Đối với thế giới, Quản lý công nghiệp không còn là một ngành mới mẻ, còn ở Việt Nam, mặc dù đã có mặt trên 20 năm nhưng sự nhận thức của xã hội về vai trò và tầm quan trọng của ngành Quản lý công nghiệp cũng chưa thực sự đầy đủ và rõ ràng, nhu cầu của xã hội đối với ngành này cũng không cao…Những yếu tố này đã tạo ra nhiều khó khăn cho sinh viên ngành Quản lý công nghiệp tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Bởi vậy, có thể thấy định hướng đào tạo và đào tạo là rất cần thiết. Đào tạo thành công không chỉ chú ý đến việc cung cấp cử nhân kinh tế cho xã hội mà còn phải làm sao cho xã hội hiểu biết nhiều về ngành, về tính chất, vai trò của Quản lý công nghiệp, từ đó sẽ “kích cầu”, tạo ta cho xã hội có nhu cầu về ngành học nói chung. Đó là những cơ sở cho em hướng nghiên cứu đề tài: “Xây dựng mô hình hỗ trợ việc làm cho sinh viên ngành Quản lý công nghiệp”. Em hy vọng đây sẽ là một giải pháp tích cực giúp cho sinh viên có đủ hành trang và tri thức để lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp trong tương lai, đồng thời hỗ trợ cho các doanh nghiệp bố trí hợp lý nhân lực trong lĩnh vực này. Và có những ý kiến đóng góp trên những khía cạnh cụ thể để công tác đào tạo của khoa Kinh tế công nghiệp, trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp Đại học Thái Nguyên đạt hiệu quả cao hơn.
Trang 1NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên: Lớp
Đề tài:
1 TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN CỦA SINH VIÊN: - Mức độ liên hệ với giáo viên:
- Tiến độ thực hiện:
2 NỘI DUNG BÁO CÁO: - Thực hiện các nội dung khóa luận:
- Thu thập và xử lý số liệu:
- Khả năng hiểu biết thực tế và lý thuyết:
- Tính hợp lý và hiệu quả của các giải pháp đề xuất
3 HÌNH THỨC TRÌNH BÀY:
4 MỘT SỐ Ý KIẾN KHÁC
1. ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN (Đồng ý cho bảo vệ hay không?)
CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO: (tốt - khá - trung bình)
Thái nguyên, ngày tháng năm 20…
Giáo viên hướng dẫn
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Họ và tên sinh viên: Lớp
Tên đề tài:
1 NỘI DUNG BÁO CÁO: - Thực hiện các nội dung Khóa luận:
- Thu thập và xử lý số liệu:
- Khả năng hiểu biết thực tế và lý thuyết:
- Tính hợp lý và hiệu quả của các giải pháp đề xuất
2 HÌNH THỨC TRÌNH BÀY:
3 MỘT SỐ Ý KIẾN KHÁC
4 ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO: (tốt - khá - trung bình)
Thái nguyên, ngày tháng năm 20…
Giáo viên phản biện
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em tên là Đặng Thị Hoài, sinh viên lớp K48QLCO1, chuyên ngành Quản lýcông nghiệp, khoá 2012-2016 Em xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp đề tài “Xâydựng mô hình hỗ trợ việc làm cho sinh viên ngành Quản lý công nghiệp” là do bảnthân tự thực hiện, không sao chép hay nhờ người khác làm hộ Bài khóa luận đượcthực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, khảo sát thực tiễn và dưới sự hướng dẫncủa cô giáo Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các số liệu trong khóa luận tốt nghiệp được sử dụng trung thực, chưa từng đượccông bố trong bất cứ đề tài nào
Một lần nữa, em xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên
Thái nguyên, ngày tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Đặng Thị Hoài
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành khóa luận của mình, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân là sựquan tâm của các thầy cô giáo; sự động viên và ủng hộ của gia đình, bạn bè trong suốtthời gian học tập nghiên cứu đề tài
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến cô Nguyễn Thị Hồng Nhung, người đã hết lònggiúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành đề tài này Xin gửi lời tri ân của
em đối với những điều mà cô đã dành cho em
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến toàn thể quý thầy cô trongkhoa Kinh tế công nghiệp – Trường đại học kỹ thuật công nghiệp Thái Nguyên, đã tậntình truyền đạt những kiến thức quý báu, cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhấtcho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Đề tài được thực hiện trong thời gian 2 tháng, do sự hạn chế về thời gian, kiếnthức và kinh nghiệm của bản thân, việc xảy ra những thiếu sót là không tránh khỏi Vìvậy em rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô để kiến thức của emtrong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày tháng năm 2016 Sinh viên
Đặng Thị Hoài
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
X
5 Lao động- thương binh- Xã hội LD- TB - XH
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 1.1 Cơ cấu mẫu khảo sát 4
Bảng 2.1: Những nguồn thông tin sinh viên sau tốt nghiệp tiếp cận 29
Bảng 2.2: Phân bố việc làm theo giới tính và khu vực kinh tế 33
Bảng 2.3: Những kiến thức và kỹ năng cần để đáp ứng nhu cầu nhà tuyển dụng 34
Bảng 2.4 Lý do công việc không phù hợp với ngành đào tạo vẫn làm 38
Bảng 2.6: Những khó khăn trong vấn đề tìm kiếm việc làm 41
Bảng 2.7: Những khóa đào tạo thêm mà sinh viên sau tốt nghiệp tham gia 43
Bảng 2.8: Lý do tham gia các khóa đào tạo của sinh viên sau tốt nghiệp 46
Bảng 2.9: Mối quan hệ giữa sự chuyển đổi công việc và mức độ ổn định 47
Bảng 2.12: Đánh giá của sinh viên đã tốt nghiệp về chất lượng chương trình đào tạo của khoa 53
Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trung tâm tư vấn hỗ trợ việc làm cho sinh viên 58
MỤC LỤC
Trang 7NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 1
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 2
LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM ƠN 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 6
LỜI MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
2.1 Mục đích nghiên cứu 10
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 10
3.1 Đối tượng nghiên cứu 10
3.2 Khách thể nghiên cứu 11
3.3 Phạm vi nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 11
4.1 Phương pháp phân tích tài liệu 11
4.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến 11
5 Nguồn dữ liệu 12
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 13
7 Câu hỏi nghiên cứu 13
8 Giả thuyết nghiên cứu 14
9 Kết cấu của đề tài bao gồm ba chương 14
CHƯƠNG I 15
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 15
1.2 Khái niệm về lao động 19
1.2.1 Khái niệm lao động 19
1.2.2 Khái niệm nguồn lao động 19
1.3 Các lý thuyết về việc làm 20
1.3.1 Khái niệm việc làm 20
1.3.2 Vai trò và ý nghĩa của việc làm 21
1.4 Khái niệm, phân loại thất nghiệp 22
1.4.1 Khái niệm, phân loại 22
Trang 81.4.2 Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp 24
1.5 Chính sách tạo việc làm 25
1.5.1 Khái niệm 25
1.5.2 Sự cần thiết nghiên cứu vấn đề tạo việc làm cho người lao động 26
1.6 Thực trạng chung về vấn đề việc làm của sinh viên hiện nay 27
CHƯƠNG II 31
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP KHOA KINH TẾ CÔNG NGHIỆP SAU KHI TỐT NGHIỆP 31
2.1 Khái quát về Khoa Kinh tế Công nghiệp 31
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 31
2.1.2 Về cơ cấu tổ chức 31
2.1.3 Các ngành nghề đào tạo của khoa Kinh tế Công nghiệp 32
2.2 Tình hình việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp 34
2.2.1 Tình hình việc làm và thời gian có việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp 34
2.2.2 Thu nhập bình quân của sinh viên sau khi tốt nghiệp 35
2.2.3 Những nguồn thông tin mà sinh viên sau tốt nghiệp tiếp cận để có được việc làm 37
2.2.4 Loại hình tổ chức mà sinh viên lựa chọn sau khi tốt nghiệp 39
2.2.5 Phân bố việc làm theo giới tính 41
2.2.6 Vai trò của kiến thức và kỹ năng trong quá trình xin việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp 42
2.2.7 Việc làm và sự phù hợp với chuyên ngành được đào tạo 45
2.2.8 Mức độ đáp ứng của sinh viên đối với yêu cầu công việc 47
2.3 Khó khăn trong vấn đề tìm kiếm việc làm 50
2.4 Vai trò của các khóa đào tạo bên ngoài nhà trường 52
2.5 Mức độ ổn định và hài lòng với công việc 56
2.5.1 Mức độ ổn định với công việc hiện tại 56
2.5.2 Mức độ ổn định công việc và thu nhập 58
2.5.3 Mức độ hài lòng với công việc hiện tại 60
2.6 Những đóng góp cho công tác đào tạo của nhà trường 62
CHƯƠNG III 65
XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUNG TÂM TƯ VẤN HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP- TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN 65
3.1 Giới thiệu chung 65
Trang 93.2 Cơ cấu tổ chức 68
3.2.1 Bộ máy quản lý 68
3.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban 69
3.2.3 Mô hình hoạt động 70
3.2.4 Định hướng phát triển và tầm nhìn chiến lược 72
3.3 Điều lệ 74
3.3.1 Thời giờ làm việc của Trung tâm 74
3.3.2 Nội quy 74
3.4 Tài chính 74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Khuyến nghị 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN 82
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần, từ sau khi đổi mớinền kinh tế đã mang lại nhiều thay đổi tích cực Mặc dù vậy với việc ảnh hưởng nặng
nề xu hướng khủng hoảng kinh tế chung của toàn cầu, khả năng ứng phó kém hiệu quảcủa các doanh nghiệp đang hoạt động trong nước đã khiến cho chính các doanh nghiệpnày gặp khó trong việc duy trì hoạt động và phát triển, dẫn tới một nguyên nhân lớn làtình trạng thất nghiệp của người lao động hiện nay Trong số các lực lượng lao động
ấy thì một lượng lớn tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp ngày càng tăng Đây làmột trong những vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng để có thểrút ra được những giải pháp đúng đắn giải quyết triệt để tình trạng trên, đưa đất nướcphát triển vững mạnh Đất nước muốn phát triển ổn định và lâu dài thì ngoài các chínhsách định hướng phát triển hợp lí thì còn cần có lực lượng lao động có chất lượng, màsinh viên là lực lượng lao động trẻ, năng động, dồi dào và được đào tạo có thể đáp ứngđược những yêu cầu trong đổi mới nền kinh tế, nắm bắt và sử dụng hiệu quả côngnghệ tiên tiến Vì vậy đây là nguồn nhân lực rất quan trọng cần được đào tạo và sửdụng một cách hợp lý hiệu quả Tình trạng sinh viên thất nghiệp sẽ ảnh hưởng rấtnhiều đến tình hình phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX đã xác định: "Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân"[5, tr.216]
Việc làm không chỉ là sự sống còn của mỗi cá nhân mà nó còn thể hiện tầmchiến lược của mỗi quốc gia Việc làm liên quan đến kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
và các vấn đề về nghèo đói…Trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, việc làm làmột trong những yếu tố hàng đầu, tại các hội nghị mang tính chất toàn cầu, việc làmcũng gây được sự chú ý của nhiều đất nước khác nhau Việc làm không chỉ là nhu cầucủa con người mà còn là nguồn gốc tạo ra của cải, vật chất trong xã hội Trong xu thếtoàn cầu hóa, vấn đề việc làm có sự liên quan nhất định đến an ninh quốc gia, trật tự xãhội từ đó sẽ tạo điều kiện hòa nhập với thế giới dễ dàng hơn Việc làm ảnh hưởng lớnđến chất lượng cuộc sống của các thành viên trong xã hội, vấn đề việc làm có thể làmtăng hoặc hạn chế các yếu tố ngoại lai trong quá trình hội nhập
Cũng như vậy, việc làm cho sinh viên khi ra trường có tầm ý nghĩa quan trọngđối với sự phát triển xã hội khi các tri thức trẻ có trình độ cao, đầy nhiệt huyết thamgia vào các hoạt động của xã hội, tránh lãng phí trong đào tạo Tương tự như nhiều lực
Trang 12lượng lao động khác, sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học đều thiết tha được làm việctại những nơi có điều kiện phát triển thuận lợi Điều này hoàn toàn mang tính kháchquan, phản ánh thực tế nhu cầu tâm lý và nhu cầu xã hội của cá nhân
Có một thực tế đang tồn tại ở nước ta hiện nay đó là tình trạng sinh viên đượcđào tạo chính quy nhưng sau khi tốt nghiệp vẫn phải rất vất vả mới có được công việc
ổn định Việc đa dạng hoá ngành nghề đào tạo vừa mở ra cho sinh viên Việt Nam cơhội tiếp cận với khoa học tiến tiến của thế giới, đồng thời đó cũng là những khó khăn,thách thức đối với mỗi sinh viên Theo thống kê riêng của chương trình việc làm BáoNgười lao động, bình quân cứ 100 lao động đại học đến đăng ký tìm việc thì cókhoảng 80% trong số này không tìm được việc làm trong 3 tháng đầu sau khi ratrường; 50% thất nghiệp trong thời gian 6 tháng và sau 1 năm giảm xuống còn 30%.Trong khi đó bên phía doanh nghiệp nhu cầu về lao động rất lớn nhưng lại không thểtuyển dụng đúng được vị trí mà mình mong muốn Nhiều nhà tuyển dụng cho rằngsinh viên còn quá mơ hồ trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai
Một thương hiệu trong lĩnh vực đào tạo có một thước đo duy nhất để đánh giá
đó là chất lượng đầu ra của người học Để đáp ứng được nhu cầu cũng như yêu cầutuyển dụng của doanh nghiệp hiện nay và giải đáp bài toán về chất lượng đào tạo, bắtbuộc nhà trường không những theo quy củ của chương trình đào tạo mà còn phải nângcao năng lực đáp ứng những gì doanh nghiệp đang cần, ngoài cái nhà trường đang có
Do đó nhà trường cần tập trung phát triển cơ cấu ngành nghề đào tạo, gắn liền với nhu
cầu nguồn nhân lực của doanh nghiệp, mở rộng quan hệ với doanh nghiệp trong vàngoài nước để tạo cơ hội việc làm bán thời gian cho Học sinh – Sinh viên ngay từ khinhập học cũng như việc làm đúng ngành nghề và ổn định sau khi Học sinh – Sinh viêntốt nghiệp ra trường Với mục tiêu cung cấp nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng nhucầu xã hội Hàng năm, Khoa kinh tế công nghiệp – trường đại học kỹ thuật côngnghiệp đào tạo một lượng lớn cử nhân ra trường Khoa kinh tế công nghiệp luôn mongmuốn sẽ chủ động trong việc cung cấp nguồn lao động ổn định và có trình độ cao theođúng đơn hàng của doanh nghiệp, khắc phục tình trạng "khủng hoảng" thiếu thợ dưthầy hiện nay, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo
Đối với thế giới, Quản lý công nghiệp không còn là một ngành mới mẻ, còn ởViệt Nam, mặc dù đã có mặt trên 20 năm nhưng sự nhận thức của xã hội về vai trò vàtầm quan trọng của ngành Quản lý công nghiệp cũng chưa thực sự đầy đủ và rõ ràng,nhu cầu của xã hội đối với ngành này cũng không cao…Những yếu tố này đã tạo ranhiều khó khăn cho sinh viên ngành Quản lý công nghiệp tìm kiếm việc làm sau khitốt nghiệp Bởi vậy, có thể thấy định hướng đào tạo và đào tạo là rất cần thiết Đào tạo
Trang 13thành công không chỉ chú ý đến việc cung cấp cử nhân kinh tế cho xã hội mà còn phảilàm sao cho xã hội hiểu biết nhiều về ngành, về tính chất, vai trò của Quản lý côngnghiệp, từ đó sẽ “kích cầu”, tạo ta cho xã hội có nhu cầu về ngành học nói chung
Đó là những cơ sở cho em hướng nghiên cứu đề tài: “Xây dựng mô hình hỗ trợ việc làm cho sinh viên ngành Quản lý công nghiệp” Em hy vọng đây sẽ là một
giải pháp tích cực giúp cho sinh viên có đủ hành trang và tri thức để lựa chọn đượcnghề nghiệp phù hợp trong tương lai, đồng thời hỗ trợ cho các doanh nghiệp bố trí hợp
lý nhân lực trong lĩnh vực này Và có những ý kiến đóng góp trên những khía cạnh cụthể để công tác đào tạo của khoa Kinh tế công nghiệp, trường Đại học Kỹ thuật côngnghiệp - Đại học Thái Nguyên đạt hiệu quả cao hơn
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng việc làm của sinh viên ngành Quản lý công nghiệp sau khitốt nghiệp trong thời gian gần đây, những yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội tìm kiếm việclàm và đưa ra giải pháp xây dựng mô hình hỗ trợ việc làm cho sinh viên nhằm giúpsinh viên có thể tìm được công việc tốt sau khi ra trường
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng việc làm của sinh viên ngành Quản lý công nghiệp sau khi tốtnghiệp
- Phân tích những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc chọn việc làm của sinh viên
- Thông qua kết quả nghiên cứu, đề xuất giải pháp “ Xây dựng mô hình hỗ trợ việc làmcho sinh viên ngành quản lý công nghiệp” kiến nghị đối với khoa Kinh tế công nghiệpTrường Đại học Kỹ thuật công nghiệp - Đại học Thái Nguyên nhằm giúp cho vấn đề tìmviệc làm của sinh viên ngành Quản lý công nghiệp sau khi tốt nghiệp đạt hiệu quả caonhất, vận dụng những kiến thức đã được học góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng việc làm của sinh viên ngành Quản lý công nghiệp khoa Kinh tếcông nghiệp - trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp Thái Nguyên sau khi tốt nghiệp
Trang 143.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy học ngành Quản lý công nghiệp khoa Kinh tếcông nghiệp, trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp Thái nguyên từ khoá 43 đến khoá 47
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Do tính phức tạp và rộng lớn của vấn đề nghiên cứu cùng những hạn chế khác
trong quá trình nghiên cứu nên em tập trung vào phân tích một số vấn đề cơ bản vềthực trạng việc làm của sinh viên ngành Quản lý công nghiệp khoa Kinh tế côngnghiệp, trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp Thái nguyên
Thời gian thực hiện khóa luận: Từ 2/ 2/ 2016 đến 10/ 6/ 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng nhằm bổ sung thông tin đề tàikhóa luận Đề tài sử dụng những tài liệu, sách báo, công trình nghiên cứu có nội dungliên quan tới vấn đề nghiên cứu để có thể đưa ra những so sánh giữa những kết quảnghiên cứu đã có và kết quả nghiên cứu của khóa luận
4.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến
Cuộc nghiên cứu được tiến hành chọn mẫu với số lượng là 120 cựu sinh viênngành Quản lý công nghiệp gồm các khóa : K43, K44, K45, K46, K47
Nội dung phiếu trưng cầu ý kiến bao gồm thông tin về thực trạng việc làm,những kỹ năng cơ bản cần có của sinh viên theo yêu cầu của nhà tuyển dụng, nhữnggợi ý nhằm nâng cao kỹ năng cơ bản cho sinh viên và một số thông tin cá nhân
Cách thức chọn mẫu trong điều tra bảng hỏi: Căn cứ vào điều kiện thực tiễn củađịa bàn nghiên cứu là đơn vị đào tạo đại học được chia ra các ngành theo đặc thùriêng; tiếp đến có sự cân nhắc các yếu tố tỉ lệ giới tính,học lực, thời gian tốt nghiệp…
mà em lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên Theo đó tổng thể mẫuđược chia ra theo từng khóa đào tạo Cách thức chọn mẫu này cho phép người nghiêncứu lựa chọn được số lượng đơn vị nghiên cứu cần thiết để các phép tính thống kê có ýnghĩa hơn
Trang 15Bảng 1.1 Cơ cấu mẫu khảo sát
Nguồn dữ liệu thứ cấp: Đề tài sử dụng nguồn dữ liệu thu thập từ các tài liệu,
thông tin của khoa Kinh tế công nghiệp - Trường đại học kỹ thuật công nghiệp TháiNguyên; Giáo trình Quản trị nhân lực - Trường đại học kinh tế quốc dân; Các tạpchí Lao động và xã hội; Cuốn sách “Lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở ViệtNam sau 15 năm đổi mới”, của tác giả Nowel Heraff – Yean Yves Martin, NXB Thếgiới mới, Hà Nội, 2001… Các nguồn dữ liệu này được trích dẫn trực tiếp trong đề tài
và được ghi chú chi tiết trong phần tài liệu tham khảo
Trang 16Nguồn dữ liệu sơ cấp: Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu là phương
pháp phỏng vấn trực tiếp và sử dụng phương pháp điều tra dựa trên các bảng câu hỏi;phương pháp phân tích, tổng hợp từ tài liệu và phương pháp quan sát Đối tượng đượchỏi là sinh viên chuyên ngành Quản lý công nghiệp đã tốt nghiệp
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên phương diện lý luận: Đưa ra cơ sở lý luận về việc xây dựng mô hình hỗ trợviệc làm cho sinh viên chuyên ngành Quản lý công nghiệp
Trên phương diện thực tiễn: Thất nghiệp là quy luật tất yếu của cung – cầu laođộng trên thị trường Vấn đề đặt ra ở đây là sinh viên đại học ra trường thiếu hẳn hoạtđộng hỗ trợ nghề nghiệp, việc làm từ phía nhà trường Từ khi Bộ GD-ĐT có chủtrương khuyến khích mỗi trường nên thành lập một bộ phận tư vấn nghề nghiệp đếnnay, hầu hết các trường chưa chú trọng việc hình thành bộ phận này Các hoạt động tưvấn nghề nghiệp, việc làm nếu có thì các trường đặt vào trung tâm hỗ trợ sinh viên,phòng công tác chính trị và làm chiếu lệ, theo kiểu phong trào Trong khi đó trên thực
tế việc lấp dần khoảng cách đào tạo – sử dụng lao động hiện nay không thể bỏ quêncông tác tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho sinh viên Do đó việc xây dựng mô hình
hỗ trợ nghề nghiệp, việc làm là rất thiết thực Bên cạnh ý nghĩa lý luận, đề tài nghiêncứu còn mang một ý nghĩa thực tiễn, đó là đề tài nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏthực trạng việc làm của sinh viên ngành Quản lý công nghiệp sau khi tốt nghiệp thôngqua việc xây dựng mô hình hỗ trợ việc làm cho sinh viên Mặt khác, giúp cho sinhviên có được nhận thức đầy đủ hơn về chuyên ngành mình đang theo học, đồng thờiđánh giá đúng vị trí và vai trò của ngành trong nền kinh tế hiện nay
Việc xây dựng mô hình sẽ tạo cơ sở để sinh viên có thể phát triển các kỹ năngmột cách toàn diện hơn, tạo mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa sinh viên và doanhnghiệp, giúp cho sinh viên dễ dàng nắm bắt được thông tin doanh nghiệp, lựa chọnviệc làm tốt hơn Ngoài ra, doanh nghiệp cũng dễ dàng tìm kiếm được nguồn nhân lựcphù hợp với yêu cầu tuyển dụng
7 Câu hỏi nghiên cứu
1 Sinh viên chuyên ngành Quản lý công nghiệp sau khi ra trường đã có việc làm haychưa và phạm vi làm việc của họ như thế nào?
2 Tri thức đã đào tạo có đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng hiện nay?
Trang 173 Những yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội tìm kiếm việc làm của sinh viên ngành Quản lý côngnghiệp sau khi tốt nghiệp?
4 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tìm kiếm việc làm cho sinh viên mới ra trường làgì?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, hầu hết sinh viên chuyên ngành Quản lý công nghiệp tốt nghiệp hệchính quy trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp Thái nguyên, Đại học Thái nguyên (từkhoá 43 đến khoá 47) ra trường đã có việc làm và phạm vi việc làm của người tốtnghiệp đại học là khá phân tán, trải rộng trên nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau
Có một khoảng cách nhất định giữa ngành nghề, kỹ năng được đào tạo vàyêu cầu thực tế của việc làm đòi hỏi sinh viên phải biết, thích nghi và đáp ứng ởmức độ cao
Nguồn hỗ trợ thông tin từ bố mẹ, người thân trong gia đình cũng như việc thiếucác mối quan hệ xã hội và các kỹ năng cần thiết là những nhân tố chính ảnh hưởng tớiquá trình tìm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp
9 Kết cấu của đề tài bao gồm ba chương
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương II: Phân tích thực trạng việc làm của sinh viên chuyên ngành Quản lý côngnghiệp - Đại học kỹ thuật công nghiệp Thái Nguyên sau khi tốt nghiệp
Chương III: Giới thiệu về mô hình hỗ trợ việc làm cho sinh viên chuyên ngành Quản
lý công nghiệp - Đại học kỹ thuật công nghiệp Thái Nguyên
Trang 18Trước đây, vấn đề việc làm nói chung và việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệpnói riêng đã trở thành vấn đề nghiên cứu của nhiều đề tài cũng như các cuộc hội thảotrong nước và đã nhận được sự quan tâm lớn của xã hội Ví dụ như: “Giải quyết giảiquyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nôngnghiệp, nông thôn” (Tạp chí Lao động – Xã hội, số 247, đăng từ 16 – 30/9/2004) củatác giả Nguyễn Hữu Dũng Trong nghiên cứu đó tác giả có bàn đến thực trạng chấtlượng lao động và việc làm ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa,khi mà lực lượng lao động ngày càng dôi dư, khi mà đất canh tác mất dần…Bên cạnh
đó chất lượng lao động ở khu vực này khó có thể đảm bảo khi tham gia vào các nhàmáy…Trong nghiên cứu tác giả cũng đưa ra những phương hướng và giải pháp cơbản để giải quyết việc làm cho đối tượng này ở nông thôn
Trong bài viết:“Thực trạng lao động việc làm qua kết quả điều tra 1/7/2009”
(Tạp chí Lao động – Xã hội, số 251, từ 7 – 10/11/2009) tác giả Trương Văn Phúc đã
đề cập đến tình trạng lao động và việc làm của lực lượng lao động của các tỉnh, thànhphố cũng như vùng kinh tế trọng điểm Trong loạt bài viết trên tác giả đã đánh giá mộtcách khái quát những kết quả đạt được về giải quyết việc làm cho lực lượng lao động
Trong cuốn: “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” (NXB Đại
học Thái nguyên, Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha, đề tài KX – 05 – 10) Haitác giả đã đề cập đến việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực, mối quan hệ giữa nguồnnhân lực với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Trong đề tài cũng
Trang 19làm rõ thực trạng lao động và chính sách sử dụng lao động ở nước ta hiện nay cònnhiều bất cập và mất cân đối Chất lượng của lao động cũng là một trong những vấn
đề được tác giả quan tâm, chất lượng lao động có liên quan đến khả năng cạnh tranhtrong tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực Đề tài còn bàn về nguồn nhân lực đượcđào tạo nhưng không có việc làm, thậm chí việc làm không phù hợp với chuyên mônđược đào tạo gây lãng phí về thời gian, tiền của và chất xám…Chính sách sử dụnglao động còn nhiều quan liêu Hai tác giả đã kết luận rằng trong nền kinh tế nhiềuthành phần, người lao động phải được đối xử công bằng, cần có những chính sáchphù hợp để sử dụng nguồn lao động một cách hiệu quả nhất, tạo điều kiện cho ngườilao động phát huy hết khả năng của bản thân
Vấn đề trên được nhiều nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách quantâm với những nghiên cứu, bài viết đăng thường xuyên trên các báo và sách chuyênkhảo Các đề tài chủ yếu tập trung vào tìm hiểu thực trạng việc làm của sinh viên saukhi tốt nghiệp, các công trình nghiên cứu và bài viết đã mô tả khá rõ nét và khoa học
về việc làm của nhóm đối tượng này Đồng thời cũng phản ánh thực trạng mất cân đối
về cơ cấu lao động giữa các khu vực và ngành nghề
Đề tài: “Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp hiện nay” của tác giả Lê Văn
Toàn (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), trong phạm vi của nghiên cứu tác giả đã chothấy giới tính khác nhau, ngành nghề khác nhau thì định hướng giá trị cũng khác nhau
Còn với đề tài: “Sự bất bình đằng trong cơ hội tìm kiếm việc làm” của tác giả
Nguyễn Mai Anh cũng có đề cập những yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm như:những đặc điểm xã hội của cá nhân và gia đình, giới tính, ngành học, quê quán…
Tác giả Nguyễn Thị Thơm với: “Thị trường lao động Việt Nam thực trạng và giải pháp” (NXB Chính trị Quốc gia, HN 2006) vấn đề việc làm và chính sách việc
làm cho người lao động là nội dung chủ yếu của cuốn sách này Tác giả cũng đưa ramột nhận định đó là cần phải tôn trọng bản chất thực sự của thị trường lao động Vaitrò của các cơ sở giáo dục - đào tạo, đánh giá khách quan về vai trò của mô hình xã hộihóa giáo dục, trong đó có các cơ sở đào tạo ngoài công lập Cuối cùng tác giả khẳngđịnh cần đẩy mạnh các hoạt động để chắp nối cung - cầu lao động, tạo cơ sở bình đẳngcho người lao động tiếp cận với các cơ hội việc làm
Việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp nhận được mối quan tâm lớn của mọitầng lớp xã hội, của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách Nhiều đề tàinghiên cứu đã đi sâu phân tích thực trạng và những nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạtđộng tìm kiếm việc làm của sinh viên
Trang 20“Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” là tiêu đề cuốn sách của tác giả
Bùi Văn Nhơn (NXB Tư pháp, HN 2006) tác giả đã đánh giá cao vai trò của phát triểnnguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, trong đó có vaitrò của các cơ sở giáo dục – đào tạo, kể cả các cơ sở đào tạo ngoài công lập là chủ yếu
Sử dụng sao cho hiệu quả nguồn nhân lực xã hội của các loại hình đào tạo này cũng làvấn đề chính được tác giả Bùi Văn Nhơn bàn đến và theo tác giả, đây là nhân tố quyết
định sự phát triển kinh tế - xã hội Trong “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” đã đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề đào tạo việc làm cho người lao
động, tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng còn do chậm đổi mới tư duy trong giảiquyết việc làm như những vấn đề về quan niệm… Trong điều kiện kinh tế - xã hội củanước ta hiện nay theo tác giả tạo việc làm cho người lao động với quan điểm sử dụngtối đa tiềm năng lao động xã hội, có quan niệm đúng đắn về việc làm và tự tạo việclàm là những hình thức hiệu quả hơn cả
Tác giả Vũ Thị Mai “Tạo việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình đô thị hóa Hà Nội” (NXB Chính trị Quốc gia, HN 2007) tác giả nêu thực trạng
việc làm của người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình đô thị hóa và các giải pháp tạoviệc làm cũng như kinh nghiệm của các nước trong khu vực về tạo việc làm cho ngườilao động Theo tác giả, người lao động muốn có việc làm phù hợp, có thu nhập cao thìđương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho sức lao động của mình, tức làphải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, các tổ chức xã hội để được đàotạo, trau dồi kiến thức, phát triển và nắm vững một nghề nghiệp nhất định -đây là điềukiện cần thiết cho người lao động khi tham gia vào thị trường lao động
Tác giả Nguyễn Văn Buồm trong: “Nghề nghiệp và việc làm của sinh viên hiện nay” cũng đã đề cập đến ba vấn đề: Thứ nhất là việc chọn nghề của sinh viên Thứ hai là
việc kiếm sống của sinh viên Thứ ba là việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp
Về vấn đề đào tạo nghề, có rất nhiều công trình nghiên cứu như luận án tiến sĩ:
“Hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Nguyễn Thị Vân Hạnh (2008); luận văn thạc sĩ: “Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho thanh niên nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động ở tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Nguyễn Trung Hưng
(2006)… các công trình này đã phân tích tầm quan trọng của đào tạo nghề, nhu cầuđào tạo nghề của thanh niên trong giai đoạn hiện nay, chỉ ra những mặt mạnh, yếu của
hệ thống này cũng như đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quảcủa công tác đào tạo nghề trong thời gian tới
Trang 21Thực tế những bài báo và công trình nghiên cứu đó đã cho thấy cơ cấu laođộng và việc làm, sự biến đổi các cơ cấu đó trong các thời kỳ khác nhau Cũng qua đócác tác giả đã đưa ra những nhận định có sự thay đổi nhất định về nhận thức trong việclàm và lao động, điều đó cũng tương đồng với chủ trương của Đảng đó là xu hướng tựtạo việc làm cho bản thân Tuy vậy quan niệm làm việc trong các cơ quan nhà nướcvẫn còn in sâu trong nhận thức của nhiều lao động hiện nay Bằng mọi cách sinh viênsau khi tốt nghiệp tha thiết được làm việc trong môi trường ổn định, thậm chí nhiều laođộng sau bao năm làm việc trong môi trường bên ngoài, vẫn có xu hướng vào cơ quannhà nước làm việc cho dù phải bỏ ra chi phí không nhỏ và chờ cơ hội khá lâu
Vấn đề việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp điều cốt lõi là người sinh viênphải xây dựng được những giá trị năng lực hành nghề chính là xây dựng ý chí, quyếttâm để có hoài bão và không ngừng học tập Việc học ở nhà trường chỉ là giai đoạn đầucủa quá trình học tập suốt đời trong một xã hội hiện đại Người sinh viên sau khi tốtnghiệp để phát triển nghề nghiệp phải có ý thức mở rộng kiến thức nghề nghiệp, nângcao năng lực, tư duy khoa học, độc lập, lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến
kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới để không ngừng phát triển kỹ năng nghề nghiệp
Nhìn chung, các nghiên cứu về đề tài việc làm - nghề nghiệp của sinh viên kháphong phú điều đó đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về thực trạng lao động - việclàm của sinh viên sau khi tốt nghiệp cũng như tầm quan trọng của quan hệ đào tạo -việc làm Trên thế giới đã có nhiều mô hình tổ chức xã hội nhằm hướng đến mục tiêukết nối hai lĩnh vực việc làm và đào tạo như mô hình “việc làm căn cứ theo đào tạo”lấy đào tạo làm nền tảng của Pháp, “đào tạo song song” trong doanh nghiệp hay trêngiảng đường của Đức hoặc mô hình đào tạo thông qua việc làm của khối Anh - Mỹ.Trong một báo cáo của Ngân hàng Châu Á (Asia Development Bank) cũng đã nhấnmạnh: “Việc phát triển các hoạt động có giá trị thặng dư cao đòi hỏi phải tăng cườngtiềm năng công nghệ của các nguồn lao động - cái mà khu vực Đông Nam Á hiện nayđang cần chính là nguồn lao động có khả năng thích ứng mềm dẻo và có tính chuyênmôn cao” Theo báo cáo này, cần phải hội tụ đủ cả hai yếu tố đó, tức là khả năng thíchứng (đặt trước) và trình độ đào tạo (đặt sau) mới có thể cạnh tranh và thành công được.Như vậy, nhiệm vụ đặt ra cho đất nước ta hiện nay đó là làm thế nào để tăng cườngmối liên hệ chặt chẽ giữa đào tạo và việc làm, đáp ứng được những nhu cầu, đòi hỏingày càng cao của xã hội hiện đại
Trên đây là những cơ sở để xây dựng mô hình hỗ trợ việc làm cho sinh viênnhằm giải quyết vấn đề việc làm của sinh viên ngành quản lý công nghiệp Kết quả của
đề tài sẽ cho thấy thực trạng của sinh viên ngành quản lý công nghiệp sau khi tốt
Trang 22nghiệp, đồng thời cũng gợi mở về giải pháp xây dựng mô hình hỗ trợ việc làm chosinh viên đối với ngành quản lý công nghiệp nói riêng và trường Đại học Kỹ thuậtcông nghiệp nói chung nhằm phát huy những kết quả đã đạt được và góp phần thúcđẩy công tác đào tạo có hiệu quả nhất
1.2 Khái niệm về lao động
1.2.1 Khái niệm lao động
Theo giáo trình tổ chức lao động khoa học: “Lao động là hoạt động có mục đíchcủa con người, nhằm thỏa mãn những nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tấtyếu để tồn tại và phát triển của xã hội loài người” [1, tr 17]
Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động, sức lao động lànăng lực của con người nó bao gồm cả thể lực và trí lực, nó là yếu tố tích cực đóng vaitrò trung tâm trong suốt quá trình lao động, là yếu tố khởi đầu, quyết định trong quátrình sản xuất, sản phẩm hàng hoá có thể được ra đời hay không thì nó phải phụ thuộcvào quá trình sử dụng sức lao động
Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những
vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xãhội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất đượcgọi là chỗ làm hay việc làm
Như vậy việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xãhội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động được coi
là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội.Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo rasản phẩm cho xã hội, cho bản thân
1.2.2 Khái niệm nguồn lao động
Nguồn lao động bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm vànhững người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp,những người đang đi học đang làm nội trợ trong gia đình, hoặc không có nhu cầulàm việc và những người thuộc tình trạng khác (người nghỉ hưu trước tuổi theo quyđịnh của Bộ luật lao động)
- Quy mô của nguồn lao động phụ thuộc vào 3 yếu tố sau:
- Quy mô phát triển dân số: Quy mô dân số càng lớn tốc độ tăng dân số càng
Trang 23cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại.
- Tỷ lệ nguồn lao động trong dân số
- Điều kiện kinh tế xã hội của từng nước: Dân số và nguồn lao động là hai phạm
trù tương đối độc lập với nhau Quy mô và cơ cấu dân số quyết định đến quy mô và
cơ cấu của nguồn lao động, dân số đông tỷ lệ nguồn lao động trong dân số lớn vàngược lại Nguồn lao động nằm trong dân số bao gồm toàn bộ những người nằmtrong độ tuổi lao động không kể đến tình trạng có việc làm hoặc không có việc làm
Có nghĩa là tất cả những người có khả năng lao động trong dân số, tính theo tuổilao động đều thuộc nguồn lao động
Tùy theo đặc điểm dân số từng nước mà tỷ lệ nguồn lao động trong dân số khácnhau, nhưng nhìn chung tỷ lệ này thường lớn hơn 50% dân số (xấp xỉ 52%) Xuất phát
từ đặc điểm dân số từng nước như vậy mà số người trong độ tuổi lao động của mỗinước cũng khác Các nước có nền kinh tế chậm phát triển tỷ lệ nguồn lao động thấp(khoảng 55- 57%) so với các nước công nghiệp phát triển (khoảng 64-66%) chính vìthế mà gánh nặng về số người không lao động ở các nước nghèo nặng hơn
Để xác định khả năng lao động của xã hội, người ta quy định ra loại lao độngchính theo tỷ lệ 1:3 đối với người dưới tuổi và 1:2 đối với người trên tuổi lao động
Tiềm năng nguồn lao động và việc sử dụng hợp lý nguồn lao động ở mỗi quốcgia, mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau thì có quan điểm khác về lao động từ đóxây dựng tiềm năng về nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động
đã được giới hạn độ tuổi trong dân số tuỳ theo từng nước mà nó được bao gồm nguồnlao động đang tham gia vào hoạt động kinh tế và nguồn lao động có khả năng lao độngnhưng vì nhiều lý do khác nhau chưa tham gia vào hoạt động kinh tế
1.3 Các lý thuyết về việc làm
1.3.1 Khái niệm việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhânkhẩu, là một trong những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ xã hội Khái niệm việc làm
và khái niệm lao động không giống nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau Việclàm thể hiện mối quan hệ của con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những giớihạn xã hội cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời nó là điều kiện cần thiết đểthỏa mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người
Trang 24Trên cơ sở vận dụng khái niệm việc làm của ILO vào điều kiện cụ thể của nước
ta, bộ luật Lao động Việt Nam tại điều 13 chương II (luật sửa đổi, bổ sung năm 2002)quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đềuđược thừa nhận là việc làm” Như vậy, theo bộ luật Lao động Việt Nam, hoạt động lao
động được coi là việc làm phải đảm bảo hai điều kiện: một là, hoạt động đó phải tạo ra thu nhập - đây được coi là điều kiện cần; hai là, hoạt động đó phải đảm bảo tính pháp
lý, nghĩa là hoạt động đó được pháp luật cho phép hoặc không cấm - đây được coi làđiều kiện đủ để hoạt động lao động đó trở thành việc làm
Tuỳ từng cách phân loại mà ta có các hình thức việc làm ở đây ta chỉ tiếp cậnhai hình thức sau:
- Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian
nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác
- Việc làm phụ: là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất
sau công việc chính
Với việc nghiên cứu đặc điểm, khái niệm và phân loại việc làm giúp cho ta hiểu
rõ hơn về việc làm từ đó đưa ra những tiêu chí đánh giá một cách sâu hơn nhằm xácđịnh được các mục tiêu và giải pháp trong việc lập kế hoạch việc làm
1.3.2 Vai trò và ý nghĩa của việc làm
Việc làm có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thểthiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trongcác hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn
bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội
Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bảnthân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân.Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cánhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào nhữngvùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, ),vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độvăn hoá thấp, )
Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầuvào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng
Trang 25kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc làm chotừng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức
là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, ngược lại nó cũngduy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội,
vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặtkhác nó tác động tiêu cực Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó đượcduy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội , không tạo ra cáctiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động cóthể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triểnnhân cách con người Con người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đờisống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiềutrường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xalánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội
Ngoài ra khi không có vệc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàunghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hình chínhtrị Vai trò việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan trọng, vì vậy đểđáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi nhà nước phải có những chiếnlược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này
1.4 Khái niệm, phân loại thất nghiệp
1.4.1 Khái niệm, phân loại
Thất nghiệp là hiện tượng thiếu việc làm so với những mong muốn của ngườilao động được làm việc Thất nghiệp gắn liền với việc không có thu nhập để đảm bảocuộc sống của bản thân và gia đình
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một sốngười trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ởmức lương thịnh hành” [4, tr 18]
Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Giơnevơ đưa rađịnh nghĩa: “Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngànhhoặc một lĩnh vực xác định thuộc những loại sau đây:
Trang 26- Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng,đang không có việc làm và đang tìm việc làm.
- Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm cólương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đókhông phải là người làm công ăn lương
- Người không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làmmột công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được xác định
- Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương.Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất việc) nhưngđều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng:
Có khả năng lao động
Đang không có việc làm
Đang đi tìm việc làm
Khái niệm thất nghiệp ở Việt nam: “Thất nghiệp là những người trong độ tuổilao động và có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm nhưng đang không có việc làmhoặc đang đi tìm việc làm”
Thất nghiêp, đó là vấn đề cả thế giới cần quan tâm Bất kỳ một quốc gia nào dùnền kinh tế có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì vẫn tồn tại vấn đề thất nghiệp đó làvấn đề không tránh khỏi chỉ có điều ở mức độ cao hay thấp mà thôi
Phân loại thất nghiệp
Phân theo loại hình thất nghiệp:
- Thất nghiệp chia theo giới tính (nam, nữ)
- Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi, nghề)
- Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn)
- Thất nghiệp chia theo ngành nghề ( ngành kinh tế, nông nghiệp…)
- Thất nghiệp chia theo dân tộc chủng tộc
Phân loại theo lý do thất nghiệp:
- Do bỏ việc: Tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau như cho rằng lương thấp,không hợp nghề, hợp vùng…
- Do mất việc: Các công ty cho thôi việc do gặp khó khăn trong kinh doanh
- Do mới vào: Lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động nhưng chưa tìm được việc làm( thanh niên đến tuổi lao động đang tìm kiếm việc làm, sinh viên tốt nghiệp đang chờcông tác )
Trang 27- Quay lại: Những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay lại làm việcnhưng chưa tìm được việc làm.
Như vậy thất nghiệp là con số mang tính thời điểm nó luôn biến đổi không ngừng theothời gian Thất nghiệp kéo dài thường xảy ra trong nền kinh tế trì trệ kém phát triển vàkhủng hoảng
Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp:
- Thất nghiệp tạm thời: Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi có một số người lao động trongthời gian tìm kiếm công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng( lương cao hơn, gấn nhà hơn…)
- Thất nghiệp cơ cấu: Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu giữa cácthị trường lao động (giữa các ngành nghề, khu vực…) loại này gắn liền với sự biếnđộng cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung của các thị trường lao động
- Thất nghiệp do thiếu cầu: Do sự suy giảm tổng cầu Loại này còn được gọi là thấtnghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái củachu kỳ kinh doanh, xảy ra ở khắp mọi nơi, mọi nền kinh tế
- Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởicác lực lượng thị trường và cao hơn mức cân bằng thực tế của thị trường lao động
1.4.2 Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp
Một là, nước ta có điểm xuất phát kinh tế thấp, thiếu những điều kiện vật chấtcần thiết để thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế Về trình độ dân trí còn thấp, dân sốlại tăng nhanh dẫn đến lượng người tham gia lực lượng lao động mỗi năm tăng nhanh,lao động trình độ cao ít
Hai là, trong cơ chế cũ, chúng ta đã khuyến khích người lao động tìm việc trongkhu vực quốc doanh và thực hiện chính sách bao cấp nặng nề làm triệt tiêu động lực cốgắng của người lao động trong việc tự nâng cao trình độ của mình
Ba là, hệ thống chính sách giải quyết việc làm còn nhiều bất cập, mạng lướidịch vụ việc làm chưa hoạt động rộng rãi
Bốn là, số doanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp; do kinh tế khó khăn đang bịphá sản hàng loạt nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao động rất hạn chế Chínhsách tiền lương, thu nhập chưa động viên được người lao động gắn bó với công việc.Quản lý nhà nước với thị trường lao động, việc làm chưa chặt chẽ, những tranh chấplao động diễn ra phức tạp; cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấukinh tế
Trang 28Năm là, tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề thấp, kỹ năng tay nghề, thểlực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa cao Người laođộng thất nghiệp, thiếu việc làm, nhất là trong nông nghiệp còn đông Chất lượngnguồn lực lao động nước ta còn thấp; di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thànhthị, vào các khu công nghiệp tập trung và ra nước ngoài kéo theo nhiều vấn đề xã hộinhư “chảy máu chất xám”, buôn bán phụ nữ, trẻ em
Sáu là, cơ cấu ngành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầucủa nền kinh tế Hệ thống giao dịch trên thị trường lao động yếu kém, chưa phát triển.Năng lực cạnh tranh sản phẩm, cạnh tranh doanh nghiệp, cạnh tranh kinh tế quốc tếcủa Việt Nam còn yếu
1.5 Chính sách tạo việc làm
1.5.1 Khái niệm
Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất củaquốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, trật tự xã hội Chính sách việc làm được thểchế bằng văn bản Pháp luật của Nhà nước thể hiện một hệ thống các quan điểm,chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết việc làm cho người lao độnggiúp ổn định và phát triển xã hội
Đối tượng của chính sách việc làm là những người lao động chưa có việclàm, thất nghiệp, hoặc thiếu việc làm
Lao động là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước Giải quyết việc làmcho người lao động vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển Đảng và Nhà nước
ta luôn luôn quan tâm đến vấn đề việc làm cho người lao động Đảng và Nhà nước
ta đã khẳng định việc giải quyết việc làm cho người lao động "Giải quyết việc làm
và đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là tráchnhiệm của Nhà nước, các doanh nghiệp và toàn xã hội" Đại hội toàn quốc lần thứXII của Đảng đã đề ra mục tiêu: "Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động Tỷ lệ
hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm, tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 55% Phát triển
đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích tạo thuậnlợi để người lao động học tập nâng cao trình độ lao động, tay nghề; đồng thời có cơchế chính sách phát triển, trọng dụng nhân tài” Nhà nước hàng năm đang nỗ lựctạo những điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc miễn, giảm thuế
và áp dụng các biện pháp khuyến khích để người lao động có khả năng tự giảiquyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và các cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế
Trang 29phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu nhằm tạo việc làm cho ngày càng nhiềungười lao động có việc làm.
Như vậy, để có việc làm trước hết cần hai yếu tố là sức lao động và điều kiệncần thiết để sử dụng sức lao động, trong đó bao gồm cả yếu tố xã hội Như vậy,việc làm là phạm trù dùng để chỉ trạng thái phù hợp với sức lao động và những điềukiện sử dụng sức lao động đó Trạng thái phù hợp thể hiện thông qua tỷ lệ chi phíban đầu với chi phí lao động Quan hệ tỷ lệ này phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất Khi trình độ đó thay đổi thì tỷ lệ đó cũng thay đổi theo Chính
vì vậy, quá trình tạo việc làm là quá trình tạo ra của cải vật chất Có thể mô phỏngquy mô tạo việc làm theo phương trình sau:
1.5.2 Sự cần thiết nghiên cứu vấn đề tạo việc làm cho người lao động
Vấn đề tạo việc làm, thu hút con người tham gia vào quá trình lao động, pháttriển kinh tế có tầm quan trọng lớn, đặc biệt là ở nước ta với đặc trưng của nền kinh
tế chậm phát triển Tuy nhiên muốn tạo việc làm thu hút con người vào quá trìnhlao động phải xét đến hàng loạt các vấn đề có liên quan
Đối tượng của tạo việc làm là những người thiếu việc làm, những người thấtnghiệp nhưng có nhu cầu làm việc Hiện tượng tồn tại một lực lượng lao động thiếuviệc làm và thất nghiệp với tỷ lệ cao biểu hiện sự lãng phí nguồn lực quan trọngnhất trong quá trình phát triển kinh tế Hơn nữa thiếu việc làm và thất nghiệp còngây ra một áp lực lớn đối với sự ổn định chính trị và tiến bộ xã hội Trong nhữngnăm gần đây, khi nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nướcthì việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong được xem là mụctiêu hàng đầu Đặc biệt là nguồn lực con người cần tạo việc làm, thu hút lao động,nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm tới mức thấp nhất lực lượng thất nghiệp
Xét về mặt kinh tế, thất nghiệp gắn chặt với đói nghèo Tỷ lệ thất nghiệp caokhông những gây tổn thất lớn cho nền kinh tế mà còn gây ra nhiều khó khăn chocuộc sống cá nhân người lao động Những người thất nghiệp, họ không sản xuất rasản phẩm nhưng họ vẫn phải tiêu dùng một nguồn lực nhất định của xã hội đặc biệt
ở tuổi trưởng thành, mức tiêu dùng thường lớn hơn các độ tuổi khác Đối với nước
Trang 30ta, những người thất nghiệp là những người không có thu nhập và sống nhờ vàonguồn thu nhập của người khác trong gia đình Hơn nữa thường những người thấtnghiệp là những người chủ gia đình, nguồn thu nhập của họ có ảnh hưởng rất lớntới đời sống của các thành viên trong gia đình, khi đời sống kinh tế của gia đìnhkhó khăn thì nó lại ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống gia đình Đây chính lànhững nguyên nhân sâu xa, phức tạp của những rối ren cho xã hội.
Trên góc độ quản lý Nhà nước, hiện tượng tồn tại thất nghiệp lớn chính làchúng ta không phát huy hết nội lực những tiềm năng vô cùng to lớn, quý giá, sángtạo ra giá trị và sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội Ở nước ta hiện nay tỷ lệ thấtnghiệp vào khoảng 6% đến 7% lực lượng lao động và chủ yếu là thất nghiệp theo
cơ cấu (có ngành cần lao động thì không có, ngành cần ít lao động thì lại thừanhiều) Đó là hiện tượng hệ thống đào tạo không gắn với cầu về lao động trên thịtrường lao động cả về số lượng và chất lượng lao động, phần lớn sinh viên ratrường đều vấp phải một khó khăn đó là việc làm Họ là những người được đào tạo
và có trình độ chuyên môn những mong khi ra trường đem hết hiểu biết, tài năngcủa mình để phục vụ đất nước, phục vụ quê hương và ổn định cuộc sống cá nhân,vậy mà phần lớn trong số họ phải ra nhập đội quân thất nghiệp Như thế, việc đầu
tư cho giáo dục có nên không? Làm thế nào để sử dụng họ có hiệu quả nhất cả về
số lượng lẫn chất lượng? Câu hỏi này không phải ngày một ngày hai mà có thể trảlời được Đó là một vấn đề khó khăn mang tính phức tạp và thời sự đối với tất cảcác ngành và các cấp lãnh đạo Do tầm quan trọng cũng như sự ảnh hưởng lớn laocủa vấn đề việc làm và thất nghiệp những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đãphối hợp giữa các ngành các cấp để đưa ra phương án khả dĩ nhằm giảm đến mứcthấp nhất số người thất nghiệp nhưng do tính phức tạp của vấn đề nên kết quả đạtđược còn rất nhiều hạn chế Chương trình trong những năm tới là phải đưa vấn đềtạo việc làm cho người lao động mang tính quốc sách hàng đầu không chỉ đối vớilao động công nghiệp đô thị mà cả lao động nông nghiệp nông thôn vì lao độngnước ta trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng sấp xỉ 80%
Về mặt xã hội, thất nghiệp gây nên những hậu quả nặng nề, khi xét đếnnguyên nhân của các tệ nạn xã hội, người ta nhận thấy rằng, những người thấtnghiệp tham gia vào các tệ nạn này chiếm tỷ trọng đáng kể Những người thấtnghiệp tham gia vào các tệ nạn xã hội như nghiện ma tuý, trộm cắp, mại dâm, đâmthuê, chém mướn trong xã hội đen đều đem lại thu nhập ít nhiều cho người thamgia Trong lúc các con đường khác tạo việc làm một cách chân chính bị khép lại, thìcon đường đến với các tệ nạn xã hội lại thường mở ra và khó kiểm soát
Trang 311.6 Thực trạng chung về vấn đề việc làm của sinh viên hiện nay
Từ khi đất nước ta có chính sách mở cửa giao lưu hợp tác với các nướctrong khu vực cũng như các nước trên thế giới, kinh tế chuyển sang nền kinh tếnhiều thành phần tự do cạnh tranh phát triển đã phát huy rất nhiều mặt tích cực.Mặt tích cực đáng chú ý là sự cố gắng vươn lên của lớp thanh niên mới để có thểđáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của công việc Sự mở rộng phát triển kinh tế thịtrường thực sự đã mang lại những cơ hội việc làm cho sinh viên có khả năng, cónăng lực, linh hoạt Nhưng không phải mọi sinh viên ra trường đều có việc làm vàđây là một vấn đề đang được quan tâm của xã hội
Theo báo cáo kết quả điều tra lao động vệc làm năm 2012 của Tổng cụcThống kê và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) mới đây cho thấy: Lao động trẻ, tuổi15-24, chiếm tới 46,8% trong tổng số thất nghiệp Về con số cụ thể, thống kê chothấy cả nước hiện có 984.000 người thất nghiệp và 1,36 triệu người thiếu việc làm.Trong đó, người thiếu việc làm ở nông thôn là 1,1 triệu người, cao hơn rất nhiều sovới thành thị (246.000 người) Số người thất nghiệp ở khu vực thành thị là 494.000,khu vực nông thôn là 459.000 người Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là3,53% cao hơn ở khu vực nông thôn với 1,55% ”.[4, tr 135] Theo báo cáo
từ Tổng cục Thống kê và Thị trường lao động quý I/2016 cho thấy, số người thấtnghiệp trong độ tuổi lao động có trình độ đại học trở lên là 192,5 nghìn người,chiếm 18,1% tổng số người thất nghiệp; số lao động trình độ đại học, cao đẳng thấtnghiệp năm 2015 so với 2010 tăng 103%.” [3, tr 107]
Bên cạnh những sinh viên có đủ những yêu cầu mà nhà tuyển dụng đòi hỏihoặc những người có người thân, xin việc hộ thì số còn lại phải chật vật chạy đichạy lại với các trung tâm giới thiệu việc làm Cũng phải nói thêm rằng chính dựavào sự khan hiếm việc làm này mà nhiều trung tâm giới thiệu việc làm mọc lên vài
ba bữa để thu tiền lệ phí, tiền môi giới việc làm rồi biến mất Hoặc một số sinh viên
ra trường chấp nhận làm trái nghề hoặc bất cứ nghề gì miễn là có thu nhập Đó là
về phía sinh viên, còn về phía nhà tuyển dụng thì họ vẫn thiếu lao động mà theo họ
là thiếu những người có kinh nghiệm và khả năng làm việc độc lập cũng như một sốyêu cầu khác
Từ khi nhà nước có chính sách mở cửa kinh tế nhà nước chuyển sang kinh tếthị trường, các doanh nghiệp phải tự lo cho mình, tự tính toán “ lời ăn, lỗ chịu”không có sự bao cấp của nhà nước thì vấn đề việc làm thực sự trở nên bức bách.Cũng từ đây cơ cấu bộ máy trong các cơ quan gọn nhẹ hơn nhiều do số lao động
Trang 32tuyển vào được cân nhắc kỹ lưỡng theo khối lượng và mức độ đòi hỏi của côngviệc Hiện nay, sau khi tốt nghiệp thì đa số sinh viên phải tự đi tìm việc cho mìnhngoại trừ một số trường thuộc ngành quân đội hay công an thì ngành chủ quản sẽphân công công tác Ngày nay, chúng ta có thể thấy một hiện tượng là sinh viên tốtnghiệp ra trường chỉ muốn trụ lại thành phố để làm việc kể cả những sinh viên xuấtthân và lớn lên từ những miền quê Họ chấp nhận ở lại thành phố để làm việc dù làviệc không đúng với ngành được đào tạo hoặc có thu nhập Như vậy một số nơi nhưhải đảo, vùng sâu, vùng xa thì vẫn thiếu trầm trọng nguồn nhân lực trong khi thànhphố vẫn phải đương đầu với sức ép của tình trạng thất nghiệp Đến đây ta có thểthấy được tính hai mặt của nền kinh tế thị trường Một mặt nó tạo điều kiện chomọi thành phần kinh tế có khả năng phát triển mạnh hơn, nó cũng tạo ra sự cạnhtranh và chính sự cạnh tranh cũng là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, đi lên.Hơn nữa kinh tế thị trường sẽ làm cho mọi người phải cố gắng nỗ lực để trang bịcho mình vốn kiến thức đầy đủ thì mới có thể tìm được việc làm Nhưng mặt khácnền kinh tế thị trường cũng có những tác động không lớn đến vấn đề xã hội là việcgây ra sự thiếu thừa “ giả” về lực lượng lao động, mất cân đối về nguồn lao động vàcũng làm nẩy sinh một số vấn đề tiêu cực trong việc làm.
Về phía đào tạo tình trạng sinh viên ra trường không có việc làm một phầncũng có nguyên nhân ở phía đào tạo Có thể nói cơ cấu đào tạo của nước ta còn quálạc hậu và chưa bám sát thực tế Trong khi một đất nước đang phát triển như ViệtNam rất cần đến đội ngũ kỹ sư về kỹ thuật, công nghệ, xây dựng cơ bản thì nguồncung cấp nhân lực từ phía đào tạo lại chưa đáp ứng được hết nhu cầu Trong khi đósinh viên trong khối kinh tế thì đang quá dư thừa “ 90 % sinh viên khối kinh tế ratrường không có việc làm ” là một phần do bên đào tạo nắm được nhu cầu thực tế
về nguồn nhân lực, chưa thông tin đầy đủ cho sinh viên về việc chọn nhóm ngànhhọc, nhiều sinh viên chọn trường chỉ theo cảm tính chứ không tính đến mục đíchphục vụ tương lai và khả năng xin việc làm sau này
Chất lượng đào tạo hiện nay chất lượng đào tạo và thực tế còn có khoảng cáchquá xa Những gì sinh viên được học phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu của côngviệc Nguyên nhân một phần là do học không đi đôi với hành, thiếu cơ sở vật chất,trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dậy và học tập hoặc nếu có thì quá xa so với thực
tế công việc Phần khác là do xã hội ngày càng phát triển với tốc độ cao và vì vậy sảnxuất cũng thay đổi theo Phương thức sản xuất thay đổi trong khi đó đào tạo không bắtkịp được những thay đổi này vì vậy nó thường bị tụt hậu Khi không có sự cân bằng,đồng bộ giữa đào tạo và thực tế công việc đã làm cho sinh viên sau khi ra trườngkhông đủ khả năng phục vụ cho công việc Họ cảm thấy rất lúng túng trước những yêu
Trang 33cầu của đơn vị sử dụng lao động Chính vì sự phát triển của khoa học – kỹ thuật ngàycàng cao nên công việc cũng đòi hỏi đội ngũ người lao động phải có trình độ, nănglực Điều này đòi hỏi ngành GDĐT phải phương pháp đào tạo mới, cải thiện chấtlượng đào tạo để có thể bắt kịp được sự phát triển của thời đại.
Về phía chính sách của nhà nước bên cạnh những nguyên nhân về kinh tế, xãhội, đào tạo thì nguyên nhân về chính sách của nhà nước cũng là yếu tố đáng kể tácđộng đến vấn đề này Trong những năm gần đây, nhà nước cũng có rất nhiều quan tâmđến sự nghiệp đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng cùng với những khuyếnkhích để sử dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp; ví dụ như sinh viên thuộc khối sư phạmđược miễn học phí Nhưng về cơ bản thì nhà nước vẫn chưa có chính sách hợp lí đểkhuyến khích cũng như tạo điều kiện cho sinh viên sau khi ra trường yên tâm công tác
và phát huy hết khả năng; chẳng hạn như chính sách đối với những người về công táctại những vùng sâu, vùng xa, hải đảo chưa hợp lí cho lắm nên không thu hút được sinhviên sau khi ra trường tự nguyện về đây công tác Vậy nên chăng nhà nước cần cóchính sách hợp cũng như thoả đáng hơn nữa cả về mặt vật chất cũng như tinh thần đểsinh viên sau khi ra trường sẵn sàng có công tác ở bất cứ nơi đâu để góp phần vào sựnghiệp công nghiệp hoá và đổi mới đất nước
Bên cạnh những nguyên nhân được nêu ở trên thì nguyên nhân từ phía bảnthân sinh viên cũng là một yếu tố gây ra tình trạng sinh viên thất nghiệp sau khi ratrường Chúng ta có thể nhận thấy một thực tế rằng hiện nay sinh viên ra trường đềumuốn bám trụ lại thành phố để làm việc dù công việc đó không đúng ngành được đàotạo hoặc thậm chí là công việc phổ thông miễn sao có thu nhập Nhóm sinh viên xuấtthân từ các tỉnh lẻ ra thành phố học cũng không muốn trở về quê hương để phục vụ,điều này đang làm cho các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đangquá tải về dân số cũng như sức ép về nhu cầu việc làm Tình hình này đã và đang gây
ra những ảnh hưởng xấu đến chủ trương phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi ,nôngthôn của Đảng và nhà nước
Tại một số nước nền giáo dục hiện đại thì sinh viên sau khi học hết năm thứ 3thì có thể làm việc được tại một cơ quan theo một ngành nghề đã được đào tạo Phầnđông ngoài các chương trình đào tạo ở trường đại học họ còn phải học thêm các khoáhọc ở ngoài như ngoại ngữ tin học để có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc Còntheo các kết quả điều tra mới đây của Trường Đại học Kinh tế Thái Nguyên, chỉ có40% sinh viên của trường tìm được việc làm trong thời gian 6 tháng sau khi tốt nghiệp
và sau một năm tăng lên khoảng hơn 70% Ngay cả số sinh viên ra trường tìm đượcviệc làm thì phần lớn có việc làm bấp bênh, thường xuyên chuyển đổi chỗ làm Hệ
Trang 34quả, theo TS Nguyễn Thuấn, giảng viên Trường Đại học Kinh tế Thái Nguyên kiêmGiám đốc Trung tâm Dịch vụ Việc làm Sinh viên – Học sinh (Profec), mặc dù cácngành nghề kinh tế, khu vực doanh nghiệp thường xuyên thiếu hụt lao động, nhưngsinh viên ra trường vẫn không tìm kiếm được việc làm, tỉ lệ thất nghiệp rất cao ÔngNguyễn Hoàng Kháng, Trưởng Phòng Lao động – Tiền lương – Tiền công thuộcTrung tâm LĐ-TB-XH Thái Nguyên, cho biết mỗi năm Thái Nguyên cókhoảng 32.000 SV tốt nghiệp đại học, trong đó khoảng 30% trong số này có việc làmphù hợp; còn lại khoảng 50% có việc làm trái ngành nghề đào tạo, việc làm chưa ổnđịnh, thu nhập thấp và 20% khó tìm việc Trong khi đó, khảo sát nhu cầu tuyển dụngcũng chỉ có khoảng 34% doanh nghiệp hài lòng ứng viên được tuyển dụng; 66% chưa
hài lòng ( Nguồn: Trung tâm LĐ-TB-XH Thái Nguyên).
Trang 35CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP KHOA KINH TẾ CÔNG NGHIỆP SAU KHI TỐT NGHIỆP 2.1 Khái quát về Khoa Kinh tế Công nghiệp
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Khoa Kinh tế Công nghiệp thuộc trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệpđược thành lập ngày 06 tháng 12 năm 2002 theo quyết định số 631/QĐ-TCCB củaGiám đốc Đại học Thái nguyên, trên cơ Trung tâm Ban Kinh tế của Nhà trường
Năm 2004 thực hiện chủ trương thành lập trường Đại học Kinh tế và Quản trịkinh doanh, giảng viên Khoa Kinh tế Công nghiệp được điều chuyển sang trường Đạihọc Kinh tế và QTKD, vì vậy Khoa Kinh tế Công nghiệp bị gián đoạn, nhiệm vụ đàotạo khối ngành kinh tế do phòng Đào tạo trực tiếp quản lý và điều hành
Ngày 15 tháng 01 năm 2007 theo đề nghị của trường Đại học Kỹ thuật Côngnghiệp, Đại học Thái Nguyên ra quyết định số 26/QĐ-TCCB về việc thành lậpKhoa Quản lý Công nghiệp và Môi trường, việc đào tạo các ngành thuộc khốingành kinh tế được chuyển về khoa Quản lý Công nghiệp và Môi trường, từ đó độingũ giảng viên khối ngành Kinh tế không ngừng tăng lên
Căn cứ vào nhu cầu đào tạo của xã hội, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên,ngày 03 tháng 3 năm 2011 Giám đốc Đại học Thái Nguyên đã ký quyết định số139/QĐ- ĐHTN, tái thành lập khoa Kinh tế Công nghiệp
Sứ mệnh: Trong phạm vi ngành nghề đào tạo tại Trường đại học kỹ thuậtcông nghiệp Thái nguyên, khoa Kinh tế Công nghiệp chuyên ngành Quản lý côngnghiệp là đơn vị cầu nối giữa các khối kiến thức kỹ thuật và khối kiến thức quản lý,tạo nên một chỉnh thể trong xu thế đào tạo liên ngành, liên lĩnh vực ngày nay
Tầm nhìn: Khoa Kinh tế Công nghiệp chuyên ngành Quản lý công nghiệpcam kết xây dựng một môi trường sinh hoạt tri thức với các chuẩn mực chất lượngcao về giảng dạy, nghiên cứu và học tập theo hướng hội nhập khu vực và quốc tế
Trang 362.1.2 Về cơ cấu tổ chức
* Về cơ cấu tổ chức quản lý của Khoa Kinh tế Công nghiệp hiện nay baogồm: Ban chủ nhiệm khoa, 4 Bộ môn trực thuộc (Gồm: Bộ môn Quản trị doanhnghiệp, Bộ môn kế toán doanh nghiệp, Bộ môn tài chính và Bộ môn pháp luật) và
bộ phận Văn phòng
* Về đội ngũ giảng viên: Khoa Kinh tế Công nghiệp hiện nay có tổng số giảngviên là 30 người, trong đó có 02 tiến sĩ, 04 giảng viên chính, 2 nghiên cứu sinh và 22thạc sĩ Trình độ tiếng Anh của giảng viên trong độ tuổi: 100% đạt Toefl – ITP trên450; trên 60% đạt Toefl – ITP trên 500
2.1.3 Các ngành nghề đào tạo của khoa Kinh tế Công nghiệp
- Đào tạo trình độ đại học cấp bằng cử nhân Kinh tế Công nghiệp các chuyênngành: Kế toán doanh nghiệp công nghiệp và Quản trị doanh nghiệp công nghiệp(Quyết định số 501/QĐ-BGĐ ĐT ngày 19 tháng 1 năm 2001)
- Đào tạo trình độ đại học cấp bằng cử nhân ngành Quản lý công nghiệp (Quyếtđịnh số 82/QĐ-ĐT ngày 10 tháng 1 năm 2007)
Mục tiêu của Chương trình đào tạo Cử nhân Quản lý Công nghiệp là nhằmcung ứng cho xã hội:
a) Các công dân đủ tri thức để lao động trí óc, có ý thức đạo đức và trách nhiệm xã hộib) Nhân lực làm việc trong các tổ chức sản xuất, dịch vụ, thương mại
c) Các nhà quản lý đáp ứng được nhu cầu của tổ chức trong bối cảnh hội nhập quốc tếd) Các nghiên cứu viên và học viên tiếp tục học các bậc học cao hơn
e) Chuẩn đầu ra của Chương trình đào tạo Cử nhân Quản lý Công nghiệp được xácđịnh như sau:
f) Trước hiện thực xã hội, phát biểu được quan điểm riêng dựa trên tích hợp các kiếnthức cơ sở Gắn kết với cộng đồng, nghiêm túc thực hiện trách nhiệm xã hội, hànhđộng hợp đạo lý
g) Tự đánh giá, xác định được giá trị bản thân, có kế hoạch cá nhân cho tương lai, có
kỷ luật và thái độ hợp tác, tích cực trong làm việc nhóm
h) Có khả năng quản lý nhóm trên 5 người, biết sử dụng nguồn lực để hoàn thànhnhiệm vụ đã nhận
i) Biết sử dụng kiến thức chuyên môn để xác định và đề xuất hướng giải quyết cácvấn đề quản lý, ứng dụng các công cụ chuyên môn như phần mềm, công cụ thống
kê, điều độ, lập dự án, v.v
Trang 37j) Tự tin thuyết trình các nội dung chuyên môn hoặc trong quản lý trước đông người.Viết báo cáo và đơn từ hợp chuẩn mực, đủ thông tin cho người ra quyết định.
k) Hiểu biết về một kỹ thuật - công nghệ, hợp tác được với các kỹ sư và bộ phận kỹthuật Biết sử dụng kỹ thuật, cơ sở định lượng, kỹ năng và công cụ đương đại trongcông việc chuyên môn
l) Tự nhận thức nhu cầu cập nhật kiến thức, có khả năng tìm kiếm thông tin và tiếptục tự học để đáp ứng nhu cầu (Ý thức tự học suốt đời)
m) Phát triển nghề nghiệp trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
n) Giải quyết các bài toán chi phí, sử dụng hiệu quả nguồn lực
- Hoạt động nội địa hoặc đa quốc gia
- Cử nhân tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý Công nghiệp sẽ có cơ hội nghề nghiệptrong các nhóm công việc sau:
Quản lý nhà máy: hoạch định sản xuất, quản lý mua hàng và tồn kho, đánh giá trình độcông nghệ, quản lý con người…
Quản lý mua hàng: đánh giá các chương trình mua hàng, thiếp lập cấp độ vận hành vàphối hợp các công tác trong vận hành, định hướng các điểm mấu chốt trong vậnhành…
Quản lý chất lượng: phân tích chi tiết cơ sở dữ liệu và các bảng tính, kiểm định quátrình để xác định các khu vực cần cải tiến, quản lý việc thực hiện những thay đổi…
Lập kế hoạch và quản lý chuỗi cung ứng: thương lượng các hợp đồng, thiết lập mốiquan hệ lâu dài với các nhà cung cấp, duy trì sự chính xác của hệ thống mua hàng, hoáđơn và hàng hoá trả lại…
Tư vấn cải tiến quá trình: thiết kế và triển khai kế hoạch sản xuất tinh gọn (Lean) vàgiảm thời gian sản xuất trong cả lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, hệ thống hướng tớikhách hàng (6 Sigma)…
Trang 38- Ngoài ra Khoa còn giảng dạy cho các khoa khác trong trường về các môn học kinh
tế, quản trị doanh nghiệp và pháp luật
* Loại hình và quy mô đào tạo: Khoa Kinh tế Công nghiệp tổ chức đào tạo các hệchính quy dài hạn, liên thông chính quy, vừa làm vừa học Quy mô sinh viên hiện naylà: 1.007 sinh viên Thực hiện chủ trương đổi mới của Nhà trường, Khoa Kinh tế côngnghiệp đang tích cực nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, điều chỉnh chương trìnhđào tạo phù hợp, nâng cao kiến thức và kỹ năng cho sinh viên Đảm bảo chuẩn đầu ra,đáp ứng đào tạo nguồn nhân lực có đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao phù hợp vớiquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế của đất nước
2.2 Tình hình việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp
2.2.1 Tình hình việc làm và thời gian có việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp
Sinh viên là tầng lớp thanh niên tiên tiến, họ có tri thức trí tuệ và trình độ họcvấn cao Họ là nguồn bổ sung cho đội ngũ trí thức và là nguồn lực quan trọng trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Là sinh viên ai cũng mong muốn sau khi tốt nghiệp có được một công việc ổnđịnh và phù hợp với chuyên ngành đào tạo, với khả năng, sở thích, nguyện vọng củabản thân Vậy với sinh viên chuyên ngành Quản lý công nghiệp thì vấn đề việc làmcủa họ như thế nào Số liệu bên dưới được đưa ra để thể hiện cho vấn đề đó:
Trang 39Biểu đồ 2.1: Thời gian chờ việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp ( Đơn vị: %)
Từ 6 - 12 tháng Trên 12 tháng Chưa có việc làm
(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)
Từ kết quả nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy, trong số 120 cựu sinh viên
mà chúng tôi tiến hành thu thập thông tin, hiện nay 90% đã tìm được việc làm, đây
là số liệu tương đối khả quan đối với ngành Quản lý công nghiệp
Phân tích số liệu ta thấy số lượng sinh viên sau khi ra trường có việc làmngay chiếm tỷ lệ thấp 19,0%, dưới 6 tháng có 32 người chiếm 27,0% và từ 6 – 12tháng và trên 12 tháng lần lượt chiếm những tỷ lệ là 29,0% và 15,0% Từ kết quảnày chúng ta có thể thấy đa số sinh viên sau khi tốt nghiệp đều phải mất mộtkhoảng thời gian khá dài để tìm việc Điều này gây ra một sự lãng phí lớn nguồnlực cho xã hội, đồng thời có thể gây phát sinh những tệ nạn xã hội và ảnh hưởngmột phần không nhỏ đến đời sống của sinh viên Mặt khác tỷ lệ sinh viên ra trườngchưa tìm được việc làm vẫn chiếm tỷ lệ cao là 10% Lý giải vấn đề này chúng ta cóthể khẳng định rằng sinh viên ngành Quản lý công nghiệp vẫn còn nhiều khó khăntrong quá trình đi xin việc, những khó khăn ấy hầu hết là do khoảng cách giữa đàotạo và thực tế còn xa; bản thân sinh viên sau khi ra trường chưa có định hướng rõràng về nghề nghiệp; trình độ kiến thức kỹ năng chưa đáp ứng được nhu cầu củanhà tuyển dụng; sinh viên chưa được rèn luyện các kỹ năng để bước vào môitrường thực tế cùng với đó là kiến thức của sinh viên và nguồn thông tin mà sinhviên được tiếp cận còn hạn chế, sự liên kết giữa khoa Kinh tế Công nghiệp nóiriêng và nhà trường nói chung với các doanh nghiệp còn thiếu tính chặt chẽ;
Trang 40Nguồn gốc của những khó khăn trên bởi lẽ công việc của nhà quản lý đòi hỏisinh viên theo học phải có tính cách tương đối năng động, nhạy bén và có tư duytốt… Do những đặc điểm riêng của chuyên ngành Quản lý công nghiệp, trong quátrình học tập, sinh viên chưa có nhiều cơ hội tham gia vào các quá trình giao tiếp xãhội thông qua các hoạt động đi làm thêm, tiếp xúc thực tế trong các doanh nghiệp,nhiều tình huống khác nhau khi đi thực tập, thực tế Các hoạt động này sẽ giúp chosinh viên có sự xông xáo, tự tin, nhanh nhẹn… ở mọi tình huống trong quá trình làmviệc Đồng thời do ngành Quản lý công nghiệp là một ngành tương đối nhỏ trongtrường, do đó sự quan tâm của nhà trường đối với ngành còn có nhiều hạn chế Sựliên kết giữa nhà trường với các doanh nghiệp chủ yếu là giành cho các khoa bênkhối kỹ thuật.
Đây là những khó khăn của sinh viên chuyên ngành Quản lý công nghiệpphải đối mặt so với sinh viên các chuyên ngành khác trong trường Chính vì vậy đòihỏi Khoa kinh tế công nghiệp cần có những giải pháp tích cực hơn nữa để giảiquyết tình trạng hiện nay
2.2.2 Thu nhập bình quân của sinh viên sau khi tốt nghiệp
Mức thu nhập của mỗi cá nhân là một chỉ báo quan trọng trong cuộc sốngcủa con người Thu nhập tác động đến mức sống từ vật chất đến tinh thần Chỉ báo
về thu nhập còn phản ánh vị thế của cá nhân, ngoài ra mức thu nhập cao và ổn định
sẽ giúp mỗi cá nhân làm được nhiều việc hơn trong cuộc sống Thu nhập cao khôngnhững sẽ giúp chúng ta nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn có điều kiện nângcao chuyên môn phục vụ cho công việc Hơn nữa thu nhập cao từ chuyên môn cũng
là một trong những yếu tố khẳng định sự tôn trọng của xã hội đối với họ Thu nhậpđánh giá sự công bằng và khẳng định về chuyên môn trong mối quan hệ giữa người
sử dụng lao động với người lao động, người lao động được tôn trọng ở mức độcàng cao thì thu nhập càng nhiều Tìm được một công việc tốt và có thu nhập caosau khi ra trường luôn là nguyện vọng chính đáng của tất cả các bạn sinh viên Quakhảo sát với mẫu là 120 sinh viên sau khi tốt nghiệp chúng tôi có nắm bắt đượcthực trạng vấn đề thu nhập của các bạn hiện nay như sau: