1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN : Tình huống số 2 “Phân tích ngành dược Việt Nam”

26 651 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 226,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN : Tình huống số 2 “Phân tích ngành dược Việt Nam”.I.Tổng quan ngành Dược Việt NamII.Giải bài tập tình huốngCâu 1: I.Tổng quan ngành dược Việt NamThời Bắc thuộc, do đặc điểm địa lý và quan hệ chính trị, nền y dược Việt Nam có sự giao thoa và chịu nhiều ảnh hưởng từ nền y dược Trung Quốc. Qua trao đổi học hỏi những vị thuốc, kinh nghiệm chữa bệnh kết hợp với các loại thảo dược bản địa đặc thù đã tạo nền móng đầu tiên cho mảng Đông dược nói riêng và ngành dược Việt Nam nói chung. Năm 938, thời kì Bắc thuộc kết thúc, ngành y dược Việt Nam tiếp tục phát triển. Từ thời Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Tây Sơn và triều Nguyễn, nền y dược dân độc đã được chú trọng đáng kể. Từ năm 1858, trong thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã đưa Tây y vào nước ta, năm 1902 mở trường đào tạo Dược sĩ Hà Nội, tổ chức một số bệnh viện, bệnh xá ở các tỉnh, thành phố, phủ, huyện. Dưới sức ép của Pháp, nhiều dược sĩ không được phép mở cửa hiệu, viện nghiên cứu khai thác dược liệu trong nước cũng bị chèn ép, mảng Đông dược bị kìm hãm phát triển.

Trang 1

ĐÊ TÀI THẢO LUẬN

Tình huống số 2 “Phân tích ngành dược Việt Nam”

I Tổng quan ngành Dược Việt Nam

II Giải bài tập tình huống

Câu 1:

I Tổng quan ngành dược Việt Nam

Thời Bắc thuộc, do đặc điểm địa lý và quan hệ chính trị, nền y dược Việt Nam

có sự giao thoa và chịu nhiều ảnh hưởng từ nền y dược Trung Quốc Qua traođổi học hỏi những vị thuốc, kinh nghiệm chữa bệnh kết hợp với các loại thảodược bản địa đặc thù đã tạo nền móng đầu tiên cho mảng Đông dược nói riêng

và ngành dược Việt Nam nói chung Năm 938, thời kì Bắc thuộc kết thúc,ngành y dược Việt Nam tiếp tục phát triển Từ thời Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, TâySơn và triều Nguyễn, nền y dược dân độc đã được chú trọng đáng kể Từ năm

1858, trong thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã đưa Tây y vào nước ta, năm

1902 mở trường đào tạo Dược sĩ Hà Nội, tổ chức một số bệnh viện, bệnh xá ởcác tỉnh, thành phố, phủ, huyện Dưới sức ép của Pháp, nhiều dược sĩ khôngđược phép mở cửa hiệu, viện nghiên cứu khai thác dược liệu trong nước cũng

bị chèn ép, mảng Đông dược bị kìm hãm phát triển

- Giai đoạn 1946 – 1954 kháng chiến chống Pháp ngành dược vừa thiếudược sĩ, công nhân, trang thiết bị, vật tư, vừa thiếu kinh nghiệm và tổ chứcquản lí Ngành chủ yếu phát triển theo hướng tự lực cánh sinh, tận dụngmọi nguyên liệu sẵn có từ cây thuốc trong nước Thời kì này, Việt Nam đãsản xuất được thuốc chiến thương, Filatov, ống tiêm, kìm kẹp máu, dao

mổ, kim khâu Cũng ở trong giai đoạn này, tại Thanh Hóa, chính quyền đã

mở các lớp trung cấp dược, ở chiến khu Việt Bắc có viện đại học dược và

mở nhiều lớp dược tá ở các liên khu

Trang 2

- Giai đoạn 1954 – 1975, miền Bắc tiến hành cải tạo ngành dược tự doanh,xây dựng phát triển ngành dược quốc doanh Năm 1965, nhu cầu sử dụngthuốc tăng nhanh, nên hầu hết các xã đều có phong trào trồng và sử dụngcây thuốc nam, hình thành một mạng lưới sản xuất dược hoàn chỉnh từtrung ương đến địa phương để có thể sản xuất thuốc men theo từng vùngtheo hướng tự cung tự cấp Giai đoạn sau 1975, ngành dược phát triển qua

3 giai đoạn chính:

+ Giai đoạn 1 (1975 – 1990): Ngành dược Việt Nam giai đoạn này chủyếu bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, sức sản xuất không đáng kể Mứctiêu thụ bình quân thuốc trên đầu người thời kỳ này đạt vào khoảng 0,5 -1USD/năm Do thuốc trong thời kỳ này khan hiếm nên tiêu chuẩn chấtlượng thuốc trong sử dụng chưa được chú trọng

+ Giai đoạn 2 (1990 – 2005): Các nhà thuốc và các công ty sản xuấtthuốc phát triển rất nhanh, sản phẩm dược đa dạng, phong phú hơn Đặcbiệt sau khi có Nghị quyết Trung ương IV và Quyết định 58 của Thủ tướngchính phủ về công nghiệp dược đã có những bước phát triển đáng kể, đảmbảo phần lớn nhu cầu về thuốc chữa bệnh, khắc phục được tình trạng thiếuthuốc của nhiều năm trước đây Giai đoạn này cũng chứng kiến quá trình

cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp dược quốc doanh theo chủ trương cổ phầnhóa của nhà nước

+ Giai đoạn 3 (từ năm 2005 đến nay): Các công ty dược đẩy mạnh quátrình nâng cấp tiêu chuẩn sản xuất lên GMP-ASEAN  GMP-WHO  PIC/S

 EU-GMP… nhằm thích ứng với yêu cầu về chất lượng ngày càng gia tăng

và phù hợp với quá trình toàn cầu hóa của ngành dược Việt Nam trong quátrình hội nhập với thế giới www.fpts.com.vn 12 NGÀNH DƯỢC PHẨMNgành Dược phẩm B B.2 Trình độ phát triển và định vị trên bản đồ thịtrường dược phẩm thế giới B.2 Theo phân loại và xếp hạng cho ngành côngnghiệp dược: Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO)chia công nghiệp dược theo 5 mức phát triển, Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 3

(WHO) và Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNCTAD)xác định mức độ phát triển công nghiệp dược của các quốc gia theo 4 cấpđộ:

 Cấp độ 1: Nước đó hoàn toàn phải nhập khẩu thuốc

 Cấp độ 2: Sản xuất được một số thuốc generic; đa số thuốc phải nhậpkhẩu

 Cấp độ 3: Có công nghiệp dược nội địa; có sản xuất thuốc generic; xuấtkhẩu được một số dược phẩm

 Cấp độ 4: Sản xuất được nguyên liệu và phát minh thuốc mới

Theo cách đánh giá này, hiện nay công nghiệp dược Việt Nam đang ởgần cấp độ 3 theo thang phân loại của WHO Còn nếu theo thang phân loại

5 mức phát triển của UNIDO thì công nghiệp dược của Việt Nam mới chỉ ởmức 3, nghĩa là “công nghiệp dược nội địa sản xuất đa số thành phẩm từnguyên liệu nhập” Ngành công nghiệp hóa dược của Việt Nam vẫn chưaphát triển do thiếu sự đồng bộ trong quy hoạch, chính sách, công nghiệpphụ trợ…

Vì vậy, tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam chỉ mới có một nhà máysản xuất nguyên liệu kháng sinh bán tổng hợp của Mekophar, sản lượngthiết kế khoảng 200 tấn Amoxicillin và 100 tấn Ampicillin mỗi năm, vàchủ yếu chỉ đủ phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp trước áp lực cạnh tranh

từ nguyên liệu giá rẻ của Trung Quốc và Ấn Độ Về định vị ngành dượcViệt Nam trên bản đồ dược thế giới, theo cách đánh giá phân loại của IMSHealth, Việt Nam thuộc nhóm 17 nước có ngành công nghiệp dược đangphát triển (pharmerging countries) Cách phân loại này dựa trên tiêu chí cốtlõi là tổng tiền thuốc tiêu thụ hàng năm, bên cạnh đó, IMS Health cũng sửdụng các tiêu chí tham khảo khác như mức độ năng động, tiềm năng pháttriển của thị trường và khả năng thay đổi để thích nghi với các biến động vềchính sách quản lý ngành dược tại các quốc gia này Các Quốc gia:Venezuela, Ba Lan, Argentina, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Việt Nam, Nam Phi,

Trang 4

Thái Lan, Indonesia, Rumani, Ai Cập, Pakistan và Ucraina Các quốc gianày ghi nhận tổng tiền thuốc sử dụng từ 1 – 5 tỷ USD trong năm 2013.Trong giai đoạn 2013 – 2018, tốc độ tăng trưởng bình quân chung của cácnước mới nổi có xu hướng chậm lại sau giai đoạn 2008 – 2012 tăng trưởngmạnh, bình quân ở mức 11% - 14% Trong đó, Việt Nam có mức tăngtrưởng cao thứ 2 trong nhóm (17.5%).

Biểu đồ: Tăng trưởng tổng giá trị tiêu thụ thuốc và chi tiêu bình quân đầu người cho dược phẩm

Tổng hợp số liệu thống kê của BMI, IMS Health và Cục Quản lý Dược ViệtNam, FPTS dự phóng mức chi tiêu một số chỉ tiêu tăng trưởng trọng yếu tronggiai đoạn 2014 – 2028 như sau:  Tăng trưởng dân số Việt Nam: Bình quân2%/năm và vượt mốc 120 triệu người vào năm 2028  Tăng trưởng tổng tiền

sử dụng thuốc tại Việt Nam: Bình quân 17%/năm (bao gồm hai yếu tố cốt lõi

là nhu cầu và mức tăng giá thuốc bình quân 8,6% mỗi năm)  Tăng trưởngtổng tiền sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam: 14,3%

II Giải bài tập tình huống

Trang 5

1 Cơ sở lý thuyết

Mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh trong ngành của M.Porter

Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay, đãcung cấp một khung lý thuyết để phân tích Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinhdoanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượngcạnh tranh Các nhà chiến lược đang tìm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ có thể sửdụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạtđộng

Theo Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất

kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau:

(1) Sự cạnh tranh của các DN đang có trong ngành

Nó tuân theo các quy luật sau:

Quyền lực tương ứng của các bên liên quan

Gia nhập tiềm năng

Đe dọa gia nhập mới

Quyền lực thương lượng của người mua

Sự thay thế

Trang 6

– Khi số lượng đông và quy mô tương đương nhau thì áp lực cạnh tranh cao

– Tốc độ tăng trưởng của ngành cao thì áp lực cạnh tranh thấp

– Chi phí cố định và chi phí lưu kho trong ngành cao sẽ tạo áp lực cạnh tranh cao

– Sản phẩm trong ngành không có khác biệt hóa thì áp lực cao vì sẽ cạnh tranh bằng giá– Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp của khách hàng thấp thì áp lực cạnh tranh cao

– Ngành có năng lực sản xuất dư thừa thì áp lực cao

– Khi tính đa dạng chiến lược kinh doanh trong ngành không cao thì áp lực cao

– Rào cản rút lui khỏi ngành cao thì áp lực cao Vì nếu như rào cản rút khỏi ngành dễ thìđối thủ của ta sẽ chuyển sang ngành khác nhanh hơn thay vì trối chết bằng mọi giá đểkhông bị loại bỏ

số lượng lớn đàm phán với các nhà cung cấp cho siêu thị

(3) Sự đe dọa của các sản phẩm thay thế

– Ngành nào có lợi nhuận cao thì mức độ hấp dẫn của ngành càng cao Áp lực từ sảnphẩm thay thế cao

Trang 7

– Ngành nào có nhiều sản phẩm thay thế, đặc biệt sản phẩm thay thế lại rẻ thì áp lực từsản phẩm thay thế cao.

(4) Áp lực của các nhà cung cấp

– Khi số nhà cung cấp ít, sản phẩm thay thế lại không có nhiều thì áp lực từ Nhà cung cấp(NCC) cao Hầu hết các hàng hóa trên thị trường đều cấu thành từ nhiều thành phần từnhiều nhà cung cấp khác nhau

– Khi sản phẩm của NCC có đặc tính khác biệt được khách hàng đánh giá cao thì DNkhó chuyển đổi sản phẩm vì vậy áp lực cao

– Khi số lượng mua của DN chiếm tỷ trọng nhỏ thì áp lực cao Khi lượng mua thấp thìthế đàm phán của DN rất thấp, NCC sẵn sàng hy sinh bạn

– DN chịu chi phí cao thì áp lực từ nhà cung cấp cao vì việc chuyển đổi sản phẩm có thểlàm tăng chi phí

– Khi nhà cung cấp có tham vọng hội nhập về phía trước thì áp lực cao

(5) Nguy cơ thâm nhập của các đối thủ tiềm năng

– Khi quy mô sản xuất trong ngành lớn thì nguy cơ thâm nhập của đối thủ thấp và ngượclại

– Sản phẩm trong ngành có mức độ khác biệt hóa cao thì nguy cơ thâm nhập thấp.Nguyên nhân thông thường là khách hàng có mức độ trung thành cao với các sự khácbiệt Doanh nghiệp rất khó khăn để tìm ra phân khúc của riêng mình khi mà khách hàngđang rất trung thành với các phân khúc của họ

– Đòi hỏi vốn cao khi gia nhập thì nguy cơ thâm nhập thấp và ngược lại

– Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp của khách hàng cao thì áp lực thấp

Trang 8

– Khả năng tiếp cận kênh phân phối khó khăn thì áp lực thấp.

– Bất lợi về chi phí không có liên quan tới quy mô thì áp lực thấp

2 Vận dụng phân tích tình huống

II.1 Sự gia nhập mới

Việc gia nhập ngành của các công ty dược phẩm mới tương đối khó khăn Chiphí nghiên cứu và phát triển cho việc chế tạo ra một loại thuốc mới của các công tysản xuất dược phẩm là rất đáng kể Chính vì dược phẩm là sản phẩm ảnh hưởng trựctiếp đến sức khỏe, tính mạng con người nên phải trải qua quá trình kiểm tra nghiêmngặt của chính phủ, các hãng mới được phép cung cấp các loại dược phẩm này ra thịtrường trong thời gian dài Ở Việt Nam, ngành dược đã có lịch sử hàng ngàn năm,nhưng đến ngày hôm nay ngành dược trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 50% nhucầu thị trường

Ngành dược là một ngành có tiềm năng nhiều hơn thách thức và có khả năng sinhlời rất cao Hơn nữa mức sống của người dân ngày một nâng cao nên nhu cầu chăm

lo sức khỏe cũng được quan tâm hơn Nhận thấy nhiều lợi ích mà ngành dược manglại, nhiều cá nhân, tổ chức rất muốn gia nhập ngành này Nhưng để gia nhập ngànhdược thì gặp phải rất nhiều rào cản Muốn phát triển và cạnh tranh trong ngành đòihỏi doanh nghiệp phải có nguồn vốn vững chắc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công nghệ,

kỹ thuật, và quan trọng nhất là phải có kinh nghiệm chuyên môn sâu sắc

Theo báo mới nhất của Business Monitor Index cho thấy mức tiêu thụ dượcphẩm tại Việt Nam tiếp tục duy trì với tốc độ tăng trưởng ấn tượng 16% vào năm

2013 Giá trị ước tính đạt khoảng 3.3 tỉ USD, hiện tại chi tiêu cho dược phẩm củangười Việt chiếm khoảng 2% GDP Chính tiềm năng phát triển của ngành dược đãbiến lĩnh vực kinh doanh này trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà sản xuất tronglẫn ngoài nước Tuy vậy rào cản cho việc gia nhập ngành của các doanh nghiệp làkhá lớn:

 Quy mô sản xuất lớn: cuối tháng 11/2013 Dược Hậu Giang là công ty dượclớn nhất Việt Nam đã hoàn thành việc xây dựng nhà máy sản xuất dược phẩm mới

Trang 9

Đây là nhà máy hứa hẹn tạo ra năng suất gấp đôi với công suất thiết kế dự kiến lêntới hơn 9 tỉ đơn vị một năm Cùng lúc đó, công ty dược Imexpharm cũng đã xây dựngxong nhà máy thuốc tiêm penicillin mới tại Bình Dương Tính kinh tế của quy môđược thể hiện rõ khi các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất sẽ làm giảm chi phíbình quân trên mỗi sản phẩm sản xuất ra Từ đó tạo nên rào cản về giá cả cho cácdoanh nghiệp có chiến lược gia nhập ngành

 Chuyên biệt hóa sản phẩm: Công ty dược Traphaco tập trung vào nhóm sảnphẩm thuốc mang dáng dấp của thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thiên nhiênvới hai sản phẩm nổi bật là Họat huyết dưỡng não và Boganic 2 sản phẩm trên đãchiếm được lòng tin cũng như đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng tạo ra 1 tậpkhách hàng trung thành rất lớn Do vậy những công ty mới muốn gia nhập phải đầu

tư rất lớn để lôi kéo được lượng khách hàng này

 Hệ thống phân phối rộng khắp: Do chiến lược sản phẩm đánh chủ yếu vàokênh OTC, Dươc Hậu Giang đã tận dụng hiệu quả hệ thống phân phối rộng khắp cảnước trong tiêu thụ sản phẩm Để thực hiện tham vọng thiết lập một mạng lưới phânphối rộng khắp cả nước, Traphaco đã mua lại những công ty thiết bị y tế tại các tỉnhthành trọng điểm như Thái Nguyên, Đắk Lắk, Quảng Trị Đây là điều khá khó khănkhi các công ty mới gia nhập muốn thuyết phục những kênh phân phối sẵn sàng chấpnhận sản phẩm của mình bằng việc giảm giá, khuyến mại, quảng cáo,…

 Chính sách của chính phủ: Cho dù doanh nghiệp cung cấp 50% nhu cầunhưng thị trường nội địa chỉ đáp lại 38% Chính phủ đặt mục tiêu thuốc nội địa đápứng 80% nhu cầu thị trường vào năm 2020 Nhưng với việc kiểm tra khắt khe của bộ

y tế mà nhất là các sản phẩm đông dược có nguồn nguyên liệu chưa theo chuẩn quốc

tế sẽ là rào cản không hề nhỏ cho các doanh nghiệp muốn gia nhập ngành

 Từ trên ta có thể thấy, có rất nhiều những rào cản làm cho việc gia nhập vàongành Dược ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn Do vậy các công ty sẽ cân nhắckhi quyết định đầu tư vào ngành dược, dẫn đến mức độ gia nhập mới là khôngcao làm cho mức độ cạnh tranh của các Công ty đang hoạt động trong ngành

Trang 10

Dược Việt Nam cũng giảm xuống Vì thế, dưới tác động của lực lượng Gia

nhập tiềm năng thì tính hấp dẫn của ngành Dược là thấp.

II.2 Đe dọa từ các sản phẩm thay thế.

Sau khi gia nhập WTO, ngành dược Việt Nam có cơ hội tiếp xúc với nguồn vốndồi dào và trình độ khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới Từ đó nhiều doanhnghiệp đã nắm bắt cơ hội cải tiến cho mình Vì vậy, ngày càng có nhiều các sản phẩm

về thuốc mới xuất hiện thay thế sản phẩm cũ, cải tiến chất lượng và chức năng Sựxuất hiện của sản phẩm thay thế thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêudùng

Trong đó phải kể đến các doanh nghiệp lớn trong thị trường dược Việt Nam nhưDược Hậu Giang, Traphaco, dược Cửu Long, Pharmedic, thì việc đầu tư nghiên cứuphát triển và cải tiến sản phẩm là công việc ưu tiên hàng đầu, bởi nó quyết định sựtồn tại của doanh nghiệp trong ngành

Hiện tại người tiêu dùng quan tâm nhiều đến thực phẩm chức năng như canxi,các loại Vitamin A,B,E, mà quên đi việc cung cấp các thành phần dinh dưỡng nàythông qua các sản phẩm thức ăn và đồ uống Chính vì vậy việc cạnh tranh chỉ mớidiễn ra chủ yếu giữa các đối thủ trong ngành Các doanh nghiệp nhận ra được conđường triển vọng đó nên đã tích cực đầu tư công nghệ tạo ra sản phẩm mới

 Do dược phẩm là một nhu cầu thiết yếu nên rất khó tìm ra một sản phẩm thaythế cho mặt hàng này Do vậy mức độ đe dọa của các sản phẩm thay thế là

thấp làm cho tính hấp dẫn của ngành tăng lên.

II.3 Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp đang có trong ngành

Ngành dược là một trong những ngành có môi trường cạnh tranh nội bộ cao Hiệnnay, cả nước có 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc bao gồm cả tân dược và đôngdược, trong số đó có 100 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược, 78 doanh nghiệpsản xuất thuốc đông dược, ngoài ra có 5 doanh nghiệp sản xuất văccxin, sinh phẩm

y tế Mặc dù là số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng quy mô còn nhỏ (về vốn và nhàxưởng), chủ yếu sản xuất thuốc phổ thông và phân phối

Trang 11

Sau khi gia nhập WTO , cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài càng cao Sốlượng doanh nghiệp ngoài đăng kí kinh doanh tại Việt Nam tăng từ hơn 300 năm

2007 lên gần 500 doanh nghiệp năm 2010 Ngoài ra các doanh nghiệp còn chịu sựcạnh tranh gay gắt từ các công ty dược nước ngoài được thành lập chi nhánh vàthực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu dược phẩm theo lộ trình cam kết mở cửacủa WTO Do vậy, áp lực cạnh tranh sẽ rất lớn

 Tính đến năm 2013, mức tiêu thụ thuốc trên đầu người Việt mới chỉ là 36,79USD/năm.con số này so với Trung Quốc là 63.64 USD và Hàn Quốc là 294.2USD Mức chi tiêu về thuốc theo đầu người tại Việt Nam được dự đoán cóthể tăng hơn gấp đôi vào năm 2015 Tăng trưởng này được thúc đẩy bởi sựphát triển của xã hội và bởi sự mở rộng của hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia.Ngày nay, 65% trên 90 triệu người dân Việt Nam có bảo hiểm y tế Đến năm

2020 , con số này có thể đạt 90% Mức chi tiêu của người dân được kỳ vọng

sẽ tăng trong tương lai Do vậy đây sẽ là một cơ hội cho ngành Dược pháttriển

 Phân khúc thuốc Đông dược: chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị ngànhdược khoảng 0.5%- 1.5% giá trị sản xuất toàn ngành Hiện có khoảng 80doanh nghiệp sản xuất Đông dược trong đó có 5 doanh nghiệp đạt chuẩnGMP-WHO và hơn 400 cơ sở sản xuất nhỏ không có đăng kí Cạnh tranh cao

do có nhiều tương đồng về số mục sản phẩm và giá cả giữa các đơn vị

 Phân khúc sản xuất Tây dược : gồm 100 doanh nghiệp sản xuất Thuốc Tâydược nội đại chủ yếu là thuốc kháng sinh và vitamin , thực phẩm chứcnăng… chiếm 22% và 21% thị phần sản xuất thuốc trong nước Cạnh tranhtrong 2 thị phần này phần lớn là cạnh tranh gián tiếp (do doanh nghiệp ViệtNam chủ yếu sản xuất thuốc đã hết hạn bằng sáng chế) tuy nhiên thuốc nhậpkhẩu còn có ưu thế hơn do tâm lý chuộng thuốc ngoại của người tiêu dùng

 Cạnh tranh với các công ty nước ngoài và các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Có thể thấy áp lực cạnh tranh giữa các công ty trong nước vànước ngoài là khá cao cho dù chính phủ đã có biện pháp khuyến khích Doanh

Trang 12

số các công ty dược phẩm nội địa chiếm gần một nửa nhu cầu về thuốc củaViệt Nam trong năm 2012 Tuy nhiên, gần như tất cả những sản phẩm này làcác thuốc generic giá rẻ Hơn 70% giá trị của thị trường là từ nhập khẩu Tất

cả sản phẩm Dược công nghệ cao tại Việt Nam đều từ nhập khẩu

 Như vậy trong cạnh tranh nội bộ ngành dược , không chỉ có sự cạnh tranhgiữa các công ty nội địa về cùng một loại sản phẩm mà còn có sự cạnh tranhgiữa Đông dược và Tây dược và khó khăn hơn cả là sự cạnh tranh với sự ngàycàng lớn mạnh của các công ty dược có vốn đầu tư nước ngoài Chính điều

đó đã làm cho môi trường cạnh tranh trong ngành dược ngày càng gay

gắt Do vậy sức hấp dẫn của ngành dược khi chịu tác động của các đối thủ

cạnh tranh trong ngành là kém hấp dẫn.

2.4 Quyền lực thương lượng của các nhà cung ứng và của khách hàng

Mối quan hệ của khách hàng và nhà cung ứng trong ngành dược của Việt Nam ảnhhưởng đến việc tăng (giảm) giá thành và do đó làm giảm (tăng) khối lượng sản phẩmđược cung ứng (tiêu thụ) Khi các doanh nghiệp trong ngành dược có quyền lực trong cácđiều khoản giao dịch, họ sẽ kiếm được lợi nhuận lớn hơn Còn khi trong ngành dược cónhiều nhà cung ứng và ít khách hàng, khách hàng thường có lợi hơn

Trong thị trường dược Việt Nam, quyền lực thương lượng phụ thuộc vào các yếutố:

- Mức độ tập trung:

Ngành dược Việt Nam hiện có khoản 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc, trong đó

có 100 công ty sản xuất tân dược và 78 doanh nghiệp sản xuất Đông dược, ngoài ra cònkhoảng 300 cơ sở sản xuất Đông dược và thực phẩm chức năng nhỏ lẻ Đi đầu phải kểđến 13 công ty dược phẩm đang ,niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Đó là:Dược Hậu Giang, Imexpharm, Domesco, Dược Cửu Long,Pharmedic, S.P.M, Traphaco,Dược OPC và Dược Phong Phú, cùng với 4 doanh nghiệp chuyên phân phối là

Trang 13

Vimedimex, Ladopharm, Dược Hà Tây và Dược Bến Tre Bên cạnh đó còn có nhómdoanh nghiệp vốn nước ngoài tiêu biểu như Sanofi Aventis hay United Pharma.

Trong các doanh nghiệp kể trên, những doanh nghiệp chiếm được thị phần lớn trênthị trường dược Việt Nam có thể kể đến hai cái tên lớn: Dược Hậu Giang và Traphaco.Ngoài ra Domesco cũng được xem là một nhà cung ứng tiềm năng khi cho thấy sự cảithiện trong hiệu quả hoạt động và quản trị chi phí

 Dược Hậu Giang: là DN đầu ngành xét cả về quy mô vốn hóa lẫn khả năngsinh lời Trong suốt 5 năm qua, bình quân Dược Hậu Giang thu được 1 đồnglợi nhuận trên mỗi 2 đồng doanh thu, nếu chưa trừ chi phí hoạt động Biên lợinhuận ròng nằm trong nhóm cao nhất ngành (từ 18-20%), tỷ suất ROE (lợinhuận trên vốn chủ sở hữu) liên tục đạt trên 30%

 Traphaco: là công ty Dược lớn thứ 2 trên thị trường hiện nay với doanh thuđạt gần 1.700 tỷ đồng năm 2012 Tốc độ tăng trưởng bình quân lợi nhuậntrong 5 năm qua khoảng 10%, biên lợi nhuận ròng sau thuế cũng khoảng10% Mức ROE khoảng 26%

 Domesco: là tập đoàn Dược phẩm nước ngoài nắm gần 46% sở hữu Chỉ sốROE khoảng 18% Lợi nhuận sau thuế cũng có mức tăng ấn tượng 20%.Với mức độ tập trung của ngành dược Việt Nam thì các doanh nghiệp như DượcHậu Giang, Traphaco hay Domestic chiếm lĩnh 1 thị phần lớn sẽ có quyền lực thươnglượng mạnh và khả năng tạo áp lực lên các doanh nghiệp khác lớn

- Đặc điểm hàng hóa,dịch vụ:

Giá trị của hàng hóa, dịch vụ phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các bộ phậnđược mua từ các nhà cung ứng Đặc biệt là với sản phẩm đòi hỏi sự an toàn, chất lượngtốt và sử dụng mang lại hiệu quả như thuốc hay các thực phẩm chức năng thì nhữngdoanh nghiệp đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường sẽ có quyền lực thương lượng cao

Ngày đăng: 05/12/2016, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w