Nguyễn Văn Hiếu TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH MỨC LƯƠNG CƠ SỞ ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU VỰC CÔNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY Tiểu luận này được hoàn thành vào ngày 10/1
Trang 1Mã lớp: Đ H 1 3 N L 2 Số báo danh : 1 5 6
Họ và tên: Trương Thị Yến Ngọc MSSV:13134040409
98 Tiền lương trong khu vực công
Ths Nguyễn Văn Hiếu
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH MỨC LƯƠNG CƠ SỞ ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU VỰC CÔNG TẠI
VIỆT NAM HIỆN NAY
Tiểu luận này được hoàn thành vào ngày 10/10/2016
Giám khảo 1 (Ký và ghi rõ họ tên)
Giám khảo 2 (Ký và ghi rõ họ tên)
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2016
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
1.Đặt vấn đề 1
2.Nội dung 1
2.1.Cơ sở lý luận về mức lương cơ sở trong khu vực công ở Việt Nam ……… 1
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm khu vực công 1
2.1.2 Khái niệm, vai trò và đối tượng áp dụng của mức lương cơ sở trong khu vực công 2
2.1.3 Động lực lao động, các biểu hiện và tầm quan trọng của động lực trong lao động 3
2.2 Thực trạng việc điều chỉnh mức lương cơ sở trong thời gian qua ở Việt Nam .3
2.2.1 Điều chỉnh mức lương cơ sở 3
2.2.2 Áp dụng mức lương cơ sở vào tính lương người lao động trong khu vực công 5
2.3 Tác động của việc điều chỉnh mức lương cơ sở đến động lực làm việc của người lao động trong khu vực công 8
2.3.1 Tác động tích cực 8
2.3.2 Tác động tiêu cực 8
3 Đề xuất một số giải pháp khắc phục 10
3.1 Về phía Nhà nước 10
3.2 Về phía người lao động trong khu vực công 13
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3TÓM TẮT
Xu thế hội nhập toàn cầu đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Khi kinh tế nước nhà ngày càng phát triển thì đòi hỏi thu nhập của người lao động nói chung và người lao động trong khu vực công nói riêng cũng cần được tăng lên sao cho phù hợp với điều kiện sống trong nước và trên thế giới Trước tình hình ấy, Đảng và Nhà nước đã không ngừng thay đổi và ban hành mới các quy định về tiền lương tối thiểu chung (mức lương cơ sở) đối với người lao động làm việc trong khu vực Tuy nhiên, việc tăng lương cơ sở còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, do vậy mà những năm qua, Nhà nước ta tuy có tăng lương cơ sở nhưng mức tăng còn khá khiêm tốn dẫn đến hiệu quả mà nó đem lại đối với động lực của người lao động là không cao Nhưng để có thể làm tốt công việc của Nhà nước thì cần một đội ngũ người lao động có tinh thần và động lực làm việc tích cực Vậy vấn đề mà Nhà nước ta đang phải đối mặt đó là làm thế nào để vừa có được một mức lương cơ sở hợp lý, phù hợp với nền kinh tế ngày nay vừa có thể tạo được động lực làm việc cho người lao động trong khu vực công từ việc điều chỉnh mức lương ấy, cũng như làm thế nào để khắc phục được những hệ lụy do việc điều chỉnh mức lương cơ sở gây ra
1 Đặt vấn đề
Có thể nói, mức lương cơ sở là một trong những vấn đề quan trọng được các ngành, các cấp, đoàn thể, người lao động trong cả nước quan tâm Một chính sách về mức lương cơ sở hợp lý sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước, cũng như tiến trình hội nhập Mặc dù Nhà nước đã có chính sách điều chỉnh mức lương cơ sở, cụ thể là tăng mức lương cơ sở cho người lao động trong khu vực công qua từng thời kì, nhưng đi đôi với những mặt tích cực mà chính sách đó mang lại
là việc tồn tại những hệ lụỵ Việc điều chỉnh mức lương cơ sở có tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên một trong những tác động quan trọng và đáng được quan tâm chính là tác động đến động lực làm việc của người lao động trong khu vực
này- đây là điều mà tôi tâm đắc và muốn làm rõ Vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Tác động của việc điều chỉnh mức lương cơ sở đến động lực làm việc của người lao động trong khu vực công ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho bài tiểu
luận của mình
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lý luận về mức lương cơ sở trong khu vực công ở Việt Nam
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm khu vực công
Khu vực công là các tổ chức, nhân sự, nguồn lực tài chính được hình thành để thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước và cung cấp hàng hóa, dịch vụ công theo yêu cầu
Trang 4thống các cơ quan quyền lực của nhà nước như các cơ quan lập pháp (quốc hội), hành pháp (chính phủ), tư pháp (tòa án và viện kiểm sát) Hệ thống quốc phòng và các cơ quan an ninh, các đơn vị cung cấp dịch vụ công (giáo dục, y tế, thể dục thể thao….), các cơ quan cung cấp an sinh xã hội Hệ thống các đơn vị kinh tế nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước,
Đặc điểm khu vực công: Là khu vực tuân thủ và chịu sự tác động của các quy luật kinh tế-xã hội nói chung Các hoạt động của khu vực công chủ yếu phục vụ xã hội
và mục tiêu quản lý của nhà nước, đồng thời cũng diễn ra với sự khan hiếm nguồn lực nói chung Chính phủ điều hành khu vực công bằng quyền hành Nhà nước, tuy nhiên vẫn phải tôn trọng và thừa nhận sự tác động của các quy luật kinh tế và sự phát triển của nền kinh tế thị trường
2.1.2 Khái niệm, vai trò và đối tượng áp dụng của mức lương cơ sở trong khu vực công
Mức lương cơ sở (còn gọi là mức lương tối thiểu chung) là mức lương thấp nhất
theo quy định của Bộ Luật Lao động do Quốc Hội Việt Nam ban hành dùng làm căn
cứ tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác Mọi mức lương kể cả mức lương tối thiểu khác cũng không được thấp hơn mức lương
cơ sở Nói cách khác, lương cơ sở phải đảm bảo là “lưới an toàn chung”, là nền thấp nhất để trả công cho người lao động thuộc đối tượng lao động theo quy định Nhà nước
Vai trò của mức lương cơ sở: Lương cơ sở là căn cứ để tính lương, phụ cấp, tính
mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở Cơ sở để Nhà nước xác định các nội dung khác trong chế độ tiền lương, xác định thang, bảng lương phù hợp; thực hiện một
số chế độ bảo hiểm xã hội và chế độ ưu đãi xã hội đối với người có công Bên cạnh đó, lương cơ sở còn là công cụ điều tiết của Nhà nước trên phạm vi toàn xã hội và trong từng cơ sở kinh tế, được điều chỉnh trên cơ sở khả năng ngân sách Nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước
Đối tượng áp dụng mức lương cơ sở: Lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công
chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội và có tính chất đặc thù ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ở huyện, quận ,thị xã, thành phố thuộc tỉnh( cấp huyện); ở xã, phường, thị trấn (cấp xã) và lực lượng vũ trang
Trang 52.1.3 Động lực lao động, các biểu hiện và tầm quan trọng của động lực trong lao động
Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường
sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể Nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động
Động lực là những nhân tố kích thích con người nỗ lực làm việc tạo ra năng suất, hiệu quả, động lực làm việc ở mỗi cá nhân biểu hiện bằng thái độ, tinh thần làm việc tích cực góp phần tạo ra môi trường làm việc hiệu quả, kích thích nhu cầu làm việc của những người xung quanh Người có động lực làm việc thường cảm thấy thoải mái và say mê với nhiệm vụ được giao, bên cạnh đó họ sẽ gắn kết với tổ chức, sáng tạo hơn, giúp xây dựng bầu không khí làm việc thân thiện, có sự hợp tác chia sẻ, ít tranh chấp Chính vì vậy, những người lao động có động lực làm việc được coi là tài sản quý giá nhất của bất cứ tổ chức nào
2.2 Thực trạng việc điều chỉnh mức lương cơ sở trong thời gian qua ở Việt Nam
2.2.1 Điều chỉnh mức lương cơ sở
Trong cuộc họp vào cuối năm 2015, Đại biểu Nguyễn Văn Minh cho rằng dù kinh tế khó khăn nhưng vẫn phải tính toán đến việc tăng lương theo lộ trình bởi đã dừng 2 năm là 2014 và 2015 (với mức lương cơ sở là 1.150.000đ) Do đó, năm 2016 phải tăng ở mức nào đó đủ đảm bảo, nhất là trong bối cảnh năm 2016 sẽ điều hành cơ chế giá thị trường các mặt hàng thiết yếu, kể cả y tế và giáo dục “Tôi không biết trả lời cử tri ra sao bởi nói là ngân sách không bố trí được nguồn để tăng lương thì năm
2015 cũng đã nói như vậy Sau 3 năm, lương không tăng nhưng tăng các giá cả thì sống bằng cái gì?”
Để có thể tăng lương cơ sở, Đại biểu Trần Du Lịch cho rằng vấn đề lớn nhất là phải tiết giảm chi thường xuyên “Bây giờ phải bàn vấn đề tăng lương, nếu muốn tăng lương thì ta cắt chỗ nào để tăng? Không thể vay tăng lương được Chúng ta phải mạnh dạn, đề nghị cắt ở những chỗ này: tiếp khách, học hỏi kinh nghiệm, sơ kết, kỷ niệm ngành, đi nước ngoài… Phải cắt hết! Chúng ta đừng biến chuyện nghiên cứu thành đi
du lịch Nhà nước trả tiền Ta phải xem lại toàn bộ cách chi Quốc Hội phải mạnh dạn lên thì mới có tiền dôi ra để giải quyết việc lớn” – Đại biểu Trần Du Lịch thẳng thắn nêu ý kiến
Đến sáng ngày 11-11, Quốc hội đã “quyết” thông qua dự toán ngân sách năm
2016, quyết định tăng lương cơ sở từ 1.150.000 đồng/tháng lên 1.210.000 đồng/tháng (tăng 5%) đối với cán bộ, công chức, viên chức từ 1-5-2016
Trang 6Hiện nay, theo nghị quyết 99/2015/QH13 – về dự toán ngân sách nhà nước năm
2016, được Quốc hội thông qua ngày 11/11/2015 tại Kỳ họp thứ 10 – Quốc hội khóa XIII và theo Điều 3 của Nghị định số: 47/2016/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở, theo đó: Từ ngày 01/05/2016 mức lương cơ sở là 1.210.000 đồng/ tháng
Theo số liệu từ Bộ Nội vụ, từ năm 2006 đến nay, mức lương cơ sở cho người lao động trong khu vực hành chính – sự nghiệp đã điều chỉnh 7 lần từ 450.000 đồng/tháng lên 1.210.000 đồng/tháng (bảng 1) Việc điều chỉnh này được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh theo mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của ngân sách nhà nước
Bảng 1: Lương cơ sở được điều chỉnh qua các năm
Nghị định Thời điểm áp dụng Mức lương cơ sở
(VNĐ)
94/2006/NĐ – CP
166/2007/NĐ - CP
33/2009/NĐ – CP
Ngày 06/04/2009
28/2010/NĐ – CP
Ngày 25/03/2010
22/2011/NĐ – CP
31/2012/ NĐ – CP
66/2013/NĐ – CP
Ngày 27/06/2013
Nghị quyết 99/2015/ QH13
(Nguồn: theo Bộ Nội vụ, giai đoạn 2006-2016) Nhìn chung, lương cơ sở đều tăng dần qua mỗi giai đoạn với mức tăng khác nhau Mức lương cơ sở tăng nhiều nhất vào giai đoạn 2011-2012 với mức tăng là 220.000đ/ 1bậc lương, tăng 26,5% so với năm 2011 Tiếp đến là giai đoạn 2008-2009 tăng 110.000đ với 20,3% Và thấp nhất là vào mới đây, giai đoạn 2013-2016 tăng 60.000đ/ 1 bậc với tỷ lệ tăng hơn 5% (bảng 2)
Tỷ lệ tăng giữa các giai đoạn là không giống nhau, mức độ tăng nhiều hay ít còn tùy thuộc vào khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng
Trang 7kinh tế của đất nước Như đã nói ở trên, việc tăng lương cơ sở vừa qua đối với nhà nước ta đã là một sự cố gắng
Bảng 2: Lương cơ sở tăng qua các giai đoạn
Giai đoạn Số tiền tăng (nghìn đồng) Tỷ lệ tăng (%)
2.2.2 Áp dụng mức lương cơ sở vào tính lương người lao động trong khu vực công
Tuy lương cơ sở đã tăng qua các năm nhưng căn cứ thực tế mức sống hiện nay, mức lương cơ sở này chưa bảo đảm mức sống tối thiểu cho người làm công ăn lương, nhất là ở những thành phố lớn như Hà Nội hay Tp Hồ Chí Minh Khi lạm phát ngày càng đẩy giá cả tiêu dùng leo thang đến mức chóng mặt
Theo kết quả điều tra của Công đoàn Viên chức Việt Nam, tiền lương cứng của cán bộ viên chức khá thấp.Với chi phí sinh hoạt ngày càng đắt đỏ do giá cả leo thang, lạm phát, thì cải cách tăng lương cơ sở của Nhà nước vẫn chỉ như “muối bỏ bể”, nếu chỉ căn cứ vào mức lương hiện nay thì không đủ chi phí cho từng cá nhân, chưa kể đến việc họ phải lo lắng cho gia đình, con cái Cụ thể:
Với cán bộ công chức loại C làm việc trong khu vực công có hệ số lương theo từng cấp bậc như bên dưới (bảng 3), khi áp dụng lương cơ sở hiện nay (1.210.000đ) vào tính lương cho họ ta sẽ có mức lương của họ như sau:
Trang 8Bảng 3: Bảng lương công chức, viên chức cơ quan Nhà Nước
Công
chức
loại
C
(Nguồn: Theo Nghị định số 204/2005/NĐ-CP) Đối với người lao động Bậc 1:
Tiền lương = Mức lương cơ sở * hệ số lương = 1.210.000 * 1.65= 1.996.500đ
Trước đó khi còn áp dụng mức lương cơ sở cũ (1.150.000đ) họ nhận được số tiền
là 1.897.500đ/tháng So sánh hai mức lương, số tiền chênh lệch của mức lương mới so với mức lương cũ là không nhiều (tăng 99.000đ) Với mức tăng chưa tới 100.000đ như vậy không cải thiện được gì cho cuộc sống của họ
Tương tự, ta tính được mức lương của các bậc còn lại.(bảng 4)
Bảng 4 Số tiền tăng thêm của công chức loại C khi áp dụng mức lương cơ sở mới Bậ
c
Mức lương cũ (lương cơ sở 1.150.000đ)
Mức lương mới (lương cơ sở 1.210.000đ)
Số tiền tăng thêm
Như vậy, mặc dù lương cơ sở tăng nhưng nó không thật sự có ảnh hưởng tích cực nhiều đến cuộc sống của người lao động, đặc biệt là những người có hệ số lương thấp Với số lương tăng thêm “ít ỏi” này thật khó để họ có thể đảm bảo một cuộc sống đầy
đủ trong thời kì kinh tế ngày nay
Trang 9Mặt khác, ta cũng dễ dàng nhận thấy rằng, người lao động càng ở bậc cao sẽ có
số tiền tăng thêm càng lớn từ việc tăng mức lương cơ sở Chẳng hạn, công chức loại C bậc 12 sẽ tăng thêm được 217.800đ, trong khi công chức bậc 1 cùng loại chỉ tăng thêm được 99.000đ (bảng 4) Tương tự, đối với công chức các loại A, B hoặc các chức danh lãnh đạo có hệ số lương càng cao sẽ nhận được số tiền tăng thêm càng lớn (bảng 5) Điều này sẽ tạo được động lực cho những người lao động có hệ số lương cao trong khu vực này
Mặc dù nhận được số tiền tăng thêm cao hơn so với các chức danh khác, nhưng trên thực tế lương của các chức danh lãnh đạo trong khu vực công hiện nay của nước
ta cũng chỉ tăng thêm chưa đến 800.000đ (bảng 5) Và với mức lương cứng họ nhận được cũng chỉ có thể bằng hoặc thậm chí thấp hơn so với một nhân viên bình thường làm ở khu vực tư Điều này không tạo được động lực cho người lao động trong khu vực công, đặc biệt là những người có năng lực, khiến cho họ có xu hướng chuyển từ khu vực công sang khu vực tư, khi việc tăng lương cơ sở không làm chuyển biến mấy đến thu nhập của họ
Bảng 5: Số tiền tăng thêm của các chức danh lãnh đạo khi áp dụng mức lương cơ sở
mới Chức danh Hệ số lương Mức lương cũ Mức lương
mới
Số tiền tăng thêm Chủ tịch nước 13,0 14.950.000đ 15.730.000đ 780.000đ
Thủ tướng chính
(Nguồn:Nghị quyết 730/2004/NQ-UBTVQH11 và Nghị định 66/2013/NĐ-CP) Tuy nhiên, để đảm bảo cho khoản tăng này, dù chỉ 60.000 đồng/1 bậc lương nhưng ngân sách nhà nước sẽ phải chi thêm 11.000 tỉ đồng trong năm 2016 Được biết theo kế hoạch ban đầu, Chính phủ dự tính tăng 100.000 đồng/1 bậc lương (8%), nhưng nếu tăng theo con số này thì ngân sách phải tổng tăng chi lên tới 35.000 tỉ đồng quá sức đối với ngân sách
Theo báo cáo, hiện có gần 3 triệu cán bộ ăn lương từ ngân sách nhà nước, hằng năm ngân sách phải dành ra 35% để chi trả lương và phải cần 40.000 tỉ đồng để tăng lương cho số cán bộ công chức này Vì thế việc tăng lương cơ sở là có giới hạn
Trang 102.3 Tác động của việc điều chỉnh mức lương cơ sở đến động lực làm việc của người lao động trong khu vực công
2.3.1 Tác động tích cực
Việc tăng mức lương cơ sở đã phần nào kích thích, tạo động lực làm việc cho người lao động do hai năm nay lương cơ sở đã “ dậm chân tại chỗ” ở mức 1.150.000 đồng, đặc biệt là những người có hệ số lương cao Mặc khác, tăng lương cơ sở còn là đòn bẩy để tăng năng suất lao động, từ đó nâng cao hiệu quả trong lao động góp phần cải thiện được cuộc sống cũng như nâng cao đời sống của họ, đem lại giá trị về mặt vật chất cho người lao động
Bên cạnh đó, tăng lương cơ sở cũng góp phần bình đẳng hơn mức thu nhập giữa các bộ phận người lao động trong xã hội, bởi từ năm 2013 tới nay, mức lương tối thiểu vùng (dành cho người lao động trong các khu vực doanh nghiệp ) đã tăng đều đặn và tăng hơn 10% mỗi năm Thậm chí, mức lương tối thiểu vùng IV (vùng thấp nhất trong bốn vùng lương) cũng đã cao hơn gấp hai lần so với lương cơ sở Như vậy, lương cơ
sở tăng tạo được tâm lý hứng thú cho người lao động, phần nào mang lại cảm giác hài lòng cho người lao động làm việc trong khu vực công, khích lệ họ làm việc trong khu vực công, mang lại giá trị về mặt tinh thần cho người lao động
2.3.2 Tác động tiêu cực
Theo TS.Nguyễn Minh Phong cho rằng tăng lương là tốt đối với người nhận lương, nhưng luôn có tác động đa chiều và nhiều hệ lụy… Như vậy, bên cạnh những tích cực mà việc tăng lương cơ sở mang lại vẫn còn tồn tại nhiều hệ lụy qua nhiều phương diện, một trong số đó là sự tác động của nó đến động lực làm việc của người lao động trong khu vực này
Đối với người lao động có năng lực và trách nhiệm thấp: Việc tăng lương cơ sở
sẽ nán níu một bộ phận cán bộ người lao động thuộc khu vực này, nhất là nhóm người
có năng lực và trách nhiệm thấp, khiến tăng chi thường xuyên và chậm quá trình giảm biên chế, tinh gọn bộ máy Đây cũng là một vấn đề được quan tâm trong nhiều năm qua, theo dư luận có tới 30% người lao động trong khu vực này “sáng cắp ô đi chiều cắp ô về”, chưa kể một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vòi vĩnh, nhũng nhiễu, quan cách, hách dịch, xa dân gần quan… mà không tập trung vào làm tốt công việc của mình Nay lương cơ sở tăng thì không có lý do gì họ rời bỏ vị trí của mình, ngược lại họ càng “bám víu” để tiếp tục làm việc như những gì họ đã làm trong thời gian qua Lương cơ sở tăng không những không tạo động lực cho họ làm việc một cách nghiêm túc mà vô tình “tạo động lực” cho thành phần này “ngồi mát ăn bát vàng” , thái độ ỷ lại và không phải làm gì mà vẫn được hưởng lợi Điều này đồng nghĩa với việc Nhà nước sẽ phải chi ra thêm một khoản từ ngân sách để trả lương cho họ, mặc
dù năng suất họ mang lại thấp và rất hạn chế