Hoàn thiện công tác trả lương tại công ty giấy Việt Nam Lý do chọn đề tài. Tiền lương là một vấn đề lớn rất được sự quan tâm của xã hội và nó có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Nó tác động lớn đến việc phát triển. ổn định nền kinh tế và cải thiện đời sống, văn hóa xã hội. Do đó dưới mọi hình thái kinh tế xã hội, tiền lương và việc áp dụng các hình thức trả lương là một nhân tố quan trọng quyết định sự hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp. Nếu hình thức trả lương hợp lý sẽ tạo động lực cho người lao động, tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật liệu, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ngược lại hình thức trả lương không hợp lý sẽ khiến họ không thoã mãn về tiền lương họ nhận được. Từ đó họ sẽ không còn động lực cho công việc dẫn đến tổn thất chi phí, tạo ra những lãng phí không cần thiết gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh. Hình thức trả lương theo sản phẩm và hình thức trả lương theo thời gian đang được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp ở nước ta. Tuy vậy các hình thức trả lương luôn phải luôn kèm theo một só điều kiện nhất định phù hợp với từng doanh nghiệp để có thể trả lương một cách hợp lý, đúng đắn và có hiệu quả. Vì vậy chúng ta cần phải hoàn thiện các hình thức đó thì mới phát huy tác dụng của tiền lương, nếu không sẽ tác dụng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh, phát sinh mâu thuẫn về lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, làm suy giảm động lực lao động và sự sáng tạo của họ. Do đó vấn đề đặt ra là phải lựa chọn một hình thức trả lương hợp lý, trả lương lao động đúng công sức họ bỏ ra, lại vừa đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất phát từ vai trò to lớn của tiền lương, do đó sau một thời gian thực tập tại Tổng công ty Giấy Việt Nam em đã nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác trả lương tại Tổng công ty Giấy Việt Nam” đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả lương của Tổng công ty Giấy Việt Nam. • Mục đích nghiên cứu: Khi Tổng công ty lựa chọn hình thức trả lương hợp lý có thể tiết kiệm được chi phí tiền lương nhưng vẫn kích thích được người lao động, một khi tiền lương được trả hợp lý nó sẽ tạo động lực cho người lao động làm việc tốt hơn, năng suất lao động do người đó tạo ra sẽ được nâng cao, từ đó Tổng công ty sẽ càng phát triển vững mạnh. Vì vậy không ngừng hoàn thiện công tác trả lương là yêu cầu khách quan đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và của Tổng công ty nói chung Với nhận thức đó đề tài: Hoàn thiện công tác trả lương tại Tổng công ty Giấy Việt Nam nhằm mục đích sau: Về lý thuyết: Hệ thống hoá kiến thức về tiền lương. Về thực tiễn: áp dụng lý thuyết phân tích, đánh giá công tác trả lương của Tổng công ty Giấy Việt Nam đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả lương tại Tổng công ty. • Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Công tác trả lương tại Tổng công ty Giấy Việt Nam. Về không gian: tại Tổng công ty Giấy Việt Nam. • Phương pháp nghiên cứu: + Sử dụng các phương pháp như thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp. + Sử dụng phương pháp thu thập thông tin thứ cấp như: sử dụng tài liệu, sách tham khảo, các báo cáo về vấn đề tuyển dụng. • Kết cấu đề tài: gồm 3 chương chính CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận về công tác trả lương CHƯƠNG II: Phân tích thực trạng công tác tiền lương tại tổng công ty Giấy Việt Nam. CHƯƠNG III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả lương của tổng công ty Giấy Việt Nam. ... KẾT LUẬN
Trang 1LỜI CAM ĐOAN Tên em là : Nguyễn Mạnh Đạt
Mã SV: CQ 500500
Lớp : Kinh tế lao động
Khóa : 50
Khoa : Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực.
Em xin cam đoan toàn bộ nội dung và số liệu em dùng để thực hiện chuyên đề này là do em thu thập, không có hiện tượng sao chép từ các chuyên đề nào khác ngoài các tài liệu tham khảo đã được ghi trong phần “Danh mục tài liệu tham khảo” Nếu nhà trường phát hiện ra chuyên đề của em có sự sao chép từ các chuyên đề nào khác em xin chịu hoàn toàn mọi hình thức kỉ luật mà nhà trường quy định.
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực tập
Nguyễn Mạnh Đạt
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG 9
1.1 Khái niệm về tiền lương 9
1.2 Bản chất của tiền lương 10
1.3 Chức năng của tiền lương 11
1.3.1 Chức năng đòn bẩy cho doanh nghiệp: 11
1.3.2 Chức năng kích thích người lao động tăng năng suất lao động: 12
1.3.3 Chức năng tái sản xuất lao động: 12
1.4 Những nguyên tắc chung nhất của công tác tiền lương 12
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền công lao động 13
1.6 Các chế độ tiền lương của nhà nước áp dụng cho các doanh nghiệp 13
1.6.1 Chế độ tiền lương theo cấp bậc 13
1.6.2 Chế độ lương chức danh 14
1.6.3 Chế độ tiền lương chuyên môn nghiệp vụ 14
1.7 Quỹ tiền lương của doanh nghiệp 15
1.7.1 Khái niệm về quỹ tiền lương 15
1.7.2 Lập kế hoạch quỹ lương trong doanh nghiệp: 16
1.7.3 Lập kế hoạch quỹ lương trong các cơ quan và sự nghiệp hành chính 17
1.8 Các phương pháp xác định đơn giá tiền lương 17
1.8.1 Đơn giá tiền lương tính trên đơn vị sản phẩm 17
1.8.2 Đơn giá tiền lương tính trên doanh thu 18
1.8.3 Đơn giá tiền lương tính trên hiệu số giữa doanh thu và chi phí không kể lương 18
1.8.4 Đơn giá tiền lương tính trên lợi nhuận 18
Trang 31.9 Các hình thức trả lương 19
1.9.1 Hình thức trả lương theo thời gian 19
1.9.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm 19
1.9.3 Hình thức trả lương khoán 22
1.9.4 Hình thức trả lương theo sản phẩm lũy tiến 22
1.9.5 Hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng 23
1.10 Tiền thưởng 24
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG TẠI TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM 26
2.1 Khái quát về tổng công ty Giấy Việt Nam 26
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triền của tổng công ty Giấy Việt Nam 26
2.1.2 Mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của Tổng công ty 28
2.1.2.1 Mục tiêu: 28
2.1.2.2 Chức năng của Tổng công ty 29
2.1.2.3 Nhiệm vụ kinh doanh chính của Tổng công ty: 29
2.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty 30
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của tổng công ty 32
2.2 Tình hình lao động và sử dụng lao động 36
2.2.1 Cơ cấu và chất lượng đội ngũ lao động của tổng công ty 36
2.2.2 Tình hình sử dụng thời gian lao động 39
2.3 Phân tích thực trạng công tác trả lương tại tổng công ty Giấy Việt Nam 40
2.3.1 Nội dung quy chế trả lương tại tổng công ty Giấy Việt Nam 40
2.3.2 Công tác xây dựng tổng quỹ lương tại tổng công ty 41
2.3.3 Phương pháp phân phối tiền lương tại tổng công ty 43
2.3.3.1 Phân phối trả lương khối gián tiếp 44
2.3.3.2 Phân phối và trả lương cho khối trực tiếp sản xuất 46
Trang 42.3.4 Các khoản trích thưởng theo lương tại tổng công ty 50
2.3.4.1 Các hình thức tiền thưởng 50
2.3.4.2 Mức trích thưởng và nguồn tiền thưởng của tổng công ty 51
2.3.4.3 Đối tượng và tiêu chuẩn xét thưởng 52
2.4 Nhận xét chung về công tác tiền lương của tổng công ty 52
2.4.1 Hiệu quả đạt được 52
2.4.2 Những hạn chế 53
CHƯƠNG III: 55
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG CỦA TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM 55
3.1 Phương hướng phát triển chung của Tổng công ty: 55
3.2 Hoàn thiện hình thức trả lương theo thời gian 56
3.2.1 Mục tiêu của giải pháp 56
3.2.2 Nội dung của giải pháp 56
3.3 Hoàn thiện hình thức trả lương theo sản phẩm 57
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống định mức lao động: 57
3.3.2 Hoàn thiện công thức tính lương cho từng công nhân trực tiếp sản xuất: 58
3.4 Một số biện pháp khác 60
3.4.1 Hoàn thiện công tác tổ chức nơi làm việc 60
3.4.2 Hoàn thiện công tác kiểm tra đánh giá 61
3.4.3 Tổ chức chỉ đạo sản xuất 61
3.4.4 Giáo dục ý thức trách nghiệm cho người lao động 62
3.4.5 Đào tạo nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên 62
3.4.6 Kỷ luật lao động 63
3.4.7 Hoàn thiện hình thức trả thưởng và phụ cấp cho người lao động 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức của công ty mẹ - Tổng công ty Giấy 33
Trang 6DT SX: Doanh thu sản xuất
NSLĐ : Năng suất lao động
BQ: Bình quân
TLBQ: Tiền lương bình quân
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài.
Tiền lương là một vấn đề lớn rất được sự quan tâm của xã hội và nó có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Nó tác động lớn đến việc phát triển ổn định nền kinh tế và cải thiện đời sống, văn hóa xã hội Do đó dưới mọi hình thái kinh tế xã hội, tiền lương và việc áp dụng các hình thức trả lương là một nhân tố quan trọng quyết định
sự hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp Nếu hình thức trả lương hợp lý sẽ tạo động lực cho người lao động, tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật liệu, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngược lại hình thức trả lương không hợp lý sẽ khiến họ không thoã mãn về tiền lương họ nhận được Từ đó họ sẽ không còn động lực cho công việc dẫn đến tổn thất chi phí, tạo ra những lãng phí không cần thiết gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh
Hình thức trả lương theo sản phẩm và hình thức trả lương theo thời gian đang được
áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp ở nước ta Tuy vậy các hình thức trả lương luôn phải luôn kèm theo một só điều kiện nhất định phù hợp với từng doanh nghiệp để
có thể trả lương một cách hợp lý, đúng đắn và có hiệu quả Vì vậy chúng ta cần phải hoàn thiện các hình thức đó thì mới phát huy tác dụng của tiền lương, nếu không sẽ tác dụng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh, phát sinh mâu thuẫn về lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, làm suy giảm động lực lao động và sự sáng tạo của
họ Do đó vấn đề đặt ra là phải lựa chọn một hình thức trả lương hợp lý, trả lương lao động đúng công sức họ bỏ ra, lại vừa đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Xuất phát từ vai trò to lớn của tiền lương, do đó sau một thời gian thực tập tại
Tổng công ty Giấy Việt Nam em đã nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác trả lương tại Tổng công ty Giấy Việt Nam” đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả
lương của Tổng công ty Giấy Việt Nam
• Mục đích nghiên cứu: Khi Tổng công ty lựa chọn hình thức trả lương
hợp lý có thể tiết kiệm được chi phí tiền lương nhưng vẫn kích thích được người lao động, một khi tiền lương được trả hợp lý nó sẽ tạo động lực cho người lao động làm việc tốt hơn, năng suất lao động do người đó tạo ra sẽ được nâng cao, từ đó Tổng công
ty sẽ càng phát triển vững mạnh Vì vậy không ngừng hoàn thiện công tác trả lương là
Trang 8yêu cầu khách quan đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và của Tổng công ty nói chungVới nhận thức đó đề tài: Hoàn thiện công tác trả lương tại Tổng công ty Giấy Việt Nam nhằm mục đích sau:
− Về lý thuyết: Hệ thống hoá kiến thức về tiền lương
− Về thực tiễn: áp dụng lý thuyết phân tích, đánh giá công tác trả lương của Tổng công ty Giấy Việt Nam đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả lương tại Tổng công ty
• Phạm vi nghiên cứu
− Về nội dung: Công tác trả lương tại Tổng công ty Giấy Việt Nam
− Về không gian: tại Tổng công ty Giấy Việt Nam
• Phương pháp nghiên cứu:
+ Sử dụng các phương pháp như thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp
+ Sử dụng phương pháp thu thập thông tin thứ cấp như: sử dụng tài liệu, sách tham khảo, các báo cáo về vấn đề tuyển dụng
• Kết cấu đề tài: gồm 3 chương chính
CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận về công tác trả lương
CHƯƠNG II: Phân tích thực trạng công tác tiền lương tại tổng công ty Giấy Việt Nam.
CHƯƠNG III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả lương của tổng công ty Giấy Việt Nam.
Trang 9CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG
1.1 Khái niệm về tiền lương
Qua các thời kỳ lịch sử và sự phát triển của khoa học, kinh tế khái niệm tiền lương cũng được quan niệm theo nhiều cách khác nhau
Trong nền kinh tế thị trường sức lao động được xem như là một thứ hàng hoá đặc biệt và tiền lương chính là giá cả của sức lao động, là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động tuân theo các quy luật của cơ chế thị trường
Chính vì tiền lương là giá cả của sức lao động nên tiền lương trong nền kinh tế thị trường cũng tuân theo các quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu và
và đặc biệt tiền lương còn tuân theo các quy định của luật pháp Nhưng quyết định nhất vẫn phải là “quy luật phân phối theo lao động”
Ở một số nước tiền lương còn dùng để chỉ mọi khoản thu nhập của người lao động Như Nhật Bản hay Đài loan, tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà công nhân nhận được
do việc làm; nó đều là khoản tiền mà người sử dụng lao động chi trả cho người lao động
dù là tiền lương, tiền thưởng, lương bổng, phụ cấp có tính chất lương, tiền chia lãi, chia
cổ phần hay lợi tức hoặc dưới dạng những tên gọi khác nhau
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) tiền lương là: “sự trả công hoặc thu nhập; bất luận dùng danh nghĩa như thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện” Các khái niệm trên đều mang một nội dung tiền lương là yếu tố chi phí đối với người sử dụng lao động và là thu nhập đối với người lao động.Với việc áp dụng quản trị nhân lực vào hệ thống chi trả tiền lương thì bản chất của tiền lương có phần đã thay đổi, đã có những thay đổi cơ bản về quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận, được trả theo năng suất lao động, hiệu quả và chất lượng công việc
Đối với khái niệm: “Tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được
từ người sử dụng lao động của họ thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải cho xã hội.” Theo khái niệm
Trang 10này thì tiền lương không chỉ đơn thuần là giá cả sức lao động, nó đã chỉ ra rõ mối quan
hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động đã thay đổi chuyển từ hình thức bóc lột mua hàng hoá sang quan hệ hợp tác song phương hai bên cùng có lợi Tiền lương không những chịu sự chi phối của các quy luật của cơ chế thị trường hay luật pháp quốc gia mà còn được phân phối theo chất lượng, hiệu quả công việc và theo năng suất lao động
1.2 Bản chất của tiền lương
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa thì tiền lương là một bộ phận của thu nhập quốc dân được Nhà nước phân phối cho người lao động vì thế tiền lương chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: trình độ phát triển sản xuất, chính sách của Nhà nước thực hiện các nhiệm
vụ kinh tế chính trị, quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng trong thời kỳ đó Như vậy tiền lương của người lao động còn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội của Đất nước Một nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nghèo nàn, lạc hậu, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, các phương tiện hỗ trợ sản xuất kinh doanh còn thiếu thốn thì tiền lương chưa thể nào mà cao được Lúc đó thu nhập quốc dân cũng chưa đủ để đáp nhu cầu cao về tiền lương của toàn xã hội Thu nhập quốc dân phụ thuộc vào năng suất lao động bình quân của khối sản xuất vật chất và số lượng lao động trong khu vực sản xuất vật chất đó Chính dó đó tiền lương chỉ được tăng lên khi năng suất lao động bình quân của khối sản xuất vật chất tăng lên và số lượng lao động trong khu vực sản xuất vật chất tăng lên.Theo quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin tiền lương là : “Một phần thu nhập quốc dân biểu hiện bằng tiền mà người lao động nhận được để bù đắp cho lao động đã bỏ ra tuỳ theo số lượng và chất lượng của người lao động đó” Vì người lao động trong quá trình tham gia sản xuất phải hao phí một lượng sức lao động nhất định và sau đó phải được bù đắp bằng việc sử dụng tư liệu tiêu dùng Do đó tiền lương là một phần giá trị mới sáng tạo ra được phân phối cho người lao động để tái sản xuất sức lao động của mình
Theo quan điểm đổi mới hiện nay, tiền lương ở nước ta đã được coi là giá cả sức lao động, coi sức lao động là hàng hoá là một bước tiến quan trọng trong nhận thức về tiền lương của Đảng và Nhà nước ta và cũng hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của tình hình đất nước Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở những bước đầu tiên, nền kinh tế còn tồn tại nhiều chế độ sở hữu khác nhau, do đó tiền lương hay tiền công vẫn
Trang 11còn tồn tại dưới những hình thức khác nhau cùng với bản chất khác nhau Trong thành phần kinh tế tư bản tư nhân dựa trên chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động làm thuê thì tiền công là giá cả sức lao động và quan hệ lao động ở đây là quan hệ chủ thợ Trong thành phần kinh tế quốc doanh về mặt sở hữu tập thể mà Nhà nước là người đại diện đứng ra quản lý trong các doanh nghiệp quốc doanh thì quyền sử dụng lao động và quản lý lao động giao cho người lãnh đạo, mặt khác người lao động được tự
do hoàn toàn về thân thể Vì vậy, sức lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh cũng
đã có thể coi là hàng hoá, nghĩa là tiền lương và giá cả sức lao động Tiền lương ở khu vực này Nhà nước tác động thông qua hệ thống thang bảng lương Các doanh nghiệp quốc doanh đại diện cho Nhà nước là người sử dụng lao động tiến hành bố trí lao động cho phù hợp với khả năng và yêu cầu của người lao động trên cơ sở đó phân phối kết quả sản xuất Việc trả lương không chỉ căn cứ vào hợp đồng lao động mà còn căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh Từ đó các doanh nghiệp nhà nước điều chỉnh lương một các phù hợp cho mỗi cá nhân trong tổ chức
1.3 Chức năng của tiền lương
1.3.1 Chức năng đòn bẩy cho doanh nghiệp:
Tiền lương là một phần quan trọng trong việc tạo động lực kích thích năng lực sáng tạo dẫn tới tăng năng suất lao động hiệu quả nhất Tiền lương gắn liền với quyền lợi của mỗi lao động, nó không chỉ thoả mãn nhu cầu về mặt vật chất đối với người lao động
mà còn có ý nghĩa to lớn về mặt tinh thần, nó định vị thế, tầm ảnh hưởng của người lao động trong doanh nghiệp Chính vì vậy khi công tác trả lương của doanh nghiệp công bằng, tiền lương nhận được thoả đáng, thì tất yếu nó sẽ tạo ra động lực tăng năng suất lao động cho người lao động, từ đó lợi nhuận, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tăng lên Khi doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao thì nguồn phúc lợi trong doanh nghiệp dành cho người lao động vì thế cũng sẽ nhiều hơn, nó là phần bổ sung vào tiền lương làm tăng lợi ích và thu nhập cho người lao động và gia đình họ Tạo ra động lực lao động, tăng năng suất lao động, tăng khả năng gắn kết làm việc, giảm chi phí sản xuất, tạo nên mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động theo chiều hướng tích cực đưa sự phát triển của doanh nghiệp lên hàng đầu
Trang 121.3.2 Chức năng kích thích người lao động tăng năng suất lao động:
Kích thích người lao động tăng năng suất lao động là yêu cầu phải được đảm bảo khi xây dựng các hình thức trả lương phải và đồng thời nó cũng chính là chức năng của tiền lương Thu nhập chính là động lực cao nhất đối với người lao động trong công việc
vì vậy chỉ có tiền lương mới đảm nhiệm chức năng này để có thể khuyến khích tăng năng suất lao động Khi mà ngày nay hình thức quản trị nhân lực được áp dụng phổ biến thì tiền lương càng phát huy được hết chức năng của mình tạo ra động lực tăng năng suất lao động
1.3.3 Chức năng tái sản xuất lao động:
Người lao động trong quá trình tham gia sản xuất phải hao phí một lượng sức lao động nhất định và sau đó phải được bù đắp Tiền lương là thu nhập chính của người lao động, nó bù đắp cho những hao phí lao động và người lao động bỏ ra, nó ảnh hưởng tới chính bản thân người lao động và gia đình họ vì vậy tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động và nâng cao chất lượng lao động Nếu thực hiện tốt chức năng này của tiền lương sẽ giúp doanh nghiệp có nguồn lao động ổn định đạt năng suất cao và hiệu quả
1.4 Những nguyên tắc chung nhất của công tác tiền lương
Nguyên tắc 1: Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau trong doanh nghiệp:
Đây là nguyên tắc đảm bảo sự công bằng, tránh sự bất bình đẳng trong công tác trả lương Người lao động sẽ được hưởng thành quả lao động đúng với những gì mình bỏ
ra Nguyên tắc này phải được thể hiện trong các bảng lương, thang lương và các hình thức trả lương trong doanh nghiệp
Nguyên tắc 2: Phân phối theo số lượng và chất lượng lao động:
Nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động đòi hỏi doanh nghiệp tránh tình trạng xây dựng các hình thức lương phân phối bình quân, vì như thế sẽ tạo ra
sự ỷ lại và sức ỳ của người lao động trong doanh nghiệp dẫn đến hiệu quả không cao trong sản xuất kinh doanh
Nguyên tắc 3: Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân:
Trang 13Thể hiện lên hiệu quả trong sử dụng chi phí của doanh nghiệp, trong doanh nghiệp tiền lương là yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh; nguyên tắc này đảm bảo cho doanh nghiệp có hiệu quả trong công tác sử dụng tiền lương làm đòn bẩy.
Nguyên tắc 4: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động trong các điều kiện khác nhau.
Người lao động có đặc thù nghề nghiệp khác nhau vì vậy sẽ đựơc nhận thù lao lao động khác Xây dựng tổ chức thực hiện công tác tiền lương công bằng, hợp lý trong doanh nghiệp Từ đó sẽ giúp cho công nhân yên tâm trong sản xuất trong những điều kiện làm việc khó khăn, môi trường độc hại
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền công lao động
Các nhân tố ảnh hưởng tới việc trả lương rất đa dạng và phong phú
Thứ nhất là bản thân công việc: tuỳ thuộc vào độ phức tạp của vị trí đảm nhiệm Thứ hai là bản thân người lao động: khả năng hiện tại như kiến thức, tay nghề
Những tiềm năng cá nhân trong tương lai Thâm niên và mức độ trung thành với doanh nghiệp Mức độ hoàn thành công việc
Thứ ba là doanh nghiệp: khả năng tài chính của doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh
Các chính sách tiền lương trong từng giai đoạn Văn hoá của doanh nghiệp… tất cả đều ảnh hưởng tới tiền công lao động
Thứ tư là xã hội và thị trường lao động: sự phát triển của nền kinh tế, các chi phí
sinh hoạt Luật lao động và mức lương tối thiểu, lương trung bình trên thị trường lao động
1.6 Các chế độ tiền lương của nhà nước áp dụng cho các doanh nghiệp
1.6.1 Chế độ tiền lương theo cấp bậc
Trả lương theo cấp bậc là trả lương cho người lao động thông qua trình độ tay nghề của người lao động, chất lượng công việc thể hiện mức độ phức tạp của công việc Nhà nước ban hành tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật trong đó xác định độ phức tạp của công việc và trình
độ tay nghề của công nhân từ đó các doanh nghiệp dựa trên tiêu chuẩn kỹ thuật xác định độ phức tạp của công việc đơn vị mình mà xắp xếp bậc, công việc và trả lương cho người lao động một cách hợp lý nhất
Trang 14Thang bảng lương xác định quan hệ về tiền lương giữa công nhân cùng nghề hoặc nhóm nghề giống nhau theo cấp bậc của họ Mỗi bảng lương gồm một số hệ số lương và bậc lương tương ứng, hệ số lương biểu thị mức độ phức tạp giữa bậc lương công việc do lao động đơn giản nhất:
Mức lương = Hệ số lương * Mức lương tối thiểu
Mức lương tối thiểu sẽ do nhà nước quy định, các doanh nghiệp từ đó áp dụng cho phù hợp với doanh nghiệp mình
1.6.2 Chế độ lương chức danh
Là hình thức trả lương cho người lao động dựa trên chất lượng lao động của các loại hình viên chức khác nhau, là cơ sở để trả lương phù hợp với trình độ chuyên môn và chức danh công việc của người lao động
HIện nay trong phạm vi xã hội chế độ tiền lương chức danh được áp dụng cho một số chức danh lãnh đạo chủ chốt ở trung ương ; áp dụng cho thành viên chuyên trách hội đồng quản trị, tổn giám đốc, giám đốc, phó tổng giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng trong khu vực sản xuất kinh doanh
Bảng lương chức danh: là bảng quy định các mức lương cho từng chức danh công tác bao gồm: hệ số bảng lương chức danh, chức vụ công tác, số bậc của bảng lương
Mức lương chức danh: là số tiền lương do Nhà nước quy định để trả lương cho cán bộ công nhân viên theo chức danh công tác trong dơn vị Mức lương chức danh được tính như sau
1.6.3 Chế độ tiền lương chuyên môn nghiệp vụ
Cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước được xếp theo nghạch từ C (C1, C2, C3) đến A (A0, A1, A2 và A3) và hưởng lương theo ngạch công chức Trong đó cán bộ, công chức ngạch A0 có trình độ cao đẳng, A1 tốt nghiệp đại học, A2 có trình độ chuyên môn
Trang 15chuyên viên chính và A3 có trình độ chuyên viên cao cấp Cán bộ công chức không chỉ hưởng lương theo ngạch mà còn theo bậc.
Trong các công ty nhà nước viên chức chuyên môn nghiệp vụ được trả lương theo chức danh (cán sự, chuyên viên, kĩ thuật viên, kỹ sư, kinh tế viên chính, kinh tế viên, chuyên viên chính, kỹ sư chính và chuyên viên cao cấp, kỹ sư cao cấp, kinh tế viên cao cấp) và theo bậc (thâm niên công tác)
Nhân viên thừa hành, phục vụ trong các cơ quan doanh nghiệp là những người khôn qua đào tạo hoặc đào tạo có trình độ sơ cấp Hiện nay, các cơ quan nhà nước và các đơn
vị sự nghiệp thuộc nhà nước đối tượng trên được phân làm 5 nhóm là nhân viên văn thư, nhân viên đánh máy, nhân viên kỹ thuật, lái xe cơ quan và kỹ thuật viên đánh máy, nhân viên bảo vệ, nhân viên phục vụ
1.7 Quỹ tiền lương của doanh nghiệp
1.7.1 Khái niệm về quỹ tiền lương
Quỹ tiền lương: là tổng số tiền dùng để trả lương cho người lao động thuộc cơ quan, doanh nghiệp quản lý trong một thời kì nhất định Quỹ tiền lườn có thể có nhieeuf khoản như lương sản phẩm, lương thời gian, tiền thưởng sản xuất, phụ cấp
• Căn cứ vào mức độ ổn định của các bộ phận trong quỹ lương người ta chia ra thành
Quỹ lương cố định là quỹ lương được tính dựa vào hệ thống thang bẳng lương
Quỹ lương biến đổi bao gồm các khoản phụ cấp và tiền thưởng
• Căn cứ vào đối tượng trả lương:
Quỹ lương của lao động trực tiếp
Quỹ lương của lao động gián tiếp
• Căn cứ vào nhóm các bộ phận hình thành
Quỹ lương cấp bậc: căn cứ vào số lượng người lao động và các cấp bậc tương ứngQuỹ lương cơ bản: gồm quỹ lương cấp bậc cộng với các khoản phụ cấp có tính chất lương
• Căn cứ vào đơn vị thời gian: quỹ lương giờ, quỹ lương ngày, quỹ lương tháng, quỹ lương năm
• Căn cứ vào sự hình thành và sử dụng của quỹ lương
Trang 16Quỹ lương kế hoạch : Tổng số tiền dự tính trả lương cho công nhân, viên chức.
Quỹ lương thực hiện: Tổng số tiền thực tế đã chi
• Căn cứ vào loại hình và phạm vị hoạt động của tổ chức
1.7.2 Lập kế hoạch quỹ lương trong doanh nghiệp:
• Phương pháp dựa vào tổng thu trừ tổng chi
Công thức tính quỹ lương kế hoạch:
QLKH = DTKH - CFKH
Trong đó:
QLKH: Quỹ lương kế hoạch
DTKH: Doanh thu kế hoạch (tổng số tiền dự tính thu được sau khi bán hàng)
CFKH: Tổng chi phí kế hoạch (bao gồm chi phí vật chất liên quan)
• Phương pháp dựa vào mức lương thịnh hành trên thị trường lao động
Đây là phương pháp gắn chặt với thị trường, nhất là thị trường lao động Do đó các
là lập kế hoạch quỹ lương phải tìm hiểu nắm chắc giá cả thị trường đối với các loại lao động mà cơ quan doanh nghiệp sẽ sử dụng từ đó tính số lao động và số tiền cần thiết để trả cho người lao động theo giá cả thị trường
• Phương pháp dựa vào đơn giá tiền lương cho một đơn vị hàng hóa tiêu thụ
Quỹ lương kế hoạch được xác định theo các bước sau:
Bước 1: Xác định chi phí tiền lương cho một đơn vị hàng hóa tiêu thụ kì báo cáo:
M0 = Trong đó:
M0: Mức chi phí tiền lương cho một đơn vị hàng hóa tiêu thụ kỳ báo cáo
QL0: Quỹ lương thực tế chi trả kỳ báo cáo
Q0: Tổng doanh thu kỳ báo cáo
Bước 2: Xác định mức chi phí tiền lương kỳ kế hoạch:
M1 = M0 * Trong đó:
M1: Mức chi phí tiền lương kì kế hoạch
Itl, Iw : Chỉ số chi phí tiền lương bình quân và năng suất lao động kì kế hoạch.Bước 3: Xác định quỹ lương kỳ kế hoạch:
QL1 = M1 * Q1
Trang 17Trong đó:
QL1: Quỹ lương kỳ kế hoạch
Q1: Tổng doanh thu kỳ kế hoạch
1.7.3 Lập kế hoạch quỹ lương trong các cơ quan và sự nghiệp hành chính
Khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp với những hoạt động tương đối gióng nhau và khác biệt với khu vực sản xuất kinh doanh
Quỹ lương của cơ quan, đơn vị được xác định như sau:
x
Hệ số điều chỉnh
x
Hệ số cấp bậc bình quân và
hệ số phụ cấp lương bình quân
x
Biên chế
và lao động hợp đồng từ 1 năm trở lên
1.8 Các phương pháp xác định đơn giá tiền lương
1.8.1 Đơn giá tiền lương tính trên đơn vị sản phẩm
Ta có :
VĐG = VG * MSP
VĐG : Đơn giá tiền lương
MSP : Mức lao động của 1 đơn vị sản phẩm
VG : Tiền lương được tính trên cơ sở cấp bậc công việc bình quân và mức lương tối thiểu của doanh nghiệp
Nhận xét:
Phương pháp tính đơn giá tiền lương này có ưu điểm là gắn chi phí tiền lương của doanh nghiệp với hiệu suất sử dụng lao động qua đó phản ánh chính xác chi phí về sức lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm Tuy nhiên phương pháp là chỉ tính được đơn giá này trong điều kiện chỉ sản xuất một loại sản phẩm dịch vụ, hoặc những sản phẩm dịch vụ khác nhau nhưng có thể quy về một loại sản phẩm thống nhất Không tính toán được đối với những doanh nghiệp đa mặt hàng phức tạp
Trang 181.8.2 Đơn giá tiền lương tính trên doanh thu
Ta có:
VĐG = [ Lđb * MLmincty * (Hcb + Hpc) + Vdt] * 12 tháng + Trong đó:
VĐG : đơn giá tiền lương
Lđb: Tổng số lao động định biên
MLmincty: Mức lương tối thiểu của công ty
Hcb, Hpc: Hệ số cấp bậc và hệ số phụ cấp
Vdt: Tiền lương của cán bộ chuyên trách đoàn thể do tổ chức đoàn thể trả lương
Vtllđ: Tiền lương tính thêm khi làm việc vào ban đêm
ΣTkh: Tổng doanh thu kế hoạch
1.8.3 Đơn giá tiền lương tính trên hiệu số giữa doanh thu và chi phí không kể lương
lý và xác định được chi phí, do đó loại đơn giá này thường được áp dụng với các doanh nghiệp quản lý được tổng doanh thu và tổng chi phí
1.8.4 Đơn giá tiền lương tính trên lợi nhuận
Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh được chọn là lợi nhuận, thường áp dụng đối với các doanh nghiệp quản lý được tổng thu, tổng chi và xác định lợi nhuận kế hoạch sát với thực tế thực hiện Công thức xác định:
Vđg = {[ Lđb * MLmincty * (Hcb + Hpc) + Vdt]*12 tháng +Vtllđ } / Pkh
Trong đó:
Trang 19Pkh: là lợi nhuận kế hoạch
1.9 Các hình thức trả lương
1.9.1 Hình thức trả lương theo thời gian
Tiền lương của người công nhân nhận được căn cứ vào mức lương phù hợp với cấp bậc
và thời gian thực tế họ làm việc
Đối tượng áp dụng: Hình thức trả lương thời gian thường được áp dụng ở những nơi khó định mức, những công nhân làm những công việc không xác định được định mức lao động, các nhân viên, viên chức, những nơi sản xuất đơn chiếc, cần đảm bảo an toàn tuyệt đối hoặc hay những người làm công việc yêu cầu đòi hỏi chất lượng cao
Công thức tính:
TLtgi = MLi * Ttt
Trong đó:
TLtgi: Tiền lương nhận được của công nhân bậc i làm theo lương thời gian
MLi: Là mức lương của công nhân bậc i
Ttt: Thời gian làm việc thực tế của công nhân
Hạn chế của hình thức trả lương theo thời gian là không khuyến khích được công nhân
sử dụng có hiệu quả thời gian làm việc vì thời gian làm việc càng kéo dài thì tiền lương nhận được càng cao, vì thế bên cạnh áp dụng hình thức trả lương theo thời gian giản đơn thường kết hợp với thưởng để khuyến khích công nhân hơn
1.9.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm
Là hình thức trả lương cho cá nhân hoặc tập thể người lao động tiền lương nhận được phụ thuộc vào đơn giá và sản phẩm chế tạo ra đảm bảo chất lượng, áp dụng đối với người lao động làm việc trong khu vực sản xuất Trả lương sản phẩm có một số hình thức như sau:
a- Trả lương sản phẩm trực tiếp cá nhân.
Theo chế độ này tiền lương được trả trực tiếp cho từng người căn cứ vào đơn giá và số lượng sản phẩm mà công nhân đó chế tạo được đảm bảo chất lượng Khi đã xác định được định mức, đơn giá nhân công tương ứng cho từng bước công việc Tiền lương nhiều hay ít phụ thuộc và số lượng thực tế hoàn thành của công nhân tại mỗi bước trong dây chuyển sản
Trang 20b- Trả lương sản phẩm gián tiếp
Trả lương sản phẩm gián tiếp là trả lương cho công nhân phục vụ dựa trên tỷ lệ hoàn thành định mức lao động của công nhân chính mà họ phục vụ Hình thức trả lương này được áp dụng cho các lao động và công nhân phục như: như những người quản lý phân xưởng, quản đốc hay thợ phụ khi mà công việc của họ ảnh hưởng tới việc đạt và vượt mức của công nhân chính
Lcbgt: Lương cấp bậc của lao động gián tiếp
Ltt: Lương của lao động trực tiếp theo chế độ
Trang 21c- Trả lương tính theo sản phẩm tập thể
Trả lương theo sản phẩm tập thể là hình thức trả lương phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay công việc do một tập thể công nhân đã hoàn thành đảm bảo chất lượng, đơn gián sản phẩm và phương pháp chia lương
Công thức xác định lương sản phẩm tập thể như sau:
TLtt= ΣĐGtti * SPtti
Trong đó:
TLtt: Tổng tiền lương thực lĩnh của cả nhóm
ĐGtti: Đơn giá tập thể
SPtti: Số lượng sản phẩm do nhóm công nhân chế tạo ra
ĐGtti = hay ĐGtti = * Mtgtt
: Tổng mức lương cấp bậc công việc
Msltt: mức sản lượng tập thể
Mtgtt: Mức thời gian tập thể
Chế độ trả lương này được áp dụng cho những công việc mà sản phẩm do một tập thể công nhân thực hiện không tách rời như lắp ráp các thiết bị, sản xuất các bộ phận làm việc theo dây chuyền Ở đây tiền lương sản phẩm của từng người được xác định căn cứ vào kết quả sản phẩm chung của cả tổ và đơn giá sản phẩm cá nhân
Phương pháp chia lương có thể áp dụng một trong hai phương pháp sau:
Phương pháp 1: Chia theo hệ sô điều chỉnh (K cđ )
Bước 1: TÍnh đơn giá sản phẩm tập thể
ĐGtti = hay ĐGtti = * Mtgtt
Bước 2: TÍnh tổng tiền lương thực lĩnh của cả tổ:
TLtt= ΣĐGtti * SPtti
Bước 3: Tính tiền lương cấp bậc từng thành viên và cả tổ Tiền lương cấp bậc của từng
thành viên được tính bằng cách lấy mức lương giờ (ngày) phù hợp cấp bậc công nhân nhan với số giờ (ngày) mà công nhân thực tế làm được, sau đó cộng tổng các mức lương cấp bậc của từng thành viên để có tổng tiền lương cả tổ
Trang 22Bước 4: Tính hệ số điều chỉnh (Kđc).
Kđc= Trong đó: ΣTLcb là tổng tiền lương cấp bậc của cả tổ
Bước 5: Tính tiền lương thực lĩnh của từng thành viên bằng cách lấy tiền lương cấp bậc của
từng thành viên trong tổ nhân với hệ số điều chỉnh
Phương pháp 2: chia theo giờ (ngày) - hệ số
Bước 1: TÍnh đơn giá sản phẩm tập thể
ĐGtti = hay ĐGtti = * Mtgtt
Bước 2: TÍnh tổng tiền lương thực lĩnh của cả tổ:
TLtt= ΣĐGtti * SPtti
Bước 3: Quy đổi số giờ (ngày) thực tế làm việc của từng thành viên ra thành giờ được chọn
quy đổi, gọi là giờ (ngày) - hệ số
Được tính bằng cách lấy số giờ thực tế làm việc của từng công nhân nhân với hệ số được chọn thấp nhất Sau đó tính tổng số giờ (ngày) đã quy đổi của cả tổ
Bước 4: Tính tiền lương cho một giờ (ngày) - hệ số Được xác định bằng cách chia tổng
tiền lương thực lĩnh của cả tổ cho tổng số giờ (ngày) đã quy đổi ở bước 3
Bước 5: Tính tiền lương cho từng thành viên trong tổ băng cách lấy số giờ (ngày) đã quy
đổi nhân với tiền lương cho một giờ (ngày) - hệ số
nó là khuyến khích người lao động hoàn thành nhanh công việc được giao Do đó phải theo dõi thường xuyen, kiểm tra chặt trẽ chất lượng hoàn thành, trành khoán trắng Việc trả lương phải gắn với chất lượng và tiến độ hoàn thành công việc được khoán
1.9.4 Hình thức trả lương theo sản phẩm lũy tiến
Trả lương theo sản phẩm lũy tiến thực chất thực chất là dùng nhiều đơn giá khác nhau
Trang 23tùy theo trình độ hoàn thành vượt mức của công nhân Nguồn tiền để trả thêm cho chế độ này dựa vào tiền tiết kiệm chi phí sản xuất gián tiếp cố định Theo chế độ này tiền lương được trả gồm 2 bộ phận là trả lương theo đơn giá cố định và tiền trả theo đơn giá lũy tiến
Số sản phẩm hoàn thành trong định mức sẽ được trả theo đơn giá lũy tiến Đơn giá lũy tiến
là đơn giá được tăng thêm theo những tỷ lệ nhất định tăng dần so với đơn giá cố định
Q0: Sản lượng đạt mức khởi điểm
K: Tỉ lệ tăng thêm so với đơn giá cố định
K được xác định như sau: K = đdc * tc * 100/ dtl
đdc là tỷ trọng chi phí gián tiếp cố định trong giá thành sản phẩm
đdc = (Σchi phí gián tiếp / Σgiá thành) * 100
tc : là tỷ lệ tiết kiệm chi phí gián tiếp cố định dùng để tăng đơn giá
dtl: tỷ trọng tiền lương của công nhân sản xuất trong giá thành sản phẩm khi hoàn thành vượt mức sản lượng
Chế độ trả lương này có ưu điểm là khuyến khích công nhân vượt mức sản lượng quy định vì nếu vượt quy định càng cao thì đơn giá sẽ càng cao Tuy nhiên do tính phức tạp trong việc xác định mức tiết kiệm chi phí cố định nên hiệu quả của chế độ trả lương lũy tiến không phát huy được tác dụng, dễ làm cho tốc độ tiền lương tăng nhanh hơn tốc độ tăng năng suất lao động
1.9.5 Hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng
Trả lương theo sản phẩm có thưởng thực chất là ngoài nhận được số tiền lương theo đơn giá bình thường, công nhân còn nhận được tiền thưởng theo mức độ hoàn thành mức sản lượng Khi áp dụng chế độ tiền lương này, toàn bộ sản phẩm được trả theo một dơn giá thống nhất
Công thức tính tiền lương như sau:
Trang 24TLtt = [ TLsp + Lsp(m * h)] / 100Trong đó:
TLsp: tiền lương sản phẩm theo đơn giá bình thường
m: tỷ lệ tiền lương
h: phần trăm vượt mức sản lượng được tính thưởng
Mặc dù chế độ trả lương này khuyến khích công nhân vượt mức sản lượng nhưng lại đòi hỏi phải xác định chính xác tỷ lệ thưởng để việc trả lương được đảm bảo hiệu quả , công bằng nếu không thì sẽ không khuyến khích công nhân hoặc sẽ dẫn đến vượt chi quỹ lương
1.10 Tiền thưởng.
Tiền thưởng là khoản tiền bổ sung ngoài tiền lương nhằm quán triệt hơn nguyên tắc trả lương theo số lượng và chất lượng lao động mà tiền lương chưa thể tính hết được Tiền thưởng là một trong những biện pháp khuyến khích bằng vật chất đối với người lao động nhằm động viên mọi người phát huy tích cực sáng tạo trong sản xuất để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, sử dụng đầy đủ công suất máy móc thiết bị, tiết kiệm vật tư, hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ góp phần hoàn thành toàn diện kế hoạch được giao Tiền thưởng phải nhỏ hơn tiền lương, và tiền thưởng phải là yếu tố khuyến khích chủ yếu
Khi tổ chức các hình thức tiền thưởng cần chú ý các nội dung sau:
Chỉ tiêu thưởng: là một trong những yếu tố quan trọng của mỗi hình thức tiền thưởng, yêu cầu chỉ tiêu phải cụ thể chính xác, phù hợp với hình thức thưởng Việc xác định các chỉ tiêu thưởng phải căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của người lao động Những chỉ tiêu về số lượng như hoàn thành vượt mức sản lượng, đạt và vượt các mức lao động Các chỉ tiêu về chất lượng có thể là tỷ lệ sản phẩm loại một, tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu…
Điều kiện thưởng để xác định tiền đề thực hiện một hình thức tiền thưởng nào đó, đồng thời dùng để kiểm tra việc thực hiện chỉ tiêu xét thưởng Ví dụ như trong thưởng tiết kiệm nguyên liệu, khi nguyên liệu được tiết kiệm phải có giá trị và tái sử dụng được
Nguồn tiền thưởng: được sử dụng để chi trả thưởng, tùy thuộc vào từng hình thức thưởng Thông thường mỗi hình thức tiền thưởng chỉ nên quy định một chỉ thiêu xét thưởng
Trang 25chính đồng thời quy định một số điều kiện xét thưởng, nếu không đủ các điều kiện đo sẽ được thưởng với những tỷ lệ thấp hơn, phù hợp hơn
Mức tiền thưởng là một yếu tố kích thích quan trọng để người lao động quan tâm đến công việc Mức thưởng phải đủ cao mới có tác dụng khuyến khích và ngược lại, việc thực hiện các hình thức tiền thưởng cao hay thấp tuỳ thuộc và vào nguồn tiền thưởng và số lượng người được thưởng
Trang 26CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG TẠI
TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
2.1 Khái quát về tổng công ty Giấy Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triền của tổng công ty Giấy Việt Nam
Là doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp, Tổng công ty Giấy Việt Nam chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Công nghiệp, các Bộ, cơ quan trực thuộc Chính Phủ, Thành phố trực thuộc Trung ương và UBND tỉnh Tổng công ty Giấy Việt Nam là doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập với đầy đủ tư cách pháp nhân, có con dấu để giao dịch theo quy định của Nhà nước và có tài khoản tại ngân hàng
- Tên Công ty mẹ: Tổng Công ty giấy Việt Nam
- Tên tiếng Anh: VIET NAM PAPER CORPORATION
- Tên viết tắt: VINAPACO
- Trụ sở chính: 25A Lý Thường Kiệt - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
- Tel: 04 8 247 773 Fax: 04 8 260 381
- Mã số thuế: 0101439900
Sau khi miền nam được giải phóng, đất nước ta hoàn toàn độc lập vào tháng 6 năm
1976 để tiện việc thống nhất quản lý ngành, Nhà nước ta thành lập Công ty Giấy Gỗ Diêm ở phía Bắc và phía Nam
Năm 1978-1984 Liên hiệp xí nghiệp Giấy Gỗ Diêm toàn quốc được thành lập trên
cơ sở hợp nhất hai Công ty Giấy Gỗ Diêm phía Bắc và Công ty Giấy Gỗ Diêm phía Nam theo Nghị định 302/CP của Hội đồng Chính phủ Liên hiệp vừa là cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của các đơn vị thành viên đồng thời cũng là cơ quan cân đối, phân giao kế hoạch sản xuất - kinh doanh
Năm 1984-1990 Trong hoàn cảnh địa lý nước ta lúc bấy giờ, điều kiện thông tin trao đổi giữa các khu vực trong cả nước còn gặp nhiều khó khăn Năm 1984 để thuận lợi trong quản lý và điều hành sản xuất, Liên hiệp Giấy Gỗ Diêm toàn quốc được tách ra thành hai Liên hiệp khu vực là Liên hiệp Giấy Gỗ Diêm số 1 (phía Bắc) và Liên hiệp
Trang 27Giấy Gỗ Diêm số 2 (phía Nam) Mặc dù đến năm 1987 có quyết định 217/HĐBT, nhưng thực tế hai Liên hiệp khu vực vẫn hoạt động như Liên hiệp Xí nghiệp Giấy Gỗ Diêm toàn quốc vì thời gian này vẫn đất nước ta vẫn còn cơ chế bao cấp Các đơn vị thành viên vẫn phụ thuộc toàn diện vào hai Liên hiệp phía Bắc và phía Nam =
Năm 1990-1993, Quyết định 217/HĐBT ra đời nhằm xoá bỏ cơ chế quản lý bao cấp
và tháo gỡ khó khăn cho các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh Vai trò tác dụng của Liên hiệp từ đó bị lu mờ dần Sự đổi mới cơ chế quản lý tạo cho xí nghiệp có quyền tự chủ về tài chính và sản xuất kinh doanh
Ngày 13/8/1990 để phù hợp với cơ chế quản lý mới, Liên hiệp sản xuất - xuất nhập khẩu Giấy Gỗ Diêm toàn quốc được thành lập theo Quyết định 368/CNg-TCLĐ của Bộ Công Nghiệp nhẹ trên cơ sở hợp nhất hai Liên hiệp Giấy Gỗ Diêm số 1 và số 2 Theo đó Liên hiệp sản xuất - xuất nhập khẩu Giấy Gỗ Diêm toàn quốc được điều hành hoạt động theo Điều lệ liên hiệp xí nghiệp quốc doanh ban hành tại nghị định 27/HĐBT ngày 22/3/1989
Từ tháng 3/1993 đến tháng 4/1995 Liên hiệp sản xuất- xuất nhập khẩu Giấy Gỗ Diêm được chuyển đổi tổ chức và hoạt động thành Tổng công ty Giấy Gỗ Diêm Việt Nam theo Quyết định số 204/CNg-TCLĐ ngày 22/3/1993 của Bộ công nghiệp nhẹ nhằm múc đích là mở rộng chức năng kinh doanh, dịch vụ thương mại của tổ chức đề phù hợp trong nền kinh tế thời mở cửa Tổng công ty Giấy Gỗ Diêm Việt Nam là tổ chức sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, thương mại và hoạt động dịch vụ chuyên ngành giấy gỗ diêm
Do ngành Giấy là một ngành độc lập không gắn liền với ngành kinh tế kỹ thuật Gỗ Diêm nên năm 1995 ngành Giấy được tách riêng Dù ngành Giấy và ngành Gỗ Diêm cùng sử dụng nguyên liệu là gỗ nhưng do đặc thù của việc sản xuất gỗ trong ngành Giấy khác hoàn toàn so với gỗ trong ngành Gỗ Diêm dẫn đến việc quản lý chuyên ngành khác nhau, thuế doanh thu khác nhau, tính chất sản xuất cũng khác nhau, cho nên ngành Giấy cần tách riêng ra với mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước hoạt động một cách độc lập dễ dàng cho việc quản lý và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, tăng cường sức mạnh của ngành kinh tế kĩ thuật góp phần thực hiện chủ trương công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy đã dẫn đến sự ra đời của Tổng công ty Giấy Việt Nam
Trang 28Theo quyết định số 256/TTg ngày 29.4.1995 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định
số 52/CP ngày 02.8.1995 của Chính phủ Tổng công ty Giấy Việt Nam được thành lập
và ban hành các điều lệ về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Giấy Việt Nam
Tổng công ty Giấy Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn nhất toàn ngành Giấy, bao gồm các thành viên là doanh nghiệp hạch toán độc lập, đơn vị hạch toán phụ thuộc và các đơn vị sự nghiệp có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích tài chính, kinh tế, công nghệ, thông tin, đào tạo, tiếp thị, hoạt động trong lĩnh vực công nghệ giấy
và trồng rừng nguyên liệu giấy, nhằm tập trung phân công chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và của toàn Tổng công ty, đáp ứng nhu cầu về giấy của thị trường
Tổng công ty thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh giấy các loại bảo đảm cân đối các nhu cầu thiết yếu về giấy do Nhà nước giao, chăm lo phát triển vùng nguyên liệu giấy như trồng rừng, cung ứng vật tư, nguyên liệu, phụ tùng, thiết bị cho ngành giấy, thực hiện xuất nhập khẩu giấy và các loại hàng hoá khác có liên quan đến ngành giấy theo qui định của pháp luật Việt nam
2.1.2 Mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của Tổng công ty.
2.1.2.1 Mục tiêu:
Mục tiêu chính của công ty là kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu đầu tư tại tổng công ty giấy Việt Nam, các công ty con, công ty liên kết hoàn thành các nhiệm vụ do chủ sở hữu giao Tối đa hóa hiệu quả sản xuất, kinh doanh của tổng công ty, công ty con và công ty liên kết
Thực hiện sản xuất kinh doanh giấy theo quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành giấy của nhà nước, kết hợp phát triển kinh doanh các ngành nghề khác nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, đất đai và các tài nguyên khác được giao theo quy định của pháp luật
Hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành nghề, trong đó ngành nghề chính là sản xuất giấy các loại, bột giấy và trồng, chăm sóc rừng nguyên liệu giấy
Nâng cao chất lượng và sản xuất giấy các loại đáp ứng nhu cầu sử dụng sản phẩm
Trang 29giấy trên thị trường trong nước và từng bước xuất khẩu ra nước ngoài.
2.1.2.2 Chức năng của Tổng công ty
Tổng công ty trực tiếp thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh bên cạnh chức năng quản lý và đầu tư vốn Nhà nước ở các công ty con, công ty liên kết
2.1.2.3 Nhiệm vụ kinh doanh chính của Tổng công ty:
Đầu tư, quản lý vốn đầu tư và trực tiếp sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề
và lĩnh vực chính Thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông, thành viên góp vốn tại các công ty con, công ty liên kết
Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty mẹ:
a) Sản xuất và kinh doanh các loại giấy, các sản phẩm từ giấy, nguyên liệu giấy, dăm mảnh, văn phòng phẩm, hoá chất, vật tư, thiết bị, phụ tùng phục vụ ngành giấy;
b) Khai thác, chế biến, kinh doanh các loại nông, lâm sản và các loại sản phẩm chế biến từ gỗ như gỗ dán, ván ép, bút chì, đũa, đồ mộc…
c) Sản xuất, kinh doanh ngành in, các sản phẩm văn hoá phẩm, xuất bản phẩm, các sản phẩm may mặc, da giầy, các mặt hàng từ chất dẻo
d) Khai thác các loại hình kinh doanh từ việc trồng rừng, thiết kế, thi công, xây lắp, phục vụ lâm nghiệp, khai hoang, khoanh nuôi làm giàu rừng, thuỷ lợi nhỏ, xây dựng dân dụng và công nghiệp; quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng;
đ) Kinh doanh sắt thép đặc chủng sử dụng cho ngành giấy; lắp đặt thiết bị phụ trợ, sửa chữa các thiết bị nhà xưởng sản xuất giấy, kết cấu kim loại ngành công nghiệp.e) Xuất nhập khẩu sản phẩm giấy, xenluylô, lâm sản, thiết bị, vật tư, hoá chất và các loại hàng hoá khác phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của Tổng công ty mẹ;
f) Đào tạo công nhân kỹ thuật, công nhân công nghệ và cơ điện phục vụ sản xuất kinh doanh phù hợp với ngành giấy; bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho cán bộ kỹ thuật
và quản lý điều hành của các doanh nghiệp sản xuất giấy và tổ chức bồi dưỡng, hợp tác liên kết với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước
để đa dạng hoá các loại hình đào tạo, tổ chức lao động sản xuất, dịch vụ gắn với đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ công nhân viên
g) Kinh doanh các ngành nghề khác phù hợp với quy định của pháp luật
Trang 302.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty
Kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty là kết quả cuối cùng của công tác tiêu thụ sản phẩm, nó phản ánh đúng những gì Tổng công ty đã bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh và những gì mà Tổng công ty đã nhận được trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình Để nắm được tình hình tài chính của Tổng công ty ta xem bảng kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty sau đây:
Trang 31Bảng 2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Giấy Việt Nam.
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua hai năm ta thấy doanh thu năm 2011
tăng 487,590,275,837đ (26,6%) so với năm 2010 Giá vốn hàng bán và cung cấp dịch
Trang 32vụ tăng 26,2% Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tăng theo các năm trong khi lực lượng lao động lại giảm xuống điều đó chứng tỏ Tổng công ty đã sử dụng ngày càng có hiệu quả lực lượng lao động.
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của tổng công ty.
Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty mẹ - Tổng công ty Giấy Việt Nam gồm: Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc và các phòng ban, nhà máy xí nghiệp cùng với bộ máy giúp việc
Trang 33Phòng
kỹ thuật
Phòng tài chính
Phòng xây dựng cơ bản
Phòng
kế hoạch
Phòng kinh doanh
Nhà máy điện
Nhà máy hóa chất
Xí nghiệp dịch vụ
Xí nghiệp vận tải
Phòng
tổ chức lao động