Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại trong điều kiện toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, đang tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế của các quốc gia trong đó có Việt Nam. Vì vậy, để công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), từng bước phát triển kinh tế tri thức và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi tất yếu phải nhận thức sâu sắc về trí thức hóa công nhân. Đây là nhiệm vụ không phải đơn giản mà rất khó khăn, vừa có tính cơ bản, vừa có tính lâu dài, cần tiến hành thường xuyên và liên tục.
Trang 1VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG NHẬN THỨC VỀ
“TRÍ THỨC HÓA CÔNG NHÂN” Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại trong điều kiện toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, đang tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế của các quốc gia trong đó có Việt Nam Vì vậy, để công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), từng bước phát triển kinh tế tri thức và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi tất yếu phải nhận thức sâu sắc về trí thức hóa công nhân Đây là nhiệm vụ không phải đơn giản mà rất khó khăn, vừa có tính cơ bản, vừa có tính lâu dài, cần tiến hành thường xuyên và liên tục
Trong thời gian từ nay đến năm 2020 và 2050, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, kinh tế thế giới chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ cao, khoảng cách giữa các nước giàu và nghèo sẽ ngày càng gia tăng Do vậy, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải đẩy mạnh hơn, công nghiệp hoá phải gắn với phát triển kinh tế tri thức để rút ngắn thời gian, bảo đảm kinh tế phát triển bền vững, môi trường được bảo vệ, an sinh xã hội được tăng cường, xã hội phát triển hài hoà, nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng, trình độ cao Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, Đảng ta đã xác định:“CNH, HĐH trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình CNH, HĐH trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”[8, tr90] Trong bối cảnh đó, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với đầy đủ những mặt tích cực và cả những mặt trái của nó đặt ra cho giai cấp công nhân Việt Nam những đòi hỏi mới, những thử thách mới phải vượt qua
Trang 2Qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giai cấp công nhân Việt Nam đã có những bước trưởng thành đáng kể
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khoá X) chỉ rõ: “…cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức”[5,tr44] Giai cấp công nhân Việt Nam có sứ mệnh lịch sử to lớn “Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiến tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”[6, tr43] Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn trong nhận
thức về “trí thức hóa công nhân” ở Việt Nam hiện nay
1 Quan niệm về trí thức hóa công nhân Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và nhân dân ta đã từng bước nhận thức được những vấn đề cơ bản về trí thức hoá công nhân Việt Nam Kết quả của quá trình nhận thức đó được thể hiện tập trung ở các văn kiện Đảng, pháp luật của Nhà nước, các công trình nghiên cứu khoa học, các diễn đàn
và hội thảo về những vấn đề có liên quan đến trí thức hóa công nhân Việt Nam Trong đó, quan niệm về trí thức hóa công nhân Việt Nam được đưa ra dưới nhiều
góc độ khác nhau, nhưng tinh thần chung là: Trí thức hoá công nhân Việt Nam là quá trình tác động một cách toàn diện để nâng nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của công nhân lên trình độ cao, mà trước hết là về học vấn, chuyên môn,
kỹ năng nghề nghiệp, ý thức chính trị, ý thức pháp luật và tác phong công nghiệp , nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
và quá trình tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, làm cho giai cấp công nhân ngày càng xứng đáng với sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình đối với giai cấp, dân tộc và nhân loại.
Trang 32 Tính tất yếu và tầm quan trọng của trí thức hoá công nhân Việt Nam hiện nay
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung và nhiệm vụ CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trong giai đoạn đổi mới nói riêng tất yếu đòi hỏi phải trí thức hóa công nhân Việt Nam
Khi xác định phương hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ thực hiện CNH, HĐH đất nước, Đảng ta đã nhiều lần đề cập đến nhiệm vụ trí thức hoá công nhân Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta đã nhấn
mạnh: “Giai cấp công nhân nếu không có đội ngũ trí thức của mình và nếu bản thân công - nông không được nâng cao kiến thức, không dần dần được trí thức hóa thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội ” [4, tr113-114] Đến Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ sáu khóa X, Đảng ta đã khẳng định: “Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng trí thức hóa giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược’’[5, tr24] Như vậy, với vai trò là giai
cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam chẳng những phải
có tay nghề giỏi mà còn cần phải có trình độ học vấn và tri thức khoa học Mặt khác, nền kinh tế tri thức càng phát triển thì tính quan trọng của các yếu tố vật chất trong sản xuất càng có xu hướng giảm, yếu tố sống - người lao động, đặc biệt là vai trò người lao động nắm vững tri thức và công nghệ hiện đại ngày càng tăng Với
nền kinh tế tri thức, “tri thức sẽ cho phép công nhân nắm được quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, góp phần phát triển lý luận cách mạng xã hội và tiến hành cuộc cách mạng ấy có hiệu quả trong thời đại mới, làm tăng tính tiên phong của giai cấp công nhân trong cả sản xuất lẫn quản lý sản xuất và quản lý xã hội”[9, tr4].
Trí thức hóa công nhân có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc nâng cao trình
độ nhận thức của giai cấp công nhân về bản chất, nội dung, điều kiện thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình
Trang 4Trí thức hoá công nhân Việt Nam trở thành nhu cầu thường xuyên, tất yếu của việc nâng cao năng lực, trí tuệ, tay nghề cho công nhân để họ nhanh chóng có điều kiện tiếp thu và làm chủ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả lao động và công tác xã hội Đồng thời, trí thức hóa công nhân đã tạo ra nền tảng tri thức cho việc nâng cao trình độ nhận thức của giai cấp công nhân Việt Nam về bản chất, nội dung, điều kiện thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta và góp phần đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giới
Trí thức hoá công nhân Việt Nam tác động trực tiếp đến quá trình từng bước thay lao động giản đơn và nặng nhọc bằng lao động trí tuệ, vận hành máy móc
“thông minh”, tự động hóa và năng suất ngày càng cao
Thực hiện trí thức hóa công nhân là tạo điều kiện cho công nhân từng bước thay lao động giản đơn và nặng nhọc bằng lao động trí tuệ Đó là một trong những điều kiện quan trọng để công nhân đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, có thu nhập ngày càng cao, đời sống văn hoá tinh thần ngày càng phong phú và cuộc sống ngày càng hạnh phúc
Trí thức hóa công nhân Việt Nam góp phần tạo ra động lực quan trọng đưa công cuộc đổi mới đất nước nói chung và sự nghiệp CNH, HĐH nói riêng đến thắng lợi
CNH, HĐH không phải đơn thuần là trang bị máy móc, thay đổi dây chuyền công nghệ sản xuất, mà điều quan trọng hơn là thay đổi tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong tổng giá trị sản phẩm của nền kinh tế quốc dân Vì vậy CNH, HĐH thành công chỉ khi chúng ta thay đổi công nghệ, thiết bị sản xuất cũ bằng công nghệ, thiết bị sản xuất mới, hiện đại và tạo ra một đội ngũ công nhân có trình độ học vấn cao, tay nghề giỏi - tức là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trí thức hoá công nhân Ngược lại, chỉ trên cơ sở có một đội ngũ công nhân được trí thức hoá mới có
Trang 5thể sử dụng thành thạo hệ thống máy móc và hệ thống công nghệ tiên tiến Sự sáng tạo của công nhân Việt Nam trong quá trình hướng trình độ kinh tế đất nước tới trình độ kinh tế tri thức đã tạo ra động lực to lớn để mang lại hiệu quả cao cho quá trình sản xuất và tổ chức xã hội Đây mới chính là động lực thực sự thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn nói riêng đến thắng lợi
3 Nội dung của trí thức hoá công nhân ở Việt Nam hiện nay
Trí thức hóa công nhân Việt Nam là quá trình mang tính toàn diện, do đó nội dung trí thức hóa công nhân cũng mang tính toàn diện:
Thứ nhất: trí thức hoá công nhân Việt Nam là một quá trình nâng cao trình độ
học vấn cho công nhân Mức độ sự nâng cao trình độ học vấn ấy không phải là bất
kỳ mà phải được xác định cụ thể phù hợp với điều kiện ở trong nước và quốc tế nhằm đạt được trình độ học vấn tương đương trình độ học vấn khởi điểm của trí thức Việt Nam (cao đẳng, đại học)
Trình độ học vấn là mức độ hiểu biết và lĩnh hội được những tri thức khoa học của con người trong quá trình học tập (mà trong thực tế bao gồm cả hai hình thức - được đào tạo và tự đào tạo) Trình độ học vấn của công nhân chính là tri thức khoa học mà người công nhân tiếp thu được trước hết qua quá trình đào tạo ở các bậc phổ thông, cao đẳng, đại học và trên đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân mà cơ sở pháp lý chính là bằng cấp và được xã hội thừa nhận Ngoài ra, trong các môi trường gia đình, đoàn thể, xã hội với nhiều hoạt động phong phú của cá nhân mà người công nhân tự học tập, tự ý thức nâng cao học vấn của mình Trình
độ học vấn của công nhân càng cao, càng giúp cho bản thân người công nhân dễ dàng tiếp nhận tri thức mới của khoa học, công nghệ hiện đại, từ đó ứng dụng và sáng tạo trong quá trình sản xuất và quản lý xã hội, góp phần nâng cao địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Do đó, nâng cao trình độ học vấn của công nhân vừa là yêu cầu cấp bách của
Trang 6sự nghiệp CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, vừa là kết quả của quá trình trí thức hoá công nhân và gắn liền với đường lối chính sách giáo dục, đào tạo và phát triển khoa học công nghệ - quốc sách hàng đầu của nước ta hiện nay Trình độ học vấn ngày càng được nâng cao của giai cấp công nhân Việt Nam còn là tiền đề để giai cấp công nhân nhận thức được quy luật, con đường, điều kiện
để cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới, từng bước nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực cải tiến công cụ lao động và năng lực ứng dụng, sáng tạo công nghệ mới Tuy nhiên, mức độ sự nâng cao trình độ học vấn ấy không phải là bất kỳ mà phải được xác định cụ thể phù hợp với điều kiện ở trong nước và quốc tế nhằm đạt được trình độ học vấn tương đương trình độ học vấn khởi điểm của trí thức Việt Nam (cao đẳng, đại học) Điều này đặc biệt quan trọng đối với công nhân ở các ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm và những ngành công nghệ cao Như vậy là, trình độ học vấn là nền tảng tri thức đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta trong hội nhập quốc tế hiện nay
Thứ hai: Trí thức hóa công nhân Việt Nam là quá trình nâng cao trình độ
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân nhất là những công nhân ở các ngành công nghệ cao tiến tới đạt trình độ tay nghề từ bậc 6 trở lên và có những cải tiến công cụ lao động và ứng dụng, sáng tạo công nghệ mới vào quá trình lao động sản xuất
Trí thức hoá công nhân không chỉ dừng lại ở việc nâng cao trình độ học vấn thuần tuý hay chỉ đánh dấu về mặt bằng cấp mà còn tập trung vào vấn đề cốt lõi là nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của công nhân xứng đáng là lực lượng sản xuất cơ bản, đáp ứng trong phân công lao động xã hội và góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới nói chung và nhiệm vụ CNH, HĐH đất nước nói riêng nhằm xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật ngày càng vững chắc cho chủ nghĩa xã hội
Trang 7Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp là khả năng tiếp thu và vận dụng những kiến thức đã được thu nhận trong quá trình đào tạo để thực hành về một nghề nghiệp nhất định Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của công nhân được đánh giá qua trình độ đào tạo nghề (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng nghề), qua quá trình thực hành nghề và học hỏi, bổ sung kinh nghiệm để nâng bậc theo quy định cụ thể của từng ngành nghề nhất định Qua quá trình trí thức hóa công nhân, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của công nhân ngày càng được nâng cao, nhất là những công nhân ở các ngành công nghệ cao và tiến tới đạt trình độ tay nghề từ bậc 6 trở lên
Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của công nhân còn thể hiện ở trình độ và năng lực cải tiến công cụ lao động và ứng dụng, sáng tạo công nghệ
mới vào quá trình lao động sản xuất Bởi vì “đặt lên hàng đầu là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức”[3, tr211] Quá trình trí thức hóa
công nhân từng bước nâng cao khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức, góp phần hiện đại hoá, xã hội hoá lực lượng sản xuất và do đó góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống sản xuất và xã hội mới XHCN
Vì vậy, việc nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của công nhân trở thành nội dung cơ bản và mang tính chủ đạo của quá trình trí thức hoá công nhân Việt Nam nhằm tạo ra bước chuyển biến căn bản của người công nhân
từ một trình độ, tri thức và năng lực của người lao động chân tay, nửa cơ khí và cơ khí sang trình độ, tri thức và năng lực của người lao động trí thức - sử dụng tri thức khoa học - kỹ thuật - công nghệ hiện đại là chính với những bước đi vừa tuần tự vừa đi tắt đón đầu Đây là một sự nghiệp lớn lao gắn liền với quá trình CNH, HĐH đất nước và từng bước hình thành kinh tế tri thức ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trang 8Thứ ba: Trí thức hoá công nhân Việt Nam là quá trình nâng ý thức chính trị, ý
thức pháp luật và tác phong công nghiệp của công nhân lên một trình độ cao từng bước hình thành lối sống mới, con người mới XHCN
Ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta ngày càng được nâng cao thể hiện rõ nhất thông qua những nhận thức và thái độ của người công nhân về: giác ngộ giai cấp; nhận thức về các tổ chức trong hệ thống chính trị; thái độ đối với sự nghiệp đổi mới đất nước; nhận thức về nhu cầu và lợi ích chính trị của mình; thái
độ đối với các giai cấp, tầng lớp xã hội và đối với người sử dụng lao động
Nâng cao trình độ và ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam lên một trình độ cao gắn liền với việc trang bị những kiến thức lý luận cho công nhân, nghĩa là công nhân phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và thực hiện nó trong thực tiễn cuộc sống Thông qua đó mà bản lĩnh chính trị của giai cấp công nhân từng bước được hình thành, rèn luyện, thử thách, thể hiện và phát huy trong tiến trình cách mạng thông qua sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Bản lĩnh chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng được tôi luyện
và thử thách trong công cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới mà nhiệm
vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ là tiến hành CNH, HĐH đất nước Đặc biệt, trong hội nhập quốc tế hiện nay, bản lĩnh chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam là tinh thần kiên định con đường và mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác
Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và có ý thức góp phần vào xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Sống trong xã hội mà trình độ sản xuất chưa cao, còn nhiều dấu ấn của nông dân lạc hậu, vì vậy, giai cấp công nhân Việt Nam không thể không bị ảnh hưởng của những dấu ấn đó, nhất là trong việc hình thành tác phong công nghiệp, ý thức pháp luật Qua quá trình trí thức hóa, giai cấp công nhân Việt Nam mới thành giai
Trang 9cấp công nhân hiện đại: vừa có tri thức, vừa có đạo đức cách mạng, trung thực, có tác phong công nghiệp và nhân cách cao, tôn trọng nhân quyền và pháp luật nhà nước, từng bước hình thành lối sống mới của con người mới xã hội chủ nghĩa Nhất là, khi chúng ta chuyển từ nền kinh tế hành chính tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước thì quá trình trí thức hoá công nhân sẽ tạo điều kiện khắc phục dần những biểu hiện của sự tha hoá trong một bộ phận công nhân như: tệ sùng bái đồng tiền, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, làm ẩu, làm dối,
vô kỷ luật, tuỳ tiện không coi trọng quy trình kỹ thuật hoặc quy tắc an toàn lao động vi phạm pháp luật nhà nước, ảnh hưởng đến uy tín và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong quá trình CNH, HĐH đất nước
Do đó, quá trình trí thức hoá công nhân đòi hỏi người công nhân phải từng bước hình thành ở mức độ cao của tác phong công nghiệp và ý thức pháp luật trong lao động và cuộc sống Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh đến môi trường rèn luyện đó nhằm hoàn thiện con người mới trong quá trình
lao động: “Đơn vị sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường rèn luyện phong cách làm việc có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao, bồi đắp tình bạn, tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người và nền văn hóa Việt Nam”[7, tr77].
Với các nội dung đó, hiện nay, trí thức hoá công nhân Việt Nam đang từng bước được thực hiện với những biểu hiện chủ yếu sau: Công nhân được đào tạo lần đầu ở trường lớp tập trung, tại chức, từ xa và tự đào tạo theo các khoá học khác nhau với nội dung ngày càng phong phú và toàn diện hơn; công nhân được đào tạo lại (bồi dưỡng) thường xuyên với nội dung cập nhật và hình thức phong phú hơn; công nhân có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao hơn; hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức và trí thức công nhân trong giai cấp công nhân và do đó sự xích lại giữa công nhân và trí thức ngày càng gần hơn
Trang 10Trí thức hoá công nhân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình từng bước mang tính chủ động, có kế hoạch với sự tham gia ngày càng nhiều và có hiệu quả của cả hệ thống chính trị, của toàn bộ xã hội, trên cơ sở phát huy vai trò, vị trí, khả năng của giai cấp công nhân trong sự liên minh đoàn kết, hợp tác với các giai cấp, tầng lớp khác
và của các tổ chức kinh tế - giáo dục - nghề nghiệp ở trong nước và quốc tế nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp đẩy mạnh quá trình đó góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước
Hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội của nhân
dân trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có vị trí quan trọng và là những chủ
thể hàng đầu tham gia thực hiện trí thức hoá công nhân Trong báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới, một trong ba đột phá chiến
lược được Đảng ta quan tâm là: “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”[3, tr55] nhằm xây dựng lực lượng sản xuất tiên tiến phục
vụ cho mục tiêu phát triển đất nước bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa Một chủ thể không thể thiếu được và là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình trí thức hoá công nhân, đó là đội ngũ trí thức Việt Nam Cùng với các tổ chức trong hệ thống chính trị và đội ngũ trí thức Việt Nam, các tổ chức kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục và cơ quan chức năng- nghiệp vụ (báo chí, trường học, tuyên huấn ) cũng là những chủ thể đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau trong thực hiện trí thức hoá công nhân nước ta hiện nay
Giai cấp công nhân nói chung và người công nhân nói riêng vừa là đối tượng
vừa là chủ thể trực tiếp của quá trình trí thức hoá công nhân Việt Nam Để thực
hiện có hiệu quả những nội dung của trí thức hoá công nhân, cùng với sự tác động của các chủ thể khác, giai cấp công nhân Việt Nam cũng như từng người công nhân phải tự mình vươn lên, học hỏi, thích ứng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, với cơ chế thị trường, với công cuộc đổi mới và hội nhập Đó chính