1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN xã hội hóa các QUAN hệ KINH tế tư bản CHỦ NGHĨA một BIẾN đổi mới của CHỦ NGHĨA tư bản HIỆN đại

16 424 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 261,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa tư bản hiện đại, nhất là trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có những thay đổi và phát triển vượt bậc trên tất cả mọi mặt. Về phương diện lực lượng sản xuất, nhờ lợi dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới nhất, chủ nghĩa tư bản đã tạo nên bước nhảy vọt về chất của lực lượng sản xuất, quốc tế hóa và mở rộng quy mô sản xuất – dịch vụ ra toàn cầu; cơ cấu sản xuất của chủ nghĩa tư bản cũng biến đổi theo hướng chuyển dịch sang sử dụng các vật liệu mới và công nghệ cao, lao động có kỹ thuật và hàm lượng chất xám, nhờ thế đạt được giá trị gia tăng lớn, năng suất và hiệu quả kinh doanh tư bản chủ nghĩa cũng tăng lên nhanh chóng

Trang 1

XÃ HỘI HÓA CÁC QUAN HỆ KINH TẾ

TƯ BẢN CHỦ NGHĨA – MỘT BIẾN ĐỔI MỚI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI

Chủ nghĩa tư bản hiện đại, nhất là trong những thập niên cuối thế kỷ XX

và đầu thế kỷ XXI có những thay đổi và phát triển vượt bậc trên tất cả mọi mặt

Về phương diện lực lượng sản xuất, nhờ lợi dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới nhất, chủ nghĩa tư bản đã tạo nên bước nhảy vọt

về chất của lực lượng sản xuất, quốc tế hóa và mở rộng quy mô sản xuất – dịch

vụ ra toàn cầu; cơ cấu sản xuất của chủ nghĩa tư bản cũng biến đổi theo hướng chuyển dịch sang sử dụng các vật liệu mới và công nghệ cao, lao động có kỹ thuật và hàm lượng chất xám, nhờ thế đạt được giá trị gia tăng lớn, năng suất và hiệu quả kinh doanh tư bản chủ nghĩa cũng tăng lên nhanh chóng Các quan hệ sản xuất, đặc biệt quan hệ quản lý và phân phối của chủ nghĩa tư bản có nhiều thay đổi theo hướng dân chủ hóa và xã hội hóa, chủ nghĩa tư bản đã học được cách kết hợp thông minh giữa “bàn tay hữu hình” của nhà nước với “bàn tay vô hình” của thị trường, kết hợp giữa các nguyên tắc cạnh tranh với công cụ quản lý

kế hoạch hóa, thực hiện một số chính sách xã hội và chủ động điều hòa các mâu thuẫn xã hội – giai cấp với mục tiêu tạo ra sự ổn định chính trị xã hội cần thiết cho phát triển

Hơn nữa, khác với những gì đã có, chủ nghĩa tư bản hiện đại còn nổi trội bởi những biến đổi và xu hướng vận động mới mang tính chi phối toàn cầu

Trong đó việc xã hội hóa các quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa là một điển hình.

Xã hội hóa tư bản chủ nghĩa hiện đại mang những đặc trưng nổi bật: trước hết, mở rộng tất cả các hình thức xã hội hóa theo quan niệm Macxit, và hai, phát

Trang 2

triển các hình thức sở hữu hỗn hợp đa dạng Tựu chung lại, ở các nước tư bản chủ nghĩa đang hình thành mấy khuynh hướng xã hội hóa chủ yếu sau:

Thứ nhất, kế hoạch hóa phát triển kinh tế và cùng với nó là vai trò điều

chỉnh vĩ mô của nhà nước tư sản ngày càng tăng lên Nhà nước tư sản nắm, can thiệp vào các hoạt động kinh tế một cách nhanh nhạy thông qua hệ thống các công cụ có hiệu quả;

Thứ hai, phân phối lại thu nhập quốc dân một cách phổ biến và với quy

mô lớn, có tính tới lợi ích của người lao động nhằm xoa dịu các xung đột trong

xã hội tư bản;

Thứ ba, phát triển kinh doanh cá thể dựa trên sự hợp tác của các chủ thể

kinh tế riêng Ví dụ như hình thành các hợp tác xã trang trại, tín dụng và dịch vụ, sửa chữa máy móc kỹ thuật…Đồng thời, không ngừng mở rộng kinh doanh tập thể dựa trên các hình thức sở hữu khác nhau của tập thể lao động;

Thứ tư, phát triển sở hữu hỗn hợp với ưu thế của các hình thức xã hội và

nhà nước, thay cho hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa trước đây

Ở đây chúng ta đặc biệt quan tâm đến các quá trình xã hội hóa quan hệ

sở hữu tư bản chủ nghĩa.

Trước hết, các nước tư bản đã chú trọng đến việc phát triển các hình thức

sở hữu tư bản cổ phần và các công ty liên doanh dưới các dạng khác nhau với sự

tham gia của các tư bản lớn – nhỏ, độc quyền – không độc quyền, nhà nước, các

tổ chức xã hội, dân cư Cùng với điều này, đã diễn ra việc phi nhân cách hóa các

tư bản lớn Cụ thể là, chúng ta thấy ngày càng ít xuất hiện gương mặt những nhà

tư bản cá biệt – chủ thể pháp nhân đại diện cho các doanh nghiệp và tập đoàn lớn, thay vào đó là các tư bản tập thể với cơ cấu phức tạp gồm các tổ chức xã hội và dân cư - chủ thể quản lý Ví dụ như các quỹ hưu trí, các ngân hàng, công ty tài

Trang 3

chính, bảo hiểm…mà vốn góp của nó rốt cuộc lại do tiền gửi của dân cư cấu thành

Bên cạnh đó, trong thế giới tư bản lại có sự chuyên môn hóa và tách rời

một cách phổ biến các mặt của quan hệ sở hữu, đó là, giữa quyền chiếm hữu với

quyền sử dụng, giữa quyền quản lý với quyền định đoạt tài sản Trên thực tế, người quản lý - điều hành công ty tư bản chủ nghĩa lúc này không phải là nhà tư bản – cổ đông của xí nghiệp tư bản chủ nghĩa, mà lại là các giám đốc và ban giám đốc – những nhà quản lý chuyên nghiệp được thuê và trả lương cũng giống như những công nhân làm thuê Còn người sở hữu, tức nhà tư bản đã chuyển nhượng quyền sử dụng, quyền định đoạt để nhận một khoản thu nhập nhất định giống như lợi tức, do đó, thực tế họ đã chuyển quyền quản lý, sở hữu vào những bàn tay khác Ví dụ, theo điều tra trong 44% các công ty và nghiệp hội Nhật Bản cho thấy các giám đốc điều hành xí nghiệp chỉ chiếm giữ 0,1% tư bản cổ phần của chính xí nghiệp mà mình quản lý

Người ta cũng nhận thấy rằng, diễn ra các quá trình song song hữu sản

hóa người lao động và hình thành tầng lớp đông đảo những người sở hữu nhỏ và trung Đó là cùng với sự xuất hiện nền kinh tế tri thức và sở hữu trí tuệ, giới lao

động cổ cồn và những nhà khoa học cũng ngày càng giữ vai trò chủ thể quyết định đối với tiến bộ kinh tế – xã hội, mà ở đây sự chiếm hữu trí tuệ trực tiếp là điều kiện cho hoạt động sáng tạo Nhờ vào vốn tài sản – trí tuệ mà các nhà khoa học, các chuyên gia làm thuê trong những phòng thí nghiệm của các công ty và giảng dạy trong các trường đại học có thể ký kết hợp đồng với nhiều cơ quan khác, họ còn sở hữu những cổ phiếu và thậm trí kiêm nhiệm cả những hoạt động kinh doanh riêng Như đã biết, hình thức sở hữu phi vật thể – trí tuệ ngày càng có tầm quan trọng so với hình thức sở hữu vật thể – tư liệu sản xuất hay tài chính

Trang 4

Điều này cùng với sự chuyên môn hóa sở hữu, tách rời tư bản sở hữu khỏi tư bản chức năng đã nói trên, làm cho hình thái sở hữu tư bản vật thể cũng như quyền sở hữu tư bản chủ nghĩa nói chung ngày càng mang tính thực lợi, trở nên thừa

Đồng thời với nó, còn có sự tham gia ngày càng đông đảo của dân cư vào

cổ phần tại doanh ngiệp mà họ lao động hoặc tại các công ty cổ phần và các tổ chức đầu tư khác Cuối những năm 90 của thế kỷ trước, ở Mỹ có 80 triệu người

mua cổ phần vốn đầu tư, chiếm 43% tổng số hộ gia đình trên toàn nước Mỹ Hình thức sở hữu tập thể của người lao động rất có triển vọng và có vai trò quan trọng đối với quá trình tự phủ định của chủ nghĩa tư bản Có thể coi họ là tầng lớp những người sở hữu mới, có quyền tham dự vào quản lý và phân phối lợi nhuận của công ty tư bản chủ nghĩa, do đó, thu nhập của họ không chỉ từ lao động mà còn từ vốn góp cổ phần Thu nhập của họ ngày càng có xu hướng tăng lên, cuộc sống cũng ngày thêm được cải thiện Các xí nghiệp tập thể kiểu này có ưu thế hơn hẳn so với các xí nghiệp thuần tuý tư bản chủ nghĩa về các mặt: năng suất lao động gấp 2 lần, lợi nhuận gấp 1,5 lần, tạo thêm chỗ làm việc nhiều hơn gấp 3 lần Hiện nay các hình thức sở hữu này chiếm tới 10% cơ cấu kinh tế quốc dân các nước tư bản phát triển

Tìm hiểu kỹ về sở hữu tập thể của người lao động, chúng ta có thể thấy

được hai hình thức tồn tại cụ thể của nó, đó là, Liên đoàn, hiệp hội, liên hiệp hợp

tác Ví dụ: Liên đoàn Madragôn nổi tiếng ở Tây Ban Nha có 200 công ty, xí

nghiệp hoạt động dưới sự quản lý của tập thể lao động; Công ty cổ phần của

những người lao động trong chính xí nghiệp Ví dụ, Công ty ESOP ở Mỹ có tới

500 xí nghiệp lớn và vừa thuộc quyền quản lý của các tập thể lao động Theo một điều tra 9000 công ty trong số hàng triệu công ty nhỏ và trung ở Mỹ, cho thấy, người lao động chiếm giữ 20 – 30% cổ phần xí nghiệp Nhiều xí nghiệp Mỹ,

Trang 5

nhân viên hành chính và người lao động chiếm tới 70% cổ phiếu, thậm chí như hãng Unaitel er lainr vào năm 1995 có đến 78.000 người lao động đã mua phần lớn cổ phiếu của công ty

Trước đây, khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, Mác đã có những nhận xét về sự hợp tác lao động của công nhân và xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa như sau: “Trong các công ty cổ phần, tư bản chức năng tách rời với tư bản sở hữu

và do đó, lao động cũng vậy, nó hoàn toàn tách rời quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và về lao động thặng dư Đó là kết quả của sự phát triển cao nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là điểm quá độ tất yếu để chuyển tư bản thành sở hữu của những người lao động, nhưng không phải với tư cách là sở hữu tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ mà với tư cách là sở hữu của những người lao động liên hiệp, tức sở hữu xã hội trực tiếp Mặt khác, công ty cổ phần cũng là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng của quá trình tái sản xuất hiện còn gắn với quyền sở hữu tư bản đơn giản thành những chức năng của những người sản xuất liên hiệp, tức thành những chức năng xã hội”

Như vậy, với việc mở rộng các hình thức tập thể và cổ phần trong chiếm hữu, sử dụng và phân phối của cải xã hội cũng như quản lý sản xuất, hình thành các xí nghiệp tập thể, thì đồng thời cũng “mở ra triển vọng cho những cải tạo mang tính chất xã hội chủ nghĩa” Chính lôgích nội tại của sự phát triển sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản đã kích thích quá trình xã hội hóa đạt tới đỉnh cao ở hình thái tư bản cổ phần

Có thể thấy rằng, sở hữu cổ phần là hình thức chiếm hữu và kinh doanh tập thể của các nhà tư bản, người lao động và dân cư Nó có ưu thế lớn về mặt xã hội hóa và dân chủ hóa các quá trình kinh tế cũng như hạn chế độc quyền của một tư bản cá biệt, có khả năng huy động vốn và mở rộng quy mô sản xuất kinh

Trang 6

doanh nhanh chóng để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ và biến đổi thường xuyên của cơ cấu thị trường hiện đại Có mấy khía cạnh khiến chúng ta cần quan tâm ở đây:

Một là, phân biệt với các hình thức sở hữu tập thể khác, sở hữu cổ phần được cụ thể hóa nhờ một cơ chế đặc biệt của công ty cổ phần nhằm đảm bảo quyền sở hữu tối cao của các cổ đông đối với vốn góp cổ phần, đó là quyền nhận thu nhập từ sở hữu, quyền tham ra vạch kế hoạch sản xuất – kinh doanh và quản

lý xí nghiệp, quyền bầu cử và ứng cử vào hội đồng quản trị và cuối cùng, quyền chuyển nhượng và thừa kế tài sản cổ phần;

Hai là, người lao động của xí nghiệp có thể mua cổ phần và trở thành cổ đông của xí nghiệp, ngoài quyền được lao động và nhận thu nhập bằng tiền lương, họ còn được tham gia vào công tác quản lý, giám sát và nhận thu nhập từ

cổ phần Do đó, họ quan tâm không chỉ tình hình kinh doanh hiện tại để tăng thu nhập bằng tiền lương, mà còn tích cực tham gia vào việc sáng tạo cơ chế tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng của xí nghiệp để tăng giá trị cổ phiếu và cổ tức của mình trong tương lai;

Ba là, tư bản cổ phần thông qua việc tách rời tương đối các mặt của sở hữu thực tế, như tách quyền sử dụng và định đoạt khỏi quyền sở hữu, đem lại sự

tự chủ và chuyên nghiệp hóa quản lý kinh doanh của ban giám đốc, các chuyên gia quản lý và tập thể lao động Do vậy, cho phép áp dụng các hình thức quản lý hiện đại và nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh của xí nghiệp tư bản chủ nghĩa

Rõ ràng là, sở hữu cổ phần cho phép dân chủ hóa các quan hệ kinh tế và

quản lý trong những giới hạn của xã hội tư sản, do đó, nâng cao tính tích cực của

các chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, từ người sở hữu –

Trang 7

chủ tư bản, nhà quản lý – kinh doanh cho tới người lao động Đặc biệt, nó cho phép khắc phục sự xa lạ cố hữu của phương thức kết hợp tư bản truyền thống (lao động làm thuê + tư liệu sản xuất) cũng như sự xã hội hóa hình thức về tư liệu sản xuất trong xã hội xã hội chủ nghĩa trước đây Nó cũng làm giảm thu nhập của tư bản cá biệt trong tổng thu nhập xã hội và hạn chế bất bình đẳng; thúc đẩy tích tụ

và tập trung tư bản mà không đưa tới sự phân hóa xã hội sâu sắc, làm giảm trục đối kháng lợi ích tư bản – lao động; cuối cùng, cho phép chuyên môn hóa tổ chức

và quản lý xí nghiệp tư bản chủ nghĩa cũng như tính kế hoạch hóa và xã hội hóa của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Xã hội hóa nền sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại, là một hiện tượng mới, phức tạp và đi liền với nó là những tích cực nhất định về kinh tế – xã hội Vấn đề đặt ra là, phải chăng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có sự thay đổi về bản chất? Mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản đã được chính chủ nghĩa tư bản khắc phục? Rõ ràng cần phải có sự nhìn nhận, phân tích và đánh giá một cách đầy đủ, chính xác vấn đề này

Có thể khẳng định rằng, việc xã hội hóa các quan hệ kinh tế tư bản chủ

nghĩa không làm thay đổi quan hệ giai cấp, chủ nghĩa tư bản dù có biến đổi thế nào thì bản chất giai cấp của các nhà tư bản cũng không thay đổi

Do có vốn lớn, chiếm hữu thặng dư vô cùng lớn và cùng chia sẻ giá trị thặng dư của người lao động, chủ nghĩa tư bản vẫn thực sự là kẻ bóc lột So với trước kia, phương thức tư bản gia đình và tư bản cá nhân khống chế các xí nghiệp

có biến đổi, thậm chí trong đó có một vài trường hợp xí nghiệp không trực tiếp quản lý mà áp dụng phương pháp quyền khống chế cổ phần và thuê nhân công quản lý, và từ khống chế trực tiếp đã chuyển thành khống chế gián tiếp Qua đó vai trò và số lượng nhà kinh tế tư bản tăng lớn, vai trò của tư bản gia đình và tư

Trang 8

bản cá nhân không hề mất đi Họ không tham gia vào quá trình sản xuất thực tế

mà lợi dụng số vốn lớn trong tay để kinh doanh các hoạt động đầu cơ chứng khoán, trở thành những kẻ trục lợi thuần tuý và là “con ký sinh trùng” của xã hội

So với thời kỳ trước chiến tranh, đội ngũ công nhân ở các nước phát triển phương Tây đã có những biến hóa không nhỏ , lao động chân tay giảm, lao động trí óc tăng, người ta thường gọi là sự sinh ra và mất đi của cổ trắng cổ xanh Trước tiên,

ở cả trong và ngoài nước có hai cách nhìn công nhân cổ trắng không phải là giai cấp công nhân nữa mà trở thành “giai cấp trung lưu” Loại công nhân này ngày càng tăng, dựa vào đó chứng minh sự khác biệt giai cấp trong xã hội tư bản chủ nghĩa ngày càng nhỏ Điều này nếu không có căn cứ thì cũng là sự che dấu sự phân hóa giai cấp và bóp méo thực chất sự đối lập về giai cấp Thu nhập của cổ trắng quả là có cao hơn cổ xanh, nhưng cũng chỉ ở mức đạt được mức duy trì cuộc sống vừa phải chứ kỳ thực không giàu có mà luôn luôn ở tình trạng nơm nớp bị uy hiếp mất việc Đối với tuyệt đại đa số công nhân mà nói “màu sắc của

cổ áo” có thể thay đổi thế nào nhưng đều không cải biến được địa vị giai cấp lao động làm thuê

Người ta thấy đi theo sự tăng trưởng của tỷ suất giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở Mỹ, năm 1980 thu nhập của các nhà tư bản so với công nhân gấp 40 lần, đến nay tăng lên 400 lần Từ năm 1973 – 1983, mức thu nhập bình quân tiền lương thực tế giảm xuống 0,7 lần Báo cáo tổng thống năm 1999 của Mỹ đã không thể không thừa nhận: “thị trường cạnh tranh từ cuối năm 1970 – 1990 đã bắt đầu tạo nên sự bất bình đẳng về phân phối tiền lương, dẫn tới một số người dù có cố gắng làm việc cũng khó nuôi sống gia đình Những gia đình không có tài sản, chiếm trên 40%, nhiều gia đình có rất

ít tài sản, ước có 20% người sống trên toàn quốc phải nợ nần, 200 triệu người

Trang 9

thiếu ăn, 20 triệu người sống đầu đường xó chợ, trong 500 thành phố thì 6 người

có 1 người nghèo khổ Trong tỷ lệ người tử vong thì 1/2 là do nghèo khổ”

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại, mặc dù ở một trình độ nhất định và cùng với nó là những biến đổi thích nghi, đã tạm thời hòa giải được sự kìm hãm của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhưng mâu thuẫn cơ bản vẫn tồn tại y nguyên Và xét trên phạm vi lịch sử rộng lớn, không những mâu thuẫn này vẫn tồn tại mà còn có những biểu hiện sâu sắc và có xu thế mở ra lớn hơn

Trước hết, đó là mâu thuẫn giữa tiềm lực khoa học công nghệ to lớn và khả năng sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa dường như vô hạn đối lập với sự hữu hạn của thị trường Nguyên nhân là ở chỗ, nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa ngày nay biểu hiện ra như là nền sản xuất xã hội hóa, hùng mạnh và hàng loạt hơn, giả định một thị trường tiêu thụ với sức mua hàng loạt lớn, tức nền sản xuất thuộc về mọi người và cho tất cả mọi người, nhưng lại vận hành trong những giới hạn không gian vật chất chật hẹp: nhằm thỏa mãn yêu cầu sinh ra lợi nhuận cao cho nhà tư bản, do đó, vấp phải sự hữu hạn của thị trường và sức mua luôn thấp hơn dưới mức sản lượng tiềm năng

Mặt khác, cùng với đà phát triển mạnh mẽ của sản xuất và sự giàu có tư bản chủ nghĩa thì ngày càng khoét sâu bất bình đẳng thái quá về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp xã hội, dân cư và các quốc gia, khu vực Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã trích một phần lợi nhuận để phân phối lại cho xã hội nhằm hạn chế bất bình đẳng, thực hiện chuyển một phần sở hữu cho người lao động và đưa

ra cái gọi là “chủ nghĩa tư bản nhân dân” nhằm xoa dịu mâu thuẫn (như đã đề cập

ở trên) Nhưng thực tế lại chứng minh là bất bình đẳng và mâu thuẫn xã hội vẫn

Trang 10

tăng tiến theo thời gian dường như không phương giải quyết Đây là nghịch lý

của phát triển theo kiểu tư bản chủ nghĩa

Bức tranh của chủ nghĩa tư bản đương đại vẫn không mấy sáng sủa: quá trình chuyển sở hữu cho người lao động cũng mới chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn, khoảng 10% trong cơ cấu sở hữu của xã hội tư sản Nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ Samuelson đã chỉ ra rằng: “ảnh hưởng của sự thay đổi từ mấy tờ cổ phiếu đem lại so với cuộc sống của người công nhân là không đáng kể, song sự thực đúng là như vậy Trong khi bọn trùm sỏ ngồi thu lợi nhuận thì công nhân viên chức vẫn bán sức lao động để sống”

Trong phạm vi một nước, ví dụ vào năm 1996 tại Mỹ, thu nhập của 20% dân cư thuộc nhóm nghèo chỉ chiếm 4,2% trong tổng thu nhập toàn xã hội, còn thu nhập của 20% dân cư thuộc nhóm giàu chiếm tới 46,8% tổng thu nhập, các nước OECD có mức tăng cao về bất bình đẳng kể từ sau những năm 1980, đặc biệt là Thụy Điển, Anh và Mỹ Bất bình đẳng giữa các nước giàu và nước nghèo cũng gia tăng: khoảng cách thu nhập của 1/5 dân số sống ở các nước giàu nhất tăng lên tới 74:1 (1997), so với 60:1 (1990) và 30:1 (1960) Sự phân bổ lợi ích và

cơ hội giữa các nước cũng ngày càng chênh lệch lớn hơn: vào cuối những năm

1990, 1/5 dân số sống trong các nước giàu nhất chiếm tới 86% GDP thế giới, 82% thị trường xuất khẩu và 68% đầu tư trực tiếp nước ngoài của thế giới (so với 1/5 dân số nghèo nhất chỉ chiếm 1% GDP, 1% thị trường xuất khẩu và 1% dòng FDI) Tài sản dòng của 200 người giàu nhất thế giới tăng lên hơn 1000 tỷ USD (1998), tài sản của ba tỷ phú hàng đầu nhiều hơn tổng GNP của các nước kém phát triển với 600 triệu dân Làn sóng sáp nhập và thâu tóm đang tập trung thế lực vào những tập đoàn siêu lớn, có nguy cơ làm sói mòn và giết chết cạnh tranh Vào năm 1998, 10 công ty sản xuất thuốc trừ sâu kiểm soát 85% thị trường thuốc

Ngày đăng: 03/12/2016, 21:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w