1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9

27 454 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 6,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp hướng dẫn học sinh cảm thụ tốt văn bản để bồi dưỡng tình cảm, mở rộng nhận thức về cuộc sống, có ý thức học tập, vận dụng phương pháp sáng tác của các tác giả vào bài làm

Trang 1

BẢN TÓM TẮT ĐÈ TÀI

——<——

- Tên đề tài: REN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT BÀI VĂN TỰ SỰ CHO HỌC SINH LỚP 9

- _ Họ và tên giáo viên: Trần Thị Kim Sa

- _ Đơn vị công tác : Trường THCS Thị Tran

1 Ly do chon dé tài:

- Trong nha truong THCS, mén Net van ngoai viéc trang bi cho hoc sinh nhitng

tri thức để đánh giá đúng các vẫn đề văn học, tạo cho học sinh khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học còn có nhiệm vụ giúp học sinh hình thành và phát triển khả

năng sản sinh văn bản mới (nói và viết)

- Học sinh đã được học kiêu bài văn tự sự trong suốt chương trình cấp học với

nhiều cấp độ khác nhau Chương trình Ngữ văn lớp 9 tiếp tục rèn luyện cho các em kĩ

năng làm văn tự sự ở mức cao hơn là kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm và nghị

luận

- Thực tế vì nhiều lí do, học sinh lớp 9 ở trường mà tôi trực tiếp giảng dạy vẫn còn

nhiều hạn chế khi làm kiểu bài này Đề tài “Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho

học sinh lớp 9” phân tích thực trạng chất lượng bài viết, đề ra kinh nghiệm, phương

pháp giảng dạy, cách thức rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự, góp phần nâng cao

chất lượng dạy học bộ môn

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu :

Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, phân tích đối chiếu với thực trạng đưa ra những

đề xuất có tính khoa học để giáo viên vận dụng

3 Giải pháp rèn kĩ năng làm văn nghỉ luần văn học cho học sinh:

Làm văn tự sự là huy động tông hợp kiên thức Văn học, Tiếng Việt, Tập làm

văn và cả kiến thức về đời sống

Giáo viên:

- Đôi mới phương pháp theo hướng tích cực hóa hoạt động dạy của giáo viên, học

của học sinh

- Có phương pháp dạy lý thuyết tập làm văn tự sự kết hợp yếu tố miêu tả, miêu tả

nội tâm, nghị luận, hình thức đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trên cơ sở

củng cô kiến thức đã học và bổ sung, nâng cao, chú trọng cách làm bài, hướng nhiều

Người thực hiện: Trần Thi Kim Sa 1

Trang 2

vào việc thực hành đề rèn luyện kĩ năng cần thiết cho các em: kĩ năng phân tích dé, tim y, lap dan y, viét doan va lién két doan U6n nan, stra chira kip thời

- Phương pháp hướng dẫn học sinh cảm thụ tốt văn bản để bồi dưỡng tình cảm,

mở rộng nhận thức về cuộc sống, có ý thức học tập, vận dụng phương pháp sáng tác

của các tác giả vào bài làm văn tự sự; vận dụng tốt kiến thức và kĩ năng thực hành về

tiếng Việt, chuẩn bị tốt nhất cho việc viết bài tập làm văn

- Thực hiện tốt khâu hướng dẫn làm bài, chấm bài, thực hiện tốt tiết trả bài viết

Học sinh:

- Tích cực học tập: chuẩn bị bài tốt ở nhà, đọc sách báo để mở rộng, nâng cao

nhận thức về đề tài và kĩ năng sử dụng tiếng Việt

- Nắm vững kiểu văn bản và yêu cầu tạo lập văn bản, vận dụng tốt lý thuyết vào

thực hành, mạnh dạn trình bày một sự việc theo suy nghĩ, cảm xúc của bản thân

4 Hiệu quả áp dụng:

Nhờ có sự đôi mới trong phương pháp dạy và học nên chất lượng bài viết văn tự

sự của học sinh được nâng cao rð rệt Cụ thể là:

+ Đa số bài làm của các em đều đáp ứng được yêu cầu của đề về nội dung, thê loại

+ Nắm vững hơn phương pháp làm văn tự sự, biết chọn chi tiết kê, rất ít bài viết

lan man hoặc quá sơ lược, nghèo ý

+ Ngày càng nhiều học sinh có sự tìm tòi sáng tạo, thể hiện sự cảm nhận, óc

quan sat tinh tế khi viết bài văn tự sự, vận dụng kết hợp tốt các phương thức biểu dat + Rất ít bài viết còn mắc các lỗi chính tả, dùng từ Tình trạng viết câu sai ngữ

pháp, không phân đoạn hay tách đoạn tùy tiện cũng giảm đáng kẻ, biết sử dụng dấu

câu hợp lí, phân biệt lời kê và lời thoại rõ ràng

Trang 3

A.MỞ ĐẦU

1.LY DO CHON DE TAI:

Trong nhà trường nói chung, trong trường THCS nói riêng, Ngữ văn là môn

học trang bị cho học sinh những tri thức để đánh giá đúng các vẫn đề văn học (bao

gồm: tác phẩm, tác giả, các quá trình văn học ), có nghĩa là góp phân tạo cho học

sinh khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học trong việc tiếp nhận cũng như khả năng biết đánh giá đúng đẫn, khoa học các hiện tượng

Song song với nhiệm vụ trên là quá trình giúp học sinh hình thành và phát triển khả năng sản sinh văn bản mới (nói và viết)

Làm văn là phân môn hướng tới nhiệm vụ thứ hai này Nó giúp học sinh hình

thành những kĩ năng cần thiết để làm được bài văn, trong do dang bai sang tac van học được chú trọng đầu tiên (miêu tả, tường thuật, kế chuyện ) Trong nhà trường

phổ thong, nhin chung không đặt ra yêu câu sáng tác văn học Tuy nhiên để phù hợp với lứa tuổi, học sinh THCS được làm quen với kiểu sáng tác, tạo tiền đề cho các em

có thể vận dụng tốt trong quá trình học sau này

Người thực hiện: Trần Thi Kim Sa 3

Trang 4

Những bài văn hay loại này là những bài vấn viết đúng quy cách, chân thật, có những khám phá hồn nhiên về thiên nhiên và đời sống gia đình, xã hội

Trong chương trình Ngữ văn THCS.Tuy đã được học văn tự sự từ lớp 6 (ở THCS) nhưng vì nhiều lí do, học sinh làm loại văn này vẫn chưa tốt Qua thực tế giảng dạy,

tôi thấy học sinh còn mắc nhiêu lỗi mà nếu giáo viên có thể giúp các em khắc phục được thì kết quả sẽ tốt hơn Những hạn chế trong bài làm văn tự sự của học sinh một phân là do bản thân các em, một phần do giáo viên chưa có biện pháp giúp đỡ phù

hợp

Là giáo viên được trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9, tôi luôn trăn trở

trước thực trạng chất lượng bài viết văn tự sự của học sinh Vì vậy tôi chọn đề tài

“Rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 2”, với mục đích phân tích thực trạng chất lượng bài viết của học sinh hiện nay, đối chiếu với phương pháp

giảng dạy của giáo viên, đề ra kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy, cách thức rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh, gop phan nâng cao hơn nữa chất

lượng dạy học văn, giải quyết tình hình kém chất lượng trong dạy học văn hiện nay

2 ĐÔI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Giáo viên, học sinh lớp 9 trường THCS Thi Tran nam học 2009 - 2010, 2010 -

2011

Một số tiết dạy văn bản, tiếng Việt và tập làm văn của giáo viên lớp 9 trong

trường mà tôi được dự giờ trao đôi kinh nghiệm

Bài viết của học sinh ở các lớp được giảng dạy năm học 2009 -2010, 2010 -

2011

3 PHAM VI NGHIÊN CỨU:

Do thời gian và điêu kiện của bản thân, trong phạm vi giải pháp, tôi tập trung đề cập đến:

- Những cơ sở ly luận để nghiên cứu giải pháp

- _ Thực tiễn của van đề nghiên cứu

- _ Thực trạng bài viết văn tự sự của học sinh, thực trạng quá trình giảng dạy của giáo viên

- _ Những giải pháp rèn luyện kĩ năng viết bài văn tự sự cho học sinh lớp 9 đạt

kết quả cao

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Đề thực hiện giải pháp tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

a Nghiên cứu tài liệu:

Nghiên cứu tài liệu nghiệp vụ dạy học môn Ngữ văn lớp 9, sách giáo khoa, sách

giáo viên, ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lí giáo dục, quản lý chuyên

môn, các giáo viên giỏi trong toàn quốc trên các bài viết đăng trên các tạp chí khoa

học

b Phân tích đối chiếu:

Phân tích đối chiếu yêu cầu giữa chuân kiến thức, chuẩn kĩ năng đối với học sinh lớp 9 bậc THCS với những bài viết thực tế của học sinh, tìm ra những hạn chế chủ yêu của học sinh khi viết bài tự sự

c Giả thuyết khoa học:

Trang 5

Đưa ra những giải pháp, những đề xuất có tính khoa học để giáo viên vận dụng

vào việc rèn luyện kĩ năng việt bài văn tự sự cho học sinh nhăm phát huy khả năng tư duy, khám phá, sáng tạo, năng lực giao tiêp

B NỘI DUNG

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Từ năm 1998, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai dự án phát triển giáo dục

THCS nhằm đổi mới một cách toàn diện bậc học này Thực hiện Nghị quyết số

40/2000/QH khóa 10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội, tháng 9 năm 2002, cả nước bắt đầu dạy học theo chương trình và SGK THCS mới bắt đầu từ lớp 6 Môn Ngữ văn là

một trong những môn học có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống các môn học của

nhà trường phô thông cũng là môn học có nhiều thay đổi nhất trong việc đôi mới chương trình, SGK, phương pháp đến đánh giá kết quả học tập Nhiều vẫn đề được đặt ra khi phải tiếp cận một chương trình mới, trong do vẫn đê đôi mới phương pháp

nâng cao chất lượng học tập của học sinh là vẫn đề được đặt lên hàng đâu Chương

trình SGK Ngữ văn lớp 9 được tô chức thực hiện từ năm 2005 -2006 đến nay đã được

gần 6 niên học Nội dung đổi mới chương trình, việc đổi mới phương pháp giảng dạy, chất lượng học tập của học sinh đã được phản ánh sôi nôi trên báo chí, trong hội thảo

khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng, song bài toán chất lượng là điều làm cho các nhà quản lý giáo dục, quản lý chuyên môn phải tính toán

Quan điểm đôi mới phương pháp dạy học chương trình Ngữ văn 9 là phải kết hợp nhiều phương pháp trong dạy học, là phải “tích hợp nhiều phương pháp trong bài học, tiết học và trong cả quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên cơ sở xác định phương pháp chính gắn với đặc trưng của môn học Tổ chức hoạt động dạy học theo

hướng tích cực, phát huy năng lực chủ động, sáng tạo ở cả người dạy lẫn người học,

chú trọng khái quát nội dung kiến thức tạo thuận lợi để học sinh lĩnh hội và phát triển

các thao tác tư duy khoa học Tăng cường và sử dụng hợp lý các phương tiện trong

dạy học, “nâng cao chất lượng hoạt động thực hành hướng tới đảm bảo sự phát triển năng lực cho mỗi cá nhân” (Tài liệu bôi dưỡng giáo viên dạy SGŒK lớp 9 -Vụ giáo dục

trung học trang 6,7) Lớp 9 là lớp cuối của vòng II, đồng thời cũng là lớp cuối cùng của cấp THCS nên có một vị trí hết sức quan trọng : vừa phải tổng kết được những

kiến thức, kĩ năng được học tập, rèn luyện trong bốn năm học, vừa phải chuẩn bị cho các kì thi, tạo tâm thế, tiềm lực cho học sinh học lên THPT hoặc đi vào cuộc sống

Tập làm văn tự sự trong chương trình lớp 9 là sự kế thừa và nâng cao kĩ năng

làm văn thê loại này mà học sinh đã được học, được rèn luyện từ các lớp dưới Cùng

Người thực hiện: Trần Thi Kim Sa 5

Trang 6

với miêu tả, biểu cảm, làm văn tự sự thuộc dạng sáng tác văn học Đặc trưng cơ bản

của kiểu bài là kích thích trí tưởng tượng phong phú, xây dựng óc quan sát tinh tế cho học sinh đối với những sự việc, hiện tugng trong đời sông gia đình và xã hội, qua đó bồi dưỡng cho các em những tình cảm tốt đẹp

Người giáo viên bao giờ cũng muốn hoc tro cua minh lam được những bài văn hay Bài văn hay trước hết phải là viết đúng (đúng theo nghĩa tương đối, nghĩa là

trong khuôn khổ nhà trường) Hay và đúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Bài

văn hay trước hết phải đúng yêu cầu của đề bài, đúng những kiến thức cơ bản, hình thức trình bày đúng quy cách , đồng thời phải thê hiện sự sáng tạo, trí tưởng tượng phong phú mà vẫn chân thật, sinh động Tuy nhiên, giúp học sinh làm được như thế không phải là dễ

Năm 2008, Bộ Giáo dục tiếp tục triển khai cho giáo viên trên toàn quốc một số vẫn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó phương pháp giảng dạy phân môn Tập làm văn được chú trọng nhiều nhật cũng đã mở ra nhiều hướng suy nghĩ mới, giúp cho giáo viên giảng dạy tốt hơn nếu biết tự nghiên cứu và vận dụng

sảng tạo hơn -

2 CO SO THUC TIEN:

a Thực tiễn của vẫn đề nghiên cứu:

- Vẫn đề đôi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 2 nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng đã dược quan tâm rất nhiều Với sự chỉ đạo của các cap quan lí chuyên môn, về cơ bản đại đa số giáo viên đã nắm được phương pháp, vận dụng sáng tạo theo tình hình địa phương và theo đối tượng học sinh Tuy nhiên thực tế vẫn còn

nhiều giáo viên thực hiện chưa đúng chức năng, chưa tích cực nghiên cứu, tìm ra

phương pháp giảng dạy đạt hiệu quả cao, dẫn đến chất lượng học tập của học sinh

chưa được nâng lên, trong đó chất lượng bài viết văn tự sự rất đáng quan tâm Kết quả

các bài kiểm tra và thi học kì đạt rất thấp, chất lượng bài làm của học sinh giỏi chưa

thật xuất sắc

- Đi sâu vào tìm hiểu thực trạng chúng ta có thê thay duoc su han ché trong

phương pháp giảng dạy của giáo viên lẫn phương pháp tự học, tự nghiên cứu của của

+ Giờ học văn bản, sự gợi mở giúp học sinh cảm thụ tác phẩm chưa đạt kết quả

cao Học sinh thụ động buộc giáo viên giảng nhiễu, làm việc nhiều, làm thay cho trò,

làm tê liệt sự hào hứng học văn bản của học sinh, do đó không kích thích được niềm

say mê, chưa khơi gợi ý tưởng sáng tác văn chương của các em Giáo viên cũng chưa

giúp học sinh hiểu rõ và nắm vững các yếu tô nghệ thuật cơ bản khi xây dựng nên tác phẩm tự sự như tình huống, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng để

các em học tập, vận dụng

+ Giờ Tiếng Việt đòi hỏi giáo viên dạy cho học sinh dùng tiếng Việt một cách

chính xác để giao tiếp, có cách diễn đạt tốt trong khi tạo lập văn bản, nhưng giáo viên

Người thực hiện: Trần Thi Kim Sa 6

Trang 7

chưa vận dụng tối đa các tình huống giao tiếp, cho học sinh thực hành ít nên nhiều em

viết sai chính tả, nghèo vốn từ, dùng từ chưa chính xác, đặt câu chưa đúng ngữ nghĩa, ngữ pháp Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng bài văn

+ Giờ Tập làm văn học sinh chưa được học đến nơi đến chỗn Giáo viên chưa có

cách giúp học sinh có được những kiến thức và kĩ năng theo chuẩn bằng những ví dụ

mẫu linh hoạt sáng tạo, gắn với thực tế đời sống hàng ngày, có tác dụng khắc sâu kiến

thức (ngoài SGK) Giáo viên chưa chú ý đúng mức đến việc phát huy tinh thần tích

cực chủ động của học sinh khi học lý thuyết làm văn tự sự theo yêu cầu kết hợp sử dụng các yếu tố biểu cảm, miêu tả nội tâm, ngh\ luận, trước khi tạo lập văn bản

hoặc bài thực hành luyện tập, luyện nói Khi xây dựng dàn ý cho bài làm văn tự sự, giáo viên dễ thiên về cảm nhận chủ quan khi đưa ra những gợi ý, uốn nắn học sinh,

khiến các em trở nên rụt rè, thiếu tự tin, vì vậy mà khả năng tư duy, sáng tạo của học

sinh không được phát huy, cảm xúc bị gò bó

- Việc xác định các phương pháp dạy tập làm văn cũng chưa thật sự phủ hợp, tối

ưu Có giáo viên chọn phương pháp bình giảng trong tiết cung cấp kiến thức về kiểu

bài, chưa chú trọng các phương pháp thực hành trong giờ luyện tập, ra bài tập về

nhà

- Giáo viên chưa nghiên cứu kĩ chuẩn kiến thức - kĩ năng, xác định đầy đủ mục

đích yêu cầu cần đạt, kĩ năng cần rèn luyện trong từng bài Việc bố trí thời lượng cho

tiết dạy chưa hợp lý, chưa dành nhiều thời gian cho thực hành, giáo viên khó có thể

rèn luyện kĩ năng cho học sinh

- Việc chấm bài của giáo viên cũng còn nhiều thiếu sót Đôi khi giáo viên chỉ cho học sinh biết điểm, có bài chấm không có lời phê nào hoặc phê bài còn qua loa, chưa

cân thận, chưa cụ thê Đa số giáo viên phê bài rất chung chung, nhận xét khái quát Nhiều lời phê, nhận xét bên lễ bài viết chưa giúp học sinh thấy được cụ thẻ lỗi sai của

mình mà sửa Các em không biết phải làm như thế nào khi bị nhận xét là “kế chuyện

chưa cụ thê, chân thực”, hoặc “chuyện chưa có ý nghĩa sâu sắc”, “khô khan” Các em cũng không rõ lý do tại sao, vì lẽ gì mà đoạn văn, câu văn của minh bi phé la “lung

củng”, “câu què”, “tối nghĩa”, cũng không hiểu có khi chỗ này “dùng từ” là nghĩa làm sao (sai hay đúng ? Nếu sai thì sai thế nào?), chỗ kia “diễn đạt” là trục trặc hay trôi

chảy, chỗ nọ một từ gạch chân là hay hay dở? Như thế rất khó giúp học sinh hiểu rõ

mà tự sửa được, rút kinh nghiệm được

- Những giờ trả bài tiên hành không thông nhất theo chuyên đề mà ngành chuyên

môn đã triển khai Đa số giáo viên thực hiện không mấy công phu Giáo án trả bai của giáo viên thường soạn qua quỹ, không ghi rõ những lỗi cân phải sửa trên lớp, hoặc có thì cũng không ghi rõ cách sửa; lỗi nhặt từ bài làm của học sinh không tiêu

biểu khó có thê rèn luyện những kĩ năng cần thiết nhất định Có giáo viên trả bài rồi

mới nhận xét ưu khuyết điểm, hướng dẫn học sinh sửa chữa

+ Về phia hoc sinh:

- Chưa coI trọng bộ môn so với các môn khoa học tự nhiên nên chưa đầu tư, chưa

có thái độ học tập đúng đắn; chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chưa chịu khó đọc các tài liệu tham khảo thêm để mở rộng kiến thức

Người thực hiện: Trần Thi Kim Sa 7

Trang 8

- Trước một đè bài văn tự sự, các em ít chịu khó suy nghĩ, tưởng tượng sáng tạo,

mà chỉ đọc loáng thoáng, phóng bút viết tràng giang dai hai, khong can xác định phải

kế theo trình tự nào, các tình tiết nào cần phải kê rõ ràng, cụ thé, tình tiết nào nên lượt

thuật, cách thể hiện các nhân vật nhân vật chính, phụ như thế nào .cũng như ý nghĩa,

bài học sâu sắc rút ra từ câu chuyện Nhiều bài văn chưa đạt yêu cầu do chưa biết cách kế chuyện, chưa xây dựng được cốt truyện, tình huống, sự việc một cách chân

thực, sinh động, lời văn quá thô thiển hoặc không được trong sáng, rõ ràng

- Thiếu năng lực cảm thụ văn học, năng khiếu văn chương, hạn chế về khả nang, y thức nhận thức cuộc sống Vì vậy làm văn tự sự chỉ mang tính gượng ép, , nhằm mục đích đối phó là chính

- Về ngữ pháp, kĩ năng dùng từ, viết câu của học sinh hiện nay còn bộc lộ nhiều yếu kém Trong bài viết của các em có nhiều cau que, cau cut, cau tối nghĩa Tình

trạng mắc lỗi chính tả, dùng từ sai cũng rất phố biến Có bài viết từ đầu đến cuối các

em không sử dụng dấu câu nào hoặc sử dụng không đúng

* Những hạn chế chú yếu khi học sinh viết bài văn tự sự ở lớp 9:

- Chua nam vững đặc trưng cơ bản của thể loại tự sự, cách viết bài văn tự sự đã học ở các lớp dưới, chưa xây dựng được câu chuyện có bố cục hoàn chỉnh, có cốt

truyện hợp lí, có ý nghĩa theo yêu cầu đề bài, cách kê chưa tự nhiên, chân thực, sinh động (kết hợp các yếu tố miêu tả và biểu cảm)

- Chưa nắm được yêu cầu nâng cao năng lực, trình độ viết bài văn tự sự ở lớp 9

Đó là yêu cầu kết hợp yếu tÕ miêu tả nội tâm trong việc khắc họa đặc điểm, tính cách

nhân vật; kết hợp yếu tố nghị luận để làm nỗi bật ý nghĩa sự việc, tô đậm tính chất

triết lí của câu chuyện; sử dụng hiệu quả các yếu tố đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm

Do đó khi tạo lập văn bản tự sự các em thường mắc các khuyết điểm sau:

+ Tìm không ra sự việc để kế nên giới thiệu lòng vòng câu chuyện hoặc đi vào

miêu tả nhân vật quá nhiều

+ Không biết lựa chọn chi tiết tiêu biểu, quan trong dé ké nén viét lan man, dai dòng, lời thoại quá vụng về, thô thiển, thiếu tính thâm mỹ, chọn lọc

+ Kể diễn biến sự việc chưa sinh động, chân thực, hấp dẫn người đọc do chưa

vận dụng phù hợp, tự nhiên các yếu tố miêu tả, biêu cảm, nghị luận Thường thì các

em hay hạn chế ở việc thể hiện nội tâm nhân vật do không hiệu rõ quy luật tâm lí, bộc lộ cảm xúc thiếu tự nhiên, thậm chí dẫn đến những sự việc hoặc kết thúc vô lí Kết hợp yếu tố nghị luận chưa khéo léo, tế nhị, làm giam di gia tri của câu chuyện + Thực hiện nhiệm vụ từng phần trong bố cục ba phần của bài làm văn chưa đầy

đủ Ví dụ khi viết phần mở bài, yêu cầu học sinh phải giới thiệu chung về câu chuyện,

nhân vật được kể, hoàn cảnh xảy ra câu chuyện, nhưng nhiều em lại đi thắng vào diễn

biến cốt truyện như các nhà văn thực thụ, được “phả cách”, và đôi khi cũng không cần nêu lên suy nghĩ, ấn tượng gì của mình trong phân kết bài ( chỉ kết thúc câu chuyện)

Như thế sẽ làm cho ý nghĩa bài văn bị dàn trải, lại chưa mở ra được hướng suy nghĩ cho người đọc

Người thực hiện: Trần Thi Kim Sa 8

Trang 9

+ Kĩ năng dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, lối diễn đạt, cách hành văn còn nhiều hạn chế Đặc biệt, nhiều em chưa biết cách trình bày bài văn tự sự, ngắt đoạn không

đúng chỗ, không phân biệt lời thoại với lời kể

b Su cần thiết của đề tài :

Dé tai cd tác dụng giúp giáo viên Ngữ văn đối chiếu giữa lý luận với thực tế

chất lượng bộ môn mình giảng dạy, đặc biệt là chất lượng làm văn tự sự của học sinh

lớp mình phụ trách, vận dụng những giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng, giải

quyết một phân tình hình học sinh học yêu kém bộ môn Ngữ văn như hiện nay, cũng

là góp phân quan trọng vào việc rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp cho học

sinh

3 NOI DUNG VAN DE:

a Dat vẫn đề:

- Yêu câu chủ yếu của tập làm văn tự sự ở lớp 9 là củng có tri thức và kĩ năng đã

được học ở các lớp đưới, đồng thời nâng cao hơn kĩ năng viết bài Qua đó bồi dưỡng

năng lực quan sát, nhận thức và giáo dục tình cảm cho học sinh trước những sự việc,

con người trong đời sống xung quanh

- Hơn nữa, chương trình Ngữ văn mới coi phần tập làm văn là sự tổng hợp của ngôn ngữ và văn (tích hợp ngang) và nguyên tắc ôn cũ - hiểu mới (tích hợp đồng

tâm), đảm bảo truyền thụ tri thức có hệ thống khoa học (tích hợp dọc)

Khi làm bài tập làm văn, học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức tiếng Việt để viết đúng chính tả, câu đúng ngữ pháp, dùng từ chính xác, phủ hợp với phong cách văn bản nhằm đạt được yêu cầu của đề bài và để có một bài văn hoàn chỉnh, phần văn bản có vai trò hỗ trợ làm văn tự sự về phương pháp, đề tài sáng tác, kích thích trí

tưởng tượng, óc quan sát của học sinh Bên cạnh đó, việc nam vững phương pháp làm

văn là yêu cầu không thể thiếu được

Như vậy Tập làm văn nói chung, làm văn tự sự nói riêng là môn học mang tính thực hành toàn diện tổng hợp và sáng tạo, có vị trí đặc biệt trong chương trình Ngữ văn Vì thế giáo viên phải dạy tốt, học sinh phải học tốt ở tất cả các phân môn Tập làm văn, Văn học, Tiếng Việt để chuẩn bị tốt cho việc thực hành tông hợp này

b Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận văn học cho học sinh

lớp 2:

b.1 Đối với bản thân giáo viên:

- Dạy học Ngữ văn cũng như nhiều môn học khác, giáo viên cần thực hiện đổi mới

phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa các hoạt động nhận thức của học

sinh Tăng cường tổ chức các hoạt động cho các em, chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp học và tự học một cách chủ động, tăng cường hoạt động cả nhân với nhóm, làm cho các em tự đánh giá được năng lực và kết quả làm văn của mình

- Nắm chắc các phương pháp giảng dạy nhắm tích CỰC hóa các hoạt động của người

học Ngoài các phương pháp phô biến như nêu vẫn đè, vấn đáp, hoạt động hợp tác,

giao vién co thể sử dụng lời nói nghệ thuật, thông báo, giải thích, trò chơi, trực

quan Các bước lên lớp cần linh động, chú ý đến hoạt động giao tiếp Đây là một

biện pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh trong việc tạo lập văn bản, phát huy vai trò chủ thể của học sinh một cách thực sự

Người thực hiện: Trần Thi Kim Sa 9

Trang 10

- Phân bố cân đối thời gian giữa dạy lý thuyết và thực hành, quan tâm nhiều đến các

thao tác rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Học sinh là chủ thể làm chủ mọi thao

tác dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tránh áp đặt làm giảm khả năng suy nghĩ, sáng

tạo của các em

- Như đã nói, Tập làm văn là môn học mang tính chất thực hành — tổng hợp, đòi hỏi

học sinh phải vận dụng cả kiến thức, kĩ năng về Văn học, Tiếng Việt Do vậy, dạy học tập làm văn không thê tách rời hai phân môn này Căn cứ vào chương trình, chuẩn

kiến thức — kĩ năng, giáo viên phải chú ý vận dụng tích hợp các phân môn một cách thường xuyên, nhuần nhuyễn và linh hoạt Trong đó, Tập làm văn vẫn đóng vai trò

chủ đạo

* Dạy học phần môn Tập làm văn:

Đề rèn luyện tốt kĩ năng làm bài văn tự sự cho học sinh, việc hướng dẫn tìm hiểu lý

thuyết là rất quan trọng Trước hết giáo viên cần cho học sinh năm lại những kiến

thức đã học về kiểu bài, sau đó mới hình thành kĩ năng về Văn học, Tiếng Việt, làm

văn theo yêu cầu của toàn cấp THCS GV cần cho học sinh ôn lại thế nào là văn tự sự, các yêu tô quan trọng, cơ bản trong văn tự sự như tình huống, cốt truyện, nhân vật, nhắn mạnh vai trò của người kế chuyện và ngôn ngữ kẻ

Đối với kiểu bài tự sự, học sinh đã được học những kiến thức và kĩ năng cơ bản từ lớp 6 và được nâng cao hơn ở lớp 8 (kết hợp yếu tố miêu tả và biểu cảm) Trong

chương trình lớp 9, làm văn tự sự đạt đến yêu cầu cao nhất, có sự kết hợp gần như tất

cả các phương thức biểu đạt Nếu ở các lớp dưới, bài làm văn tự sự phải đạt mức độ

đúng thì đến lớp 9, bài văn này không chỉ phải “đúng” mà còn thực sự “hay” Yêu cầu nâng cao kĩ năng viết bài văn tự sự được trình bày qua các đơn vị bài học chủ yếu là:

Miêu tả trong văn bản tự sự, Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự; Nghị luận trong văn bản tự sự; Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự;

Người kế chuyện trong văn bản tự sự Và giáo viên sẽ từng bước củng cỗ, hướng

dẫn học sinh hoàn thiện kĩ nang lam bai o Bai viết văn tự sự (Bài viết số 2 và số 3) Trước khi đi vào tìm hiểu và rèn luyện kĩ năng thực hành vận dụng Các yếu tố trên

vào bài văn tự sự, giáo viên cần giúp học sinh năm lại kiến thức cơ bản vẻ văn tự sự.VD: Thế nào là văn tự sự ? (Văn bản chủ yếu dùng phương thức tự sự — là phương

thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, để từ đó nêu lên

một ý nghĩa nào đó); các yếu tô quan trọng không thể thiếu trong văn bản tự sự là gi?

(sự việc, nhân vật, cốt truyện, ngôi kể ) Sau đó giúp các em hiểu rõ vai trò, tác dụng

của các yếu tô đan xen trong bài văn nghị luận và có được kĩ năng làm bài thông qua từng đơn vị kiến thức

- Bài Miêu tá trong văn bản tự sự (Bài 6 - tiết 33):

Học sinh đã thấy được vai trò và ý nghĩa của yêu tỗ miêu tả trong văn tự sự ở lớp

8 Song qua việc phân tích đoạn văn trích theo yêu cầu SGK, cần cho các em hiểu rõ

hơn rằng việc miêu tả tái hiện lại những hình ảnh, trạng thái, đặc điểm, tính chất

của sự vật, con người và cảnh vật trong tác phẩm sẽ làm cho lời kê trở nên cụ thể, sinh động và hấp dẫn

Người thực hiện: Trần Thị Kừn Sa 10

Trang 11

Cần dành thời gian cho học sinh thực hành luyện tập nhận biết, phân tích tác dụng của yếu tố miêu tả trong văn tự sự và viết đoạn văn tự sự kết hợp miêu tả Uốn

năn, sửa chữa để hoàn thiện kĩ năng hơn

VD: Bài tập 1 (SGK/ trang 92): Các yêu tố miêu tả người và tả cảnh trong đoạn

trích Chị em Thúy Kiểu và Cảnh ngày xuân nhằm tái hiện lại chân dung “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” của Thúy Kiều và Thúy Vân và làm nổi bật cảnh sắc

mùa xuân, làm cho văn bản sinh động, hấp dẫn và giàu chất thơ

Bài tâp 2 (SGK/trang 92): Có thể hướng dẫn học sinh viết đoạn văn kê về việc

chi em Thúy Kiều đi chơi trong buồi chiều ngày Thanh minh dựa vào đoạn trích

Cảnh ngày xuân: (Lưu ý xác định các từ ngữ có tác dụng gợi tả hình ảnh thiên nhiên,

không khí lễ hội, trạng thái tâm lí con người )

VD: “Một buổi chiều xuân trong tiết Thanh mình, những cánh chim én ron rang bay liệng như thoi dựa giữa bầu trời trong sáng, thảm có non như trải rộng tới chân

trời, trên cành lê điểm một vài bông hoa trăng Chị em Thúy Kiều hòa vào dòng

người nhộn nhịp di chơi xuân Tiết Thanh mình moi người sam sửa lễ vật đi tảo mộ

và vui hội đạp thanh Quang cảnh thật rộn ràng, tấp nập Khi mặt trời ngả bóng về tây, không khí lặng dẫn, chị em Kiêu ra về trong tâm trạng bang khuâng `

Ngoài bài tập SGK, giáo viên có thể ra thêm bài tập về nhà cho học sinh: Viết đoạn văn ngắn kể về một sự việc mà em quan sát, chứng kiến

- Bài “Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự” (Bài 8 - tiết 40):

Nhân vật là yếu tỗ quan trọng nhất của tác phẩm tự sự Để xây dựng nhân vật nhà

văn thường miêu tả ngoại hình và miêu tả nội tâm Miêu tả nội tâm nhằm khắc họa

“chan dung tinh thần” của nhân vật, là tái hiện lại những trăn trở, dan vat, những rung

động tinh vi trong tình cảm, tư tưởng của nhân vật (những yếu tố này nhiều khi không

thé tái hiện được bằng miêu tả ngoại hình) Vì thế miêu tả nội tâm có vai trò và tác

dụng to lớn trong việc khắc họa đặc điểm, tính cách nhân vật

Liên hệ, hướng dẫn học sinh phân tích đoạn trích Kiểu ở lầu Ngưng Bích và Lão

Hạc (SGK) đề biết được các cách thức khác nhau để miêu tả nội tâm nhân vật: diễn tả trực tiếp những ý nghĩ, cảm xúc, tình cảm của nhân vật; cũng có thể miêu tả nội tâm gián tiếp thông qua miêu tả cảnh vật, nét mặt, cử chỉ, trang phục của nhân vật Từ

đó rèn luyện kĩ năng sử dụng các yếu tố miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự Có thể

tô chức theo nhóm, gol y dé hoc sinh thyc hanh tai lớp các bài tập 1,3 trong phan

Luyện tập (SGK)

Bài tập 1: Thuật lại đoạn trích Mã Giúm Sinh mua Kiêu bằng văn xuôi, chú ý miêu

tả nội tâm của nàng Kiêu

Giáo viên hướng dẫn học sinh chuyên thành văn xuôi đoạn trích, lưu ý về độ dài đoạn văn, lựa chọn ngôi kế thứ nhất hoặc ngôi kế thứ ba (dựa vào đoạn trích thơ đã

học để xác định các sự việc diễn ra và tâm trạng của Kiều lúc đó)

VD: Søu khi Kiều quyết định bản mình chuộc cha, mmụ mỗi đưa một gã đàn ông đến nhà Vương ông Gã đàn ông ấy khoảng hơn bốn mươi tuổi, ăn mặc chải chuốt tới mức đỏm dáng Hắn xưng là Mã Giám Sinh nhưng khi vào nhà, chủ nhà hỏi han trò

chuyện thì hắn bộc lộ rõ chân tướng la mot ké luu manh vo hoc bang những câu trả

lời cộc lốc, trồng không, với cử chỉ ngồi tót lên ghế trên một cách số sàng Gã ngồi

Người thực hiện: Trần Thị Kừn Sa 11

Trang 12

gat gu, co vé ung y khi xem xet, “kiểm tra” tài sắc của Kiểu như một món hàng ngoài

chợ, rồi bắt đầu một cuộc mặc cả đúng nòi con buôn Trong khi mụ mỗi và Mã Giám Sinh dường như đang “say đòn” với cuộc mua bản thì nàng Kiểu đáng thương

chết lặng đi trong nỗi dau đớn, tuổi nhục ê chễ Nàng đâu ngờ cuộc đời mình lại

đến nông nỗi này ? Cuối cùng thì cuộc mặc cả cũng kết thúc, một người con gải tài sắc, đoan trang, hiểu thảo được định giá “vàng ngoài bốn trăm”

Bai tap 2: Ghi lại tâm trạng của em sau khi dé xảy ra một chuyện có lỗi với bạn

Cân lưu ý học sinh kể lại sự việc không hay mà mình gây ra cho bạn là việc gì, diễn ra như thế nào, tâm trạng của em sau khi gây ra việc không hay đó ra sao, có thể miêu tả nội tâm bằng cách nào Cho học sinh tham khảo văn bản Bải học đường đời

đâu tiên (Ngữ văn 6, tập hai), xác định đâu là kết hợp miêu tả nội tâm của nhân vật

trong bài, từ đó vận dụng vào bài làm của mình (Nên viết ngắn gon)

VD: Doan văn miêu tả nội tâm: “Ngắm ra thì tôi chỉ nói lấy sướng miệng tôi Còn

Dé Choat than thé thé nao, tôi cũng không để tai Hồi ấy, tôi có tính tự đắc, cứ miệng mình nói tai mình nghe chứ không biết nghe ai, thậm chí cũng chẳng để ÿ có di nghe mình không `"

(Theo Dé mén phiêu lưu kỹ Gọi 2 - 3 em trình bày, cả lớp cùng góp ý sửa chữa Giáo viên bô sung, uốn nắn

Có thể đọc đoạn văn cho học sinh tham khảo:

Một hôm tôi bị mất cây bút kim tỉnh mà người cậu vừa mới tặng Tôi vừa buôn vừa sợ nên khóc ltu hu Co giao bảo cả lớp mở cặp sách cho cô khảm xét Cả lớp lào

rào tiếng mở cặp, xì xâm, bàn tản Chợt có một người không chịu mở cặp cho cô xem Đó là Hạnh, cô bạn ở cạnh nhà tôi Cô bé rất say mê đọc truyện và thích những

đồ vật lung linh, dep mắt Mặt Hạnh tái mét Cô giáo giat lấy chiếc cặp mở toang ra

Và tôi thấy có cây bút của mình ở trong đây Cả lớp làm âm lên, cô hỏi Hạnh: “Tại sao em lại lấy cắp của bạn? ”Hạnh giàn giụa nước mắt, giọng đứt quãng: “Da !

Thưa em không lấy cap Em nhat dugc a !” Cô giáo bảo: “Nếu nhặt được của rơi thì em phải trả lại cho người đánh mất chứ Em làm cô thất vọng quả” Tôi tức

giận ném cho Hạnh cải nhìn khinh bí: “Bạn đừng nói dối ! Đồ ăn cắp” Và từ đó tôi

bắt đầu xa lánh Hạnh

Rồi một hôm đang giờ học, Hạnh mang lên cho cô giáo một hộp bút chì màu

bảo là nhặt được Tuần sau, Hạnh lại mang lên một cuon tập mới, rồi một số tiên nhặt được Có lúc tôi cắm thấy dường như mình có lỗi với Hạnh

Một hôm, mẹ Hạnh hớt hải chạy sang xin mẹ tôi một củ gừng Hạnh bị cảm lạnh Tôi cũng theo mẹ chạy sang Mẹ Hạnh ké dao nay hé di hoc vé la Hạnh tranh thủ đi hốt trấu hoặc ra ruộng bắt cua về bán, dành dụm tiên để ng hộ cho các bạn nghèo, học giỏi Hạnh vừa nhờ mẹ mua mot chiếc khăn tay moi dé tang ban Toi dân dẫn vỡ lẽ Thì ra bẩy lau nay Hanh khong hé nhặt được của rơi Hạnh âm thâm kiếm tiền mua

đô mang đến lớp bảo là nhặt được Hạnh muốn chuộc lại lỗi lam của mình Còn cây

bút của tôi có thể đúng là Hạnh đã nhặt được Tôi buôn quá, bật khóc Cho đến bây

giờ mỗi lân nhớ đến tuổi thơ tôi lại nhớ đến Hạnh, nhớ con ăn cấp như nhớ một

bài học tuổi thơ, một kỉ niệm khó phai mờ

Người thực hiện: Trần Thị Kừn Sa 12

Trang 13

- Bài Nghị luận trong văn bản tự sư ( Bài L0 — tiết 50) và “Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tô nghị luận (Bài 12 — tiết 60):

Có thê nói tự sự chính là bức tranh gân gũi nhất với cuộc sống Mà cuộc sống thì hết sức đa dạng, phong phú, với đây đủ tất cả các tình huống, cảnh ngộ, tất cả các kiểu

nhân vật, các mâu người ta van thường gặp hăng ngày Đệ tập trung khắc họa kiểu

nhân vật hay triết lý, hay suy nghĩ, trăn trở, về lí tưởng, về cuộc đời, về yêu ghét, vui

buồn như nhân vật ông giáo trong truyện ngăn Lão Hạc, hoặc để khắc họa kiểu

nhân vật ăn nói khúc chiết, gãy gọn “khôn ngoan” như Hoạn Thư trong Truyện

Kiéu, Nam Cao cũng như Nguyễn Du không thê không dùng các yếu tô nghị luận

đỀ tô đậm tính cách nhân vật mà mình muốn khắc họa Hoặc đề thê hiện một quan

điểm, lập trường, cách nhìn nhận, đánh giá, một ý nghĩa triết lý nào đó trong câu

chuyện, người ta có thể sử dụng kết hợp yếu tố nghị luận Trong một văn bản tự sự thì

nghị luận chỉ là những yếu tố đơn lẻ, biệt lập trong một tình huéng cu thé, một sự việc hay một nhân vật cụ thể, đan xen “thấp thoáng”, cốt đề làm nỗi bật sự việc và con người, làm cho tự sự thêm sâu sắc Bài học lý thuyết cần giup hoc sinh năm được vai trò, tác dụng này của yếu tố nghị luận trong văn tự sự Yếu tổ nghị luận thường được biểu hiện trong văn bản tự sự bằng cách:

- _ Người viết (kể) và nhân vật nêu lên các ý kiến, nhận xét cùng các lí lẽ dẫn chứng đề người đọc (người nghe) phải suy ngẫm về vấn đề đó Thường xuất

hiện trong các cuộc đối thoại, độc thoại

- _ Dùng các từ ngữ và kiểu câu mang tính chất lập luận

Bài luyện tập phải hướng tới rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn tự sự có

sử dụng yêu tố nghị luận, qua đó củng cô thêm kiến thức về văn tự sự như: sự vigc, người kê, ngôi kể, trình tự kê Từ sự phân tích vai tró, tác dụng của yếu - tố nghị luận trong doan van Léi lam và sự biết ơn, nên dành nhiều thời gian hướng dẫn học sinh

làm bài tập thực hành viết đoạn văn (muc II)

VD: Bai tap 1: (SGK trang 161) Viét mét doan van ké lại buổi sinh hoạt lớp Trong

buôi sinh hoạt lớp đó, em đã phát biêu ý kiến để chứng minh Nam là một người bạn

tốt (hoặc bầu chọn một bạn trong lớp làm lớp trưởng chẳng hạn)

Giáo viên cần gợi ý cho học sinh bằng cách nêu câu hỏi như:

- _ Buổi sinh hoạt lớp diễn ra như thế nào? (thời gian, địa điểm, ai là người điều khiển, không khí của buỗi sinh hoạt lớp ra sao, )

- - Nội dung buôi sinh hoạt là gì ? Em đã phát biểu về vẫn đề gì ? Tại sao lại phát

Có thể cho học sinh tham khảo đoạn văn sau:

Sáng nay, trong buổi sinh hoạt lớp với chủ đề “Ai là người bạn tốt nhất? ” Lớp truong Uyên sau khi nhận xét chung tình hình của lớp trong tuân, bạn đã thông qua kết quả đánh giá 3 người bạn tốt nhất do các tô bình bấu Uyên vừa đứt lời, cả lop vo

tay đồng thanh nhất trí Nhưng riêng lòng tôi cứ day dứt về trường hợp của Nam

Người thực hiện: Trần Thị Kừn Sa 13

Ngày đăng: 03/12/2016, 21:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w