1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình thức của giao dịch ủy quyền theo quy định của pháp luật hiện hành và giá trị sử dụng trong hoạt động công chứng

17 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 114,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN1GIAO DỊCH ỦY QUYỀN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH21. Khái niệm về giao dịch ủy quyền.22. Đại diện trong giao dịch ủy quyền.33. Hình thức của giao dịch ủy quyền.64. Đặc điểm của giao dịch ủy quyền bằng văn bản.6a. Hợp đồng ủy quyền.6b. Giấy ủy quyền.95. Giá trị sử dụng trong hoạt động công chứng.10a. Về hình thức.11b. Về giá trị sử dụng.116. Những vấn đề cần lưu ý khi công chứng giao dịch ủy quyền.12BÀI HỌC KINH NGHIỆM14

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra, Quốc hội đã ban hành Luật Công chứng với chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, tạo điều kiện cho việc phát triển công chứng theo hướng chuyên nghiệp hóa, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế Trong thời gian qua, hoạt động công chứng ở nước ta đã có những bước phát triển, đóng góp tích cực cho sự phát triển Kinh tế - Xã hội của Đất nước, khẳng định ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò quan trọng của công chứng trong đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về công chứng của nhân dân trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, đồng thời là công cụ đắc lực phục vụ quản lý nhà nước có hiệu quả, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch, góp phần tích cực vào việc phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, tăng cường Pháp chế Xã hội Chủ nghĩa

Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng đã được Xã hội đón nhận với nhiều dấu hiệu tích cực Các tổ chức hành nghề công chứng có điều kiện phát triển,

đã giảm áp lực lên bộ máy nhà nước Hoạt động công chứng đã trở nên thuận tiện và chuyên nghiệp hơn Thực tế hoạt động công chứng thời gian qua đã chứng minh, chủ trương xã hội hóa công chứng là hết sức đúng đắn, tạo điều kiện cho việc phát triển mạnh loại hình dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp này

Trong hoạt động công chứng, giao dịch ủy quyền là một chế định “rất mở và thoáng” được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 Bất cứ người dân nào cũng

có quyền tham gia giao dịch này khi thỏa mãn các điều kiện về năng lực hành vi dân

sự, nội dung và mục đích của hợp đồng ủy quyền không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đối tượng giao dịch ủy quyền phải có thật Tuy nhiên trong thực tiễn, không phải lúc nào các điều kiện của giao dịch đó cũng dễ dàng được xác định nên đòi hỏi mỗi công chứng viên phải trang bị cho mình một kiến thức pháp luật vững vàng để hoàn toàn tự tin trước mỗi yêu cầu công chứng về giao dịch ủy quyền

Trang 2

Để hiểu rõ hơn về giao dịch ủy quyền, em lựa chọn đề tài Hình thức của giao dịch ủy quyền theo quy định của pháp luật hiện hành và giá trị sử dụng trong hoạt động công chứng để viết tiểu luận Trong tiểu luận của mình, em cố gắng tìm hiểu

và trình bày một cách có hệ thống các quy định pháp luật dân sự về giao dịch ủy quyền, đặc biệt là hình thức ủy quyền bằng văn bản liên quan đến hoạt động công chứng qua đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với bản thân mình

Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức để thực hiện đề tài, nhưng với vốn hiểu biết và nhận thức có hạn, kinh nghiệm thực tế không nhiều Đề tài của em không khỏi có nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các Thầy, Cô

GIAO DỊCH ỦY QUYỀN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

1 Khái niệm về giao dịch ủy quyền.

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Quy định này cho thấy giao dịch dân sự là quy đinh về một phạm vi rất rộng lớn điều chỉnh rất nhiều hành vi trong đời sống xã hội trong đó có Giao dịch dân sự ủy quyền Căn cứ vào các quy định về giao dân sự, ta có thể định nghĩa một cách chung nhất về giao dịch ủy quyền như sau:

Giao dịch ủy quyền là giao dịch dân sự thể hiện bằng hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Một giao dịch ủy quyền có hiệu lực phải thỏa mãn các điều kiện khi người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia

Trang 3

giao dịch hoàn toàn tự nguyện; Hình thức giao dịch dân sự ủy quyền phải phù hợp với quy định của pháp luật; Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó

Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch ủy quyền thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch ủy quyền phát sinh hoặc hủy bỏ Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch ủy quyền không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; nếu có sự tác động của một bên hoặc của người thứ

ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc huỷ bỏ giao dịch ủy quyền xảy

ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra

2 Đại diện trong giao dịch ủy quyền.

Đại diện trong giao dịch dân sự (Điều 139)

1 Đại diện là việc một người (gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện

2 Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó

3 Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền

4 Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập

5 Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ luật này

Phạm vi đại diện (Điều 144)

1 Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

2 Phạm vi đại diện theo uỷ quyền được xác lập theo sự uỷ quyền

3 Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện

Trang 4

4 Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba trong giao dịch dân sự biết về phạm vi đại diện của mình

5 Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Đại diện theo uỷ quyền (Điều 142)

1 Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện

2 Hình thức uỷ quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc

uỷ quyền phải được lập thành văn bản

Người đại diện theo uỷ quyền (Điều 143)

1 Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự

2 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo uỷ quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ

đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện

Điều 146 Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện

1 Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng

ý hoặc biết mà không phản đối; nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện

2 Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch

Trang 5

3 Trong trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

Chấm dứt đại diện của cá nhân (Điều 147)

1 Đại diện theo pháp luật của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

a) Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;

b) Người được đại diện chết;

c) Các trường hợp khác do pháp luật quy định

2 Đại diện theo uỷ quyền của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

a) Thời hạn uỷ quyền đã hết hoặc công việc được uỷ quyền đã hoàn thành;

b) Người uỷ quyền huỷ bỏ việc uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền từ chối việc uỷ quyền;

c) Người uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết

Khi chấm dứt đại diện theo uỷ quyền, người đại diện phải thanh toán xong các nghĩa

vụ tài sản với người được đại diện hoặc với người thừa kế của người được đại diện

Chấm dứt đại diện của pháp nhân (Điều 148)

1 Đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt

2 Đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây: a) Thời hạn uỷ quyền đã hết hoặc công việc được uỷ quyền đã hoàn thành;

b) Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân huỷ bỏ việc uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền từ chối việc uỷ quyền;

c) Pháp nhân chấm dứt hoặc người được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết

Khi chấm dứt đại diện theo uỷ quyền, người đại diện phải thanh toán xong các nghĩa

vụ tài sản với pháp nhân uỷ quyền hoặc pháp nhân kế thừa

Trang 6

3 Hình thức của giao dịch ủy quyền.

Hình thức của một giao dịch dân sự nói chung được quy định phạm vi khá rộng trong bộ luật dân sự năm 2005 như bằng lời nói, bằng văn bản, thông qua phương tiện điện tử hay bằng hành vi cụ thể (điều 124) Đối với hình thức của ủy quyền, theo khoản 2, Điều 142 BLDS thì Hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản Trong đời sống xã hội những giao dịch ủy quyền dưới hình thức bằng lời nói, hành vi cụ thể hay thông qua phương tiện điện tử chỉ là những giao dịch nhỏ mang tính thông lệ phục vụ các nhu cầu thông thường trong đời sống thường ngày của con người Đối với các giao dịch ủy quyền mà đối tượng của giao dịch có giá trị lớn, liên quan đến đất đai, nhà ở, chứng khoán, phương tiện vận tải thì pháp luật quy định giao dịch

ủy quyền đó phải được lập thành văn bản có công chứng

Dưới đây, em xin phân tích đặc điểm hai hình thức cơ bản của giao dịch ủy quyền bằng văn bản trong hoạt động công chứng hiện nay là Hợp đồng ủy quyền và Giấy ủy quyền

4 Đặc điểm của giao dịch ủy quyền bằng văn bản.

a Hợp đồng ủy quyền.

Hợp đồng ủy quyền là giao dịch dân sự được quy định khá rõ tại các điều từ

581 đến 589 bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Hợp đồng uỷ quyền (Điều 581)

Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền

có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định

Thời hạn uỷ quyền (Điều 582)

Thời hạn uỷ quyền do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thoả thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng uỷ quyền có hiệu lực một năm, kể từ ngày xác lập việc uỷ quyền

Uỷ quyền lại (Điều 583)

Trang 7

Bên được uỷ quyền chỉ được uỷ quyền lại cho người thứ ba, nếu được bên uỷ quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định

Hình thức hợp đồng uỷ quyền lại cũng phải phù hợp với hình thức hợp đồng uỷ quyền ban đầu

Việc uỷ quyền lại không được vượt quá phạm vi uỷ quyền ban đầu

Nghĩa vụ của bên được uỷ quyền (Điều 584)

Bên được uỷ quyền có các nghĩa vụ sau đây:

1 Thực hiện công việc theo uỷ quyền và báo cho bên uỷ quyền về việc thực hiện công việc đó;

2 Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện uỷ quyền về thời hạn, phạm vi uỷ quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi uỷ quyền;

3 Bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện việc uỷ quyền;

4 Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền;

5 Giao lại cho bên uỷ quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc uỷ quyền theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật;

6 Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này

Quyền của bên được uỷ quyền (Điều 585)

Bên được uỷ quyền có các quyền sau đây:

1 Yêu cầu bên uỷ quyền cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để thực hiện công việc uỷ quyền;

2 Hưởng thù lao, được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc uỷ quyền

Nghĩa vụ của bên uỷ quyền (Điều 586)

Bên uỷ quyền có các nghĩa vụ sau đây:

1 Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để bên được uỷ quyền thực hiện công việc;

2 Chịu trách nhiệm về cam kết do bên được uỷ quyền thực hiện trong phạm vi uỷ quyền;

Trang 8

3 Thanh toán chi phí hợp lý mà bên được uỷ quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc được uỷ quyền và trả thù lao cho bên được uỷ quyền, nếu có thoả thuận về việc trả thù lao

Quyền của bên uỷ quyền (Điều 587)

Bên uỷ quyền có các quyền sau đây:

1 Yêu cầu bên được uỷ quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc uỷ quyền;

2 Yêu cầu bên được uỷ quyền giao lại tài sản, lợi ích thu được từ việc thực hiện công việc uỷ quyền, nếu không có thoả thuận khác;

3 Được bồi thường thiệt hại, nếu bên được uỷ quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 584 của Bộ luật này

Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng uỷ quyền (Điều 588)

1 Trong trường hợp uỷ quyền có thù lao, bên uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được uỷ quyền tương ứng với công việc mà bên được uỷ quyền đã thực hiện và bồi thường thiệt hại; nếu uỷ quyền không có thù lao thì bên uỷ quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được uỷ quyền một thời gian hợp lý

Bên uỷ quyền phải báo bằng văn bản cho người thứ ba biết về việc bên uỷ quyền chấm dứt thực hiện hợp đồng; nếu không báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết về việc hợp đồng uỷ quyền

đã bị chấm dứt

2 Trong trường hợp uỷ quyền không có thù lao, bên được uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên

uỷ quyền biết một thời gian hợp lý; nếu uỷ quyền có thù lao thì bên được uỷ quyền

có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi thường thiệt hại cho bên uỷ quyền

Chấm dứt hợp đồng uỷ quyền (Điều 589)

Hợp đồng uỷ quyền chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

Trang 9

1 Hợp đồng uỷ quyền hết hạn;

2 Công việc được uỷ quyền đã hoàn thành;

3 Bên uỷ quyền, bên được uỷ quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 588 của Bộ luật này;

4 Bên uỷ quyền hoặc bên được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết

b Giấy ủy quyền.

Khác với Hợp đồng ủy quyền được quy định cụ thể và định nghĩa rõ ràng trong chương 18 của bộ luật dân sự, Giấy ủy quyền lâu nay chỉ được thừa nhận mà chưa

có quy định cụ thể định nghĩa Xét về hình thức nó là một loại giấy tờ, văn bản Về bản chất nó là một giao dich dân sự Bởi vì, theo quy định tại Điều 121, BLDS thì Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Việc lập Giấy ủy quyền thể hiện đầy đủ đặc tính của giao dịch dân sự được định nghĩa ở trên

Trước đây, khi luật công chứng và nghị định 79/2007/ND-CP chưa ra đời, tại khoản 2 điều 48 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực có quy định về việc công chứng hợp đồng ủy và quyền giấy ủy quyền và như sau:

1 Việc ủy quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường của bên được uỷ quyền hoặc để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành hợp đồng Trong trường hợp bên uỷ quyền và bên được uỷ quyền không thể cùng đến một cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực, thì bên ủy quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực nơi thường trú hoặc tạm trú

có thời hạn của họ công chứng, chứng thực hợp đồng ủy quyền; bên được uỷ quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực nơi họ thường trú hoặc tạm trú có thời hạn công chứng, chứng thực tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng, chứng thực hợp đồng uỷ quyền

Trang 10

2 Việc ủy quyền không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì không phải lập thành hợp đồng ủy quyền mà có thể được lập thành giấy ủy quyền và chỉ cần người ủy quyền ký vào giấy ủy quyền

Mặc dù nghị định không đưa ra bất cứ một khái niệm nào để phân biệt đâu là giấy ủy quyền đâu là hợp đồng ủy quyền nhưng căn cứ vào trình tự và thủ tục công chứng hai loại văn bản này chúng ta dễ dàng nhận biết khi yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền thì các bên tham gia giao kết phải trực tiếp có mặt tại cơ quan công chứng, các bên phải ký hoặc điểm chỉ vào hợp đồng ủy quyền Đối với Giấy ủy quyền, trình tự thủ tục công chứng đơn giản hơn nhiều như việc pháp luật chỉ yêu cầu bên ủy quyền phải trực tiếp đến cơ quan công chứng mà thôi

Về mặt nguyên tắc, ngoài các trường hợp ủy quyền như: Ủy quyền có thù lao;

Ủy quyền có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của bên được ủy quyền; Ủy quyền để chuyển quyền sở hữu quyền sử dụng bất động sản bắt buộc phải lập thành hợp đồng

ủy quyền thì các giao dịch ủy quyền khác các bên có thể chủ động lựa chọn hình thức giấy ủy quyền

Như vậy, Giấy ủy quyền là một hình thức đại diện ủy quyền do chủ thể bằng hành vi pháp lý đơn phương thực hiện, trong đó ghi nhận việc người ủy quyền chỉ định người được ủy quyền đại diện mình thực hiện một hoặc nhiều công việc trong phạm vi quy định tại Giấy ủy quyền

5 Giá trị sử dụng trong hoạt động công chứng.

Ủy quyền là quan hệ phát sinh thường xuyên trong đời sống xã hội Hiện nay, quan hệ này được điều chỉnh bởi các quy định trong Bộ luật dân sự 2005 Kinh tế xã hội ngày càng phát triển do đó nhu cầu công chứng các giao dịch ủy quyền tại các tổ chức hành nghề công chứng ngày càng nhiều Đây là một hoạt động quan trọng, một thể chế không thể thiếu được của Nhà nước pháp quyền Thông qua hoạt động công chứng, các quy định, hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội, thành hành vi xử sự theo đúng pháp luật Do đó, xét trên bình diện công dân thì công chứng là một công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp

Ngày đăng: 04/12/2016, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w