Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG VĂN THANH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỜI S
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN THANH
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2010 – 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN THANH
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2010 – 2014
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN THẾ ĐẶNG
Thái Nguyên - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ này
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Nguyễn Thế Đặng, giảng viên Trường Đai học Nông lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của Thầy, Cô giáo Khoa Quản lý tài nguyên, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND - HĐND thị xã Quảng Yên, phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Quảng Yên, Trung tâm phát triển quy đất thị xã Quảng Yên, Phòng Kinh tế Quảng Yên, Chi cục Thống kê thị xã Quảng Yên
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài trên địa bàn
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp và bạn
bè đã tạo điều kiện về mọi mặt giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.Một lần nữa tôi xin trân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Thanh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Dân số và dân số đô thị ở nhóm các nước phát triển và đang phát
triển giai đoạn 1950-2050 14 Bảng 1.2: Tỷ lệ dân số đô thị ở nhóm các nước phát triển và đang phát triển
giai đoạn 1950-2050 (%) 15 Bảng 1.3: Tỷ lệ đô thị ở các châu lục/vùng giai đoạn 1950-2050 (%) 15 Bảng 3.1 Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thị xã qua các năm 37 Bảng 3.2 Giá trị sản phẩm của ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã qua các năm 39 Bảng 3.3: Tình hình biến động đất đai thị xã Quảng Yên giai đoạn 2010 – 2014 41 Bảng 3.4: Biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2010 – 2014 thị xã Quảng Yên 47 Bảng 3.5: Biến động đất phi nông nghiệp giai đoạn 2010 – 2014 thị xã Quảng Yên 50 Bảng 3.6: Biến động đất chưa sử dụng giai đoạn 2010 – 2014 thị xã Quảng Yên 53 Bảng 3.7 : Tổng hợp kết quả giao đất ở giai đoạn 2010 – 2014 55 Bảng 3.8 : Tổng hợp kết quả thu hồi đất thị xã Quảng Yên giai đoạn 2010 – 2014 55 Bảng 3.9: Đặc điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của thị xã Quảng Yên
năm 2014 58 Bảng 3.10 : Tổng hợp diện tích đất sản xuất nông nghiệp chuyển mục đích sử
dụng giai đoạn 2010 – 2014 60 Bảng 3.11 : Biến động số lượng và cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp giai đoạn
2010 – 2014 61 Bảng 3.12: Diện tích, năng suất một số loại cây trồng chính trên đất trồng cây
lâu năm thị xã Quảng Yên giai đoạn 2010 – 2014 63 Bảng 3.13: Diện tích, năng suất một số loại cây trồng chính trên đất trồng cây
lâu năm thị xã Quảng Yên giai đoạn 2010 – 2014 i Bảng 3.14 Thông tin cơ bản của chủ hộ điều tra 68 Bảng 3.15: Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2010 – 2014 của
các hộ điều tra 71 Bảng 3.16: Tình hình chuyển đổi nghề nghiệp của hộ trước và sau thu hồi đất 72 Bảng 3.17 Thay đổi thu nhập của hộ qua quá trình đô thị hoá 75
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC VIẾT TẮT
2L-1M : 2 lúa – 1 màu 2M- 1L : 2 màu – 1 lúa
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị 3
1.1.1 Khái niệm về đô thị 3
1.1.2 Phân loại và phân cấp đô thị 4
1.1.3 Chức năng của đô thị 6
1.1.4 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội 7
1.2 Căn cứ pháp lý 7
1.3 Lý luận về đô thị hóa 9
1.3.1 Khái niệm về đô thị hóa 9
1.3.2 Xu hướng phát triển đô thị hóa 11
1.3.3 Tính tất yếu của đô thị hóa 12
1.3.4 Quan điểm của đô thị hóa 12
1.3.5 Các tiêu chí đánh giá mức độ và quá trình đô thị hóa 13
1.4 Thực tiễn đô thị hóa trên Thế giới và ở Việt Nam 13
1.4.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới 13
1.4.2 Tình hình đô thị ở Việt Nam 16
1.5 Ảnh hưởng đô thị hóa đến sử dụng đất và cuộc sống người dân 24
1.5.1 Ảnh hưởng đô thị hóa đến sử dụng đất 24
1.5.1 Ảnh hưởng đô thị hóa đến đời sống người dân 25
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
2.3 Nội dung nghiên cứu 28
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Quảng Yên ảnh hưởng đến việc sử dụng các loại đất 28
2.3.2 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đất nông nghiệp 28
2.3.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đời sống người dân trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 28
2.3.4 Đánh giá chung tác động của đô thị hóa tới đất nông nghiệp và đời sống của người dân trên địa bàn thị xã Quảng Yên 29
2.3.5 Định hướng và một số giải pháp nâng cao đời sống người dân, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 29
2.4 Phương pháp nghiên cứu 29
2.4.1 Chọn địa điểm nghiên cứu 29
2.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu thông tin 29
2.4.2.2 Tài liệu sơ cấp 30
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
2.4.4 Phương pháp thành lập bản đồ 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thị xã Quảng Yên 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 36
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.2 Tác động của đô thị hoá đến biến động đất đai 41
3.2.1 Biến động đất đai nói chung 41
3.2.2 Sự biến động các loại đất trong quá trình đô thị hoá giai đoạn 2010 – 2014 47 3.2.3 Thực trạng quá trình chuyển mục đích sử dụng đất, công tác giao, cho thuê, thu hồi đất 54
3.2.4 Tác động của đô thị hoá 56
3.3 Tác động của đô thị hoá đến sử dụng đất nông nghiệp 57
3.3.1 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp của thị xã Quảng Yên 57
3.3.2 Biến động số lượng và cơ cấu đất nông nghiệp giai đoạn 2010 – 2014 59
3.3.4 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến thu nhập của hộ sử dụng đất nông nghiệp 68
3.3.5 Đánh giá chung về ảnh hưởng của đô thị hoá đến sử dụng đất nông nghiệp giai doạn 2010 – 2014 75
3.4.2 Những giải pháp thể chế chính sách 76
3.4.3 Những giải pháp kinh tế - xã hội 76
3.4.4 Giải pháp kỹ thuật 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Kiến nghị 79
2.1 Đối với Nhà nước và chính quyền địa phương các cấp 79
2.2 Đối với các hộ nông dân 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được của các ngành nông lâm ngư nghiệp, là thành phần quan trọng của môi trường, là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển xã hội, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng Trong thời kỳ phát triển kinh tế mới đất đai có thêm những chức năng có ý nghĩa quan trọng là chức năng tạo nguồn vốn và thu hút cho đầu tư phát triển Việc phân tích, đánh giá nhu cầu sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý và có hiệu quả là hết sức cần thiết cho sự phát triển bền vững [7]
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta, sự hình thành các đô thị mới và mở rộng các đô thị hiện có là một xu thế tất yếu Đem lại nhiều sự thay đổi, mang một màu sắc mới, phát triển hơn, giàu đẹp hơn cho đất nước nói chung cũng như thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh nói riêng Nhưng bên cạnh đó cũng còn không ít những vấn đề còn tồn tại, đặc biệt là vấn đề đô thị hóa đã làm giảm diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn bị thu hẹp dần, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, thương mại vv tăng lên nhanh chóng Dẫn đến quan hệ sử dụng đất đô thị có những phát sinh phức tạp như tình trạng tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái phép Đặc biệt, do biến động của quan hệ sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa, tình hình chính trị xã hội cũng có những biểu hiện xấu như: khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn; tình trạng khiếu kiện ngày càng gia tăng, nhất là khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai chiếm tỷ lệ lớn
Quảng Yên là một thị xã trung du ven biển nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ địa lý 20045’06” đến 21002’09” vĩ độ Bắc và từ 106045’30” đến
106059’00” kinh độ Đông Với những lợi thế tối ưu về vị trí địa lý nằm liền kề giữa 3 thành phố là Hải Phòng, thành phố Hạ Long và thành phố Uông Bí thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ Thị xã Quảng Yên có điều kiện phát triển kinh tế đặc biệt là có tiềm năng lớn về cửa mở giao lưu thương mại trong nước cũng như Quốc
tế bằng đường biển và liên kết không gian kinh tế với các thành phố Hạ Long, Hải
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Phòng để tạo thành trục kinh tế động lực ven biển Hải Phòng - Quảng Yên - Hạ Long của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ [18] Tuy nhiên, song song với sự phát triển, tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn thị xã Quảng Yên đã có sự biến động đáng kể, đặc biệt là ảnh hưởng đến diện tích đất nông nghiệp tại địa phương
Nhận thức được tầm quan trọng về sự ảnh hưởng của đô thị hóa đối với cuộc sống của người dân, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và với sự hướng
dẫn trực tiếp của GS.TS Nguyễn Thế Đặng, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2014”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được tác động và mức độ ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân, đề xuất giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa bền vững và công tác quản lý đất đai tại địa phương
3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Sử dụng kiến thức đã học
áp dụng vào thực tế nâng cao tính thực tiễn, chiều sâu của kiến thức ngành học cho bản thân Đồng thời là cơ hội cho bản thân tiếp cận với vấn đề đô thị hóa
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Tìm ra những mặt hạn chế và tích cực của quá trình đô thị hóa ảnh hưởng tới đất nông nghiệp và cuộc sống của người dân để
từ đó đề xuất ra những giải pháp thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương góp phần đẩy nhanh quá trình này trong thời gian tới
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị
1.1.1 Khái niệm về đô thị
Các nước châu Á và trên thế giới nói chung đã hình thành đô thị từ rất sớm, cách đây khoảng mấy ngàn năm Tuy nhiên, đến nay khái niệm về đô thị chỉ có tính tương đối do tính khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống dân cư Mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình Song phần nhiều vẫn thống nhất lấy hai tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Quy mô và mật độ dân số: Thông thường mật độ dân số tối thiểu cần thiết
để được gọi là một đô thị phải là 400 người/km2
hay 1000 người trên một dặm vuông Anh Các quốc gia châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét Dùng không ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị [16]
- Cơ cấu lao động: Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số nhất định nào đó,một điều kiện nữa là phần đông dân số, thường là 75% trở lên, không có hành nghề nông nghiệp hay đánh cá
Có thể đưa ra một số ví dụ cụ thể như sau:
+ Tại Úc, các đô thị thường được ám chỉ là các "trung tâm thành thị" và được định nghĩa như là những khu dân cư chen chúc có từ 1000 người trở lên và mật độ dân cư phải tối thiểu là 200 người trên một cây số vuông
+ Tại Canada, một đô thị là một vùng có trên 400 người/km2 và tổng số dân phải trên 1.000 người Nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn trong phạm vi 2 km của nhau, các đô thị này được nhập thành một đô thị duy nhất Các ranh giới của một đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các khu tự quản (thành phố) hoặc thậm chí
là ranh giới tỉnh bang
+ Tại Trung Quốc, một đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn có mật độ dân số hơn 1.500 người trên một cây số vuông Đối với các khu thành thị có mật độ dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ dân số sống trong
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
các đường phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là dân số thành thị
+ Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây cất (gọi là một "đơn vị thành thị" (unité urbaine) - gần giống như cách định nghĩa của đô thị Bắc Mỹ và các vùng vành đai ngoại ô (couronne périurbaine) Mặc dù cách dịch chính thức thuật từ aire urbaine của INSEE là "urban area" trong tiếng Anh, đa số người Bắc Mỹ sẽ nhận thấy rằng nó tương tự với định nghĩa về vùng đô thị của mình [1]
Ở Việt Nam, theo nghị định 72/2001/NĐ – CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ, quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí sau:
Thứ nhất: Là trung tâm Chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch
vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh
Thứ hai: Đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ 4000
người trở lên
Thứ ba: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ 65% trở lên
trong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại phát triển
Thứ tư: Có cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt
70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị
Thứ năm: Có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất
và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/km2
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
xã hội của cả nước Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 90% trở lên, có cơ sở hạ tầng xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh, quy mô dân số
từ 1,5 triệu người trở lên, mật độ dân số bình quân từ 15000 người /km2 trở lên
+ Đô thị loại I: Là đô thị rất lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – kĩ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong cả nước và quốc
tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước Dân số đô tị có trên 50 vạn người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 85% tổng số lao động của thành phố Mật độ dân cư bình quân từ 12000 người /km2trở lên Loại đô thị này có tỷ suất hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng kĩ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh [15]
+ Đô thị loại II: Là đô thị lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật, du lịch dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu vùng trong tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước Dân số đô thị có từ 25 vạn đến dưới 1 triệu người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 80% tổng số lao động, mật độ dân cư bình quân từ 10000 người / km2 trở lên, sản xuất hàng hóa phát triển,
cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh [15]
+ Đô thị loại III: Là đô thị trung bình lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – kĩ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung, dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh Dân số có từ 10 – 25 vạn người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 75% trong tổng số lao động, mật độ dân cư trung bình từ 8000 người / km2trở lên Cơ
sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt đồng
bộ và hoàn chỉnh [15]
+ Đô thị loại IV: Là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm tổng hợp chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một tỉnh hay một vùng
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trong tỉnh Dân cư có từ 5 vạn người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 70% trong tổng số lao động Mật độ dân cư từ 6000 người/ km2trở lên Các đô thị này đã
và đang đầu tư xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh từng mặt hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng [15]
+ Đô thị loại V: Là những đô thị loại nhỏ, là trung tâm tổng hợp về chính trị, kinh tế, văn hóa và dịch vụ hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp….có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một huyện hoặc một cụm xã Dân số có từ 4000 người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 65% trong tổng số lao động Mật độ dân số bình quân 2000 người /km2trở lên, đang bắt đầu xây dựng một số công trình công cộng và cơ sở hạ tầng kĩ thuật Việc xác định quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị chỉ tiến hành trong phạm vi địa giới nội thị Riêng miền núi, quy mô dân số đô thị loại III có thể quy định tối thiểu từ 8 vạn người, đô thị loại IV từ 2 vạn người và đô thị loại V là 2000 người [15]
- Cấp quản lý đô thị gồm:
+ Thành phố trực thuộc trung ương
+ Thành phố thuộc tỉnh; thị xã thuộc tỉnh hoặc thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương
+ Thị trấn thuộc huyện
1.1.3 Chức năng của đô thị
Đô thị có thể có các chức năng khác nhau tùy theo mỗi giai đoạn phát triển Bao gồm các chức năng chủ yếu sau:
* Chức năng quản lý: tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến nhu cầu chính đáng của cá nhân Do đó, Nhà nước phải có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị
* Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị Sự phát triển kinh
tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán Chính
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và CSHT tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hóa Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra
bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị
* Chức năng xã hội: chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại, là những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường Chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y
tế, đi lại, thay đổi
* Chức năng văn hóa: ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giải trí và giáo dục cao Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn
1.1.4 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại văn hóa của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất
kỹ thuật và văn hóa( Nghị định số 72/2001/NĐ – CP) [10]
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy CNH nhanh chóng Đô thị tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị trường linh hoạt có năng xuất cao Các đô thị tạo điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bố các nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn Đô thị đóng vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của toàn quốc [10]
Đô thị luôn phải đóng vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồng nông thôn đi trên con đường tiến bộ văn minh
1.2 Căn cứ pháp lý
- Căn cứ vào Luật đất đai 2013;
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Căn cứ vào nghị định số: 72/2001/NĐ - CP ngày 05/10/2001 của Chính
phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị;
- Căn cứ vào nghị định số 198/2004/NĐ - CP ngày 03/12/2004 của Chính
phủ về thu tiền sử dụng đất;
- Căn cứ vào nghị định số 84/2007/NĐ - CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ
quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Căn cứ Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật đất đai năm 2013
- Căn cứ vào nghị định số 37/2010/NĐ - CP ngày 07/04/2010 của Chính phủ
về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị;
- Căn cứ Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất ;
- Căn cứ vào thông tư liên tịch số 02/2002 – TTLT – BXD – BTCCBCB
ngày 08/03/2002 của bộ xây dựng - ban tổ chức cán bộ chính phủ (nay là bộ nội vụ) hướng dẫn về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị;
- Thông tư số 10/2008/TT - BXD ngày 22/04/2008 của Bộ xây dựng hướng
dẫn về đánh giá, công nhận khu đô thị mới kiểu mẫu;
- Thông tư số 14/2009/TT - BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
- Quyết định số: 959/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Yên Hưng (nay
là thị xã Quảng Yên) ngày 10 tháng 5 năm 2010 V/v phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) của thị xă Quảng Yên
- Công văn số: 870/UBND của UBND huyện Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên) về việc triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015);
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2013 của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) tỉnh Quảng Ninh
- Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ huyện Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên) lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2010 - 2015);
1.3 Lý luận về đô thị hóa
1.3.1 Khái niệm về đô thị hóa
1.3.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều quan điểm của các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình ĐTH và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những định giá về quy
mô, tầm quan trọng và dự báo tương lai của quá trình này
“Đô thị hóa là thay đổi trật tự sắp xếp một vùng nông thôn theo các điều kiện của thành phố Đây là một trong những biện pháp biến nông thôn thành những nơi làm việc hấp dẫn, có điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đáp ứng những nhu cầu về nông sản phẩm cho xã hội góp phần làm tăng GDP nhưng điều này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, mỗi vùng” [17]
“Đô thị hóa (Urbanization) là quá trình tập trung dân số vào các đô thị và sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị do yêu cầu công nghiệp hóa Trong quá trình này có sự biến đổi về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị” (Nguyễn Hồng Lân, 2004)
“Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên
là tốc độ đô thị hóa Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống, [2]
Sự tăng trưởng của đô thị được tính trên cơ sở sự gia tăng của đô thị so với kích thước (về dân số và diện tích) ban đầu của đô thị Do đó, sự tăng trưởng của đô thị khác tốc độ đô thị hóa (vốn là chỉ số chỉ sự gia tăng theo các giai đoạn thời gian xác định như 1 năm hay 5 năm)
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống
- Quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa (CNH) đất nước Có thể nói đô thị hóa là người bạn đồng hành của CNH
- Quá trình đô thị hóa là quá trình biến đổi sâu sắc về|:
+ Cơ cấu sản xuất,(sản xuất hàng hóa…,thành phần kinh tế hoạt động đa dạng hơn…)
+ Cơ cấu nghề nghiệp,(tăng tỉ lệ lao động phi NN…)
+ Cơ cấu tổ chức hoạt động xã hội,(phố, phường,quận)
+ Cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị
- Mức độ đô thị hóa được tính bằng tỉ lệ phần trăm dân số đô thị so với tổng dân số toàn quốc hay vùng
- Tỷ lệ dân số đô thị là thước đo về đô thị hóa để so sánh mức đô thị hóa giữa các nước hoặc từng vùng với nhau Tuy nhiên tỷ lệ phần trăm dân số đô thị cũng chưa phản ánh được đầy đủ mức độ đô thị hóa của một nước mà phải xem chất lượng đô thị hóa như thế nào
+ Ở các nước phát triển chất lượng đô thị hóa phát triển theo các nhân tố chiều sâu, nâng cao chất lượng cuộc sống, tận dụng tối đa những lợi ích và hạn chế tối thiểu những ảnh hưởng xấu của quá trình đô thị hóa, nhằm hiện đại hóa cuộc sống và nâng cao chất lượng môi trường đô thị- Đó là đô thị hóa tích cực [8]
+ Ở các nước đang phát triển,hiện tượng bùng nổ dân số đô thị bên cạnh sự phát triển yếu kém của công nghiệp đã làm cho quá trình CNH và đô thị hóa mất cân đối Sự mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn càng thêm sâu sắc Sự chênh lệch
về mức sống đã thúc đẩy sự chuyển dịch dân số nông thôn ra đô thị càng ồ ạt, làm cho dân số đô thị tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là các đô thị lớn, đô thị trung tâm, tạo lên những điểm dân cư đô thị cực lớn, mất cân dối trong sự phát triển hệ thống dân cư – Đó là đô thị hóa tiêu cực… [8]
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Theo các học giả Mỹ, hiện tượng này còn gọi là “sự phục hưng nông thôn” Phát triển đến một lúc nào đó, bằng các chính sách của mình, các chính phủ sẽ điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn Quá trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách và chất lượng sống giữa thành thị và nông thôn[3]
Tóm lại đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật
1.3.1.2 Đặc trưng đô thị hóa
- Đô thị hoá là hiện tượng mang tính toàn cầu và có những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Một là, số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc biệt
là thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng lớn, số lượng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa lý, liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô thị [5]
1.3.2 Xu hướng phát triển đô thị hóa
Có 2 xu hướng đô thị hóa
Đô thị hóa phân tán: Là hình thái mạng lưới điểm dân cư có tầng bậc phát triển cân đối công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ công cộng, đảm bảo cân bằng sinh thái, tạo điều kiện làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân cư đô thị và nông thôn
Đô thị hóa tập trung: Là toàn bộ công nghiệp dịch vụ công cộng tập trung vào các thành phố lớn và xung quanh, hình thành các đô thị khổng lồ, tạo ra sự dối lập giữa thành thị và nông thôn, đồng thời gây ra sự mất cân bằng sinh thái [6]
Nhiều nước đang phát triển trên thế giới chọn xu hướng ĐTH phân tán, điều này phù hợp với thực tế và có điều kiện thực hiện Vì ĐTH thực chất là công nghiệp hóa đầu tư theo chiều sâu, tận dụng các cơ sở công nghiệp sẵn có ở thành phố, đồng
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thời đưa công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp vào các thị trấn, các điểm dân cư có mầm mống đô thị, tạo việc làm thu hút lao động dư thừa ở nông thôn mà không phải di dân vào đô thị, đôi khi với việc phát triển dịch vụ công cộng, cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người dân
1.3.3 Tính tất yếu của đô thị hóa
Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con đường CNH thì đều gắn liền với ĐTH
Trong lịch sử cận đại, ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình CNH tư bản chủ nghĩa và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo hướng HĐH: tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của các ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP Nhìn chung, từ góc độ kinh tế, ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự phát triển
Như vậy, ĐTH là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm, tình hình chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sủ, toàn cầu và không thể đảo ngược của sự phát triển xã hội ĐTH là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới [8]
1.3.4 Quan điểm của đô thị hóa
Công nghiệp hóa và cùng với nó là đô thị hóa trở thành xu thế chung của mọi quá trình chuyển từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp Vấn
đề quan trọng đặt ra là làm gì và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cực của
đô thị hóa, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của nó Điều này cũng đồng nghĩa với việc quá trình đô thị hóa phải gắn liền với khái niệm “ phát triển bền vững”
Như vậy, đô thị hóa phải vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo môi trường tự nhiên trong lành, sự công bằng và tiến bộ xã hội Tuy rằng tăng trưởng kinh tế là yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất của quá trình đô thị hóa song nó vẫn chỉ là một nhân tố, một phương tiện hơn là một mục tiêu tối thượng Mục tiêu của đô thị hóa là phải không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người, tức là phát triển đô thị lấy con người làm trọng tâm[9]
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.3.5 Các tiêu chí đánh giá mức độ và quá trình đô thị hóa
Quá trình ĐTH sẽ được đánh giá thông qua một số tiêu chí sau:
a) Tỷ lệ dân số nông nghiệp/tổng dân số: Chúng ta biết ĐTH gắn liền với CNH do vậy chỉ số nhân khẩu, lao động sống bằng các nguồn thu chính từ nông nghiệp và phi nông nghiệp sẽ giúp ta đánh giá được mức độ ĐTH của một địa phương, thông thường với các khu đô thị lớn tỷ lệ dân sô nông nghiệp/tổng số dân
là rất nhỏ
b) Tốc độ tăng dân số cơ học: ĐTH gắn liền với tăng dân số khu vực thành thị, tùy theo lượng dân số kết hợp với CSHT của khu vực thành thị đó mà được nhà nước quy định cấp độ đô thị theo 5 loại từ loại 1 đến loại 5 Như vậy, có thể thấy tốc
độ tăng dân số cơ học là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ ĐTH
c) Cơ cấu thu nhập: Một chỉ tiêu quan trọng khác để đánh giá mức độ ĐTH đó là
tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp trong tổng thu nhập của một địa phương, thường quá trình ĐTH tăng sẽ kéo theo sự gia tăng của tỷ trọng thu nhập của các ngành nghề phi nông nghiệp trong tổng thu nhập
1.4 Thực tiễn đô thị hóa trên Thế giới và ở Việt Nam
Quá trình ĐTH gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của lịch sử nhân loại Quá trình này mới là sản phẩm của nền văn minh, vừa là động lực của những bước tiến
kỳ diệu mà nhân loại đã đạt được trong mấy thiên niên kỷ qua [12]
Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp truyền thống với thực tế ĐTH thấp
và chậm trong lịch sử đang bước vào thời kỳ mới của nền kinh tế thị trường, thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, việc nghiên cứu tìm hiểu diễn biến của quá trình đô thị hóa trên thế giới càng có ý nghĩa to lớn cả về mặt nhận thức, lý luận cũng như giá trị thực tiễn
1.4.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới
Từ giữa năm 2009, dân số sống ở khu vực đô thị trên thế giới đạt 3,42 tỷ, lớn hơn dân số sống ở nông thôn (3,41 tỷ) Có sự chênh lệch lớn về mức độ đô thị hoá giữa các nhóm quốc gia trong quá trình phát triển Trong khi tỷ trọng đô thị ở các nước phát triển đã gần 53% năm 1950, các nước ở chậm phát triển cần một thập kỷ
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nữa mới có một nửa dân số sống tại các khu đô thị Vào năm 2050, dân số đô thị của thế giới sẽ tăng lên 84%, từ 3,4 tỷ năm 2009 lên 6,3 tỷ, gần bằng quy mô dân số của toàn thế giới năm 2004 Về cơ bản, tất cả sự tăng trưởng dân số đô thị của thế giới sẽ tập trung vào các vùng đô thị của các nước đang phát triển, nơi dân số được
dự báo tăng từ 2,5 tỷ năm 2009 lên 5,19 tỷ vào năm 2050 Cũng trong thời gian này, dân số nông thôn của các nước kém phát triển dự báo sẽ giảm từ 3,4 tỷ xuống 2,9
tỷ Trong các nước phát triển hơn, dân số đô thị dự báo sẽ tăng từ 0,9 tỷ năm 2009 lên 1,1 tỷ vào năm 2050
Bảng 1.1: Dân số và dân số đô thị ở nhóm các nước phát triển và đang phát
triển giai đoạn 1950-2050
(Tỷ người)
1950 1975 2009 2025 2050
(Nguồn:UN, 2010[19])
Bảng 1.1 cho thấy, tỷ lệ tăng dân số đô thị trên thế giới đang chậm lại Từ
năm 1950 đến năm 2009, dân số đô thị trên thế giới trong giai đoạn này tăng trung bình 2,6%/năm, với số dân tăng gấp gần 5 lần từ 0,7 tỷ lên đến 3,4 tỷ Trong giai đoạn 2009-2025, dự báo dân số đô thị trên thế giới tăng trung bình 1,8%/năm, nếu mức tăng này tiếp tục được duy trì, dân số đô thị sẽ tăng gấp đôi trong 39 năm nữa Trong giai đoạn 2025-2050, tỷ lệ tăng dân số đô thị ước tính giảm xuống 1,3%/năm
Dân số đô thị tăng kết hợp với giảm tăng dân số nông thôn dẫn đến đô thị hoá liên tục, điều này thúc đẩy sự tăng tỷ lệ dân số sống ở các khu vực thành thị Trên toàn cầu, mức độ đô thị hoá ước tính tăng từ 50% năm 2009 lên đến 69% năm
2050 Các khu vực phát triển hơn có mức độ đô thị hoá tăng từ 75% lên 86% trong cùng thời kỳ Ở các vùng đang phát triển, tỷ lệ đô thị có thể sẽ tăng từ 45% năm
2009 lên đến 66% năm 2050
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Bảng 1.2: Tỷ lệ dân số đô thị ở nhóm các nước phát triển và đang phát triển
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải tất cả các nước đang phát triển đều có tỷ
lệ đô thị thấp Trong các vùng đang phát triển, Mỹ La Tinh và vùng Caribe đã có mức
đô thị hoá cao (79%) Ngược lại, đa số dân số châu Phi và châu Á sống ở nông thôn (60% và 58%) tương ứng với 40% và 42% dân số sống ở đô thị Trong các thập kỷ tới, mức đô thị hoá sẽ tăng ở tất cả các khu vực chủ yếu của các nước đang phát triển Châu Phi và châu Á có mức độ đô thị hoá nhanh hơn Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ, châu Phi và châu Á sẽ vẫn có mức độ đô thị hoá thấp hơn các vùng phát triển, Mỹ La
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
xuất hiện nhanh ở những nước này, các chuyên gia đô thị dự báo rằng trong những thập niên tới tăng trưởng đô thị hầu hết sẽ diễn ra ở các nước đang phát triển
Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH – HĐH Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô tiêu hao nhiên liệu, năng lượng, Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm 2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:
- Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra thành thị trong đó nhu cầu nhất thiết phải nâng cao mức sống nông thôn
- Khi tập trung quá tải cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hòa dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ, xây dựng CSHT, có cơ sở xã hội thỏa đáng
1.4.2 Tình hình đô thị ở Việt Nam
1.4.2.1 Toàn cảnh đô thị Việt Nam
Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị hóa diễn ra hết sức nhanh chóng nhất là trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh
Từ năm 1990 các đô thị ở Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hóa vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị Tính đến nay cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị
xã và trên 500 thị trấn Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc gia: Các đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng,
Đà Nẵng, Cần Thơ Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành phố như: Huế, Biên Hòa, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Quảng Ninh, Việt Trì, Hạ Long, Hòa Bình Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâm hành chính – chính trị, kinh tế, văn hóa, du lịch – dịch vụ, đầu mối
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
giao thông; và các đô thị trung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô thị mới
Đến cuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô thị, tăng hơn 40%
so với năm 1995 Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở mang, nâng cấp, đáng chú ý là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng toả rộng, tạo thành những nét mới ở nông thôn Theo thống kê của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), người di cư nông thôn chiếm tới 1/3 dân số của TP Hồ Chí Minh và 1/10 dân số của Hà Nội và làn sóng này vẫn đang tiếp tục không ngừng chảy Dự kiến dân số đô thị của Hà Nội đến năm 2010 sẽ là 3,9 - 4,2 triệu người, năm 2020 là 7,9 - 8,5 triệu người; còn với
TP Hồ Chí Minh năm 2010 là 10 triệu người, đến 2025 là 16-17 triệu người
Đô thị hoá gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã trực tiếp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm, thuỷ sản trong tổng thu nhập quốc dân trong nước (GDP) và tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trong GDP Đối với nông nghiệp, cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng phát triển các cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn Trong trồng trọt, tỷ trọng hoa màu, cây côngnghiệp, cây ăn quả ngày càng tăng [11]
Sự hình thành trên địa bàn nông thôn những khu công nghiệp, khu chế xuất các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới đã nâng giá trị sử dụng của đất đai, tạo những ngành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạo môi trường ứng dụng rộng rãi khoa học, công nghệ… Đô thị hoá kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được cải thiện - đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hoá [11]
Nhìn từ bình diện văn hoá, làn sóng đô thị hoá cùng với sự phát triển hạ tầng văn hoá xã hội, mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buôn bán giữa các vùng miền đã làm cho diện mạo nông thôn và đời sống tinh thần của cư dân nông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn Ở nông thôn đã xuất
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hiện những yếu tố văn hoá đô thị mới mẻ, hiện đại, sự truyền bá các sản phẩm văn hoá, các loại hình văn học, nghệ thuật có giá trị; sự du nhập lối sống, phong cách giao tiếp, ứng xử văn minh, tiến bộ ) làm cho văn hoá làng quê có những sắc thái mới Mức sống văn hoá, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hoá của nông dân các vùng đô thị hoá, nhìn trên tổng thể, được nâng lên [11]
Đó là xu hướng chủ đạo của quá trình đô thị hoá ở Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua Thực tiễn đã chứng minh tính hợp qui luật và những tác động tích cực của đô thị hoá đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam Tuy nhiên,
do những khó khăn của bản thân nền kinh tế đất nước đang trong quá trình chuyển đổi và những hạn chế chủ quan trong quản lý, điều hành, đô thị hoá ở Việt Nam còn nhiều mặt bất cập, đang phát sinh những vấn đề bức xúc liên quan đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân cần được nhận thức đúng và giải quyết hiệu quả [11]
Hiện nay, tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đến năm 2010 con số này sẽ là 56 - 60%, đến năm 2020 là 80%
Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân Mục tiêu đề ra cho diện tích bình quân đầu người là 100m2/người Nếu đạt tỷ lệ 100m2/người, Việt Nam cần có khoảng 450.000ha đất đô thị, nhưng hiện nay, diện tích đất đô thị chỉ có 105.000ha, bằng ¼ so với yêu cầu Với tốc độ phát triển và dân
số đô thị như vậy, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề phức tạp phát sinh từ quá trình đô thị hóa [4]
1.4.2.1 Những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn đô thị hóa
- Vấn đề qui hoạch, quản lý, sử dụng đất đai nông nghiệp: Để thu hút các nguồn vốn, công nghệ phục vụ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, những năm qua, Nhà nước và chính quyền các địa phương đã thực hiện chính sách cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc tìm kiếm, chọn lựa địa điểm sản xuất, kinh doanh Bình quân hàng năm, tính từ 2001 đến 2007, gần 10 vạn ha đất nông nghiệp được thu hồi đã phục vụ xây dựng các khu công nghiệp, dịch
vụ, đường giao thông, khu dân cư; khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp thu hồi
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, trong đó, 80% thuộc loại đất màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm Sự dễ dãi và cả sự yếu kém trong qui hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng đã cùng với tư tưởng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã đưa tới tình trạng sử dụng đất tuỳ tiện, lãng phí Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ, dân cư… đều bám dọc các quốc lộ huyết mạch, các vùng nông thôn trù phú Hệ quả là, hàng chục vạn ha
“đất cấu tượng” đất “bờ xôi, ruộng mật” - bao đời nay là tư liệu sản xuất quan trọng
và quí giá nhất của người nông dân; nền tảng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia -
đã bị sử dụng phí phạm, tác động mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng chục vạn hộ gia đình nông thôn với hàng triệu lao động nông nghiệp Đi liền với thực trạng này là sự nảy sinh phân hoá, thậm chí cả mâu thuẫn xã hội Đây là một vấn đề búc xúc, cần được nhìn nhận thấu đáo và khắc phục sớm
- Sự chậm chạp, ít hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Những năm qua, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng Tuy nhiên, so với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam còn chậm Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn còn chiếm hơn 40%; trong cơ cấu kinh tế chung của cả nước vẫn còn tới 20%; nhiều vùng chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp
Trong nông nghiệp, ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn; tỷ trọng lâm nghiệp còn thấp; chăn nuôi, thuỷ sản phát triển thiếu ổn định Nhìn trong tương quan khu vực và thế giới, tỷ trọng GDP nông nghiệp của Việt Nam còn cao, và nếu so với chuẩn một nước hoàn thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá (tỷ trong GDP nông nghiệp khoảng 4-8% tổng GDP), thì chặng đường phấn đấu vượt lên còn rất gian nan Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, chưa tác động trực tiếp và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn Doanh nghiệp nông thôn
số lượng ít, qui mô nhỏ; số doanh nghiệp tham gia chế biến nông, lâm, thuỷ sản không nhiều Đây là một trong những nguyên nhân làm chậm quá trình chuyển dịch
và hạn chế chất lượng cơ cấu kinh tế ở nông thôn Phần lớn nông sản, kể cả nông sản xuất khẩu, có giá trị gia tăng thấp, chỉ số cạnh tranh chỉ ở mức trung bình hoặc dưới
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
trung bình so với thế giới; giá trị thu được trên đơn vị diện tích canh tác bình quân mới đạt xấp xỉ 30 triệu đồng/ha năm
- Sự ùn đọng lao động ở nông thôn ảnh hưởng đến thu nhập của người dân mất đất sản xuất
Ở Việt Nam, những năm qua, nhất là từ năm 2001 đến nay, quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động diễn ra khá nhanh và rõ nét hơn trước Nhìn trên phạm vi cả nước, tổng lao động làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản chiếm 54,7% (năm 2006), 52,8% (năm 2007) tổng lao động xã hội; hàng năm có hàng chục vạn lao động nông nghiệp chuyển sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp Điều tra gần đây của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong số lao động di cư, có tới 2/3 là lao động trẻ (15-19 tuổi); hơn 50% là di cư để tìm việc làm, 47% là để cải thiện điều kiện sống Một điều tra khác của Viện Khoa học lao động và xã hội cũng cho thấy, trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỷ lệ lao động ngoại tỉnh chiếm tới 70% Tính đến tháng 12/2007 cả nước có hơn 170 khu công nghiệp, khu chế xuất phân bổ ở 55tỉnh, thành trên cả nước với khoảng trên 1 triệu người lao động đang làm việc, trong đó có 700.000 người lao động di cư từ các tỉnh khác hoặc huyện khác đến [6]
Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu laođộng, nhìn chung, diễn ra vẫn chậmchạp, chưa tương thích và đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đến năm
2007, trong GDP giá trị nông nghiệp đã giảm xuống còn 19,6%, trong khi đó lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tới 52,8% Nghịch lý này phản ánh một thực tế: công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn chưa đủ sức tạo nhiều việc làm mới để thu hút lực lượng lao động nông nghiệp còn rất tiềm tàng Ngoài một bộ phận không nhiều được tuyển vào các doanh nghiệp trên địa bàn hoặc đi kiếm việc làm ở các đô thị, các khu công nghiệp lớn, phần đông lao động vẫn đang bị ùn đọng trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Một bộ phận lao động tiếp tục sản xuất nông nghiệp trong điều kiện diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp, một bộ phận chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp giản đơn, theo cơ chế thoả thuận Thực trạng này chứng tỏ quá trình công nghiệp hóa đô thị hoá chưa gắn kết và tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp,
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nông thôn, nông dân Tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao động; sự phân hoá thu nhập và những khó khăn về đời sống của người nông dân, phần lớn có nguyên nhân
từ đây
Ở Việt Nam, những năm qua đã diễn ra sự chuyển dịch dân cư nông thôn - nông thôn, dân cư nông thôn - đô thị Một bộ phận dân cư ở một số tỉnh miền núi phía Bắc đã di chuyển một cách tự phát thiếu tổ chức, thiếu qui hoạch vào một số tỉnh phía Nam, tập trung nhất là ở địa bàn Tây Nguyên Ở một số vùng nông thôn, điển hình là nông thôn đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện dòng chuyển
cư về thành thị, chủ yếu về các khu công nghiệp tập trung các đô thị lớn, đặc biệt là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tình trạng tăng vọt dân số cơ học ở các thành phố lớn làm đậm thêm sự mất cân đối trong phân bố dân cư, lao động trên phạm vi toàn quốc; làm cho các thành phố lớn phải gánh chịu áp lực quá tải rất nặng
nề về dân số, về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và không ít khó khăn, phức tạp trong công tác quản lý đô thị
- Sự phân tán, chia cắt trong qui hoạch, tổ chức không gian đô thị: Đô thị hoá là
xu thế khách quan phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Tuy nhiên, chất lượng đô thị hoá phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản lý của con người, trước hết là khả năng qui hoạch và tổ chức không gian đô thị của bộ máy quản lý nhà nước các cấp Quy hoạch nói chung, qui hoạch đô thị nói riêng là một khoa học tổng hợp, đòi hỏi phải có sự tiếp cận liên ngành với một tầm nhìn xa rộng, sự tính toán chặt chẽ, chính xác nhằm giải quyết hài hoà các mối quan hệ giữa tổng thể (nhìn trên phạm vi quốc gia) với bộ phận (vùng, địa phương); giữa không gian đô thị với không gian nông thôn; giữa không gian kiến trúc với cảnh quan môi trường Qui hoạch và tổ chức không gian đô thị là kết tinh tầm văn hoá, triết lý văn hoá và khoa học, nghệ thuật phân bố các nguồn lực quốc gia Tuy nhiên, đối chiếu với yêu cầu phát triển toàn diện đất nước và so sánh với trình độ qui hoạch, tổ chức không gian đô thị của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, công tác qui hoạch, tổ chức thực hiện qui hoạch ở Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế Sự phân bố các khu đô thị còn phân tán, không đồng đều giữa các vùng miền Mặc dù, những năm gần đây, cùng với sự
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
vươn dài, to rộng của hệ thống đường giao thông, ven các tuyến đường mọc lên ngày càng nhiều những khu đô thị mới, những điểm cư dân đô thị, song nông thôn các vùng sâu, vùng xa, vùng rừng núi, ven biển mật độ đô thị còn thưa thớt Cho đến nay, nhịp điệu đô thị hoá sôi động vẫn chủ yếu diễn ra ở ngoại vi các thành phố lớn và các vùng phụ cận, đặc biệt ở hai thành phố trung tâm Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Trong nghiên cứu đô thị học, người ta gọi tình trạng tập trung phát triển quá lớn một số thành phố trung tâm mà không quan tâm phát triển đồng bộ hệ thống các đô thị khác là “căn bệnh to đầu”, làm chậm tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; hạn chế việc phân bổ, phát huy các nguồn lực quốc gia, nhất là nguồn lực lao động, phát triển kinh tế-xã hội nói chung, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn, cải thiện đời sống nông dân nói riêng Ở từng địa phương, hạn chế phổ biến trong xây dựng, thực hiện qui hoạch là thiếu tầm nhìn xa, thiếu cách nhìn tổng thể, hệ thống và sự buông lỏng trong quản lý, triển khai qui hoạch Qui hoạch chung, qui hoạch hạ tầng khung chưa được quan tâm đúng mức, xu hướng chung vẫn là chú trọng xây dựng, triển khai qui hoạch chi tiết, đáp ứng nhu cầu trước mắt Hệ quả khó tránh khỏi là tình trạng tuỳ tiện, lộn xộn, chắp vá, chia cắt, thậm chí làm biến dạng, méo mó không gian kiến trúc [11]
Trên địa bàn nông thôn đang diễn ra quá trình đô thị hoá, có thể thấy rõ sự bất hợp lý trong phân bố các công trình xây dựng sự thiếu gắn bó, liên thông giữa các thành tố cấu thành đô thị Phần lớn các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, các điểm dân cư đều tràn ra, bám sát trục đường giao thông, tạo nên sự phát triển mất cân đối về không gian xây dựng Trong cùng một không gian đô thị hoá, thiếu sự liên kết hài hoà giữa khu vực sản xuất với khu vực dân cư; ngay trong khu vực sản xuất cũng thiếu sự gắn kết cần thiết giữa các khu công nghiệp với các khu thương mại, dịch vụ với các làng nghề, cụm làng nghề… Khá phổ biến là tình trạng thiếu đồng bộ, thiếu khớp nối giữa hạ tầng bên trong hàng rào các khu vực sản xuất, kinh doanh với
hạ tầng bên ngoài hàng rào, với hạ tầng các vùng nông thôn xung quanh; giữa hạ tầng kinh tế - kỹ thuật với hạ tầng văn hoá - xã hội Về không gian kiến trúc, thiếu sự hoà điệu ở tầm văn hoá giữa những đường nét hiện đại của đô thị với vẻ đẹp truyền thống
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
của nông thôn; một số kiểu dáng kiến trúc vay mượn vội vàng từ đô thị đem cấy vào nông thôn đã làm hỏng nét đẹp riêng có của những làng cổ, làng sinh thái, làng nghề - vốn là nguồn cảm hứng, tự hào bao đời của người Việt Nam và là nguồn tài nguyên
du tịch tiềm tàng hôm nay Nhìn từ góc độ qui hoạch, thực hiện qui hoạch, đô thị hoá chưa thật sự kết gắn và phục vụ hiệu quả qui hoạch phát triển kinh tế, xã hội và xây dựng nông thôn mới vì mục tiêu nâng cao chất lượng sống của nông dân
- Suy thoái về văn hoá, xã hội, môi trường nông thôn Việt Nam là chiếc nôi sản sinh, nuôi dưỡng, bảo vệ văn hoá dân tộc ngàn năm Những năm qua, một số yếu
tố tiến bộ của văn hoá đô thị đã lan toả về nông thôn, tạo nên những sắc thái mới trong đời sống, sinh hoạt tinh thần của người nông dân và cộng đồng làng xã Nhiều loại hình, giá trị văn hoá ở nông thôn cũng được giới thiệu rộng rãi, thuận lợi hơn ở các đô thị Đó là mặt thuận Mặt chưa thuận là, do thiếu chuẩn bị, thiếu định hướng, chọn lọc và do cả những bất cập trong công tác qui hoạch, quản lý văn hoá, không ít những yếu tố phi văn hoá, phản văn hoá, từ đô thị và từ các phương tiện truyền thông, đặc biệt từ internet, đã thâm nhập vào đời sống nông thôn, đưa tới những vấn nạn xã hội đáng suy nghĩ Việc sử dụng không hợp lý, lãng phí quĩ đất canh tác; tình trạng san lấp, lấn chiếm ao hồ, sông, suối, các công trình thuỷ lợi; nạn đốt phá rừng, khai thác khoáng sản tuỳ tiện cùng với sự yếu kém trong xử lí nước thải, rác thải, bụi, khói, tiếng ồn đang làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ hệ sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, cảnh quan nông thôn, đời sống và sức khoẻ của nông dân, giảm thiểu khả năng đề kháng, thậm chí làm trầm trọng thêm những tai biến của tự nhiên Những nghịch lý, mâu thuẫn, thách thức nêu trên và những hệ luỵ của chúng là có thật, đang từng ngày diễn ra trong quá trình đô thị hoá, từng giờ tác động đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân Song đó là những khó khăn khó tránh trên con đường đi lên, là hai mặt biện chứng của quá trình phát triển [7]
Đồng thời với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động đô thị hoá tất yếu dẫntheo sự dịch chuyển dân cư theo hướng chuyển hoá cư dân nông thôn thành cưdân
đô thị Sự chuyển hoá này diễn ra lâu dài thông qua các dòng chuyển cư theochiều
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hướng khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ phát triển và đặc điểm, hoàn cảnhcủa mỗi quốc gia
1.5 Ảnh hưởng đô thị hóa đến sử dụng đất và cuộc sống người dân
1.5.1 Ảnh hưởng đô thị hóa đến sử dụng đất
Tốc độ đô thị hóa của Việt Nam tăng mạnh, từ đó cho thấy nhu cầu về nhà ở của người dân đô thị là vô cùng lớn, kéo theo đó là giá đất tăng lên nhanh và có sự chênh lệch lớn giữa giá đất nông nghiệp và đất ở Theo ông Nguyễn Đăng Quư, một đại biểu tham dự hội thảo An ninh lương thực nói trên cho rằng giá đất ở đô thị Việt Nam hiện nay quá cao so với khu vực và thế giới và thậm chí còn cao hơn cả một số nước có giá bất động sản cao vào loại nhất, nhì thế giới như Nhật Bản - mà nguyên nhân chính lại là
do quá trình đô thị hoá quá nhanh
Đất ở tại đô thị bao gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục
vụ đời sống, vườn, ao trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư đô thị, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt [13]
Đô thị hoá làm tăng tình trạng chuyển nhượng đất nông nghiệp, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp vừa công bố kết quả điều tra khảo sát về tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nông thôn Kết quả cho thấy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước ta bị coi là bất hợp pháp, nhưng vẫn có tới gần 3,8% số người được phỏng vấn đã trả lời là đã từng bán đất trong giai đoạn từ 1980 - 1988 Các giai đoạn tiếp theo, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước ta cứ tăng dần theo tỷ lệ: 4,67% (giai đoạn 1998 - 2003) và
từ năm 2003 đến nay đã lên tới 6,22% Vùng có số hộ chuyển nhượng đất cao nhất là Đông Nam Bộ (hơn 48%), Tây Nguyên (41%), đồng bằng sông Cửu Long (32%) và tiếp đến là vùng đồng bằng sông Hồng Nguyên nhân chính để người dân vùng nông thôn chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do tác động của quá trình công nghiệp hoá,
đô thị hoá nhanh nên họ bị thu hồi đất; đồng thời họ cũng rất cần tiền đầu tư cho sản xuất (làm trang trại, mua sắm máy móc ), chuyển sang làm việc khác, để trả nợ, xây dựng nhà cửa, mua sắm đồ dùng gia đình
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho nhu cầu sử dụng đất tăng lên, thúc đẩy giá đất tăng cao cũng sẽ là một nguyên nhân làm nảy sinh các vụ việc khiếu kiện, tố cáo, tranh chấp về đất đai ngày một phức tạp hơn như: khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ tái định cư; về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất đai; việc giải quyết các tranh chấp về đất đai của các cơ quan nhà nước; tranh chấp các tài sản trên mặt đất; Đô thị hóa đã làm cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp,
để đảm bảo nguồn thu cho cuộc sống và tăng cường năng suất cây trồng họ đã trở thành người có trách nhiệm hơn trong việc cải tạo và quản lý đất của mình Tuy nhiên, vì thiếu sự hiểu biết và quá chú trọng tới lợi ích trước mắt nên đã làm cho việc
sử dụng đất thiếu bền vững Việc sử dụng các hóa chất để cải tạo đất và diệt trừ sâu bệnh đã làm cho diện tích đất sản xuất bị ô nhiễm, bạc màu khó khắc phục
1.5.1 Ảnh hưởng đô thị hóa đến đời sống người dân
Trong quá trình đô thị hoá, cùng với việc tăng dân số đô thị là sự chuyển đổi
cơ cấu kinh tế Trên góc độ dân số và lao động, đô thị hoá là quá trình chuyển đổi cơ cấu dân só từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp và dịch vụ Những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn, sau khi trở thành dân cư đô thị, họ
bị mất phần lớn ruộng đất canh tác Với số tiền được Nhà nước đền bù, họ dùng để tạo nghề mới, xây dựng nơi cư trú mới,… và đã làm cho cuộc sống của họ thay đổi dần với một nguồn thu nhập mới Khi chuyển đổi sang các ngành nghề công nghiệp
và dịch vụ, nhìn chung thu nhập của người dân được tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, vì chịu sự tác động của nhiều yếu tố đã làm cho tốc độ tăng của mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội, mỗi nghề nghiệp rất khác nhau Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng rõ rệt [14]
Theo thông tin từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đưa ra tại hội nghịlần thứ 11 của Ban chấp hành Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa IX), diễn ra ngày 25/7/2008 về khoảng cách thu nhập giữa nhóm tiền lương cao với mức trung bình tại Hà Nội là 42 lần (75,2 triệu đồng/tháng so với mức bình quân 1,8 triệu
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
đồng/tháng), tại Tp.HCM là 109 lần (240 triệu đồng/tháng so với 2,2 triệu đồng/tháng)
- Sở dĩ có sự chênh lệch lớn về thu nhập như vậy là do:
+ Thứ nhất, việc trả lương đã không còn bị bó buộc bởi các quy định, địnhmức như trước đây Rõ ràng trong khối doanh nghiệp ngoài Nhà nước, hiện nay việc chi trả cho một bộ phận người lao động có trình độ cao, hay các vị trí quản lý chủ chốt,
có kinh nghiệm, quan hệ rộng… không căn cứ trên hệ thống thang, bảng lương mà được tính bằng hiệu quả công việc đem lại cho doanh nghiệp
+ Thứ hai, thỏa thuận mức lương đã theo quy luật cung cầu về lao động Các
vị trí lao động giản đơn, lao động phổ thông hiện có lượng cung lớn, ngoài nguồn bổ sung hàng năm vẫn tăng của lực lượng lao động, một bộ phần chuyển dịch của lao động nông nghiệp mất đất sang các lĩnh vực công nghiệp … Thêm vào đó, việc sắp xếp lại lao động để tạo hiệu quả trong điều hành doanh nghiệp trong thời gian qua cũng trả lại thị trường lao động một lượng nhân lực lớn, làm gia tăng nguồn cung mà đặc biệt là lao động giản đơn Trong khi đó, các vị trí điều hành cần kinh nghiệm và chuyên môn sâu thì nguồn cung ngày càng thiếu hụt
+ Thứ ba, mức lương chịu tác động bởi biến động nhân lực của từng ngành Trong thời gian qua, các ngành như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm phát triển mạnh, nhu cầu lao động tăng nhanh khiến cạnh tranh thu hút lao động lớn Trong ngành này, ngay cả lao động có thời gian đào tạo không lâu, trình độ hạn chế vẫn được trả mức lương khá cao Các vị trí quản lý, điều hành luôn được mời chào với mức lương cao hơn nhiều so với vị trí tương đương tại các ngành khác Để thu hút được người tài, đặc biệt là cho những vị trí chủ chốt, mức lương được nhiều doanh nghiệp đẩy lên rất cao Trường hợp để kéo được nhân lực từ các doanh nghiệp khác, người sử dụng lao động còn phải đưa ra các mức lương vượt quá mặt bằng chung và kèm theo nhiều điều kiện ưu đãi khác Chính việc này đã liên tục tạo nên mặt bằng chi trả lương mới trong một số ngành thiếu nhân lực trình độ cao Trái lại, các ngành như dệt may, chế biến thủy sản… nguồn cung lớn, lợi nhuận theo đầu người lại không cao, doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, vì thế,
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
mức lương không tăng, hoặc tăng không đáng kể Quá trình đô thị hoá cùng với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường,
sự cạnh tranh về lao động và việc làm xảy ra khiến cho thu nhập người lao động đi về hai hướng Một là nhóm cần việc làm phải chịu mức lương thấp Một nhóm khác do cạnh tranh thu hút từ chủ sử dụng lao động, hay nói cách khác, doanh nghiệp cần họ,
đã đẩy mức lương tăng cao Dẫn đến có một thực tế là thu nhập của nhóm cao tăng rất nhanh, trong khi nhóm thu nhập trung bình và thấp thì ít tăng và tăng chậm
Quá trình đô thị hóa không những ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh
tế xã hội của đất nước mà còn làm thay đổi cuộc sống của một bộ phận lớn dân cư nông thôn về lao động, việc làm, thu nhập Quá trình đô thị hóa gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, khi đó một lượng lớn đất nông nghiệp sẽ được sử dụng vào việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị Vậy bố trí diện tích đất như thế nào là hợp lý ? diện tích đất nông nghiệp còn lại đã đủ đảm bảo an toàn lương thực hay chưa ? phát triển đô thị theo hướng nào là tốt nhất để không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái [7]
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Quá trình đô thị hóa thị xã Quảng Yên ảnh hưởng đất nông nghiệp và cuộc sống người dân
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng Tài nguyên môi trường thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 08 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Quảng Yên ảnh hưởng đến việc sử dụng các loại đất
- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên của thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Đánh giá tiềm năng, cơ hội và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa của thị xã Quảng Yên
2.3.2 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đất nông nghiệp
- Ảnh hưởng của đô thị hóa đến tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Yên giai đoạn 2010-2014
- Ảnh hưởng của đô thị hóa đến tình hình sử dụng đất nông nghiệp
2.3.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đời sống người dân trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Chuyển đổi hoạt động kinh tế của các hộ nông dân mất đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Thực trạng đời sống kinh tế các hộ mất đất nông nghiệp do đô thị hóa
- Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới nghề nghiệp của các hộ
- Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tơi đời sống của người dân
- Đánh giá sự ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế - xã hội của các
hộ thông qua các câu hỏi định tính
2.3.4 Đánh giá chung tác động của đô thị hóa tới đất nông nghiệp và đời sống của người dân trên địa bàn thị xã Quảng Yên
- Đánh giá chung tác động tích cực của quá trình đô thị hóa
- Đánh giá chung tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa
2.3.5 Định hướng và một số giải pháp nâng cao đời sống người dân, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Định hướng phát triển đô thị hóa trên địa bàn thị xã Quảng Yên trong thời gian tới
- Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đời sống kinh tế người dân trong khu vực đô thị hóa
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Chọn địa điểm nghiên cứu
- Chọn địa điểm nghiên cứu đại diện cho thị xã Quảng Yên nằm trong quá
trình đô thị hóa trên phương diện điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm sinh thái của vùng
- Điều tra nghiên cứu mẫu 100 hộ gia đình trong 5 xã, phường (mỗi xã phường 20 hộ) Tác giả điều tra xã Minh Thành, Tân An, xã Tiền An, xã Phường
Hà An, phường Đông Mai
2.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu thông tin
2.4.2.1 Tài liệu thứ cấp (tài liệu đã được công bố)
- Tài liệu, số liệu đã được công bố về tình hình kinh tế, xã hội nông thôn, kinh tế của các ngành sản xuất, đời sống của các nông hộ nông nghiệp nằm trong khu vực bị thu hồi đất… các số liệu này thu thập từ phòng Tài nguyên môi trường, phòng Thống kê, Ban Bồi thường và Quản lý dự án, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, và các ban, ngành có liên quan Trên cơ sở đó tiến hành tổng
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu - Các sách, báo, tạp chí, các văn kiện nghị quyết, các chương trình nghiên cứu đã được xuất bản, các tài liệu trên internet v.v
2.4.2.2 Tài liệu sơ cấp
* Tài liệu sơ cấp:
Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài Những số liệu này được thu thập từ việc điều tra các hộ có sản xuất nông nghiệp Các số liệu này được sử dụng để phân tích về tình hình hiện trạng sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trong thị trấn, xã tình hình mất đất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tình hình chuyển đổi việc làm của các hộ do tác động của quá trình đô thị hoá Phương pháp điều tra được tiến hành như sau:
* Cơ sở chọn mẫu điều tra
Chúng tôi đã chọn 100 hộ thuộc đã bị mất đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Yên để điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo nhiều cấp
- Phương pháp phát phiếu điều tra trực tiếp:
Để thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã điều tra các hộ sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 1 thành viên hiểu biết về nông nghiệp của gia đình, ngoài ra có sự đóng góp ý kiến của các thành viên khác trong gia đình Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác Chúng tôi phỏng vấn thử một số hộ theo một mẫu câu hỏi đã được soạn thảo trước Sau đó xem xét bổ sung phần còn thiếu và loại bỏ phần không phù hợp trong bảng câu hỏi Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi
mở Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu theo các nhóm thông tin sau:
+ Nhóm thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, dân số, lao động
+ Nhóm thông tin về đặc điểm chung của hộ mất đất và nguồn sống chính của các hộ
+ Nhóm thông tin về điều kiện đất đai và sử dụng đất đai của hộ
+ Nhóm thông tin về tình hình sản xuất nông nghiệp của hộ
+ Nhóm thông tin về tình hình thu nhập của hộ
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Nhóm thông tin về nguyện vọng của người dân mất đất nông nghiệp trong tình hình hiện nay
+ Các câu hỏi mở về những khó khăn, thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp trong quá trình bị thu hồi đất do quá trình đô thị hoá, mong muốn của người nông dân về vấn đề việc làm
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp:
Để lấy thông tin theo chiều rộng, tránh cho người bị phỏng vấn cảm thấy bị nhàm chán, bị ép buộc phải trả lời câu hỏi có sẵn, chúng tôi đã dùng các câu hỏi không có trong phiếu điều tra để hỏi đối tượng, những câu hỏi phát sinh trong quá trình phỏng vấn
Phương pháp này nhằm mục đích lấy thông tin rộng hơn, gợi mở hơn nhiều vấn đề mới quan trọng và thú vị
Mục đích của điều tra: Nắm bắt một cách tương đối chi tiết về tình hìnhđời sống của hộ trước và sau khi tiến hành công tác thu hồi đất, hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn được đền bù
- Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia: Phương pháp thu thập dựa trên cơ sở thu thập ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực nông nghiệp, quản lý đô thị, lãnh đạo các phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Quảng Yên, Phòng kinh tế hạ tầng thị xã Quảng Yên, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thị xã Quảng Yên, các cán
bộ các cán bộ quản lý, người sản xuất giỏi có kinh nghiệm, các cán bộ về kỹ thuật thông qua các tài liệu hoặc trao đổi trực tiếp với họ để ta có kết luận chính xác
- Phương pháp quan sát trực tiếp:
Đây là phương pháp rất sinh động và thực tế vì qua phương pháp này tất cả các giác quan của người phỏng vấn đều được sử dụng: mắt nhìn, tai nghe qua đó các thông tin được ghi lại trong trí nhớ, qua ghi chép, chụp lại một cách cụ thể, thực
tế, phong phú và khách quan
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
2.4.3.1 Phương pháp tổng hợp
Là phương pháp thống nhất liệt kê toàn bộ các yếu tố, các nhận xét mà khi ta
sử dụng các phương pháp có được thành một kết luận hoàn thiện, đầy đủ Chỉ ra mối liên hệ giữa chúng, khái quát hóa các vấn đề trong nhận thức tổng hợp