1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hoạt Động Và Kinh Nghiệm Truyền Giáo Của Dòng Tên Tại Việt Nam Giai Đoạn 1615-1773

23 462 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 3,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Trước năm 1615, đã có một số người công giáo Nhật kiều trốn chạy các cuộc bắt đạo ở Nhật đến sinh sống tại Hội An..  Người đã có nhiều đóng góp lớn cho công cuộc truyền giáo và cho x

Trang 1

* Ngày 27.09.1540, Dòng Chúa Giêsu (Societas Jesu – S.J.)

được thành lập với 10 thành viên

* Cha I-nhã (Inhaxiô, 1491-1556)) được tất cả anh em bầu làm Tổng Quản tiên khởi (1541-1556)

* Tại Việt Nam, vì tục kỵ tên và vì tránh gọi Tên cực trọng

Chúa Giêsu, nên Dòng Chúa Giêsu được gọi là Dòng Tên

* Mục đích và sứ mạng của Dòng là “phụng sự một mình

Chúa và Giáo Hội, Hiền Thê của Người, dưới quyền Đức Giáo Hoàng Rôma, vị đại diện của Đức Kitô ở trần gian.”

* Các Giêsu-hữu cố gắng làm mọi sự theo tôn chỉ Cho Vinh

Danh Thiên Chúa Hơn (Ad Majorem Dei Gloriam - A.M.D.G.).

Trang 2

 Ngay từ lúc Dòng mới khai sinh, các Giêsu-hữu tiên khởi đã phải

phân tán nhiều nơi để phục vụ Giáo Hội

Họ rất nhiệt thành trong việc bảo vệ và truyền bá đức tin, trong việc mục vụ và tông đồ như giáo dục, thuyết giảng, huấn giáo, giảng Linh Thao và truyền giáo Dòng phát triển rất nhanh Trong vòng 16

năm, từ lúc thành lập cho tới năm cha I-nhã qua đời (1556), Dòng đã

có khoảng 1.000 Giêsu-hữu, hiện diện và phục vụ tại nhiều nước ở Châu Âu cũng như tại các vùng đất truyền giáo Họ đã có mặt tại

Châu Á năm 1542, tại Châu Phi năm 1548, tại Nam Mỹ trước năm 1552

 Thánh Phanxicô Xaviê (1506-1552) đến Ấn Độ năm 1542, đến Nhật Bản năm 1549

 Hiện nay, Dòng Tên có hơn 19.000 Giêsu-hữu hiện diện và phục vụ tại 133 quốc gia trên thế giới Bề Trên Tổng Quyền thứ 30 đương nhiệm là cha Adolfo Nicolás (1936), người Tây Ban Nha

Trang 3

Các thừa sai Dòng Tên đã đặt chân đến Đàng Trong và bắt đầu giới thiệu Tin Mừng tại đây năm 1615 – Dòng Tên đang

chuẩn bị mừng 400 năm đặt chân đến Đất Việt để truyền giảng Tin Mừng (1615-18.01-2015) – đến Đàng Ngoài thăm dò tình hình năm 1626 và khởi đầu truyền giảng Tin Mừng tại đó năm

1627 (19.03.1627)

 Các Giêsu-hữu đã nhiệt tình truyền giảng Tin Mừng tại Việt

Nam cho đến năm 1773 (158 năm, với sự hiện diện của hơn

155 Giêsu-hữu ngoại quốc và 33 Giêsu-hữu Việt Nam)

 Tích cực hoạt động tông đồ và mục vụ tại đất nước này từ năm

1957 cho tới nay (58 năm)  Dòng Tên đã đặt chân đến Đất Việt cách đây 400 năm, hiện diện và phục vụ Giáo Hội tại Việt Nam cho đến thời điểm này của năm 2015 là 216 năm

Trang 4

Giai đoạn 1615-1773: Mở đường và xây dựng Giáo Hội tại Việt Nam

Giai đoạn 1957-1975: Trở lại Việt Nam – Huấn luyện

và đào tạo giới trí thức và giáo sĩ

Giai đoạn 1975- Nay (2014): Hoà mình với Giáo Hội trong hoàn cảnh xã hội mới

 Để biết thêm về hoạt động truyền giáo của Dòng Tên, xin chia sẻ một vài kinh nghiệm truyền giáo của các thừa sai Dòng Tên tại Việt Nam trong giai

đoạn đầu (1615-1773) Đây là giai đoạn truyền

giáo chính thức của Dòng Tên tại Việt Nam,

nhằm mở đường và xây dựng Giáo Hội tại đây

Trang 5

 Ngày 18.01.1615, 03 Giêsu-hữu đầu tiên đặt chân đến Cửa Hàn (Đà Nẵng) – cha Buzomi, trưởng nhóm Tin Mừng bắt đầu được giới thiệu cho người Việt

 Trước năm 1615, đã có một số người công giáo Nhật kiều trốn chạy các cuộc bắt đạo ở Nhật đến

sinh sống tại Hội An Lúc đầu mục đích chính

của các Giêsu-hữu là giúp họ về mặt đạo.

 Khi tiếp xúc, các thừa sai thấy người Việt hiếu

khách, cởi mở, rộng lượng, dễ đón nhận Tin

Mừng, nên từ cuối năm 1615, các ngài đã chú ý

hơn đến việc giới thiệu Tin Mừng cho người Việt

Trang 6

 Từ năm 1618, các Giêsu-hữu đã truyền giáo đến tận Qui Nhơn, giáp ranh giới phía Nam của Đàng Trong thời đó.

 Từ 1615 đến 1623, các Giêsu-hữu đã thành lập được 3 cư sở

(residentia): Hội An (1615), Nước Mặn (1618), Thanh Chiêm (Quảng

Nam Dinh) (1623), cách thành Qui Nhơn thời đó trên 10km về phía

đông, nay gọi là An Nhơn

 Số người tin vào Tin Mừng ngày càng gia tăng Vào năm 1618, tại khu Cửa Hàn – Thanh Chiêm – Hội An, số bổn đạo đã lên tới 300 người

 Năm 1620, tại Hội An, có 82 người Việt và 27 người Nhật được rửa tội

Đặc biệt, tại Hội An, năm 1620, một Sách giáo lý bằng tiếng Đàng Trong

đã được soạn thảo

Tờ biểu đệ trình lên Đức Giáo Hoàng Urbanô VIII ngày 17.07.1640 cho

biết số giáo hữu Đàng Trong là 15.000 người

 Tới năm 1663, số bổn đạo của Đàng Trong đã lên tới khoảng 50.000 người

Trang 7

 Người đã có nhiều đóng góp lớn cho công cuộc truyền giáo và cho xã hội Việt Nam, nhất là trong việc hình thành chữ Quốc Ngữ.

 Đến và ở lại Đàng Trong một năm rưỡi (từ tháng 12.1624 đến tháng 07.1626) để học tiếng Việt và phong tục tập quán của người Việt là chính, nhằm chuẩn bị cho sứ vụ Đàng Ngoài.

 Năm 1639, tất cả các Giêsu-hữu đều bị Chúa Thượng Nguyễn Phước Lan trục xuất khỏi Đàng Trong Đạo bị cấm cách, các bổn đạo gặp nhiều khốn khó.

 Cha Đắc Lộ được sai đến Đàng Trong từ 1640-1645 Trong thời gian đạo bị cấm cách, các bổn đạo bị bách hại, 04 lần ngài phải đi đi về về rất nguy hiểm giữa Đàng Trong và Áo Môn Tuy gặp nhiều sóng gió, gian truân và thử thách, ngài vẫn kiên trì bám trụ, vẫn một lòng hăng say dấn thân truyền giáo

Trang 8

 Ngài đã thành lập Hội Thầy Giảng để cùng cộng tác với các thừa sai trong việc loan truyền đạo thánh Điều này cho thấy tầm quan trọng và hiệu quả của giáo dân trong việc truyền giảng Tin Mừng

 Các thầy giảng đóng một vai trò rất lớn trong việc củng cố giáo đoàn và hăng say hoạt động truyền giáo, nhất là trong những lúc vắng bóng các thừa sai.

 Thầy giảng đầu tiên anh dũng đổ máu làm chứng cho Tin Mừng là Anrê Phú Yên, chịu tử đạo tại Thanh Chiêm ngày 26.07.1644, lúc mới 19 tuổi, trước sự chứng kiến của các bổn đạo và cha Đắc Lộ, người trước đó đã rửa tội cho Anrê Anrê Phú Yên được phong Chân phước Ngày 05.03.2000

 Khi về đến Rôma, cha Đắc Lộ cho xuất bản 5 cuốn sách về Việt Nam (1650-1651), đồng thời tích cực vận động Toà Thánh gởi

các Giám Mục đến Việt Nam.

 Ngày 09.09.1659, Toà Thánh đã bổ nhiệm Giám Mục Pallu làm Đại diện Tông Toà tại Đàng Ngoài và Giám Mục Lambert làm Đại diện Tông Toà tại Đàng Trong

Trang 9

 Tiếp sau khi cha Đắc Lộ bị trục xuất, tuy tình hình ngày càng nghiêm trọng, nhưng Dòng Tên ở Áo Môn vẫn

tiếp tục gởi các Giêsu-hữu đến Đàng Trong.

khác nhau được gởi đến Đàng Trong.

Trong; nhiều nhà nguyện được lập

đến Lâm Tuyền (Chợ Mới) ở Nha Trang, tới tận Phan

Rí bấy giờ thuộc quyền vua Chăm

77 Giêsu-hữu nước ngoài và 7 Giêsu-hữu Việt Nam hoạt động tại cánh đồng truyền giáo Đàng Trong

Trang 10

 Ngày 15.03.1626, hai Giêsu-hữu, cha Giuliani

Baldinotti (người Ý) và tu huynh Giulio Piani (người

Nhật) theo tàu buôn BĐN đến Đàng Ngoài để thăm dò nhằm dọn đường cho sứ vụ truyền giảng Tin Mừng tại đây Họ rời Kẻ Chợ ngày 11.08.1626

cha Pedro Marques đặt chân đến Cửa Bạng (Thanh

Hoá) và chính thức truyền giảng Tin Mừng.

chính trong việc giới thiệu Tin Mừng cho người Đàng Ngoài

Đàng Ngoài bằng một “bài giảng” bằng tiếng Việt rất tuyệt vời Kết quả là sau đó vài ngày, có 02 người xin rửa tội.

Trang 11

 Không chờ được an cư, hai cha bắt đầu tác nghiệp truyền giáo ngay Trong hai tuần đợi lệnh Chúa Trịnh (Trịnh Tráng) cho phép tàu lên Kẻ Chợ, hai cha rửa tội được cho 32 người, trong số đó có một thầy đồ và một pháp sư

 Sau khi được gặp Chúa Trịnh, bấy giờ đang tiến quân đi đánh Đàng Trong

bằng đường thuỷ, hai thừa sai được đến ở tại An Vực để chờ Chúa Trịnh đánh trận trở về Trong 2 tháng chờ đợi, các ngài cho dựng một nhà thờ và cất một ngôi nhà dành cho những người bị bệnh phong.

 Mở rộng hoạt động truyền giáo đến Vân No và các làng xã chung quanh, rửa tội được cho 200 người

 Thất trận trở về, nhưng Chúa Trịnh vẫn ân cần tiếp đón các ngài, và cho về Thăng Long, cấp đất và vật liệu để dựng một căn nhà khang trang Một phần gian nhà này được dùng làm nhà nguyện Có rất nhiều người đến xin học đạo, nên có những lúc cha Đắc Lộ phải dạy sáu lần một ngày và dành hai ngày

trong một tuần để rửa tội cho các dự tòng Nhưng cũng có những người đến để phản đối và tranh luận với các ngài Cha Đắc Lộ ra điều kiện là những ai muốn đặt câu hỏi hay muốn tranh luận, thì buộc phải nghe giảng trong tám ngày liền mới được!

Trang 12

Cha Đắc Lộ hiểu rõ về văn hoá của người Việt,

nên “Khi thuyết giảng, Rhodes [Đắc Lộ] cố gắng

tránh lối trình bày tiêu cực, không chê bai Tam giáo, giảng giải thế nào để ngay từ đầu, nhờ lý luận tự nhiên, hợp với văn hoá Việt Nam, người nghe hiểu được dễ dàng Vìthế, bước đầu giảng

về việc đấng Tạo hoá tác thành muôn vật, đặc biệt con người, nên con người phải có lòng hiếu thảo tôn thờ đấng Tạo hoá … Từ đó, dần dần mới đi

vào các mầu nhiệm trong đạo.”

Trang 13

Trong số những người được rửa tội, có một số

khuôn mặt thế giá và trí thức, như người trong phủ Chúa là mẹ của Chúa Trịnh, Catarina (con gái của bà), 12 nhà sư ở “Cầu giền”, 3 nhà sư (Đức, Tri, Nhuận) sau này trở thành ba thành viên rất nhiệt thành và tích cực trong Hội Thầy Giảng, một ông nghè 70 tuổi cùng bà vợ, ông Tiến sĩ Gioakim trên

70 tuổi, hai ông Hương cống (Cử nhân) Giuong và Phêrô Những người này sau đó đã góp phần tích cực vào công cuộc truyền giáo.

Trang 14

Công cuộc truyền giảng Tin Mừng đang trên đà phát triển thành công, thì các ngài lại bị nhiều người chống đối quyết liệt, họ kêu lên và đòi Chúa Trịnh phải ‘trị tội’ các ngài.

đạo mới,

thở để làm bùa mê, v.v

 Chúa Trịnh thay đổi thái độ, ra lệnh cấm các cha không được rao truyền đạo mới Nếu bất tuân sẽ bị chém đầu.

 Cuối cùng, ngày 25.05.1628, Chúa Trịnh ra lệnh quản thúc các ngài tại gia, không cho các bổn đạo đến gặp

Trang 15

 Dù bị hiểu lầm, nghi kỵ, vu khống, chống đối,

đe doạ và bị quản thúc, hai cha vẫn vẫn khéo léo và kín đáo gởi thư thăm hỏi, an ủi, động

viên tinh thần các bổn đạo và gởi bài giảng cho các bổn đạo tụ tập tại tư gia để cầu nguyện

lính gác đã ngủ say, một mình cha Đắc Lộ lẻn

ra ngoài đi thăm bổn đạo.

Trang 16

 Cuối tháng 3 năm 1629, Chúa Trịnh ra lệnh trục xuất, tống khứ hai thừa sai vào Đàng Trong.

 Một chiến thuyền nhỏ do một viên quan chỉ huy cùng với 36 lính chèo

được lệnh chở hai cha đi Bố Chính Trong cuộc hành trình, cha Đắc Lộ đã tài tình giảng đạo cho họ Cuối cùng, viên chỉ huy cùng với 24 người lính xin được rửa tội trước khi họ về lại kinh đơ

 Hai cha chỉ ở Bố Chính ít ngày, sau đĩ trốn đến Hà Tĩnh (Vinh) để khỏi bị quan cai Bố Chính đẩy vào Đàng Trong Các ngài được yên ổn một thời gian ở Nghệ An, nhưng sau đĩ lại bị đe doạ, nên phải ẩn trú trên một

chiếc ghe nay đây mai đĩ

 May mắn thay, ngày 27.10.1629, đang lúc ở Cửa Rum, các ngài gặp được tàu buơn Bồ Đào Nha tới, trên tàu cĩ hai Giêsu-hữu là Gaspar d’Amaral

và Paulo Sạto Thế là cả bốn Giêsu-hữu theo tàu trở về lại kinh đơ

 Tới kinh đơ, hai nhà truyền giáo mới được tự do đi lại, cịn hai vị cũ thì

phải âm thầm làm việc mục vụ, dạy giáo lý, rửa tội, giải tội và dâng lễ

Trang 17

* Cuối cùng, khoảng năm sáu ngày trước khi tàu buôn Bồ Đào Nha nhổ neo trở về Áo Môn, Chúa Trịnh ra lệnh cho bốn Giêsu-hữu phải lên tàu về theo Hay tin này, các bổn đạo, lúc này đã lên tới con số 5.602 người, vô cùng buồn bã, họ kéo tới nhà các cha khóc lóc từ biệt và xưng tội, bởi họ nghĩ đây là cơ hội cuối cùng Các cha phải thức hầu như suốt đêm

để giải tội cho họ.

* Đầu tháng 5.1630, tàu nhổ neo chở hai Giêsu-hữu rời Đàng Ngoài trong tiếng khóc thương tiếc của các các bổn đạo

Trang 18

 Ai sẽ đứng ra chăm sóc đời sống đức tin cho đoàn chiên còn non trẻ? Ai sẽ là người tiếp tục công cuộc truyền giảng Tin Mừng cho lương dân đây? Một vấn đề cấp thời cần phải giải quyết

có ‘lời khấn tu trì’ Mục đích là để các thầy chăm lo phục vụ giáo đoàn còn non trẻ này cho đến khi các Giêsu-hữu sẽ trở lại, rồi sau đó sẽ tính Trong thực tế, lúc đó hội mới chỉ có ba thầy sư mới trở lại năm 1627 là Phanxicô Đức, Anrê Tri và Inhaxiô Nhuận

lượt ba thầy đặt tay trên sách Phúc Âm đọc lời tuyên hứa: Không lập gia đình cho tới khi có các cha Dòng Tên đến, để có thể rảnh rang giúp đỡ các bổn đạo; Tiền của, đồ

vật thuộc tập thể các thầy; Vâng phục một thầy do các cha chỉ định làm bề trên, cho

đến khi có các Giêsu-hữu đến lại (Thầy Phanxicô Đức bấy giờ được các cha đặt làm

bề trên).

Trang 19

 Mối bận tâm về giáo đoàn, đông đảo nhưng còn non trẻ bị bỏ rơi, thúc đẩy các Giêsu-hữu ở Áo Môn khẩn cấp tìm mọi cách gởi các thừa sai trở lại Đàng Ngoài

tiếp tục công cuộc truyền giảng Tin Mừng đang bị

dang dở Đó là các cha Palmeiro, Gaspar d’Amaral (bề trên), António de Fontes và António-Francisco

Cardim.

trong thời gian các thừa sai vắng bóng, giáo đoàn vẫn vững mạnh và phát triển ngoài sức tưởng tượng

Trang 20

 Trong vòng 10 tháng, các thầy giảng nhiệt thành dấn thân

truyền giáo không mỏi mệt, họ đã đi khắp nơi dạy giáo lý và rửa tội cho 3.300 người, cho dựng thêm 20 nhà thờ Các bổn đạo nhiệt tâm sống đạo, can trường làm chứng cho Tin

Mừng, đoàn kết yêu thương nhau như anh chị em, hiền lành

và hoà nhã với mọi người đến nỗi, theo cha Gaspar d’Amaral

kể lại, người lương gọi họ là những kẻ theo “đạu yêu nhau.”

 Cha Gaspar d’Amaral, bề trên giáo đoàn từ 1631-1638, tiếp nối đường hướng và sáng kiến truyền giáo của cha Đắc Lộ, đồng thời ngài đã hoàn chỉnh Hội Thầy Giảng mà cha Đắc Lộ

đã khởi đầu Ngài cũng là người rất giỏi tiếng Việt Năm 1638, cha phải rời Đàng Ngoài sau 7 năm phục vụ Năm 1646, khi trở lai Đàng Ngoài lần thứ ba, ngài đã chết do bị đắm tàu

Trang 21

 Tiếp sau đó, nhiều Giêsu-hữu đã được gởi đến truyền giảng Tin Mừng ở Đàng Ngoài

 Năm 1632, hai Giêsu-hữu người Ý là Girolamo Majorica và

Bernadino Reggio đến Thăng Long

 Năm sau, Majorica đến Kẻ Rum (Vinh) Tại đây, nhờ thông

thạo tiếng Việt và chữ Nôm, sau năm tháng, ngài đã rửa tội

được cho 2.575 Đến năm 1634, Kẻ Rum đã có 4.183 bổn đạo Năm 1638, một ngôi nhà thờ đẹp đã được xây dựng tại đó

 Trong những năm kế tiếp, gặp phải biết bao chống đối và khó khăn, các Giêsu-hữu khác vẫn tiếp tục được gởi đến và hoạt động truyền giáo hầu như khắp Đàng Ngoài

 Tới năm 1663, giáo đoàn Đàng Ngoài đã có hơn 300.000 bổn đạo và hơn 300 nhà thờ

 Tính tổng cộng, từ năm 1627-1773, có tất cả 95 Giêsu-hữu

ngoại quốc đến hoạt động truyền giáo ở Đàng Ngoài, cộng

thêm với 26 Giêsu-hữu Việt Nam

Trang 22

1 Là người truyền giáo (thừa sai)

Sống dưới tác động của Chúa Thánh Thần (cầu nguyện – Lời Chúa)

1/ Hết lòng yêu mến Chúa Giêsu (Mc 3,13-14; Ga 15,16; Lc 12,49) – [Trái

tim bên phải]

2/ Hết tình yêu mến Giáo Hội

3/ Hết sức khao khát cho phần rỗi các linh hồn

2 Làm người truyền giáo

1/ Ý thức về căn tính và sứ mạng của người được sai đi phục vụ Tin Mừng, 2/ Khiêm tốn, khôn ngoan, biết phân định trong Thánh Thần

3/ Nhiệt thành, hăng say, hy sinh, chịu khó, chịu khổ, can đảm dấn thân, kiên trì, tin tưởng và hy vọng,

4/ Có mơ ước, sáng tạo và thích nghi, để đưa Tin Mừng hội nhập vào nền văn hóa bản xứ (soạn sách GL, cử hành BT, PV, Kinh hạt)

5/ Yêu mến, lắng nghe, tôn trọng và học hỏi (con người, ngôn ngữ, đất

nước, tín ngưỡng, văn hóa, phong tục tập quán của người bản xứ),

6/ Biết hợp tác với người khác và mời gọi giáo dân cộng tác (Hội thầy giảng, những người trí thức đạo đức, giới thiệu VN cho Phương Tây)

7/ Thăm viếng (lương-giáo) – làm việc bác ái xã hội (nhà thương)

Trang 23

 Các Giêsu-hữu đến truyền giảng Tin Mừng tại Trung Hoa và Việt Nam đều tôn trọng truyền thống tôn kính tổ tiên và để cho tín hữu tiếp tục thực hành những nghi lễ cổ kính

đó Tại Việt Nam, các thừa sai Dòng Tên vẫn cho bổn đạo bày tỏ lòng tôn kính tổ tiên theo tập tục đã có như cúng giỗ, ngay cả việc bày đồ cúng, đốt hương nhang trên phần

mộ, tôn kính Đức Khổng Tử, lập bàn thờ Thiên, giữ Trang trong nhà và các phong tục khác Các ngài chỉ sửa đổi và lọai bỏ những gì thật sự là mê tín dị đoan và buộc các bổn đạo luôn chỉ tôn thờ một Đức Chúa Trời mà thôi, còn những vị khác, chỉ là tôn kính, tưởng nhớ với lòng hiếu thảo theo tinh thần gia đình, xã hội và dân tộc Nhưng nhiều nhóm truyền giáo khác, nhất là nhóm thừa sai Paris, lại cho tất cả những nghi lễ trên là

mê tín dị đoan, nên tuyệt đối cấm chỉ các bổn đạo thực hành

được biết dưới cái tên De Ritis Sinensibus - Lễ Phép Nước Ngô Cuộc tranh tụng căng thẳng kéo dài đến hơn 100 năm, kết thúc với việc Tòa Thánh công bố Hiến Chế Ex Quo

Singulari năm 1742, cấm chỉ tuyệt đối thực hành các nghi lễ trên Ai phải ai sai vẫn còn

là đề tài tranh luận Một điều có thể nói được rõ ràng là hậu quả thật tai hại cho việc truyền giáo ở Việt Nam và Trung Hoa, vì nó làm cho người Việt Nam coi việc theo đạo

là bất hiếu với tổ tiên, mặc dù điều răn thứ tư của đạo Thiên Chúa (liền sau việc thờ phượng Thiên Chúa) là “thảo kính cha mẹ”.

Giáo ban hành, mới cho phép Giáo Hội Trung Hoa và tại các nước lân cận được cúng giỗ … theo phong tục dân sự địa phương.

Đà Lạt, một thông báo cho phép cúng giỗ ….

Ngày đăng: 05/12/2016, 18:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w