Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, có tiềm năng lớn nhất để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lƣơng thực, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản, phát triển vƣờn cây ăn trái đem lại giá trị xuất khẩu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
- -
CHUYÊN ĐỀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GV hướng dẫn: SV Thực hiện
Ts Nguyễn Quang Tuyến Phan Nguyễn Khánh Trang
CẦN THƠ - 2013
Trang 2MỤC LỤC
I GIỚI THIỆU CHUNG 01
II NỘI DUNG 02
1 Các khái niệm cơ bản 02
1.1 Phát triển bền vững 02
1.2 Quá trình thực hiện Cánh đồng mẫu lớn 03
1.2.1 Thực hiện CĐML trên thế giới 04
1.2.2 Thực hiện CĐML tại Việt Nam 04
1.2.3 Thực hiện CĐML khu vực ĐBSCL 05
2 Đánh giá SWOT mô hình CĐML 06
2.1 Thuận lợi 06
2.2 Khó khăn 06
2.3 Cơ hội 08
2.4 Thách thức 08
3 Đánh giá sự phát triển bền vững của mô hình 09
3.1 Phương diện xã hội 09
3.2 Hiệu quả kinh tế 12
3.3 Cải thiện môi trường 15
4 Giải pháp đề xuất 16
III KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3I GIỚI THIỆU CHUNG
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, có tiềm năng lớn nhất để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản, phát triển vườn cây ăn trái đem lại giá trị xuất khẩu lớn cho cả nước
và mở rộng giao lưu với khu vực và thế giới ĐBSCL gồm 13 tỉnh/thành, với diện tích đất liền 39.712 km2
(chiếm 12,1% diện tích cả nước), có hải phận rộng trên 360.000 km2, dân số năm 2006 khoảng 17,4 triệu người (bằng 21% dân số cả nước) ĐBSCL có đặc điểm tự nhiên nổi bật ít có trên thế giới với gần một nửa diện tích bị ngập lũ từ 3-4 tháng mỗi năm, là hạn chế lớn đối với canh tác nông nghiệp, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống của dân cư Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước là vấn đề cốt lõi nhất, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái ở ĐBSCL Trồng trọt trong đó trồng lúa là nguồn lợi kinh tế lớn và quan trọng của vùng Trong những năm gần đây, việc phát triển nhanh chóng mô hình cánh đồng mẫu lớn (CĐML) từng bước đã làm thay đổi bộ mặt trồng lúa của cư dân vùng đồng bằng rộng lớn này Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực của việc trển khai mô hình, trong thời gian qua cũng đã gặp không ít những khó khăn hạn chế mà
để khắc phục cần có sự nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm giải pháp hữu ích để tiến tới nhân rộng có kế hoạch và phát triển bền vững mô hình này không chỉ ở ĐBSCL nói riêng mà ở cả nước nói chung
Trang 4II NỘI DUNG
1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Trong những năm gần đây, phát triển bền vững (PTBV) đã trở thành một thuật ngữ phổ thông Với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, phát triển mang tầm toàn cầu, khu vực hay quốc gia thậm chí địa phương thì “phát triển” đều được hiểu theo hướng “phát triển bền vững” Nguyên do chính của vấn đề xuất phát từ việc dân số gia tăng mạnh mẽ, nhu cầu nâng cao mức sống, hoạt động của con người tác động vào tự nhiên làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên thế giới đang phải đối mặt với vấn đề cạn kiệt, cân bằng sinh thái bị phá
vỡ, bên cạnh đó là vấn đề kinh tế xã hội cũng ảnh hưởng một cách nghiêm trọng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn Đứng trước những vấn đề của “phát triển”, mà cả thế giới đang phải đối mặt, vào đầu thập niên những năm 1980, Liên hiệp Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (UICN), đã đề khởi khái niệm phát triển bền vững Tiếp đó đến năm 1987, khái niệm này đã được Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển do bà Gro Harlem Brundtland làm chủ tịch tiếp thu, khai triển và định nghĩa trong phúc trình mang tựa “Tương lai của chúng ta” (Notre avenir à tous/Our Common Future) :
“ Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các yêu cầu hiện tại nhưng không tổn hại cho khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng yêu cầu của chính họ”
Từ đây, phát triển bền vững đã có những chương trình hành động cụ thể để thể hiện tính bền vững thông qua các phương diện môi trường, kinh tế, xã hội và chính trị:
Về phương diện môi trường, phát triển bền vững có nghĩa là phải bảo vệ khả năng tái sinh của hệ sinh thái, nhịp độ gia tăng sử dụng tài nguyên có khả năng tái sinh thấp hơn tốc
độ tái sinh, việc sử dụng tài nguyên không có khả năng tái sinh phải tùy thuộc khả năng tìm
Trang 5ra nguồn tư liệu thay thế Sau cùng, mức độ ô nhiễm phải thấp hơn khả năng tái tạo của môi sinh, môi trường Yêu cầu bền vững về môi trường buộc phải giới hạn sự tăng trưởng kinh tế
Về phương diện kinh tế, việc phát triển quan tâm tới tiềm năng, phẩm chất và phục vụ con người một cách toàn diện cả về vật chất lẫn tinh thần Phát Triển Bền Vững về mặt kinh
tế ở đây đối nghịch với sự gia tăng sản xuất không giới hạn, chinh phục thị trường bằng mọi cách, thương mại hóa bất cứ hàng hóa hoặc dịch vụ nào và tìm lợi nhuận tối đa trong mọi hoàn cảnh mà nó còn đòi hỏi phải cân nhắc ảnh hưởng bây giờ hay sau này của các hoạt động cũng như tăng trưởng sản xuất đến chất lượng cuộc sống
Về mặt xã hội, bền vững có nghĩa xã hội công bằng, con người có môi trường sống hài hòa, có an sinh Để phát triển bền vững cần xem xét đến những yếu tố rủi ro có thể xãy ra
để có hướng đế phòng và thích ứng, cũng như quan tâm trực tiếp đến vấn đề con người, không để bất cứ một tầng lớp xã hội nào đứng ngoài công cuộc xây dựng chung của nhân loại, và không để cho con người phải đối mặt với các mối đe dọa từ bệnh tật, đói nghèo thiên tai…
Về phương diện chính trị, phát triển bền vững là sự hết hợp và dung hòa các vấn đề
xã hội, kinh tế và môi trường để hệ thống tổ chức và sinh hoạt chính trị không có căng thẳng, xáo trộn, có thể đi tới rối loạn hoặc đổ vỡ Các định chế chính trị cần tôn trọng và bảo vệ công bằng, khuyến khích các đối tượng thụ hưởng đối thoại và tham gia trong tinh thần phù hợp với các nguyên tắc dân chủ tự do
1.2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN
Tình trạng manh mún về ruộng đất xãy ra phổ biến ở nhiều nước trên thế giới ít nhất
là từ thế kỷ 17, không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả những nước phát triển
Cánh đồng mẫu lớn, là khái niệm ở Việt Nam ban đầu được hiểu là làm mẫu những cánh đồng lớn, nếu nhân rộng được gọi là xây dựng những Cánh đồng lớn Việc xây dựng
Trang 6những cánh đồng lớn thực chất đã được thực hiện ở Việt Nam qua nhiều thời kỳ, từ hợp tác hóa đến nay
Mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” là thông điệp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn muốn mô hình mang ý nghĩa “cánh đồng mẫu lớn nhưng trong đó có nhiều nông dân nhỏ”, là hình thức mới để tập hợp nông dân trong điều kiện thâm canh sản xuất lúa hiện nay, nhằm mang lại nhiều lợi nhuận cho nông dân và cho quốc gia Ngày nay, trình độ canh tác lúa có nhiều tiến bộ, giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu đa dạng và phong phú; sản xuất, thương mại lúa, gạo diễn ra liên tục, mạnh mẽ, xuyên suốt trong năm ở trong nước và trên thế giới do vậy đòi hỏi các hình thức quản lý, sản xuất và cung ứng lúa, gạo phải kịp thời và đạt hiệu quả cao nhất cho các thành phần tham gia
Trong quá trình thực hiện cánh đồng mẫu lớn các bên tham gia đều thụ hưởng các lợi ích một cách cao nhất, trong đó nông dân được hưởng lợi từ các dịch vụ phục vụ sản xuất, chất lượng vật tư nông nghiệp và các giá trị tăng thêm cho lúa từ các hoạt động dịch vụ nhiều nhất
1.2.1 THỰC HIỆN CĐML TRÊN THẾ GIỚI
Trên thế giới, cánh đồng lớn có thể ở một khu vực, vùng nhỏ, hoặc cả một lưu vực cho sản phẩm chuyên môn hóa cao như rượu vang Bordeaux của Pháp, chè ở Ấn Độ, trồng rau ở Phillipines, lúa ở Thái Lan, Malaysia…mang lại hiệu quả cao
1.2.2 THỰC HIỆN CĐML TẠI VIỆT NAM
Việc thực hiện cánh đồng mẫu lớn đã được áp dụng ở Việt Nam dưới nhiều hình thức tiếp cận
Trong thời hợp tác hóa đến thời kỳ đổi mới, từ mong muốn xây dựng những cánh đồng lớn với hàng ngàn nông dân, có cùng quy trình sản xuất, do hợp tác xã (HTX) quản lý
Trang 7và làm ăn tập thể đã từng bước hình thành nhửng cánh đồng có quy mô lớn nhưng đạt hiệu quả không cao
Tuy nhiên, sau một quá trình triển khai, thực hiện, cải cách, điều chỉnh các hình thức
tổ chức, quản lý đến nay, cánh đồng mẫu lớn đã được thực hiện ở hầu hết trên các vùng của
cả nước, mang lại nhiều thành công bước đầu, nhưng cũng gặp không ít những hạn chế, tồn tại cần khắc phục
1.2.3 TRIỂN KHAI CĐML KHU VỰC ĐBSCL
Nhìn lại tiến trình xây dựng mô hình CĐML để thấy được quyết tâm của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn trong nhiều năm qua nhằm từng bước tổ chức lại sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở ĐBSCL – vùng trọng điểm sản xuất lúa của cả nước
Bắt đầu từ 26/3/2011 với hơn 7800 ha đất canh tác, 6400 hộ nông dân tham gia; nhưng thực chất nó đã được xây dựng thí điểm tại rất nhiều điểm trình diễn, với quy mô từ vài ha đến vài chục ha ở các tỉnh: Long An, Tây Ninh, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang…từ
vụ hè thu 2008-2009 Hình thức liên kết rất đa dạng, theo điều kiện thực tế và sáng tạo của từng địa phương, nhưng cơ bản đã đạt được các bước:
Cung ứng lúa giống xác nhận (một đến hai loại)
Cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (từ doanh nghiệp đến thẳng người nông dân, không qua trung gian)
Hợp tác với doanh nghiệp thu mua lúa hoặc doanh nghiệp đứng ra tổ chức khép kín các khâu, từ cung ứng đầu vào đến bao tiêu đầu ra cho nông dân
Tập hợp nông dân tham gia mô hình theo hình thức phân chia các nhóm sản xuất
Có tỉnh tổ chức HTX, hoặc tổ hợp tác sản xuất Nhà nước hỗ trợ nông dân tiền chênh lệch khi mua giống lúa xác nhận (so với lúa thường)
Trang 8Định kỳ tập huấn kỹ thuật cho nông dân (3-4 lần/vụ), hỗ trợ 30 đến 50% tiền đầu tư máy móc, công cụ sạ hàng, lò sấy, thùng pha thuốc bảo vệ thực vật
2 ĐÁNH GIÁ SWOT MÔ HÌNH CĐML
2.1 THUẬN LỢI
Việc thực hiện CĐML đã được Đảng Ủy, HĐND, UBND các cấp tích cực ủng hộ và chỉ đạo thực hiện tại các địa phương
Các cơ quan hữu quan, cơ quan chức năng phối hợp thực hiện, tuyên truyền hiệu quả:
Bộ NN&PTNT cùng Cục trồng trọt chỉ đạo về chuyên môn, hướng dẫn xây dựng kế hoạch thực hiện
Khảo sát của ngành nông nghiệp cho thấy, hiện nay là thời điểm chín muồi để phát triển mô hình CĐML Tại các tỉnh khu vực ĐBSCL đã hình thành những điều kiện để xây dựng những CĐML, như: Gieo sạ đồng loạt né rầy; thực hiện gói kỹ thuật 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm; đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng; doanh nghiệp đầu tư những kho lưu trữ, cụm xay xát, chế biến lúa gạo ngay tại vùng nguyên liệu…
Người nông dân tự nguyện tham gia tích cực, và thực hiện theo quy trình hướng dẫn
Ban chủ nhiệm Hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất có kỹ năng điều hành tốt, có năng lực hoạt động
2.2 KHÓ KHĂN
Ý tưởng về một cánh đồng rộng lớn với hàng ngàn nông dân tập trung sản xuất đã có
từ lâu ở nước ta Tuy nhiên khi tình hình xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn, giá cả lúa gạo không còn thuận lợi như năm 2011, mô hình CĐML đang được nhân rộng tại ĐBSCL với diện tích hơn 30.000 ha đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, nhược điểm, trở ngại từ nhiều phía, từ doanh nghiệp, Nhà nước cho đến người nông dân
Trang 9Thứ nhất, phần lớn, các hộ nông dân trồng lúa có diện tích trồng lúa nhỏ, manh mún, sản xuất lúa theo hướng tự cung, tự cấp, quy mô nhỏ lẻ, chưa có hướng sản xuất lúa hàng hóa theo quy mô lớn
Thứ hai, là sự khó khăn về đầu ra sản phẩm Mối quan hệ giữa 2 chủ thể chính là nông dân-doanh nghiệp có dấu hiệu rạn nứt Theo báo Cần Thơ, trong vụ đông xuân vừa qua, Hợp tác xã Tân Cường (Đồng Tháp) đại diện nông dân ký hợp đồng bao tiêu 400ha lúa Jasmine với một doanh nghiệp xuất khẩu gạo tại địa phương Tuy nhiên, đây chỉ là hợp đồng ghi nhớ, không có sự ràng buộc giữa 2 bên Cho nên khi giá lúa sụt giảm, đơn vị này tìm đủ mọi lý do để "bỏ rơi" nông dân Ngược lại, cũng có hiện tượng khi giá lúa lên cao, nông dân sẵn sàng bỏ hợp đồng để bán cho doanh nghiệp khác hoặc thương lái bên ngoài, cảnh bị ép giá đi kèm với điệp khúc trúng mùa mất giá đang quay trở lại Theo ông Đào Anh Dũng, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, việc mời gọi doanh nghiệp tham gia vào bao tiêu lúa hàng hóa
ở cánh đồng mẫu lớn rất khó, có nhiều mô hình đã bị đổ, nguyên nhân do doanh nghiệp không ký hợp đồng bao tiêu, từ đó đã ảnh hưởng tới chuỗi giá trị hàng hóa của hệ thống sản xuất lúa gạo
Một hạn chế khác là do hệ thống lò sấy, kho chứa chưa đủ lớn, nên nhiều khi các doanh nghiệp dù cố gắng cũng không xử lý hết lượng lúa lớn của nông dân cùng một thời điểm
Ngoài ra, phương thức phổ biến hiện nay của các doanh nghiệp là mua sản phẩm thông qua thương lái từ nhiều nguồn khác nhau, dẫn đến sản phẩm không cùng một giống, không cùng thời điểm thu hoạch, cách phơi sấy, chế biến… làm chất lượng gạo chưa cao
Bên cạnh đó, nông dân các tỉnh chưa tiếp cận được nhiều với quy trình sản xuất lúa theo VietGAP; sản xuất lúa không có tính kế hoạch cao, thường theo tập quán, thị hiếu của người tiêu dùng…
Trang 10Từ những vấn đề trển đã làm cho việc thực hiện CĐML đến nay vẫn còn nhiều khó khăn cần có một kế hoạch giải quyết hiệu quả
Bên cạnh đó, việc Nhà nước khuyến khích sản xuất theo hướng tập trung, hình thành vùng nguyên liệu rộng lớn để áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất cũng là một cơ hội để có thể triễn khai mô hình đạt hiệu quả hơn trong thời gian tới
Ngoài ra, khi mở rộng dịch vụ nông nghiệp trong các khâu sản xuất từ giống, làm đất, chăm sóc đến thu hoạch, bảo quản … đã góp phần gia tăng năng suất, chất lượng và giá trị hạt lúa, tăng tính cạnh tranh và lợi nhuận của lúa gạo trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu
Cùng với Nghị quyết 63/NQ-CP của Chính phủ ban hành vào ngày 23/12/2009 về Đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia một lần nữa là vận hội mới cho người sản xuất và kinh doanh lúa gạo khu vực ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung
2.4 THÁCH THỨC
Bên cạnh những cơ hội trên, thì quá trình triển khai mô hình CĐML cũng đang đối mặt với không ít những thách thức như:
Trang 11Người nông dân Việt Nam vốn có tập quán sản xuất nhỏ lẻ, không có thói quen sử dụng các phương pháp kỹ thuật mới như sạ hàng, dùng giống xác nhận (một số nông dân còn dùng lúa hàng hóa làm giống, sạ lan…) nên làm giảm hiệu quả của mô hình
Ngoài ra, hiện nay thị trường tiêu thụ vẫn chưa ổn định, giá cả đầu vào và đầu ra luôn luôn biến động theo hướng khó khăn cho người nông dân một phần do thiếu bộ phận dự báo cầu thị trường
Thêm vào đó là sự mất ổn định của nền kinh tế thế giới, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh luôn có nguy cơ đe dọa đến quá trình sản xuất của người dân từ đó ít nhiều gây ra khó khăn trong quá trình nhân rộng mô hình trong thời gian tới
3 ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH
Mô hình cánh đồng mẫu lớn được triển khai tại ĐBSCL đến nay gần 2 năm với diện tích, số lượng nông dân, doanh nghiệp tham gia ngày càng nhiều Bước đầu, kết quả rất khả quan khi nông dân giảm được giá thành sản xuất, năng suất cao; thu lợi nhuận tối đa; doanh nghiệp thu sản lượng lúa lớn, chất lượng cao, bán được giá , đặc biệt không còn cảnh "trúng mùa, rớt giá", giải quyết hài hòa được lợi ích của doanh nghiệp và nông dân
3.1 PHƯƠNG DIỆN XÃ HỘI
Việc triển khai thực hiện CĐML, có sự quy hoạch cho từng vùng, từng vụ về sản xuất lúa chất lượng cao (CLC) ở các địa phương đăng ký, tạo ý thức trong nông dân về việc canh tác giống lúa xác nhận CLC để gia tăng hiệu quả, thực tế thu mua đã tạo sự khác biệt về nhận thức trong nông dân khi giá thu mua có sự chênh lệch
Sự quan tâm của cấp ủy và chính quyền địa phương trong công tác triển khai mô hình,
có quy hoạch, phân vùng sản xuất cụ thể đến từng xã, có sự phối hợp với các doanh nghiệp thu mua, có sự chuẩn bị về giống xác nhận cho mô hình lúa CLC cao, một số tỉnh còn trợ giá cho việc sản xuất giống xác nhận như An Giang, Bạc Liêu… Mô hình liên kết 4 nhà thâm