thần của Nghị quyết Cụ thể

Thực hiện Kế hoạch công tác năm học 2014 - 2015, Hội nghị Bộ môn mở rộng năm 2014 của Nhà trường đã được tổ chức từ 24 - 26/10/2014 tại tỉnh Hòa Bình với chủ đề “Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy” Sau đó, thực hiện kết luận tại Hội nghị Bộ môn mở rộng năm học 2014 - 2015 Ban Giám hiệu

Trang 33

Nhà trường thống nhất chỉ đạo tổ chức Hội thảo theo chuyên đề: “Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và đánh giá học tập” ở cấp cơ sở trực thuộc và các

Bộ môn trong toàn Trường năm học 2014 - 2015 Hội thảo được tổ chức ở 02 cấp: cấp Bộ môn và cấp cơ sở trực thuộc Trường

Bên cạnh tổ chức các buổi Hội thảo về đổi mới giáo dục, trong năm học 2014

- 2015 Ban Giám hiệu Nhà trường đã cho tiến hành rà soát, chỉnh sửa Đề cương

và Bài giảng chi tiết ở các Bộ môn trong toàn Trường theo tinh thần của Nghị

quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

1.3 Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Từ việc tổng quan những công trình liên quan đến đề tài cho thấy:

- Triết học Mác - Lênin đã đặt cơ sở lý luận căn bản để hiểu “sáng tạo”,

“năng lực sáng tạo” một cách đúng đắn, toàn diện, triệt để Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ bước đầu nêu một số nội dung về sáng tạo Công việc tiếp theo là cần phải hoàn thiện, phát triển các quan niệm mácxít về sáng tạo, năng lực sáng tạo của con người (dưới góc độ triết học) một cách hệ thống và sâu sắc hơn

- Sáng tạo, năng lực sáng tạo có thể được tiếp cận ở góc độ Tâm lý học, Sinh

lý học thần kinh cao cấp, Lôgíc học hay ở góc độ Văn hóa - xã hội, trong đó Tâm

lý học sáng tạo đã phát triển bứt phá hơn cả Có thể nói lý luận về sáng tạo, năng lực sáng tạo của con người ở góc độ Tâm lý học đã có sự phát triển vượt bậc từ sau Thế chiến thứ hai Nhiều vấn đề lý luận của sáng tạo học dần dần được làm sáng tỏ bằng lý thuyết và thực nghiệm như: định nghĩa khái niệm sáng tạo, các giai đoạn sáng tạo, thuộc tính của sáng tạo, động cơ sáng tạo, tư duy sáng tạo và đặc trưng của tư duy sáng tạo, đặc điểm của nhân cách sáng tạo, giải quyết vấn đề sáng tạo Tuy nhiên, nhìn chung những quan điểm lý luận về sáng tạo còn thiếu tính hệ thống, chỉnh thể Đối với năng lực sáng tạo, đại đa số các công trình về sáng tạo bằng hình thức trực tiếp hay gián tiếp ít nhiều đều có mục đích xác định phương hướng hoặc đưa ra cách thức nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của con người Ở các công trình nghiên cứu trên, việc nâng cao năng lực sáng tạo của con người đã được xét theo các khía cạnh: nâng cao năng lực tư duy sáng tạo (chủ yếu

là các phương pháp nâng cao tính hiệu quả của tư duy giải quyết vấn đề), hình thành động cơ sáng tạo, tạo dựng môi trường sáng tạo, nâng cao phẩm chất của nhân cách sáng tạo, hoàn thiện não bộ của con người Tuy nhiên, do tiếp cận ở góc độ hẹp (Tâm lý học, Sinh lý học thần kinh cao cấp, Văn hóa - xã hội, Kỹ

Trang 34

thuật - công nghệ) nên các phương hướng, giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo của con người ở các công trình nghiên cứu trên chưa mang tính toàn diện, ít tính khái quát

- Khi tổng quan những tài liệu liên quan đến tư duy dưới góc độ Sáng tạo học cho thấy tư duy có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sáng tạo của con người, không có tư duy thì không thể có sáng tạo Bên cạnh quan niệm mácxít về tư duy, đã có những quan điểm khác về tư duy có chứa đựng nhân tố hợp lý nhất định Đó là quan niệm của David Bohm về tư duy như một hệ thống, quan niệm của Edgar Morin về tư duy phức hợp hoặc quan niệm của Daniel Goleman về vai trò đáng kể của xúc cảm trong hoạt động của tư duy, trí tuệ Do vậy, trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, cần có sự tích hợp các nhân tố hợp lý đó để đưa lại quan niệm đúng đắn, toàn diện hơn về khái niệm quan trọng này Bên cạnh đó, dưới góc độ Sáng tạo học, có không ít cách thức nâng cao tính hiệu quả của tư duy đi đến ý tưởng, lời giải của vấn đề Trong đó tiêu biểu nhất là

Lý thuyết giải các bài toán sáng chế của G.S Altshuller Song dưới góc độ của

triết học, vẫn cần phải nghiên cứu khái quát hơn về phương hướng nâng cao tính hiệu quả của tư duy giải quyết vấn đề

- Ngoài ra, qua việc tổng quan những nghiên cứu liên quan đến việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay, chúng tôi nhận thấy rằng đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu, khoa học

về triết lý giáo dục, những quan điểm, mục tiêu và giải pháp đổi mới giáo dục - đào tạo nói chung và đổi mới giáo dục đại học nói riêng ở nước ta hiện nay Một

số ít trong các công trình đó đã coi sáng tạo là phẩm chất quan trọng cần có ở người học (sinh viên) Tuy vậy, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra những giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên Việt Nam nói chung

Và với trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay tình hình cũng như vậy

Kế thừa những thành quả nghiên cứu của những người đi trước, từ góc độ triết học luận án cần làm rõ một số vấn đề sau:

- Thứ nhất, làm sáng tỏ bản chất của sáng tạo thông qua việc : 1/ Định nghĩa

hoặc định nghĩa lại để làm rõ hơn nội hàm các khái niệm như sáng tạo, ý tưởng, ý tưởng sáng tạo, lời giải, sáng kiến, tính sáng tạo, vấn đề, vấn đề sáng tạo, tư duy,

tư duy sáng tạo; 2/ Chỉ ra các bộ phận hợp thành của sáng tạo, vị trí và vai trò của chúng; 3/ Xác định rõ mâu thuẫn của quá trình sáng tạo, sự phát triển sáng tạo,

Trang 35

các giai đoạn của sáng tạo, những thuộc tính của sáng tạo và đặc trưng của sáng tạo

- Thứ hai, làm sáng tỏ bản chất của năng lực sáng tạo thông qua việc làm rõ

nội hàm khái niệm năng lực sáng tạo, mức độ sáng tạo

- Thứ ba, xác định một cách toàn diện, khái quát những phương pháp chung

của việc nâng cao năng lực sáng tạo cho con người để lấy đó làm cơ sở lý luận phục vụ đánh giá thực trạng hướng tới xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay

Trang 36

Chương 2

LÝ LUẬN CHUNG VỀ SÁNG TẠO 2.1 Định nghĩa khái niệm “sáng tạo”

2.1.1 Các định nghĩa tiêu biểu về sáng tạo

Định nghĩa về sáng tạo luôn là thao tác tư duy quan trọng đầu tiên để hiểu về sáng tạo và một phần bản chất của sáng tạo từ đó thấy được sự khác biệt cơ bản giữa hoạt động sáng tạo với các hoạt động khác của con người

Có nhiều định nghĩa về sáng tạo và có thể chia chúng về các nhóm sau:

- Nhóm định nghĩa Sáng tạo như là hoạt động của con người tạo ra cái mới,

có thể kể đến một số định nghĩa sau:

Theo L.X Vưgốtxki sáng tạo là: “hoạt động tạo ra cái mới không phân biệt kết quả tạo ra nó có ý nghĩa hiện thực cụ thể hay có ý nghĩa về mặt tư duy - tình cảm” [trích theo 89, tr.25] Như vậy, tác giả rất đề cao việc tạo ra “cái mới” trong hoạt động sáng tạo

E.P Torance (Mĩ) xem cái mới là kết quả của các giả thuyết xuất phát: “Sáng tạo là quá trình xác định các giả thuyết nghiên cứu chúng và tìm ra kết quả” [trích theo 89, tr.25] Với quan niệm này, sáng tạo chỉ bó hẹp trong hoạt động nhận thức

Tác giả Nguyễn Đức Uy dưới góc độ diễn trình sáng tạo đã cho rằng sáng tạo là: “sự đột khởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh từ

sự độc đáo của một cá nhân, và những tư liệu biến cố, nhân sự hay những hoàn cảnh của đời người ấy” [102, tr.9] Như vậy, theo tác giả “cái mới” xuất hiện một cách bất ngờ

Mặc dù sự tiếp cận về đối tượng ở các góc độ khác nhau nhưng nhóm định

nghĩa trên có điểm chung: đều coi sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới Tuy

nhiên, trên thực tế có những giải pháp mới, sản phẩm mới nhưng lại không khả thi, sản phẩm không có giá trị nên sự sáng tạo cần có cả yếu tố “mới” và “giá trị”

- Nhóm định nghĩa sáng tạo như là hoạt động tạo ra cái mới có giá trị hay

giá trị mới, gồm các định nghĩa như:

Theo Từ điển triết học, “sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học kỹ thuật, tổ chức quân sự Có thể nói

Trang 37

sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần” [trích theo

89, tr.24 - 25] Với quan niệm trên, sản phẩm sáng tạo phải là cái mới về chất Tác giả Phan Dũng cho rằng: “Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng thời tính mới và tính ích lợi” [17, tr.14] Chủ thể sáng tạo được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là con người, mà còn cả sự sáng tạo trong giới tự nhiên Tác giả Lê Huy Hoàng quan niệm giá trị mới về chất được tạo ra trên cơ sở các quy luật khách quan: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người, trên cơ

sở nhận thức được các quy luật của thế giới khách quan, tạo nên những giá trị tinh thần và vật chất mới về chất, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội” [44, tr.39] Thực tế cho thấy, có những sáng tạo chỉ từ kinh nghiệm chẳng hạn sáng chế, cải tiến của người thợ thủ công thời cổ đại và trung cổ

Theo M.E Wilson: “Sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng, dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của hai - ba các yếu tố nêu ra” [102, tr.27 - 28] Như vậy, sản phẩm sáng tạo là kết quả kết hợp của các yếu tố khác nhau ở chủ thể và khách thể Tác giả Phạm Thành Nghị nêu quan niệm của mình về sáng tạo như là kết quả tổng kết một số định nghĩa về sáng tạo: “Tóm lại, sáng tạo có thể được coi là quá trình tiến tới cái mới, là năng lực tạo ra cái mới, sáng tạo được đánh giá trên

cơ sở sản phẩm mới, độc đáo và có giá trị” [74, tr.28] Với quan niệm này, sáng tạo được tiếp cận góc độ chủ thể (ở năng lực sáng tạo) và ở sản phẩm sáng tạo Mặc dù có sự khác biệt nhất định trong cách hiểu về sáng tạo nhưng điểm

chung giữa các định nghĩa của nhóm trên là sáng tạo tạo ra cái mới có giá trị

Tuy nhiên, sáng tạo lại có mối liên hệ mật thiết với vấn đề và tư duy, cần phải đưa vấn đề và tư duy vào trong định nghĩa của sáng tạo

- Nhóm định nghĩa Sáng tạo như là kết quả của hoạt động giải quyết vấn đề,

gồm một số ít định nghĩa sau:

+ J.H Lavsa (Tiệp Khắc cũ) cho rằng: “Sáng tạo là sự lựa chọn và sử dụng những phương tiện mới, cách giải quyết mới” [trích theo 89, tr.25] Như vậy, sáng tạo là giải quyết vấn đề theo cách mới

+ Trường phái Gestal thì lại cho rằng “sáng tạo là sự thấu hiểu xuất hiện khi người tư duy nắm bắt được những nét chính yếu của vấn đề và mối quan hệ của chúng với giải pháp cuối cùng Sáng tạo được coi là hoạt động giải quyết vấn đề đặc trưng bởi tính mới mẻ, tính phi truyền thống, sự bền bỉ và khó khăn trong

Trang 38

hình thành vấn đề” [74, tr.27] Đây là định nghĩa chưa mang tính khái quát, sáng tạo là quá trình tạo ra cái mới có giá trị chưa được biểu hiện rõ ràng

Như vậy, các định nghĩa trên đều coi sáng tạo là hoạt động giải quyết vấn đề nhưng một mặt, chưa làm rõ ràng việc sáng tạo là quá trình tạo ra cái mới có giá trị, mặt khác chưa thấy được vai trò của tư duy trong việc giải quyết vấn đề vì chủ thể có thể giải quyết vấn đề không dựa vào tư duy mà chỉ dựa vào sự ngẫu nhiên, tình cờ thuần túy hoặc dựa vào sự mách bảo của người khác

Tóm lại, có nhiều định nghĩa về sáng tạo với những cách tiếp cận đối tượng khác nhau trong lịch sử Sáng tạo học Đây là cơ sở quan trọng để chúng tôi tiếp thu những yếu tố hợp lý đồng thời bổ sung thêm những nội dung mới nhằm xây

dựng một định nghĩa về sáng tạo đúng đắn hơn, đầy đủ hơn

2.1.2 Định nghĩa khái niệm “sáng tạo” trên lập trường duy vật biện chứng

Trong cuốn sách Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu để kích thích sự sáng

tạo của con người Việt Nam hiện nay xuất bản năm 2002, tác giả Lê Huy Hoàng

đã tiếp thu và hệ thống hóa có chọn lọc những quan niệm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về những nội dung liên quan đến sáng tạo, bản chất của sáng tạo và đồng thời đưa ra những kết luận mang tính tổng hợp trực tiếp về những vấn đề của sáng tạo Có thể khái quát quan niệm mácxít về sáng tạo qua cuốn sách đó như sau:

- Thứ nhất, sáng tạo là hoạt động bậc cao của con người, chứ không phải là

hoạt động thần bí và hơn nữa sự sáng tạo cũng không có trong tự nhiên nói chung, chỉ có ở con người - động vật bậc cao

- Thứ hai, dựa trên lý thuyết phản ánh để lý giải về sáng tạo: Phản ánh (ý

thức) và sáng tạo luôn gắn bó với nhau “Phản ánh là thuộc tính phổ biến của vật chất (thế giới khách quan); còn sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất, là sản phẩm của vật chất có tổ chức phức tạp và hoàn thiện nhất - bộ óc người” [44, tr.29] Đây là quan điểm triết học quan trọng về sáng tạo

- Thứ ba, sáng tạo gắn liền với lao động, hay sáng tạo chính là sự phản ánh

của các trình độ lao động khác nhau

- Thứ tư, sáng tạo là “hành động” luôn thể hiện thành một quá trình liên tục,

độc đáo, vừa mang bản chất cá nhân, vừa mang bản chất lịch sử xã hội

Trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, kế thừa các yếu tố hợp lý trong

quan điểm của các nhà nghiên cứu trước đó, chúng tôi cho rằng: Sáng tạo là hoạt

Trang 39

động giải quyết vấn đề của chủ thể tạo ra cái mới có giá trị (trước hết dựa trên

cơ sở của tư duy) dưới sự ảnh hưởng, quy định của môi trường tự nhiên - xã hội

Như vậy, trên lập trường duy vật biện chứng, sáng tạo gắn liền với ý thức, tư duy của chủ thể, biểu hiện sự phản ánh chủ động, tích cực ở trình độ cao của ý thức mà ý thức là chức năng của bộ óc con người Bản chất của phản ánh ý thức

là sự phản ánh năng động, sáng tạo Phản ánh ý thức ra đời và phát triển có nguồn gốc tự nhiên và xã hội (vai trò của lao động, ngôn ngữ) Tuy nhiên, sáng tạo không đồng nhất với phản ánh ý thức Sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra cái mới có giá trị trong đó có sự tham gia không chỉ của những yếu tố ý thức, tư duy mà có cả những yếu tố hoạt động của cơ thể, những yếu tố ở bên ngoài con người như năng lượng, nguyên vật liệu, công cụ Sự hình thành sản phẩm sáng tạo thường là sự tổng hợp của nhiều yếu tố trong đó hoạt động của ý thức là yếu

có ý thức của con người Nó không phải là hoạt động tự phát, hay hoạt động

mang tính bản năng, mà là hoạt động trong đó chủ thể có ý thức rõ ràng về mục đích, đối tượng của mình và tự giác thực hiện nhiệm vụ mà bản thân đặt ra mặc

dù trong các giai đoạn của sáng tạo, tiềm thức, vô thức có vai trò nhất định nhưng hoạt động tự ý thức vẫn giữ vai trò chủ đạo

Lao động theo nghĩa rộng là hoạt động có mục đích, có ý thức nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần phục vụ nhu cầu của đời sống, do vậy có thể nói: “sáng tạo gắn liền với lao động, hay sáng tạo chính là sự phản ánh của trình

độ khác nhau của lao động” [44, tr.38] Bên cạnh hoạt động lao động tạo ra của cải dựa vào tri thức, kinh nghiệm được truyền lại (hoạt động tái tạo) thì có những hoạt động lao động mà chủ thể phải giải quyết được vấn đề tạo ra cái mới có giá trị

Sáng tạo là hoạt động giải quyết vấn đề trên cơ sở vai trò của tư duy Sáng tạo

có quan hệ mật thiết với vấn đề Ở đâu có sáng tạo ở đó chắc chắn có vấn đề, ở đâu có vấn đề ở đó có thể dẫn đến sáng tạo Sáng tạo là nhằm giải quyết vấn đề đặt ra Sáng tạo là hoạt động hướng đến đối tượng (đối tượng của vấn đề) để vươn

Trang 40

tới điều cần có (mục đích của vấn đề) nhưng hiện thời chưa thể đạt được do sự hiểu biết còn hạn hẹp Đạt được điều cần có chính là sản phẩm sáng tạo (đồng thời là giải quyết được vấn đề) Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề có thể là do ngẫu nhiên, do ai đó mách bảo, hoặc do tài liệu đưa lại, nên sáng tạo phải là hoạt động giải quyết vấn đề trên cơ sở phát huy vai trò của tư duy vì nó trước hết đem lại ý tưởng, lời giải cho vấn đề đặt ra

Sáng tạo là quá trình hoạt động không đồng nhất hay không cùng “bậc” với các hoạt động ở lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội như hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị hay hoạt động văn hóa - xã hội Hoạt động sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra cái mới có giá trị Trong mọi hoạt động bất kỳ của con người đều có thể diễn ra sự sáng tạo Sáng tạo trong kinh doanh, sáng tạo trong chiến tranh, sáng tạo trong giảng dạy Do vậy, chỉ có thể phân biệt hoạt động sáng tạo với hoạt động chỉ dựa vào kinh nghiệm thuần túy, hoạt động có tính lặp lại, tái tạo, tái hiện đơn thuần trong sinh hoạt hàng ngày, trong lao động sản xuất Nên sáng tạo là hoạt động bậc cao của con người, trong đó chủ thể không chỉ sử dụng những tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng đã có mà trước hết phải bằng năng lực của

tư duy tạo ra cái mới có giá trị

Sáng tạo là hoạt động của chủ thể tạo ra cái mới có giá trị bằng cách thức

mới Cái mới có giá trị chính là sản phẩm sáng tạo Sản phẩm sáng tạo bao giờ

cũng phải có yếu tố “mới” và “giá trị” Nếu chỉ có “giá trị” mà không có yếu tố

“mới” thì chỉ là sự tái tạo cái đã có Nếu chỉ có yếu tố “mới” mà không có yếu tố

“giá trị” thì mục đích chủ thể không thể đạt được, có thể nói là một sự thất bại, giá trị không được sản sinh, do vậy không phải là sự sáng tạo theo đúng nghĩa Tuy nhiên, giữa hai yếu tố đó, yếu tố “mới” được coi là đặc trưng tiêu biểu hơn của sáng tạo Các sản phẩm sáng tạo như“Định lý Pytago” của nhà toán học Hy Lạp Pytago, Sáng chế “Máy hơi nước” của kỹ sư James Watt (người Scotland),

“Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du, “Hệ thống bảng tuần hoàn các nguyên

tố hóa học” của D.I Mendeleev, “Lý thuyết quản lý theo khoa học” của F.W Taylor (người Mỹ)… đều có những đặc trưng mới mẻ, có giá trị

“Cái mới có giá trị” là kết quả của hoạt động “tạo ra” nghĩa là kết quả của hoạt động của chủ thể biến đổi yếu tố tinh thần, vật chất để tạo ra sản phẩm chứ không phải là “cái có sẵn” ở chủ thể hay ở thế giới bên ngoài Sáng tạo diễn ra trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người, dù ở bất kỳ hoạt động gì mà nẩy sinh

Ngày đăng: 05/12/2016, 19:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. G.S. Altshuller (2012), Sáng tạo - một khoa học chính xác, Dương Xuân Bảo dịch, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo - một khoa học chính xác
Tác giả: G.S. Altshuller
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2012
2. Thomas Armstrong (2012), 7 loại hình thông minh, Mạnh Hải và Thu Hiền dịch, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 7 loại hình thông minh
Tác giả: Thomas Armstrong
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2012
3. Samm S. Baker (2001), Luyện trí sáng tạo, Dương Hội biên dịch, NXB Trẻ & Báo Giáo dục - Sáng tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện trí sáng tạo
Tác giả: Samm S. Baker
Nhà XB: NXB Trẻ & Báo Giáo dục - Sáng tạo
Năm: 2001
4. David Bohm (2011), Tư duy như một hệ thống, Tiết Hùng Thái dịch, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy như một hệ thống
Tác giả: David Bohm
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2011
5. Gustave Le Bon (2013), Tâm lí học đám đông, Nguyễn Xuân Khánh dịch, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học đám đông
Tác giả: Gustave Le Bon
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2013
6. Edward De Bono (2003), 6 chiếc mũ tư duy, Thanh Châu dịch, NXB Mũi Cà Mau, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: 6 chiếc mũ tư duy
Tác giả: Edward De Bono
Nhà XB: NXB Mũi Cà Mau
Năm: 2003
7. Edward De Bono (2005 ), Tư duy hoàn hảo: Tự học cách tư duy, Tuấn Anh dịch, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy hoàn hảo: Tự học cách tư duy
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
8. George P. Boulden (2004), Tư duy sáng tạo, Ngô Đức Hiếu biên dịch, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy sáng tạo
Tác giả: George P. Boulden
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
9. Tony Buzan (2007), Bản đồ tư duy trong công việc, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ tư duy trong công việc
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2007
10. Nguyễn Đức Ca (2011), Quản lý chất lượng đào tạo theo ISO 9001:2000 trong trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng đào tạo theo ISO 9001:2000 trong trường Đại học Hàng hải Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Ca
Năm: 2011
11. Nguyễn Bá Cần (2009), Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Bá Cần
Năm: 2009
12. Nguyễn Chân - Dương Xuân Bảo - Phan Dũng (1983), Algôrit sáng chế, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Algôrit sáng chế
Tác giả: Nguyễn Chân - Dương Xuân Bảo - Phan Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1983
13. Doãn Chính - Đinh Ngọc Thạch (Chủ biên) (2003), Vấn đề triết học trong tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề triết học trong tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin
Tác giả: Doãn Chính - Đinh Ngọc Thạch (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
14. John Dewey (2010), Dân chủ và giáo dục, Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và giáo dục
Tác giả: John Dewey
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2010
15. William Duggan (2010), Trực giác chiến lược, Nguyễn Kim Thi dịch, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trực giác chiến lược
Tác giả: William Duggan
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2010
16. Phan Dũng (2005), Phương pháp luận sáng tạo khoa học - kỹ thuật: Giải quyết vấn đề và ra quyết định (Giáo trình tóm tắt), Trung tâm Sáng tạo Khoa học - Kỹ thuật (TSK), Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận sáng tạo khoa học - kỹ thuật: Giải quyết vấn đề và ra quyết định (Giáo trình tóm tắt)
Tác giả: Phan Dũng
Năm: 2005
17. Phan Dũng (2010), Giới thiệu phương pháp luận sáng tạo và đổi mới, (tập 1 bộ sách “Sáng tạo và đổi mới), NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu phương pháp luận sáng tạo và đổi mới
Tác giả: Phan Dũng
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2010
18. Phan Dũng (2012), Thế giới bên trong con người sáng tạo, (tập 2 bộ sách “Sáng tạo và đổi mới), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới bên trong con người sáng tạo
Tác giả: Phan Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
19. Phan Dũng (2012), Tư duy lôgích, biện chứng và hệ thống, (tập 3 bộ sách “Sáng tạo và đổi mới), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy lôgích, biện chứng và hệ thống
Tác giả: Phan Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
20. Phan Dũng (2012), Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (phần I), (tập 4 bộ sách “Sáng tạo và đổi mới), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (phần I
Tác giả: Phan Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Phân loại vấn đề - Sáng tạo và việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học hàng hải việt nam hiện nay
Bảng 2.1 Phân loại vấn đề (Trang 64)
Bảng 2.2: Biểu hiện cái mới có giá trị khi giải quyết 3 loại vấn đề - Sáng tạo và việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học hàng hải việt nam hiện nay
Bảng 2.2 Biểu hiện cái mới có giá trị khi giải quyết 3 loại vấn đề (Trang 68)
Bảng 3.1: Mối quan hệ giữa năng lực sáng tạo và mức độ sáng tạo - Sáng tạo và việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học hàng hải việt nam hiện nay
Bảng 3.1 Mối quan hệ giữa năng lực sáng tạo và mức độ sáng tạo (Trang 85)
Bảng 4.2. Nghiên cứu khoa học của sinh viên ĐHHHVN - Sáng tạo và việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học hàng hải việt nam hiện nay
Bảng 4.2. Nghiên cứu khoa học của sinh viên ĐHHHVN (Trang 108)
Bảng 4.4. Tần suất đưa ra sáng kiến, ý tưởng sáng tạo của sinh viên mới tốt  nghiệp đi làm - Sáng tạo và việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học hàng hải việt nam hiện nay
Bảng 4.4. Tần suất đưa ra sáng kiến, ý tưởng sáng tạo của sinh viên mới tốt nghiệp đi làm (Trang 110)
Bảng 4.3. Yêu cầu đối với sinh viên mới tốt nghiệp  ĐHHHVN - Sáng tạo và việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học hàng hải việt nam hiện nay
Bảng 4.3. Yêu cầu đối với sinh viên mới tốt nghiệp ĐHHHVN (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w