Xác định một cơ cấu ngành kinh tế đúng cho từng giai đoạn lịch sử là vấn đề chiến lược trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Việc xác định Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong Chiến lược phát triển kinh tế, đã góp phần đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội từ cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, vượt qua trạng thái hụt hẫng về vốn đầu tư và thị trường, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ vào đầu những năm 90, chuyển sang thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 1CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ: MỤC TIÊU,
TIẾN ĐỘ VÀ CẢNH BÁO
Xác định một cơ cấu ngành kinh tế đúng cho từng giai đoạn lịch sử là vấn đề chiến lược trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước Việc xác định
"Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu" trong Chiến lược phát triển kinh tế, đã góp phần đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội từ cuối những năm
70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, vượt qua trạng thái hụt hẫng về vốn đầu tư và thị trường, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ vào đầu những năm 90, chuyển sang thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cũng với 6 chữ "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa" trong Chiến lược cho thời kỳ mới đã đưa nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục từ năm 1994 đến 1997, tránh được "dòng xoáy" của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở khu vực (năm 1997 - 1998) Trong thời kỳ này nước ta không những đã hạn chế được tác động tiêu cực của sự sút giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu, mà còn đưa quy mô về GDP năm 2003 tăng trên 2,5 lần so với năm l990, công nghiệp: gần 5,6 lần, xuất khẩu: gần 8,4 lần , đang phấn đấu thực hiện mục tiêu kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, chiến lược 10 năm 2001 - 2010 và đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Trang 2Những thành tựu phát triển kinh tế đạt được như trên là do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng là nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, thể hiện rõ nét trong hai khu vực nông, lâm nghiệp - thủy sản và công nghiệp:
- Tỷ trọng của khu vực nông, lâm nghiệp - thủy sản trong GDP đã giảm từ 38,74% (năm 1990) xuống 21,83% (năm 2003), tức là giảm 16,91% trong 13 năm, trung bình mỗi năm giảm trên l,3% Với tiến độ này, tỷ trọng nông, lâm nghiệp -thủy sản sẽ chỉ còn khoảng 19,2% vào năm 2005 và 12,7% vào năm 2010, vượt xa
so với mục tiêu đề ra cho năm 2005 (giảm xuống còn 20 - 21%) và năm 2010 (giảm xuống còn 16 - 17%)
- Tỷ trọng của khu vực công nghiệp - xây dựng trong GDP đã tăng nhanh từ 22,67% (năm 1990) lên 39,95% (năm 2003), tức là tăng 17,28%, (tăng trên l,33%/năm) Với tiến độ này, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP đến năm
2005 sẽ tăng lên đạt 42,6% và đến năm 2010 sẽ đạt 49,3%, vượt xa so với mục tiêu
đề ra cho năm 2005 là 38,39% và năm 2010 là 40 - 41%
Xét trong từng khu vực, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đã đạt được kết quả tích cực Trong tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản, tỷ trọng nông nghiệp đã giảm từ 82,5% (năm 1990) xuống còn 77,7% (năm 2003), còn tỷ trọng thủy sản tăng tương ứng từ 10,9% lên 18,5% Từ năm 2001 đến 2003 đã có bước khởi đầu quan trọng trong việc cơ cấu lại khu vực này theo hướng chuyển từ cây, con có giá trị tăng thấp sang cây, con có giá trị tăng cao để tăng thu nhập trên 1
héc-ta canh tác; chuyển từ các sản phẩm cung đã vượt cầu sang các sản phẩm có thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn, với giá cả cao hơn So với năm 2000, diện tích lúa năm 2003 giảm 217 nghìn héc-ta, trong khi diện tích ngô tăng 179,64 nghìn héc-ta,
Trang 3cây công nghiệp ngắn ngày tăng 51 nghìn ta (trong đó bông tăng 10 nghìn
héc-ta, đậu tương tăng 42,4 nghìn héc-héc-ta, mía tăng 4,1 nghìn héc-ta), cây công nghiệp lâu năm tăng 60,4 nghìn héc-ta (trong đó chè búp tăng 28,6 nghìn héc-ta, cao su tăng 22,5 nghìn héc-ta, hồ tiêu tăng 21,8 nghìn héc-ta, cà phê giảm 51,7 nghìn héc-ta, cây
ăn quả tăng 154,8 nghìn héc-ta) ; đàn lợn tăng gần 3,7 triệu con; bò tăng 2.694 nghìn con; dê cừu tăng 236,4 nghìn con; gia cầm tăng 58,2 triệu con ; diện tích nuôi trồng thủy sản tăng 216,4 nghìn héc-ta, sản lượng thủy sản tăng 544,1 nghìn tấn (trong đó khai thác tăng 167,6 nghìn tấn, nuôi trồng tăng 376,5 nghìn tấn, riêng tôm nuôi tăng 130,3 nghìn tấn) Tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản nuôi trồng trong tổng giá trị sản suất thủy sản tăng từ 31,7% (năm 1990) lên 51,1% (năm 2003) Ngay đối với cây lúa, sự chuyển đổi mùa vụ cũng đã diễn ra theo hướng tích cực: tăng 9,4 nghìn héc-ta lúa đông xuân là vụ có nhiều thuận lợi về ánh sáng, độ ẩm, khí hậu, thời tiết, giống, khả năng thâm canh, cho năng suất cao và ổn định, giá bán cao, chi phí thấp; giảm 253,5 nghìn héc-ta lúa mùa là vụ thường chịu ảnh hưởng của bão
lũ, lốc, sâu bệnh, năng suất bấp bênh, chi phí cao; tăng tỷ trọng diện tích lúa có chất lượng gạo ngon (dù năng suất không cao), giảm dần các giống lúa chất lượng thấp (dù năng suất cao hơn), bước đầu hình thành vùng lúa đặc sản, có chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu
Tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP đã tăng từ 18,8% (năm 1990) lên 34,1% (năm 2003), chiếm trên 1/3 GDP của toàn bộ nền kinh tế Ngành xây dựng không những có liên quan đến đầu vào của sản xuất, tạo thành năng lực và tài sản cố định của các ngành và tạo ra kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước, mà còn là kênh tiêu thụ lớn sản phẩm do các ngành sản xuất tạo ra, làm gia tăng thu nhập và sức mua có khả năng thanh toán của người lao động Tuy mấy năm trước tỷ trọng trong GDP còn thấp (năm 1990 chỉ đạt 3,8%), thậm chí có thời kỳ còn giảm (năm
Trang 41995 chiếm 6,9%, đến năm 1999 chỉ còn 5,4%), thì đến năm 2001 tăng lên 5,8% và năm 2002, 2003 đã tăng lên 5,9% Kết quả trên chủ yếu do việc thực hiện Luật Doanh nghiệp, đầu tư ở khu vực dân doanh tăng với tốc độ cao, góp phần làm tăng vốn đầu tư phát triển Nếu so với GDP, riêng năm 2003 đã đạt 36,3%, vượt xa tỷ lệ 31,7% của năm 1995
Bên cạnh những kết quả tích cực, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng còn những hạn chế, bất cập Nếu lấy cơ cấu ngành kinh tế làm một thước đo về trình độ phát triển, thì cơ cấu kinh tế Việt Nam năm 2003 chỉ tương đương với cơ cấu kinh tế của những nước trong khu vực vào những năm 80 trong thế kỷ trước Theo số liệu thống kê năm 2001, tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp - thủy sản ở Ma-lai-xi-a: 8%, Thái Lan: 10%, Phi-líp-pin: 15%, In-đô-nê-xi-a: 16%; Trung Quốc: 15 %, còn ở Hàn Quốc là 4% Tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng của Ma-lai-xi-a đạt 49,6%, Thái Lan: 40%, In-đô-nê-xi-a: 46,5%; Trung Quốc: 52,2%, Hàn Quốc: 41,4% Tỷ trọng khu vực dịch vụ của Ma-lai-xi-a: 41,9%, Thái Lan: 49,8%, Phi-líp-pin: 53,6%, Hàn Quốc: 54,1%; Ấn Độ: 48,4%
Tìm hiểu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước khu vực cho thấy,
họ rất coi trọng phát triển dịch vụ và tìm cách nâng cao tỷ trọng của khu vực này trong GDP Lý giải tình hình này, các chuyên gia kinh tế cho rằng:
Thứ nhất, khu vực dịch vụ thường có năng suất, hiệu quả cao hơn nhiều so với khu vực nông, lâm nghiệp - thủy sản và cũng cao hơn khu vực công nghiệp - xây dựng Chẳng hạn, phát triển du lịch vừa không mất chi phí vận chuyển ra nước ngoài, không phải chịu thuế nhập khẩu, không phải nhập nguyên vật liệu, được "ăn
từ gốc đến ngọn", vừa khai thác được thế mạnh các điều kiện tự nhiên, lịch sử, vừa
Trang 5tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động Hoạt động khoa học - công nghệ vừa là động lực của tăng trưởng kinh tế, vừa tạo được điều kiện để "đi tắt, đón đầu", rút ngắn thời gian công nghiệp hóa của nước đi sau Dịch vụ tài chính - tín dụng là hình thức mang lại nhiều lợi nhuận bởi sức mạnh vốn có của công cụ tiền tệ; xuất khẩu lao động vừa giải quyết được công ăn việc làm, vừa thu được ngoại tệ, vừa có thể nâng cao tay nghề, học tập tác phong làm việc công nghiệp
Thứ hai, thị trường của sản phẩm dịch vụ còn rất rộng lớn, do nhu cầu gần như không có giới hạn như đối với các sản phẩm vật chất và tinh thần
Thứ ba, khu vực dịch vụ không những ít phụ thuộc vào nguồn nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu, phương tiện vận chuyển, tỷ giá đồng tiền , mà hoạt động của khu vực này còn ít tác động xấu đến tài nguyên, môi trường sinh thái như các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp
Còn ở nước ta, nhiều năm gần đây phát triển của khu vực dịch vụ hầu như chưa đạt được mục tiêu đề ra Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng đề ra mục tiêu đến năm 2005 tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP phải đạt 41% - 42% và đến năm
2010 phải đạt 42% - 43% So với các nước láng giềng, đây không phải là mục tiêu cao, nếu không nói là thấp, nhưng sau khi đạt mức cao nhất (đạt 44,06% vào năm 1995), tỷ trọng khu vực này trong GDP đã liên tục bị sút giảm: năm 1996 còn 42,51%, năm 1997 còn 42,15%, năm 1998 còn 41,73%, năm 1999 còn 40,08%, năm
2000 còn 38,74%, năm 2001 còn 38,63%, năm 2002 còn 38,46% và năm 2003 chỉ còn 38,22%
Trang 6Tốc độ tăng GDP do khu vực dịch vụ tạo ra cũng liên tục bị sút giảm và thường xuyên thấp hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế: năm 1996 là 8,80% so với 9,34%, năm 1997 là 7,14% so với 8,15%, năm 1998 là 5,08% so với 5,76%, năm
1999 là 2,25% so với 8,9%, năm 2002 là 6,54% so với 7,08%, năm 2003 là 6,57%
so với 7,26% Điều đó chứng tỏ dịch vụ chưa thực sự là một động lực quan trọng trong tăng trưởng kinh tế
Ngay ở trung tâm kinh tế và dịch vụ lớn như Hà Nội tỷ trọng dịch vụ cũng bị sút giảm từ 66% (năm 1985) xuống 62% (năm 1990 ít thay đổi cho đến năm 1995), còn 60% (năm 2000) và 58% (năm 2003) Nhiều nơi cũng có tình trạng tương tự: năm 2003 ở thành phố Hồ Chí Minh chỉ còn chiếm 50,5% của GDP; Đà Nẵng: 48,3%, Hải Phòng: 45,3%, Cần Thơ: 42,2%
Một số ngành dịch vụ quan trọng vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp và đang có xu hướng giảm dần: tài chính - ngân hàng năm 1995 chiếm 2,01% thì đến năm 2003 chỉ còn 1,80%; khoa học - công nghệ năm 1995 chiếm 0,61%, nhưng đến năm 2002 chỉ còn 0,56%
Nhiều loại dịch vụ như nhà khách, bảo vệ, vệ sinh tạp vụ, kế toán, y tế, hội trường, đội xe hiện còn đang được các cơ quan, đơn vị kiêm nhiệm, chưa được tách ra để các đơn vị khác kinh doanh tập trung, nên, một mặt, đã làm hạn chế đến việc tập trung vào thực hiện nhiệm vụ chính, mặt khác, dẫn đến hiệu quả hoạt động của các loại dịch vụ kiêm nhiệm này còn thấp
Nói chung, tăng tỷ trọng công nghiệp là một xu hướng chuyển dịch tích cực, nhưng sự phát triển của ngành công nghiệp nước ta thời gian qua đã bộc lộ một số
Trang 7hạn chế mang tính cơ bản Chẳng hạn, tại các thành phố lớn hiện vẫn còn nhiều nhà máy sử dụng nhiều lao động và xa vùng nguyên liệu, thậm chí xây dựng thêm nhà máy dạng tương tự, kéo theo dòng người từ nông thôn nhập cư vào thành phố, thị xã bằng nhiều con đường, gây khó khăn, phức tạp cho công tác quản lý, kết cấu hạ tầng
đô thị trở nên quá tải Ngay như ở các nước đã tiến hành công nghiệp hóa, không phải ở địa phương nào (nhất là thành thị) cũng đều tìm đủ mọi cách, với bất cứ giá nào để phát triển công nghiệp, nâng cao tỷ trọng công nghiệp Kinh nghiệm cho thấy, tại các thành phố, thị xã không nên xây dựng thêm cơ sở công nghiệp có nguồn nguyên liệu, lao động ở nông thôn, mà phải chuyển các cơ sở cũ đã xây dựng trước đây ra khỏi thành phố, thị xã Đồng thời chỉ nên tập trung các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, các ngành dịch vụ có tính chất trung tâm, có tính đến động lực, hiệu quả, chất lượng tăng trưởng và phát triển theo chiều sâu, như khoa học - công nghệ, đào tạo đại học, sau đại học, tài chính - ngân hàng Xây dựng mới ở nông thôn các cơ sở công nghiệp để hình thành các thị xã, thị trấn, các khu công nghiệp mới sẽ vừa góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, đổi mới cơ cấu kinh tế, rút bớt lao động đang làm nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, vừa cơ cấu lại dân số theo hướng công nghiệp hóa và đô thị hóa mà không gây ra những hậu quả tiêu cực lớn, thực hiện "ly nông bất ly hương"
Ngoài ra, tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp chế biến năm 2003 ở nước ta mới đạt 20,8%, mặc dù đã tăng 8,54% so với tỷ trọng 12,26% của năm
1990, nhưng tiến độ tăng chậm Nếu 17 năm tới ngành công nghiệp chế biến vẫn giữ tiến độ này thì đến năm 2020 sẽ chỉ đạt khoảng 32%, còn thấp hơn 37% là ranh giới
để một nước được đánh giá là đã chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp Đó là chưa kể tốc độ chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp
Trang 8Ngay trong ngành công nghiệp chế biến, tuy có tăng trưởng nhanh nhưng chưa thực sự bền vững vì tỷ trọng các sản phẩm gia công lắp ráp (dệt may, giày dép, lắp ráp ô tô, xe máy, ti vi ) còn quá cao, trong khi những ngành này lại phụ thuộc nhiều vào nước ngoài về nguyên - phụ liệu, với giá nhập khẩu cao, lại không giữ được thương hiệu và không chủ động chiếm lĩnh thị trường
Tỷ trọng của khu vực nông, lâm nghiệp - thủy sản tuy giảm xuống nhưng chứa đựng một số vấn đề đáng lưu ý Sự sút giảm đó có phần do giá nông sản ổn định trong nhiều năm, thậm chí có năm còn bị giảm Chẳng hạn giá lương thực tháng
12-2003 so với tháng 12-1998 đã giảm 5,0%, trong khi giá hàng phi lương thực - thực phẩm tăng khoảng 13% Điều đó có nghĩa là, cùng bán một lượng lương thực, nếu cuối năm 1998 còn mua được 100% lượng hàng phi lương thực - thực phẩm, thì đến tháng 12-2003, chỉ còn mua được khoảng 84,1% lượng hàng phi lương thực - thực phẩm Chín tháng đầu năm giá lương thực tăng 12,5%, nhưng giá phân bón, giá xăng dầu còn tăng cao hơn Ngoài ra, cung của nhiều sản phẩm nông nghiệp đã vượt cầu ở thị trường trong nước, nhưng do giá quốc tế lúc tăng lúc giảm, trong nhiều trường hợp lại phải bán qua nước trung gian, nên giá trị xuất khẩu hàng nông sản bị giảm Đây cũng là nguyên nhân làm cho tỷ trọng của khu vực nông, lâm - thủy sản trong GDP giảm so với những năm trước
Trong tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản, ngành lâm nghiệp chiếm tỷ trọng rất thấp, lại liên tục bị giảm: năm 1990 còn chiếm 6,6%, đến năm
2003 chỉ còn chiếm 3,8% Trong giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá thực tế), chăn nuôi năm 2003 cũng mới chiếm 22,4% Hơn nữa, việc chuyển dịch cơ cấu trong những năm qua còn mang tính tự phát; công tác quy hoạch cũng như cơ chế và công cụ điều hành theo quy hoạch chưa rõ ràng, còn lúng túng Tình trạng "nuôi,
Trang 9trồng - chặt, phá", "cung vượt cầu", "sản xuất chưa gắn với tiêu thụ" hầu như năm nào cũng xảy ra đối với nhiều cây, con, ở nhiều địa phương
Những hạn chế, bất cập có thể thấy ở hầu hết các địa phương Cụ thể: công nghiệp mang nặng tính gia công, thương mại mang nặng tính đại lý, còn sản phẩm nông nghiệp gặp nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ
Để khắc phục những hạn chế vừa qua trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thiết nghĩ, cần tập trung làm tốt các việc:
Thứ nhất, công tác quy hoạch, kế hoạch là một tiền đề quan trọng để xác định
cơ cấu đầu tư và cơ cấu lại nền kinh tế Công tác này đã sớm được đề ra và thực hiện, nhưng hiện còn nhiều khâu yếu, và bộc lộ thiếu tầm nhìn tổng thể Cụ thể là,
sự phối hợp giữa các địa phương và giữa địa phương với ngành trong quy hoạch chưa tốt; còn tập trung vào kinh tế nhà nước, chưa bao quát hết toàn bộ nền kinh tế; quy hoạch chỉ tập trung nêu các vấn đề chúng ta có thể làm được, thiếu dự báo về thị trường đầu ra, thiếu các giải pháp thực hiện khả thi và các cân đối lớn; còn thiếu những quy hoạch chuyên ngành cụ thể
Thứ hai, phải thực hiện những việc làm thiết thực để bảo đảm đầu tư tạo nên cơ cấu kinh tế có hiệu quả Chuyển đổi cơ cấu phải xét trong trạng thái động Muốn vậy, một mặt, phải xác định được trọng tâm của cơ cấu ngành, cơ cấu sản phẩm; mặt khác, phải xây dựng chính sách đầu tư hết sức linh hoạt, bắt đầu từ đầu tư sản phẩm, sau đó mới hình thành ngành và vùng Trong các hoạt động điều tiết nền kinh tế, Nhà nước cần lưu ý có các chính sách để những nguồn lực đầu tư được sử dụng phù
Trang 10hợp với quy luật cung cầu của thị trường, có hiệu quả thì việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế mới bảo đảm đúng hướng
Thứ ba, trong ba khu vực, cần dịch chuyển cơ cấu theo hướng khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng cao bởi phát triển nông nghiệp chỉ tạo nên yếu tố quan trọng đầu tiên là nguyên liệu và cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống hằng ngày, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia chứ không thể làm giàu Tuy nhiên không đầu tư cho nông, lâm nghiệp - thủy sản sẽ không thể khai thác được tiềm năng, lợi thế của đất đai và lao động, ổn định cuộc sống của gần 2/3 dân số đất nước, tạo tích lũy cho kinh tế hộ, từ đó chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành khác Chỉ hướng vào công nghiệp và dịch vụ mới thực sự có thể tăng trưởng nhanh, trong đó dịch vụ sẽ góp phần làm giàu nhanh hơn cả, đồng thời cũng có thể thu hút lực lượng đông đảo lao động nông thôn đang chưa được đào tạo một cách bài bản
Cuối cùng, ngoài các vấn đề về vốn đầu tư, lao động cần có chính sách đúng đắn đối với một số nhóm sản phẩm như sau:
Đối với nhóm sản phẩm đã có thị phần trên thế giới, song nhu cầu đã ở mức ổn định (như cà phê, gạo ), không nên mở rộng quy mô sản xuất, thực hiện giảm đầu
tư chiều rộng, tăng đầu tư chiều sâu Hỗ trợ nghiên cứu để giảm chi phí, nâng cao chất lượng và củng cố quan hệ với khách hàng, xây dựng thương hiệu nhằm duy trì thị phần trên thị trường thế giới Khuyến khích lập các hiệp hội xuất khẩu, hoặc hiệp hội ngành nghề và các quỹ bình ổn (hoặc bảo hiểm rủi ro) trên nguyên tắc tự nguyện
và tự quản, nhằm giải quyết khó khăn của người sản xuất khi gặp thiên tai, hoặc khi giá cả trên thị trường thế giới có biến động mạnh Trường hợp phải thu hẹp quy mô