Lưu huỳnh (S) là nguyên tố phổ biến nhất trong dầu thô và và than đá, hàm lượng lưu huỳnh là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng dầu thô. Hầu hết các phân đoạn dầu mỏ sau khi chưng cất không thể sử dụng được ngay vìchúng lẫn rất nhiều tạp chất. Lưu huỳnh trong nguyên liệu dầu mỏ có thể làm giảm hiệu quả các chất xúc tác, mà chất xúc tác này được sử dụng trong các chuyển hóa nguyên liệu dầu mỏ. Nó tạo ra các hợp chất bền với pha hoạt động làm mất hoạt tính xúc tác, gọi là ngộ độc xúc tác. Do đó, các quá trình loại bỏ lưu huỳnh là nhằm tạo ra các sản phẩm nhiên liệu hoặc nguyên liệu có hàm lượng lưu huỳnh thấp hơn, tránh hiện tượng ngộ độc xúc tác, làm tăng độ bền và chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả của quá trình chế biến và giảm thiệt hại về kinh tế. Mặt khác, lưu huỳnh oxide (SOx) từ quá trình đốt cháy các hợp chất lưu huỳnh trong nhiên liệu đã trở thành một trong những vấn đề nghiêm trọng về môi trường trên thế giới chúng là nguyên nhân chính gây mưa acid, hiệu ứng nóng lên toàn cầu và ô nhiễm không khí. Trong những năm gần đây, việc thải chất khử của lưu huỳnh từ xăng và dầu diesel ra môi trường ngày càng được quy định nghiêm ngặt để làm giảm hàm lượng lưu huỳnh xuống mức thấp nhất 6. Với quy định mới được ban hành là giảm lưu huỳnh trong nhiên liệu vận tải từ 500 ppmw xuống dưới 15 ppmw trong diesel và từ 300 ppmw đến dưới 30 ppmw trong xăng 7. Thêm vào đó, các hydrocarbon gần như không lẫn lưu huỳnh hoặc hàm lượng lưu huỳnh rất thấp (