Nhận thức được tầm quan trọng của tự học đối với chất lượng của quá trình giáo dục đào tạo, Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Đại học An ninh nhân dân ĐH ANND trong thời gian qua đã quan tâm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Văn Thị Như Ý
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
AN NINH NHÂN DÂN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VÕ VĂN NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, đóng góp những
ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các bạn bè, đồng nghiệp… Qua đây tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Tiến sĩ Võ Văn Nam, Giáo viên trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
- Quý thầy cô là giáo viên lớp Cao học quản lý giáo dục Khóa 18 đã hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
- Ban Giám hiệu, Khoa Tâm lý giáo dục, Phòng Khoa học Công nghệ & Sau đại học trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập
- Ban Giám hiệu trường Đại học An ninh nhân dân, Lãnh đạo và cán bộ, giáo viên các Khoa, Bộ môn, Phòng và Trung tâm đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
- Các anh chị lớp Cao học quản lý giáo dục Khóa 18 đã gắn bó, động viên và chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình học tập và làm việc
- Gia đình và đồng nghiệp đã luôn động viên và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Văn Thị Như Ý
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, tài liệu nghiên cứu phục vụ Luận văn là những tài liệu đang được quản lý và sử dụng, phản ánh đúng với thực tiễn công tác quản lí hoạt động tự học của sinh viên
ở trường Đại học An ninh nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ những năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” [30, tr30],Bác Hồ đã khẳng định “cách học tập, phải lấy tự học làm cốt, phải biết tự động học tập… ” Tự học là phương thức cơ bản để người học tiếp cận và chiếm lĩnh hệ thống tri thức phong phú và thiết thực Chỉ có tự học thì giáo dục đào tạo mới thành công, đó chính là tính khách quan, vấn đề có tính nguyên tắc của quá trình giáo dục đào tạo
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục trong quá trình hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước
ta đã xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, là gốc rễ của sự phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Để đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đổi mới giáo dục toàn diện, trong đó đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), đặc biệt chú trọng đến hướng dẫn cho người học phương pháp tự học, tự nghiên cứu, để họ có thể “học tập suốt đời”
Điều này một lần nữa được cụ thể hóa trong luật Giáo dục năm 2005: “Phương pháp đào tạo trình độ đại học, cao đẳng phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” [ 11, tr 45]
Tuy nhiên, giai đoạn học tập ở nhà trường chỉ là một giai đoạn rất ngắn đối với mỗi người, mà việc học là việc lâu dài, suốt đời như Lênin từng nói: “Học, học nữa, học mãi” Chính vì vậy, quá trình giáo dục đào tạo không chỉ giáo dục kiến thức mà còn phải biết giáo dục phương pháp tự học và hình thành tư duy tự học cho người học Mặt khác, kết quả học tập của người học được phản ánh bằng hiệu quả của hoạt động tự học của người học Thước
đo chất lượng giáo dục đào tạo lại chính là kết quả học tập của người học Do đó, quá trình giáo dục đào tạo cần phải biết nâng cao hiệu quả hoạt động tự học cho người học
Nhận thức được tầm quan trọng của tự học đối với chất lượng của quá trình giáo dục đào tạo, Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Đại học An ninh nhân dân (ĐH ANND) trong thời gian qua đã quan tâm tổ chức quản lí tốt hoạt động tự học của SV nhà trường Từ đó, đã đem lại nhiều kết quả khả quan như nhiều SV đã biết nghiên cứu khoa học và đã có công trình đạt giải nghiên cứu khoa học do Bộ Giáo dục - đào tạo (GD - ĐT) và Thành đoàn TP HCM tổ chức, đã có nhiều sáng kiến, cải tiến trong học tập, kết quả học tập đã được nâng lên … Tuy
Trang 6nhiên, quá trình tổ chức các biện pháp quản lí hoạt động tự học của SV còn gặp những khó khăn, bộc lộ những hạn chế cũng như chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến hiệu quả đạt được chưa cao, xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các biện pháp quản lí hoạt động tự học của SV do Trường ĐH ANND đã tiến hành để đưa ra những biện pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của SV, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Nhà trường là một vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
Từ những lí do trên, tác giả chọn vấn đề “Biện pháp quản lí hoạt động tự học của
sinh viên trường Đại học An ninh nhân dân” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm mô tả thực trạng công tác quản lí hoạt động tự học của SV và
đề xuất các biện pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này ở Trường ĐH ANND
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể: Công tác quản lí hoạt động học tập của SV của Hiệu Trưởng trường ĐH
ANND
Đối tượng: Công tác quản lí hoạt động tự học của SV của Hiệu Trưởng trường ĐH
ANND
4 Giả thuyết nghiên cứu
Các biện pháp quản lí HĐTH của SV Trường ĐH ANND đã được thực hiện tương đối tốt ở một số mặt và đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, quá trình triển khai các biện pháp này còn có những khiếm khuyết, hạn chế cần được nghiên cứu tổng kết, rút kinh nghiệm, bổ sung, điều chỉnh Khi xây dựng được các biện pháp quản lí phù hợp đối với hoạt động tự học của SV thì chất lượng đào tạo của Trường ĐH ANND sẽ được nâng lên, do HĐTH của SV có hiệu quả hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về hoạt động tự học, quản lýhoạt động tự học để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
- Mô tả thực trạng hoạt động tự học và công tác quản lí hoạt động tự học, đồng thời
Trang 7- Đề xuất các biện pháp quản lí nhằm cải thiện thực trạng
6 Giới hạn đề tài
Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác quản lí hoạt động tự học của SV hệ chính qui tập trung tại trường của Hiệu Trưởng Trường ĐH ANND trong những năm gần đây (từ năm
2005 đến nay)
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm hệ thống - cấu trúc, lịch sử - logic và
thực tiễn
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích, tổng hợp, qui nạp, diễn dịch, mô hình
hóa, khái quát hóa
- Phương pháp nghiên cứu thực tế:
+ Quan sát sư phạm: trên cơ sở quan sát đối tượng khảo sát dưới sự tác động của các biện pháp quản lí để đánh giá thực tiễn kết quả của các biện pháp đã triển khai
+ Điều tra xã hội học: trên cơ sở xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến của đối tượng khảo sát, chọn mẫu khảo sát để thu thập số liệu, tư liệu và ý kiến về thực trạng công tác quản lí HĐTH và ý kiến đánh giá về các giải pháp mà đề tài đưa ra
- Phương pháp toán thống kê: trên cơ sở xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, dùng phần mềm tin học về toán thống kê để xử lý số liệu đã thu thập được
8 Đóng góp mới của đề tài
- Đưa ra một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lí HĐTH của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học ANND
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho các trường đại học khác trong ngành Công an
Trang 8Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tự học là vấn đề đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu và có nhiều tài liệu tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau
- Cách chúng ta 2500 năm, Heraclitus (530-475 TCN) đã nhận định: “Thực chất của
giáo dục là thắp lên một ngọn đuốc để soi sáng, để người học nhận ra những con đường, tự mình chọn lấy cho mình một con đường, rồi tự bước đi trên con đường đã chọn, dưới ánh sáng của ngọn đước ấy”
- Socrate (470-399 TCN) đã nhấn mạnh đến vai trò nội lực ở người học, khi nêu ra
phương châm nổi tiếng: “Hỡi con người, hãy tự khám phá bản thân mình!” Để người học tự khám phá bản thân mình, ông nói: “Mục đích của giáo dục không phải là tách con người ra
khỏi đám đông, càng không phải là làm cho con người ấy mất hút trong đám đông; mục đích của giáo dục là làm cho con người nhận ra chính mình giữa đám đông”
- Theo Platon (427-384 TCN) thì mọi người đều phải học và học đến nơi đến chốn Đặc biệt là người thầy, để dạy người, anh ta phải được giáo dục đến nơi đến chốn Để được như vậy thì vào thời cổ đại, con đường chủ yếu vẫn là TỰ HỌC, tự học thường xuyên, tự học lâu dài
- Mạc tử (475-390 TCN) với sự phân biệt 03 loại tri thức: thân tri, văn tri, trí tri, thì ngoài văn tri – nghe mà biết, còn thân tri – tự nhân nhận biết và trí tri – tự suy luận mà biết đều do tự chiêm nghiệm, tức là do tự học vậy
- Sách “Phương pháp dạy và học đại học” [14] của Garry Hess & Steven Nriedland, Lê
Nết (biên dịch) đã chỉ ra bản chất học hỏi của người lớn có yếu tố tự giác, họ có động cơ học tập rõ ràng và sẵn sàng tham gia vào nhiều phương thức đào tạo
- Sách “Biển học vô bờ” [23] của GS-TS Nguyễn Cảnh Toàn đã chỉ ra phương pháp và
phong cách học tập, kinh nghiệm tự tổ chức học tập, trong đó nêu rõ trong học tập, người học phải tự làm lấy, khi nào đã cố gắng cao nhất mà vẫn không hiểu thì mới nhờ người dạy giúp đỡ
- Sách “Quá trình dạy - tự học” [25] do các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) đã luận giải vấn đề "thầy dạy, trò tự học" với các nội dung: mô hình, chu trình, quy trình dạy -
Trang 9tự học, hệ phương pháp dạy - học tích cực lấy người học làm trung tâm, cần phải hướng dẫn cho người khác tự học thông qua tài liệu hướng dẫn tự học
- Sách “Tuyển tập tác phẩm: tự học, tự giáo dục, tự nghiên cứu” [26] của tác giả
Nguyễn Cảnh Toàn đã luận bàn về vấn đề tự học, nêu ra các phương châm cơ bản để đảm bảo thắng lợi của tự học, những cản trở của việc tự học và kinh nghiệm khắc phục
- Sách “Tự học, một nhu cầu thời đại” [9] của Nguyễn Hiến Lê đã nghiên cứu sâu về
vấn đề tự học với các nội dung: thế nào là tự học, các điều kiện để tự học, những cách tự học
- Sách “Phương pháp học tập, nghiên cứu của SV cao đẳng, đại học” [20] của tác giả
Phạm Trung Thanh, đã xác lập mô hình về phương pháp học tập - nghiên cứa của SV gồm các thành phần: xác định mục đích, động cơ thái độ việc học ở trên lớp, việc học tập nghiên cứu ở nhà, việc học tập, nghiên cứu ở tập thể, việc học tập nghiên cứu qua kiểm tra - thi
- Sách “Tự học của sinh viên” [1] của PGS TS Hoàng Anh - PGS TS Đỗ Thị Châu đã
nêu khái quát chung về hoạt động học tập – tự học của SV bao gồm khái niệm, hình thức, chu trình, hoạt động học tập – tự học, các yếu tố tâm lí ảnh hưởng đến hoạt động này
- Luận án Tiến sĩ “Tư tưởng tự học của Hồ Chí Minh và sự vận dụng vào việc nâng cao
ý thức tự học cho sinh viên đại học sư phạm” [13] của tác giả Võ Văn Nam đã nêu rõ: Bác
Hồ không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mà còn là tấm gương sáng, điển hình về học tập,
nhất là tự học Bác đã khái quát nên một quy luật đúng cho tất cả mọi người: “Về cách học,
phải lấy tự học làm cốt” [12] Với quan điểm và phương châm đó, ngày nay có tác giả nêu
lên phương châm “năm mọi” trong học và tự học, đó là mọi lúc, mọi nơi, mọi người, mọi cách, mọi nội dung Trong Sửa đổi lề lối làm việc [30], Bác Hồ đã đề cao tinh thần học tập là
“phải biết tự động học tập”
Khi xuất hiện lý thuyết lấy người học làm trung tâm vào cuối thế kỷ XVIII đến nay ở các nước phương Tây đã làm nảy sinh những quan niệm mới về cách dạy, cách học Những ý tưởng và chủ trương của lý thuyết này là đề cao, khuyến khích, tạo điều kiện cho người học thực hiện việc học thông qua cách thức và kinh nghiệm học, tự thể hiện và chịu trách nhiệm
về hành động cũng như kết quả học tập của chính mình
- Tháng 5/1997 ra đời Trung tâm nghiên cứu phát triển tự học và cho ra mắt tạp chí “Tự
học” từ năm 1999, tạp chí đăng tải những kết quả nghiên cứu, là diễn đàn trao đổi về vấn đề
tự học và phương pháp tự học
Trang 10- Ở một số trường Đại học của Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu vấn đề tự học của SV và quản lí tự học dưới những góc độ khác nhau như: Luận văn thạc sĩ Giáo dục
học của Trần Bá Khiêm về “Các biện pháp quản lí hoạt động tự học của SV trường Sỹ quan
lục quân 2” [8]; Luận văn thạc sĩ Quản lí giáo dục của Phạm Thị Thu Thủy về “Một số biện pháp quản lí của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho SV trường Cao đẳng sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3” [22]; Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục của Vũ Quang Hải
“Rèn luyện các kỹ năng tự học cơ bản cho học viên Học viên kỹ thuật quân sự: Thực trạng
và một số biện pháp quản lí” [5]
Trong các đề tài trên các tác giả đã đề cập đến vấn đề tự học của SV dưới góc độ: Biện pháp quản lí hoạt động tự học, biện pháp quản lí nhằm nâng cao năng lực tự học, biện pháp quản lí nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cho SV và vai trò, trách nhiệm của nhà quản lí trong công tác quản lí của mình nhằm tạo ra cho SV có những kỹ năng, phương pháp, năng lực tự học tốt, để họ có thể tự học trong nhà trường cũng như tự học suốt đời
Qua các công trình nghiên cứu về tự học đã nêu ở trên, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
+ Vấn đề tự học đã được các nhà GD bàn tới từ rất sớm trong lịch sử Tự học được tiếp cận ở cả hai phạm vi rộng và hẹp Ở phạm vi rộng tự học gắn liền với tự học thường xuyên,
tự học tập suốt đời, tự học không có người hướng dẫn Ở phạm vi hẹp, tự học gắn với quá trình học tập, đào tạo tại Nhà trường, có sự hướng dẫn của GV, có sự tác động của nhà quản
+ Vấn đề tự học và quản lí HĐTH của SV Trường ĐH ANND chưa có công trình nào nghiên cứu, từ đó chưa giải quyết được đòi hỏi của thực tiễn mà nhiệm vụ đào tạo của một
Trang 11trường Đại học phải thực hiện Vì vậy, cần phải có các biện pháp quản lí HĐTH của SV Nhà trường trong giai đoạn hiện nay, và xem đây là một mục tiêu, nhiệm vụ để nâng cao chất lượng đào tạo của Trường ĐH ANND
1.2 Một số khái niệm liên quan
1.2.1 Khái niệm Quản lí
Theo tự điển Tiếng Việt thông dụng (Nxb Giáo dục, 1998) “Quản lí là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [17]
H Koontz khẳng định Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những
nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức)
Một số nhà quản lýđã quan niệm về quản lýnhư sau: quản lýlà điều khiển, chỉ huy và kiểm tra Vì thế quản lýcó đặc điểm là không được xa rời quyền uy và điều khiển trong quá trình quản lý Theo nghĩa rộng, quản lí là hoạt động có mục đích của con người Nhiều người cho rằng quản lí chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn
Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản
- Là quá trình có mục đích, mọi hoạt động của nhà quản lí đều hướng tới mục tiêu của
tổ chức Mục tiêu của quản lýlà hình thành một môi trường mà trong đó mỗi người có thể hoàn thành được mục đích của mình, của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất
- Hoạt động của nhà quản lí là khai thác các nguồn lực một cách tối đa Do đó, cần có một quy trình hợp lý, sắp xếp nhân sự phù hợp với khả năng của từng người, từng nhóm người
- Tùy theo đặc điểm của tổ chức mà có cách quản lí riêng Vì vậy, ta cần lựa chọn cách tiếp cận để thâm nhập vào hệ thống quản lí cho phù hợp
Trang 12Đối với tất cả các hệ thống tổ chức - cơ quan nói chung đều có các nhân tố cấu thành sau:
+ Mục đích, mục tiêu (nhân tố nền tảng) mà hệ thống hướng tới, đó là lý do tồn tại của
hệ thống
+ Các chương trình, phương pháp hoạt động để đạt mục đích
+ Kế hoạch hoạt động để hoạt động có hiệu quả và huy động các nguồn lực cần thiết + Thủ lĩnh tiến hành các hoạt động quản lí giúp cho cơ quan đạt được các mục đích đề
ra
Nhà quản lí phải nghiên cứu, nắm vững hệ thống mình đang quản lí để tiếp cận và tiến hành các hoạt động quản lí một cách có hiệu quả nhất nhằm đạt mục tiêu đề ra Quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, tức là hoạt động quản lí chỉ cần thiết và tồn tại đối với một nhóm người, còn đối với một cá nhân người ta tự điều khiển hoạt động
của chính mình, như C Mác đã viết: “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” Có thể nói hệ thống quản lí là sự tác
động tương hỗ biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lí Quản lí là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động lao động của con người
Sau khi xem xét các khái niệm về quản lí, có thể sử dụng khái niệm quản lí dưới đây
trong hoạt động quản lí nhà trường: Quản lí là quá trình ra quyết định, tổ chức, chỉ đạo và
kiểm tra công việc của các bộ phận, các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích đã định
Quản lí vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Quản lí là khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hoá và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt, có hệ thống lí luận làm
cơ sở để người quản lí vận dụng nhằm đưa ra các quyết định phù hợp với điều kiện khách quan Quản lí là nghệ thuật bởi lẽ nó là hoạt động đặc biệt, hoạt động này đòi hỏi vận dụng hết sức khéo léo, linh hoạt những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết cho phù hợp với từng tình huống và đối tượng quản lí khác nhau để đem lại hiệu quả tốt nhất Người quản lí thông qua tri thức và kinh nghiệm áp dụng những kỹ năng cần thiết vào
tổ chức con người và công việc Tính nghệ thuật của quản lí xuất phát từ tính đa dạng, phong phú, muôn hình, muôn vẻ của sự vật hiện tượng trong kinh tế xã hội và trong quản lí Tính khoa học và nghệ thuật không loại trừ nhau mà ngược lại chúng còn phụ trợ cho nhau
Trang 13Quản lí có những chức năng của nó, đó chính là một dạng hoạt động quản lýsinh ra một cách khách quan từ hoạt động của khách thể quản lý Các chức năng mà bất kỳ chủ thể quản lýnào, ở bất kỳ ngành nào, cấp bậc nào cũng thực hiện theo qui trình quản lí đó là lập kế hoạch (hay là quyết định), tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên trong tổ chức và của việc sử dụng tất cả các khả năng, cách tổ chức để đạt được mục tiêu và
tổ chức đã đề ra
- Ra quyết định: Ra quyết định bao gồm việc lựa chọn phương hướng, đường lối, hành động mà tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức Ra quyết định là giải pháp cho một vấn đề - là tìm giải pháp tối ưu để giải quyết tình huống có vấn đề Ra quyết định là hoạt động mang tính sáng tạo, hay nói cách khác nó là biến dạng của hoạt động nhận thức trong đó bản chất của nó là quá trình tư duy Sản phẩm của quá trình ra quyết định là quyết định Trong các quyết định, thì quyết định quan trọng, phổ biến nhất là kế hoạch
Lập kế hoạch là công việc liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tổ chức Lập kế hoạch là nền tảng của quản lí Nếu chỉ tuyên bố về các mục tiêu đã lựa chọn thì nó vẫn chỉ là những ước muốn và hy vọng, mặc dù có tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng Muốn biến các mục tiêu thành hiện thực thì phải lập kế hoạch
- Tổ chức: Tổ chức là sự sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những lượng người, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm bảo đảm cho chúng tương tác với nhau một cách tối ưu đưa hệ tới mục tiêu Hệ bao gồm chủ thể quản lí và khách thể quản lí Tổ chức bao gồm việc xác định một cơ cấu định trước Tổ chức là hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu, là công cụ của quản lí
Hoạt động tổ chức trước hết và chủ yếu là xây dựng cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức quản lí giáo dục bao gồm các công việc sau: Xác định những hoạt động cần thiết để đạt mục tiêu; Nhóm gộp các hoạt động này thành các bộ phận; Giao hoạt động cho một người quản lí; Giao phó quyền hạn cho người quản lí thực hiện nhiệm vụ; Chuẩn bị đầy đủ cho sự phối hợp hoạt động, quyền hạn, thông tin ngang, dọc
- Chỉ đạo: Chỉ đạo thể hiện tính tích cực của người chỉ huy trong hoạt động của mình Chỉ đạo thực hiện kế hoạch là có sự theo dõi và giám sát công việc để chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận và các hoạt động của nhà trường diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp được các lực lượng giáo dục trong một tổ chức và phối hợp tối ưu với nhau Là quá trình tác
Trang 14động đến con người, điều khiển họ, làm cho họ tự giác nỗ lực phấn đấu đạt được mục tiêu đề
ra của tổ chức Muốn chỉ đạo tốt cần thu thập thông tin chính xác, biết phân tích, xử lý các nguồn thông tin và đưa ra các quyết định đúng đắn Điều đó nếu thực hiện tốt sẽ nâng cao uy tín của người chỉ đạo, còn ngược lại sẽ làm giảm uy tín Nguồn thu tập thông tin quan trọng
là kiểm tra, kiểm kê, thanh tra, đánh giá
- Kiểm tra: Là việc đánh giá kết quả, là đo lường và điều chỉnh các hoạt động của việc nhằm tìm ra những ưu, nhược điểm Thông qua việc kiểm tra phát huy cái tốt, hạn chế tồn tại hoặc để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý Chỉ đạo mà không kiểm tra thì coi như không chỉ đạo Theo lý thuyết hệ thống kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý Kiểm tra trong quản lýmột nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng: phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích Nhờ có kiểm tra mà người CBQL có được thông tin để đánh giá được thành tựu công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu
* Khái niệm hoạt động
“Hoạt động là nội dung cuộc sống của con người, là phương thức của sự tồn tại và phát triển của con người” [16, tr 29]
“Hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo
ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người” [21, tr 49]
Cấu trúc của hoạt động bao gồm sáu thành tố chia làm hai hàng tương ứng từng thành
tố như sau:
Trang 15Động cơ Mục đích Phương tiện, điều kiện
Cấu trúc hoạt động gồm ba cấp bậc từ thấp đến cao: cấp bậc thao tác; cấp bậc hành động và cấp bậc hoạt động Hoạt động nào cũng được thúc đẩy bởi động cơ tương ứng, đó chính là cái đích cuối cùng mà con người muốn vươn tới, động cơ thực chất là mục đích tổng quan Hoạt động được cấu thành bởi nhiều hành động bộ phận, cái mà hành động nhằm đạt tới là mục đích, mục đích chính là bộ phận của động cơ Mục đích bộ phận phải được cụ thể hóa thêm một bước nữa và nó được qui định bởi các phương tiện, điều kiện cụ thể nơi diễn
ra hành động Thao tác (động tác) là những phương thức để giải quyết các nhiệm vụ trong
điều kiện cụ thể đó, hay nói cách khác nó là phương thức để thực hiện hành động
Hoạt động có những đặc điểm cơ bản thể hiện bản chất của nó, đó là:
- Tính có đối tượng: bản thân khái niệm hoạt động đã nói lên nó có tính đối tượng, vì hoạt động là quá trình tác động vào thế giới, cụ thể là một cái gì đó Hoạt động học tập là nhằm vào tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để chủ thể lĩnh hội chúng đưa thành vốn kinh nghiệm của bản thân
- Tính chủ thể: hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành Nói đến hoạt động là nói ngay đến do một chủ thể nào đó thực hiện SV là chủ thể của hoạt động học tập, GV là chủ thể của hoạt động dạy
- Tính mục đích: Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích nhất định Trong mọi hành động của con người đều nổi lên tính mục đích rõ rệt Học tập để có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thỏa mãn nhu cầu nhận thức, để chuẩn bị hành trang khi bước vào công việc, bước vào giai đoạn mới của cuộc sống
* Khái niệm Hoạt động tự học
Theo Từ điển Tiếng Việt “tự học là học lấy một mình trong sách chứ không có thầy dạy” [17]
Nguyễn Hiến Lê cho rằng: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm Có thầy hay không ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình Muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng” [9]
Trang 16Theo PGS TS Hoàng Anh và Võ Thị Châu thì: “Tự học là hoạt động đòi hỏi có ý thức
tự giác cao, mang tính độc lập, cá nhân phải có thái độ đúng, có hệ thống kỹ năng tự học Tự học thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo, tự điều khiển, tự điều chỉnh, tự kiểm tra việc học của chính mình” và “Tự học của SV đại học là một hoạt động mà ở đó SV giữ vai trò chủ động, tích cực, tự giác cao trong việc học tập và nghiên cứu nhằm lĩnh hội tri thức khoa học theo một ngành nghề nhất định, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng để tạo ra sự phát triển nhân cách của SV đại học - những chủ nhân tương lai của đất nước đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới” [1]
Tự học cũng là một trong những hoạt động chủ yếu của SV Đó là hình thức người học
tự tổ chức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp cần thiết dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển và điều chỉnh của GV để phát triển và hoàn thiện nhân cách
Theo Đặng Hữu Hoạt, Hà Thị Đức: "Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã quy định" [7]
Theo GS TS Nguyễn Cảnh Toàn: "Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình" [25] GS đã cho rằng: cốt lỗi của sự học ở người là tự học Hễ có học là có
tự học Khi nói đến học là nói đến mối quan hệ giữa người học với người dạy - ngoại lực, còn khi nói đến tự học là nói đến chính những yếu tố bên trong của người học - nội lực Trong dạy học để đạt được hiệu quả thì ngoại lực phải biết tác động đến nội lực và tạo nên sự cộng hưởng với yếu tố nội lực
Theo TS Võ Quang Phúc: "Học, một khi được hiểu như là sự chiếm lĩnh kinh nghiệm
của nhân loại, thì tự nó bao gồm cả HĐTH Nói khác đi, tự học là bộ phận của học, nó cũng được tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với một nội dung học tập nhất định"[18]
Trang 17Học là quá trình con người nỗ lực lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo Quá trình này đòi hỏi phải có hai điều kiện: Thứ nhất, người học phải tự giác về mục đích học tập và tích cực thực hiện mục đích đó Thứ hai, quá trình đó phải được thực hiện dưới sự điều khiển, hướng dẫn của nhà giáo dục Ở điều kiện thứ nhất thể hiện trong quá trình học, người học phải biết tự học – tự giác phát huy hết phẩm chất và năng lực của mình để chiếm lĩnh tri thức
Qua các khái niệm trên, với những góc độ tiếp cận khác nhau cho thấy, tự học là hình thức tổ chức hoạt động nhận thức có tính chất cá nhân để chiếm lĩnh hệ thống tri thức mà cá nhân muốn đạt được và có ý nghĩa rất rộng: có thể là tự học có thầy hay không có thầy hướng dẫn, tự học trong hay ngoài giờ lên lớp, nó diễn ra khi còn ngồi trên ghế nhà trường
và cả khi đã ra trường Biểu hiện ở việc cá nhân tự thực hiện những nội dung sau: Xác định mục tiêu chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo; Lập kế hoạch tự học; Xác định nội dung, nhiệm vụ tự học; Lựa chọn phương pháp, sử dụng phương tiện tự học phù hợp; Tự kiểm tra - đánh giá và điều chỉnh việc học của bản thân
HĐTH của SV được biểu hiện ở nhiều mặt (như quan niệm, động cơ, thái độ, ý chí, phương pháp và kỹ năng học tập) và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan (như tài liệu, phương tiện học tập, bạn bè, tập thể, GV, gia đình, nhà trường, xã hội) HĐTH là quá trình tổ chức nhận thức độc lập, tự phát huy năng lực cá nhân một cách tích cực, tự giác, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học HĐTH về bản chất là sự tiếp thu, tự xử
lý thông tin, chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ
Cấu trúc của hoạt động tự học:
+ Động cơ: là những hiện tượng, sự vật trở thành cái kích thích, thúc đẩy tính tích cực học tập ở người SV nhằm đạt kết quả nhận thức và hình thành phát triển nhân cách Động cơ
là yếu tố quyết định đến kết quả học tập của người học Những động cơ phù hợp sẽ kích thích chủ thể tiến hành hoạt động học tập có mục đích Đó chỉ có thể là những động cơ gắn liền với nội dung học tập hay nói cách khác là động cơ hoàn thiện bản thân
+ Nội dung: là hệ thống tri thức, kỷ năng, kỹ xảo cần chiếm lĩnh Nội dung của tự học rất phong phú, bao gồm toàn bộ những công việc học tập do cá nhân và có khi do tập thể SV tiến hành ngoài những giờ học chính khóa, hoặc do bản thân SV độc lập tiến hành ngay cả trong giờ học trên lớp, như chỉnh lí lại vở ghi, đọc sách, làm bài tập, chuẩn bị sêmina, làm thí
Trang 18nghiệm, tham gia các hoạt động thực tế, thực tập…
+ Kế hoạch tự học: là bảng phân chia nội dung tự học dựa trên yêu cầu nhiệm vụ tự học, khả năng bản thân và các điều kiện bảo đảm để đạt được mục tiêu đề ra
+ Phương pháp tự học: là cách thức chiếm lĩnh nội dung tự học
+ Hình thức tự học: là các kiểu diễn ra HĐTH (tự học một mình, theo nhóm, theo lớp )
+ Năng lực tự học: là những phẩm chất trí tuệ mà hiệu quả học tập phụ thuộc vào đó (tính định hướng, bề rộng, độ sâu )
+ Tự kiểm tra - đánh giá: là hoạt động kiểm tra của cá nhân đối với kết quả tự học, phát hiện sai lệch, giúp người học điều chỉnh, làm cơ sở cho HĐTH tiếp theo
+ Phương tiện tự học: sách vở, thiết bị dạy học, thư viện, phòng học và thực hành và điều kiện CSVC khác
1.2.4 Sinh viên
Theo từ điển Tiếng Việt của nhóm tác giả Viện ngôn ngữ học thuộc ủy ban KHXH Việt Nam: “Học viên là người lớn tuổi học ở những trường lớp không thuộc hệ thống giáo dục
phổ thông hay đại học” [17, tr.477] Trong trường đại học, SV hoặc học viên là danh từ
chung chỉ những người tiếp thu sự giáo dục của giảng viên, không phân biệt người này với người khác SV có nghĩa vụ tham gia vào hoạt động học tập, rèn luyện mà nhà trường tổ chức Học là hoạt động chủ yếu và là nhiệm vụ của SV
Theo Thông tư số 50/2009/TT-BCA(X11) ngày 01/9/2009 của Bộ Trưởng Bộ CA ban hành “Quy định về công tác quản lí, giáo dục học viên các Học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND” tại khoản 2 của điều 1, Học viên được định nghĩa như sau:
“Người đang học tập theo hình thức tập trung, không tập trung, vừa làm, vừa học, các lớp bồi dưỡng tại các trường CAND (được gọi chung là học viên) gồm: người học để được cấp bằng Tiến sỹ (Nghiên cứu sinh), cấp bằng Thạc sỹ (học viên Cao học), cấp bằng Đại học, Cao đẳng (SV), cấp bằng trung cấp (học sinh) và các lớp bồi dưỡng ngắn hạn (học viên)”
Như vậy theo quy định trên đây của Bộ Công An học viên là tên gọi chung cho người học ở các hệ đào tạo, các trường thuộc ngành CAND, đây là tên gọi chung được dùng trong các văn bản có liên quan đến công tác đào tạo, quản lí của Ngành Tuy nhiên, về thực chất
Trang 19người học để được cấp bằng đại học, cao đẳng vẫn được gọi là SV Đề tài này nghiên cứu, khảo sát trên đối tượng là SV hệ chính qui được đào tạo để cấp bằng đại học
1.3 Vai trò của tự học trong giáo dục và đào tạo
- Tự học giúp người học chiếm lĩnh và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong nghề nghiệp tương lai một cách nhanh chóng và bền vững Trong dạy học người học đóng vai trò
là chủ thể nhận thức và mối quan hệ giữa việc dạy và tự học là quan hệ ngoại lực – nội lực Chính vì vậy, cho dù người dạy có giỏi đến đâu cũng chỉ là người hướng dẫn, là chất xúc tác
để người học tự nhận thức, tự chiếm lĩnh tri thức, tự học mới là yếu tố nội lực quyết định đến tính chất và tốc độ của quá trình chiếm lĩnh tri thức của người học Ở đây, SV đã thể hiện ở mức độ cao vai trò của chủ thể nhận thức và kết hợp thống nhất, hài hòa giữa vai trò là chủ thể nhận thức với vai trò là đối tượng điều khiển trong dạy học Hoạt động học gắn chặt với HĐTH, tự học là cốt lõi của việc học Qua tự học sẽ giúp người học tự kiểm tra mức độ kết quả lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để người học tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình
- Tự học còn giúp SV hình thành niềm tin khoa học và rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập, lòng say mê nghiên cứu khoa học Qua HĐTH SV mới tìm ra những vấn đề cần nghiên cứu sâu, có những chính kiến của bản thân và tìm những luận cứ để chứng minh hay phản biện các vấn đề khoa học, từ đó hình thành những đức tính tốt đối với một nhà khoa học thực thụ Những đức tính đó không thể được truyền từ người dạy qua người học mà chính người học phải tích cực lao động bằng trí
óc mới có thể hình thành
- Tự học không những giúp SV không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập
từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn có thể hình thành phương pháp, niềm tin, thái độ
tự học, tự nghiên cứu suốt đời để thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng, toàn diện, tốc độ cao của xã hội
- Tự học giúp nâng cao chất lượng GD - ĐT của nhà trường Mục tiêu của giáo dục đào tạo là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Quá trình đào tạo phải tạo ra những người biết tự học, có phương pháp tự học và tự học một cách có hiệu quả chứ không phải dạy học một cách nhồi nhét, thụ động, áp đặt Nhất là trong dạy học ở bậc đại học thì mục tiêu đó càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa, vì thực chất học ở đại học là học phương pháp
Trang 20và chỉ học những kiến cơ bản mang tính chất nền tảng Tự học một cách sáng tạo sẽ giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập của người học, từ đó sẽ nâng cao chất lượng của quá trình GD - ĐT
Như vậy, tự học đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nhận thức của cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng GD – ĐT Vấn đề là HĐTH có cần được quản lýkhông? Nếu có thì phải quản lýnhư thế nào cho phù hợp? Những vấn đề này sẽ làm sáng tõ trong phần tiếp theo: phần Quản lýhoạt động tự học
1 4 Quản lí hoạt động tự học
* Quản lí trường học
Quản lí trường học là sự quản lí của chủ thể quản lí (Hiệu trưởng) đối với khách thể quản lí (là toàn bộ những con người, những hoạt động, những tổ chức và những phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính của nhà trường) để đạt được mục tiêu GD – ĐT của trường học
đó Hoạt động trung tâm của nhà trường là hoạt động dạy - học Vì vậy, quản lí nhà trường thực chất là quản lí hoạt động dạy - học
1.4.1 Quản lí hoạt động dạy - học
Dạy - học bao gồm hai hoạt động: hoạt động dạy và hoạt động học
GV với hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình người học chiếm lĩnh tri thức, qua đó hình thành và phát triển nhân cách người học
Hoạt động học của trò là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức dưới sự điều khiển sư phạm của thầy Như vậy, hoạt động học có chức năng là lĩnh hội thông tin dạy của thầy và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học của mình một cách tự giác, tích cực, tự lực Hai hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại cho nhau và vì nhau Dạy học là một quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học, là quá trình người dạy kích thích và điều khiển tính tích cực bên ngoài và bên trong của người học để họ lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp tương lai Chính vì vậy, quản lí hoạt động dạy và học là một công việc khó khăn, phức tạp, luôn đòi hỏi người quản lí phải nắm vững bản chất, diễn biến của quá trình dạy học để có kế hoạch chỉ đạo thực hiện mục tiêu đã
đề ra, góp phần quản lí tốt HĐTH của người học
Hoạt động dạy học là đối tượng quản lí quan trọng nhất trong công tác quản lí trường
Trang 21học, là hoạt động trọng tâm, xuyên suốt chi phối mọi hoạt động khác trong quá trình đào tạo của nhà trường
* Nội dung quản lí hoạt động dạy - học
- Quản lí hoạt động của GV trong việc tổ chức nhận thức cho học sinh thực hiện kế hoạch đào tạo, nội dung chương trình, giảng dạy theo đúng tiến độ thời gian quy định Trong
đó chú trọng quản lí PPDH của GV giúp cho người học có phương pháp tự học tốt
- Quản lí hoạt động của người học trong việc tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu thông qua quá trình tích cực, tự giác, tự lực của bản thân, từ đó có được tri thức khoa học và thái độ mới
- Việc chấp hành các quy định (điều lệ, chế độ, nội quy, qui định ) về hoạt động dạy học của người dạy và hoạt động học tập của người học đảm bảo cho quá trình dạy học được tiến hành có nề nếp, ổn định, có hiệu quả và chất lượng cao
Chức năng chủ yếu của nhà trường là dạy học và GD học sinh Chức năng đó cần được
cụ thể hóa một cách chặt chẽ thông qua các chương trình, kế hoạch dạy học, đào tạo, hoạt động của nhà trường Từ đó xây dựng nề nếp dạy học, xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh với kỷ luật tự giác, tình cảm và trách nhiệm cao, xây dựng mối quan hệ thân thiện, giúp đỡ nhau công tác, học tập giữa GV và học sinh cũng như khơi dậy và khuyến khích tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của người học
1.4.2 Quản lí hoạt động tự học
1.4.2.1 Đặc điểm quản lí HĐTH
Trong quá trình dạy học của các trường đại học, SV có thể tiến hành hoạt động học tập dưới nhiều hình thức khác nhau trong những điều kiện khác nhau Khi người học tự mình huy động những phẩm chất, năng lực để tiến hành các hành động tìm tòi, khám phá độc lập nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức – khi đó họ đã tiến hành HĐTH Hoạt động tự học của
SV có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo của GV
Khi không có GV điều khiển, hướng dẫn trực tiếp, người học tự mình sắp xếp kế hoạch, huy động các điều kiện vật chất và năng lực của bản thân để củng cố, đào sâu mở rộng và hoàn chỉnh kiến thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập mà GV giao, lĩnh hội một phần kiến thức mới Đó là SV tự học dưới sự điều khiển gián tiếp của GV nhằm hoàn thành tốt nhất nhiệm
Trang 22vụ học tập
Trong quá trình học tập, ngoài những hoạt động được tiến hành dưới sự tổ chức, điều
khiển của GV theo chương trình của nhà trường, người học còn tiến hành HĐTH nhằm đáp
ứng nhu cầu nâng cao, mở rộng kiến thức hiểu biết riêng Như vậy, HĐTH của SV có phạm
vi rất rộng: từ tự học trên lớp dưới sự điều khiển trực tiếp của GV, tự học ngoài giờ lên lớp dưới sự điều khiển gián tiếp của GV và tự học hoàn toàn độc lập không có GV, ngoài chương trình qui định như trong phần khái niệm tự học đã nêu và phân tích
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ xem xét việc quản lí HĐTH của SV Trường ĐH ANND ngoài giờ lên lớp trong quá trình dạy - học và đặt dưới sự điều khiển gián tiếp của GV, đặt dưới sự tổ chức, quản lí của cán bộ quản lí lớp, nhằm hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy học của trường
HĐTH được đề cập dưới góc độ là quá trình độc lập nổ lực của người học nhằm củng
cố, đào sâu, mở rộng và vận dụng kiến thức đã được lĩnh hội qua các hình thức học tập trên lớp, là quá trình người học tự tổ chức hoạt động nhận thức của mình một cách tự giác, độc lập và sáng tạo Trong quá trình tự học, người học tự xác định mục tiêu, nội dung tự học theo một trình tự hợp lý, phân phối thời gian cho từng nội dung, lựa chọn phương tiện, vật chất, tự huy động năng lực cá nhân để hoàn thành công việc, tự kiểm tra và tự điều chỉnh HĐTH của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ tự học đề ra
Do vậy, đề tài nghiên cứu quản lí HĐTH dưới góc độ quản lí các hoạt động của người học trong quá trình tự học ngoài giờ lên lớp và quản lí các điều kiện đảm bảo cho HĐTH nhằm làm cho HĐTH của người học đạt hiệu quả cao, hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy - học
1.4.2.2 Nội dung quản lí hoạt động tự học
Xét dưới góc độ cấu trúc hệ thống của HĐTH, thì quản lí HĐTH gồm các nội dung sau:
- Giáo dục động cơ tự học cho SV
Mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ nhất định Động cơ hoạt động là lực đẩy trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành động, duy trì hứng thú, tạo ra sự chú ý liên tục giúp chủ thể vượt mọi khó khăn, đạt mục đích đã định Vì vậy, động cơ là một yếu tố quan trọng quyết định kết quả của hoạt động đó
Trang 23HĐTH của SV bình đẳng như các hoạt động khác, song nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân, điều này càng khẳng định nó được thúc đẩy bởi hệ thống động cơ học tập nói chung, động cơ tự học nói riêng Giống như động cơ hoạt động nói chung, động cơ tự học cũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu tự sự thỏa mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm
vụ tự học bắt buộc, tự khẳng định mình trong xã hội, trong học tập và công tác cho tới cấp độ cao là thảo mãn nhu cầu hiểu biết, nhu cầu khám phá tri thức nhân loại
- Quản lí nội dung tự học
Để quản lí được nội dung tự học, hướng cho SV xác định nội dung tự học phù hợp mục tiêu, yêu cầu đào tạo và môn học, GV phải hướng dẫn nội dung tự học cho SV Nội dung tự học cơ bản có hai phần:
+ Hệ thống các nhiệm vụ tự học có tính chất bắt buộc (SV bắt buộc phải hoàn thành) + Định hướng nghiên cứu, đào sâu, mở rộng trí thức từ các vấn đề trong nội dung học
tập
- Quản lí kế hoạch tự học
Xây dựng kế hoạch tự học là việc làm quan trọng góp phần nâng cao chất lượng tự học
Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý dựa trên yêu cầu nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều kiện được đảm bảo, nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học, bài học Kế hoạch tự học giúp cho người học thực hiện các nhiệm vụ tự học một cách khoa học, hiệu quả
Quản lí việc xây dựng kế hoạch và quản lýthực hiện kế hoạch tự học sẽ góp phần nâng cao chất lượng tự học của SV
- Quản lí phương pháp tự học
Phương pháp tự học là những cách thức mà cá nhân người học sử dụng để tiếp thu, xử
lý nội dung học tập trong quá trình nhận thức của mình Phương pháp tự học có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố của quá trình dạy học, bị chi phối bởi các yếu tố đó, đặc biệt là phương pháp dạy Với chức năng tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức cho người học, phương pháp dạy có tác dụng định hướng phương pháp tự học cho người học
Nội dung quản lí phương pháp tự học, gồm:
+ Quản lí tri thức phương pháp tự học: Người học nắm mô hình, chức năng của từng
Trang 24phương pháp cụ thể và sự sáng tạo phương pháp trong tự học
+ Quản lí kỹ năng tự học: Nghe (giảng trên lớp, băng đĩa) đọc (giáo trình, tài liệu tham
khảo khác ) ghi chép, trao đổi, xử lý số liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh của SV
- Quản lí các điều kiện đảm bảo cho HĐTH của SV gồm các mặt sau:
+ Quản lí CSVC phục vụ học tập trên lớp và tự học
+ Quản lí tài liệu, phương tiện kỹ thuật phục vụ tự học
+ Quản lí các hoạt động đảm bảo thời gian cho HĐTH của SV
- Quản lí việc kiểm tra - đánh giá kết quả HĐTH của SV
+ Kiểm tra, đánh giá tinh thần, thái độ tự học trong tổng thể đánh giá kết quả học tập
+ Chọn hình thức kiểm tra phù hợp, có hình thức kiểm tra những nội dung tự học đã giao cho SV
+ Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tự học
Phát hiện sai lệch, giúp người học điều chỉnh HĐTH
Tóm lại, dù HĐTH là hoạt động của SV, do chính SV “tự động học tập, tự động tiến hành”, nhưng khi được quản lýtác động thì chắc chắn hoạt động này sẽ có hiệu quả hơn
Trang 25Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SV
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN NINH NHÂN DÂN
2.1 Một số nét khái quát về địa bàn nghiên cứu
Trường ĐH ANND được thành lập theo Quyết định số 164/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Phân hiệu Học viện ANND Tiền thân của Trường ĐH ANND là trường An ninh Trung ương Cục Miền Nam được thành lập ngày 09/10/1963 tại căn cứ địa cách mạng Tây Ninh trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước theo chỉ thị của Trung ương Cục và Bộ Công An Trường ĐH ANND đã trải qua các thời kỳ phát triển với những tên gọi khác nhau sau đây:
Trường An ninh Trung ương cục miền Nam (1963-1975)
Trường Bổ túc Sỹ quan CAND (1976-1984)
Trường Cao đẳng ANND II (1984-1989)
Trường Đại học ANND cơ sở phía Nam (1989-1995)
Phân hiệu Đại học ANND (1995-2001)
Phân hiệu Học viện ANND (2001-2003)
Đại học An ninh nhân dân (2003- đến nay)
Trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, cán bộ, GV và sinh viên nhà trường đều vượt qua những khó khăn, thử thách để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Ngành Công an giao phó
Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, với nhiệm vụ vừa trực tiếp chiến đấu bảo vệ căn cứ, vừa xây dựng trường, tổ chức đào tạo nhân lực bổ sung cho chiến trường, CSVC tạm bợ, thường xuyên di dời, đội ngũ cán bộ GV nhà trường chưa qua đào tạo về nghiệp vụ sư phạm, chủ yếu là những cán bộ lãnh đạo chỉ huy an ninh dày dạn kinh nghiệm chiến đấu vừa đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn chiến đấu vừa giảng dạy truyền thụ cho học viên Học viên vừa học vừa chiến đấu, vận dụng kiến thức học được vào công tác thực tiễn Nhưng cũng chính trong điều kiện đó, cán bộ, GV và học viên nhà trường đã phát huy tinh thần tự học cao để hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao Trong thời kỳ này, nhà trường đã đào tạo được 70 khóa học gồm 5 000 học viên với đa dạng chuyên ngành: điệp báo, an ninh chính trị, an ninh
vũ trang, an ninh nội bộ, an ninh cơ sở…đã biên soạn được 56 chương trình môn học, đề
Trang 26cương giáo trình và nhiều nghị quyết quan trọng về công tác an ninh miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Trong giai đoạn sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước đến năm
1989, từ trường Bổ túc sỹ quan với nhiệm vụ chủ yếu bồi dưỡng văn hóa và nghiệp vụ cho cán bộ công an phía Nam đã được giao nhiệm vụ đào tạo sỹ quan hệ cao đẳng Tuy nhiên, CSVC, phương tiện dạy học của trường vẫn trong tình trạng thiếu thốn, lạc hậu; đội ngũ cán
bộ GV đã từng bước được tăng cường từ ĐH ANND (nay Học viện ANND) nhưng việc ứng dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến, phương tiện dạy học hiện đại chưa được đặt ra và quan tâm đúng mức Điều đó xuất phát từ nguyên nhân khách quan vì những điều kiện về kinh tế xã hội của đất nước tại thời điểm đó còn nhiều khó khăn, thiếu thốn Nhưng với những nỗ lực vượt qua những khó khăn, cán bộ GV và học viên nhà trường vẫn nêu cao tinh thần tự học, vừa giảng dạy vừa trực tiếp tổng kết thực tiễn chiến đấu, vừa xây dựng hoàn thiện CSVC phục vụ tốt công tác dạy, học, quản lý dạy học Ngay từ thời gian này, nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, Đảng ủy và Ban Giám hiệu Nhà trường đã nhận thức rõ học viên vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá trình đào tạo, vì vậy đã chuyển hướng phong cách dạy học ở bậc đại học và nâng cao nhận thức về phong cách dạy học, trong đó xác định cần nâng cao và đổi mới việc quản lýcác khâu tự học, thảo luận, nghe giảng…Qua đó từng bước xây dựng được cho học viên thái độ học tập đúng đắn, bồi dưỡng phương pháp học tập và năng lực vận dụng, thực hành Kết quả giai đoạn này, trường đã tổ chức giảng dạy, bồi dưỡng 05 khóa Bổ túc Sĩ quan (gần 1500 học viên), 04 khóa Cao đẳng An ninh (411 học viên), 05 khóa Chuyên tu (438 học viên), 06 lớp Bồi dưỡng Trưởng – Phó Công an huyện (600 học viên), 05 lớp bồi dưỡng Lãnh đạo An ninh (361 học viên), khai giảng lớp Đại học
An ninh khóa I (77 học viên) và 04 khóa đào tạo Đại học cho Vương quốc Campuchia (173 SV)
Giai đoạn từ 1990 đến 2003: trường Đại học An ninh cơ sở phía Nam được thành lập theo Nghị định 57/HĐBT ngày 31/5/1989 và Quyết định 52/QĐ-BNV ngày 17/7/1989, sau
đó đổi tên là Phân hiệu ĐH ANND và Phân hiệu Học viện An ninh nhân Ngay từ những năm đầu tiên có nhiệm vụ đào tạo dài hạn cán bộ an ninh ở bậc đại học, Nhà trường đã xác định phương hướng đổi mới nội dung và PPDH là từng bước trang bị cho học viên phương pháp luận khoa học, khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn chiến đấu của ngành, tăng
Trang 27đào tạo, duy trì thường xuyên phong trào thi đua dạy tốt, học tốt từ đó rút kinh nghiệm giảng dạy Bên cạnh đó, ngày 04/02/1992 nhà trường bắt đầu làm việc tại cơ sở mới tại Thủ Đức (địa điểm hiện tại Km18 Xa lộ Hà Nội, phường Linh Trung, quận Thủ Đức) Cơ sở mới này
do Chính phủ Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-Viết giúp đỡ xây dựng từ tháng 10/1982 với những trang thiết bị dạy học và CSVC tương đối hiện đại đã hỗ trợ rất lớn trong việc giảng dạy và tự học của học viên Ngoài ra, trong giảng dạy các GV chú trọng vận dụng các PPDH tích cực, giảm thời gian lý thuyết một cách hợp lý, tăng thời gian thảo luận, bài tập, tình huống nghiệp vụ, báo cáo thực tế… đã tạo ra một không khí học tập sôi nổi của SV, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo của nhà trường Từ năm 1990 – 1997, trường
đã mở được 08 khóa Đại học An ninh Tại chức, 06 khóa Đại học An ninh hệ chuẩn, 04 khóa Đại học tại chức liên kết công an địa phương, 06 lớp Đại học An ninh ngắn hạn cho cán bộ dân tộc ít người, 03 khóa bồi dưỡng nghiệp vụ An ninh 06 tháng, 03 khóa đào tạo đại học ngắn hạn cho số cán bộ tốt nghiệp ngành ngoài, 02 khóa chuyên tu đại học, 05 lớp Bổ túc kiến thức cấp bằng Cử nhân Luật, 01 lớp Cao học ngành Điều tra tội phạm (phối hợp với Đại học An ninh ở Hà Nội) Tuy nhiên, năm học 1996 – 1997 được xem là năm học đánh dấu bước phát triển đột phá khi toàn trường quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Phân hiệu Đại
học An ninh nhiệm kỳ VIII với mục tiêu “từ nay đến năm 2000 phấn đấu xây dựng Phân
hiệu Đại học An ninh trở thành trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học của công an các tỉnh phía Nam, có đủ điều kiện hội nhập với các trường đại học trong
cả nước, trở thành trường học tiên tiến của ngành Công an”
Mặc dù cho đến tháng 07/2003, trường ĐH ANND mới chính thức trở thành một trường đại học độc lập có nhiệm vụ đào tạo bậc đại học và sau đại học cho cán bộ An ninh Công an các tỉnh, thành phía Nam, nhưng chỉ trải qua hơn 07 năm, nhà trường đã có những bước phát triển vượt bậc với đội ngũ GV đạt chuẩn của một trường đại học chính quy, số GV có trình
độ trên đại học chiếm 65% Hiện tại toàn trường có 03 Phó Giáo sư, 14 Tiến sỹ, 67 Thạc sỹ,
42 Giảng viên chính, 80 cán bộ GV có trình độ Cao cấp lý luận chính trị Về CSVC không ngừng được nâng cao đáp ứng theo yêu cầu một trường đại học chính quy, hiện đại với 01 tòa nhà Trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa với 11.333 nhan đề sách, 55.904 bản; hệ thống mạng nội bộ và mạng Internet kết nối trong toàn trường, 01 phim trường, 08 dãy nhà cư xá SV…Cơ cấu tổ chức bộ máy của trường gồm 24 đơn vị: 08 phòng (Phòng Quản lý đào tạo và PPDH, Quản lý Đào tạo vừa học vừa làm, Hành chính tổng hợp, Xây
Trang 28dựng lực lượng, Quản lý học viên, Phòng Hậu cần, Phòng Quản lý nhà ăn, Phòng Quản lý nghiên cứu khoa học), 02 trung tâm (Trung tâm thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa, Trung tâm dạy nghề và đào tạo lái xe), 14 Khoa, Bộ môn (Bộ môn Mác – Lênin, Bộ môn Pháp luật, Bộ môn Ngoại ngữ, Bộ môn Tin học, Bộ môn Quân sự vũ thuật, Bộ môn Tâm lý,
Bộ môn NV1, NV5, NV7, Khoa NV2, NV3, NV4, NV6, Khoa Sau đại học và bồi dưỡng nâng cao) với hơn 400 người
Với đội ngũ GV, CBQLGD có trình độ chuyên môn cao, khả năng sư phạm, vận dụng tốt các quy luật, PPDH trong giảng dạy và phương tiện CSVC tiên tiến từng bước hiện đại như hiện nay, nhà trường đã và đang áp dụng những biện pháp quản lý dạy học tiên tiến, đặc biệt là phương pháp quản lý tự học đã đẩy mạnh, đổi mới và góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo Kết quả phân loại học tập của học viên những năm qua cho thấy số học viên đạt loại khá, giỏi ngày càng tăng, học viên xếp loại trung bình khá chiếm đa
số, học viên xếp loại trung bình, yếu giảm rõ rệt (phụ lục 1) Ngoài ra, kết quả nghiên cứu khoa học SV trong 05 năm (2005 – 2010) có nhiều kết quả đáng khích lệ với 417 công trình của 575 SV tham gia cuộc thi “SV nghiên cứu khoa học” các cấp, trong đó có 117 công trình đạt giải cao trong các cuộc thi do Trường, Bộ Công an, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, nhiều SV đạt thành tích cao trong các cuộc thi tìm hiểu về Chủ nghĩa Mác – Lênin, về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh, tìm hiểu
40 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ…Những kết quả trên đã một lần nữa khẳng định định hướng lấy người học làm trung tâm, tăng cường bồi dưỡng khả năng, phương pháp tự học cho SV là một trong những chủ trương đúng đắn của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường, từ
đó đã có những biện pháp quản lý sát hợp để nâng cao chất lượng đào tạo
Tự học của SV Trường ĐH ANND có những đặc điểm chung như tự học của SV đại học Tuy nhiên, do đặc thù của môi trường học tập của nhà trường nên có những nét riêng khác, đó là:
Thứ nhất, SV học tập tại Trường ĐH ANND được ở tập trung 100% quân số tại ký túc
xá SV theo qui định của Ngành, được tổ chức thành các đơn vị lớp (đại đội, trung đội), chịu
sự quản lí trực tiếp của cán bộ quản lí SV ở đơn vị chuyên trách Phòng Quản lí học viên Các hoạt động của SV tại trường đều được tổ chức theo nội qui, qui chế, qui định chung kể cả trong và ngoài giờ lên lớp Đây là một yếu tố tạo điều kiện rất thuận lợi về mặt thời gian để
Trang 29SV tập trung tự học, trao đổi kinh nghiệm tự học, ít bị chi phối bởi những tác động ngoại cảnh bên ngoài xã hội Đồng thời, cũng là điều kiện để tổ chức quản lí có hiệu quả đối với các hoạt động học tập, rèn luyện, sinh hoạt nói chung và HĐTH nói riêng của SV nhà trường
Thứ hai, Trường ĐH ANND vừa là nơi đào tạo vừa là một đơn vị thuộc lực lượng thường trực chiến đấu của Bộ công an, nên ngoài việc học tập SV còn phải hoạt động theo qui định điều lệnh, nguyên tắc, kỷ luật của lực lượng Công an Vì vậy, HĐTH của SV Trường ĐH ANND cũng luôn bị chi phối bởi điều lệnh, kỷ luật nghiêm ngặt Điều này có tác động nhất định đến việc tổ chức tự học của SV như thời gian, nội dung, kế hoạch tự học được duy trì chặt chẽ theo một chế độ cụ thể, rõ ràng HĐTH của SV chịu sự kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở trực tiếp, thường xuyên của đội ngũ cán bộ quản lí, nhất là về các mặt: thực hiện kế hoạch tự học, chấp hành thời gian, kỷ luật tự học và phương pháp tự học Đây là một trong những yếu tố tác động tích cực đến việc tự học của SV, giúp SV hoàn thành kế hoạch
tự học có hiệu quả
2.2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học An ninh nhân dân
2.2.1 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học An ninh nhân dân
Để đánh giá được thực trạng của HĐTH của SV và thực trạng công tác quản lý HĐTH của SV trường ĐH ANND, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế bằng phiếu trưng cầu ý kiến trên hai đối tượng SV và cán bộ, GV Đồng thời trao đổi với SV các khóa học và cán
bộ, GV đang công tác tại trường kết hợp với việc quan sát các HĐTH và quản lý HĐTH diễn
ra trong nhà trường
Mục đích của việc khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến nhằm thu thập những bằng chứng số liệu thực tế về thực trạng công tác quản lý HĐTH của SV trường ĐH ANND Để thực hiện việc khảo sát chúng tôi đã thiết kế hai mẫu phiếu trưng cầu ý kiến dành cho hai đối tượng khác nhau: CBQLvà GV (mẫu phiếu 01), SV (mẫu phiếu 02)
Với mẫu 01, chúng tôi chọn khảo sát đối với cán bộ ở các đơn vị Phòng Xây dựng lực lượng, Quản lý học viên, Quản lý đào tạo, Quản lý nghiên cứu khoa học, Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học, Khoa đào tạo sau đại học và bồi dưỡng nâng cao với 37/146 đồng chí
Trang 30chiếm tỷ lệ 25 34% và đối với GV các Bộ môn Tâm lý, Pháp luật, Chính trị, Nghiệp vụ 6 và các khoa chuyên ngành đào tạo của trường như khoa Nghiệp vụ I, II, III, IV với 73/164 đồng chí chiếm tỷ lệ 45.12% Tổng số phiếu khảo sát trên đối tượng là cán bộ và GV là 110/310 phiếu chiếm tỷ lệ là 35.48% CBGV nhà trường
Với mẫu 02, chúng tôi chọn khảo sát trên 480/2327 SV toàn trường chiếm tỷ lệ 20.62% Mẫu khảo sát được rải đều trên các khóa học tại trường từ SV năm thứ nhất đến SV năm thứ
tư, với SV ở 04 chuyên ngành đào tạo khác nhau, mỗi khóa đào tạo chuyên ngành chọn hai lớp, riêng khóa đào tạo chưa phân chuyên ngành chọn 03 lớp (trước đây nhà trường chỉ đào tạo chung một chuyên ngành là An ninh điều tra, từ năm 2007 được Bộ GD-ĐT quyết định cho đào tạo 04 chuyên ngành theo đề xuất của Bộ Công An)
Sau khi khảo sát và có số liệu thực tế chúng tôi dùng toán thống kê để xử lý tính trung bình, phần trăm theo các biến số để bình luận và chứng minh giả thuyết đã đặt ra Đồng thời chúng tôi kết hợp với dùng phương pháp tổng kết đánh giá thông qua tổng kết công tác năm học của nhà trường; trao đổi trực tiếp với GV và cán bộ nhà trường trực tiếp làm công tác QL; quan sát các hoạt động quản lý nhằm so sánh và chuẩn hóa các kết quả nghiên cứu
2.2.1.1 Nhận thức của sinh viên về hoạt động tự học
Nhận thức về HĐTH có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình tự học của bản thân
SV Đồng thời, với việc hiểu rõ về hoạt động này của SV sẽ giúp cho CBGV có phương pháp, cách thức để quản lý hợp lý hướng dẫn cho SV tự học đạt hiệu quả, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Nhận thức về HĐTH được đề tài tiếp cận dưới các góc độ sau: quan niệm về HĐTH; nhận thức về ý nghĩa, vai trò của việc tự học; nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến HĐTH
- Quan niệm về tự học
Tự học trong giai đoạn học tập ở nhà trường chỉ là một giai đoạn trong quá trình tự học của bản thân mỗi người nhưng lại chịu sự chi phối và điều chỉnh của rất nhiều yếu tố khác nhau như đã phân tích ở phần chương một Vì vậy, tác giả tiếp cận quan niệm tự học qua khảo sát trên bốn khái niệm
Chúng tôi đưa ra bốn khái niệm khác nhau về TH, yêu cầu người được hỏi lựa chọn một câu trả lời theo quan điểm của mình, sau đó tính tỷ lệ phần trăm số lượng người trả lời của mỗi khái niệm Qua kết quả bảng trên cho thấy: đa số CBGV và SV đều chọn câu trả lời số
Trang 31bốn (39.1% và 59.6%) Điều đó cho thấy việc nhận thức tổng quan về vấn đề tự học của SV
phù hợp với lí luận tự học như đã phân tích
Bảng 2.1: Quan niệm về tự học của SV
Số lượng (N)
Tỉ lệ
%
Số lượng (N)
Tỉ lệ
%
1 Là hoạt động nghiên cứu, tìm tòi của tự bản
thân mỗi người để chiếm lĩnh tri thức
năng do chính bản thân người học tiến hành ở
trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không
theo chương trình và sách giáo khoá đã quy
định
92 19.2 19 17.3
4 Là một hoạt động mà ở đó SV giữ vai trò chủ
động, tích cực, tự giác cao trong việc học tập
và nghiên cứu nhằm lĩnh hội tri thức khoa học
theo một ngành nghề nhất định, hình thành kỹ
năng, kỹ xảo tương ứng để tạo ra sự phát triển
nhân cách
286 59.6 43 39.1
- Nhận thức về ý nghĩa, vai trò của việc tự học
Bảng 2.2: Nhận thức về sự cần thiết của việc tự học của SV
Trang 32Phần lớn SV (94.6%) được hỏi cho rằng việc tự học là cần thiết và rất cần thiết đối với
SV trong quá trình học tập tại trường Điều đó phản ánh một thực tế rằng SV đã nhận thấy được sự cần thiết, tầm quan trọng, sự cần thiết của việc tự học Chỉ có một số rất ít (5.4%)
SV chưa đánh giá hết tầm quan trọng của việc tự học hoặc hiểu sai về bản chất của việc tự học trong giai đoạn học tập tại trường Số SV này cho rằng tự học là việc làm của tự bản thân SV để tìm hiểu và khám phá tri thức, khi có sự hướng dẫn của GV thì đó không còn là quá trình tự học mà là quá trình dạy học Từ đó, cho rằng tự học là việc không cần thiết và bình thường, dẫn đến việc học còn có sự trông chờ, ỷ lại, thiếu tự giác, chủ động, do vậy mà kết quả học tập chưa cao
Bảng 2 3: Nhận thức về vai trò của việc tự học đối với SV
Tỉ lệ
%
Thứ hạng
Tỉ lệ
%
Thứ hạng
1 Phát huy tính sáng tạo, tích cực và chủ
động trong học tập
2 Rèn luyện phong cách làm việc khoa
học, năng lực tự học suốt đời
3 Củng cố, nắm vững và mở rộng tri
thức
4 Có khả năng giải quyết các tình huống 25 6 6 33 6 6
5 Giúp hình thành và phát triển nhân
“phát huy tính sáng tạo, tích cực và chủ động trong học tập” với thứ hạng cao nhất Điều đó khẳng định lần nữa về cách hiểu của CBGV, SV về vấn đề tự học, chính là hoạt động mang tính tích cực, chủ động của SV Trong bảng câu hỏi, các câu 1, 2, 5 thể hiện tác dụng lâu dài
Trang 33và các câu 3, 4, 6 thể hiện tác dụng trước mắt của việc tự học của SV Từ kết quả bảng khảo sát, cho thấy CBGV nhận thức về tác dụng lâu dài đúng và đầy đủ hơn, trong khi đó SV vẫn tập trung chủ yếu vào tác dụng trước mắt của việc tự học
- Nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học
Bảng 2.4: Nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến HĐTH của SV
4 Phương pháp tự học của bản thân 191 40 1 12 10 9
5 Tài liệu, phương tiện kỹ thuật
phục vụ HĐTH
Kết quả bảng trên cho thấy:
+ Đa số SV nhận thức những yếu tố chủ quan ảnh hưởng lớn đến tự học của bản thân như: hứng thú trong học tập (49.6%); động cơ, mục đích học tập (48.5%); phương pháp tự học của bản thân (40.1%) Trong đó yếu tố động cơ, mục đích học tập cũng được SV đánh giá là ảnh hưởng lớn đến việc tự học Còn những yếu tố khách quan bên ngoài như: Sự hướng dẫn, định hướng của GV đối với HĐTH (27.7%), tài liệu, phương tiện kỹ thuật phục
vụ HĐTH (28.8%) thì sự ảnh hưởng không lớn Một lần nữa cho thấy SV nhận thức đúng bản chất của việc tự học – chính là hoạt động mang tính chất cá nhân của SV, do chính SV làm chủ và điều khiển mà động cơ, mục đích là yếu tố quyết định đến kết quả học tập – tự học
+ Phần lớn CB, GV (56.4%) đánh giá yếu tố động cơ, mục đích học tập ảnh hưởng lớn đến việc tự học, còn những yếu tố chủ quan khác cũng như yếu tố khách quan chỉ chiếm một
tỷ lệ rất nhỏ Qua đó cho thấy cả hai đối tượng khảo sát có sự thống nhất trong đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến HĐTH của SV
Tóm lại, qua khảo sát vấn đề nhận thức về HĐTH của SV cho thấy phần lớn SV và CBGV đã nhận thức đúng về vấn đề tự học từ quan niệm, vai trò, ý nghĩa, các yếu tố ảnh
Trang 34hưởng đến HĐTH Từ những nhận thức đúng đắn đó đã có những kết quả khả quan trong
quản lý HĐTH cũng như kết quả học tập của bản thân SV
2.2.1.2 Việc xác định mục đích, động cơ học tập của SV
Bảng 2 5:Mục đích, động cơ học tập của SV khi học tập tại trường
1 Hứng thú với các vấn đề lí luận khoa học Công an 33 6 9
2 Chuẩn bị kiến thức cho nghề nghiệp tương lai 249 51 9
4 Muốn đóng góp công sức mình vào công tác bảo vệ
An ninh Tổ Quốc
Dựa vào mục đích học tập của SV, các nhà tâm lí học chia thành năm loại động cơ học
tập - tự học khác nhau như động cơ nhận thức – khoa học, nghề nghiệp, xã hội, tự khẳng
định, vụ lợi Từ đó, chúng tôi đưa ra bốn câu trả lời cho câu hỏi về động cơ tự học của SV
Qua kết quả bảng trên cho thấy: động cơ “chuẩn bị kiến thức cho nghề nghiệp tương
lai” – loại động cơ mang tính chất nghề nghiệp được đa số SV (51 9%) lựa chọn Động cơ
mang tính chất xã hội như “muốn đóng góp công sức mình vào công tác bảo vệ An ninh Tổ
Quốc” cũng được phần lớn SV (34.0%) lựa chọn Như vậy, những loại động cơ mang tính
chất nghề nghiệp, xã hội được SV xác định và quan tâm hơn, còn những loại động cơ về
nhận thức “Hứng thú với các vấn đề lí luận khoa học Công an” và động cơ tự khẳng định
mình “Để tự khẳng định mình trong nghề” chưa được SV hiểu rõ và lựa chọn (chỉ có 14 2%
SV xác định và lựa chọn)
Tuy nhiên, về mặt lí luận thì loại động cơ về nhận thức được xếp ở vị trí hàng đầu trong
năm loại động cơ học tập – tự học của SV, nó biểu hiện ở thái độ đối với chính quá trình
nhận thức, với nội dung của vấn đề được nghiên cứu, mong muốn hay khát khao được tiếp
thu, lĩnh hội những tri thức mới Đây là một loại động cơ rất quan trọng để thúc đẩy SV học
tập – tự học một cách tích cực và chủ động Do vậy trong quá trình dạy học Nhà trường cần
có kế hoạch bồi dưỡng động cơ về nhận thức cho SV
2.2.1.3 Việc xây dựng kế hoạch và xác định nội dung tự học của SV
Qua việc đánh giá thực trạng ở nội dung của mục 2.2.1.1 và 2.2.1.2 cho thấy phần lớn
SV có nhận thức đúng về tự học Tuy nhiên, thực tế phản ánh kết quả học tập của SV vẫn
Trang 35chưa cao, chưa đạt kết quả như mong muốn Điều đó xuất phát từ việc SV chưa quan tâm
đúng mức đến việc xây dựng kế hoạch tự học (KHTH) và xác định nội dung TH (NDTH)
- Việc xây dựng kế hoạch tự học của SV
Xây dựng kế hoạch là một kĩ năng và là một giai đoạn rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến
kết quả tự học của SV, như sách “Bàn về cách đọc sách và tự học” đã khẳng định: “trong tự
học phải rèn luyện đức tính học tập theo một kế hoạch nhất định đã vạch trước Nếu không
có kế hoạch tự học thì việc tự học sẽ kém năng suất, lãng phí thời gian” Tuy nhiên, kết quả
thực tế cho thấy phần lớn SV (71.4%) chỉ thỉnh thoảng mới xây dựng kế hoạch tự học, có
một bộ phận nhỏ SV (19.4%) xây dựng kế hoạch thường xuyên và còn một số SV (9.2%)
chưa bao giờ xây dựng kế hoạch cho quá trình tự học của mình Qua đó cho thấy sự tự học
của SV hầu như mang tính bộc phát, thiếu sự chuẩn bị, sự chủ động và xác định rõ ràng như
Song song với việc khảo sát về vấn đề xây dựng KHTH của SV, đề tài cũng khảo sát về
hình thức của KHTH để qua đó đối chiếu và đánh giá vấn đề một cách toàn diện và sát hợp
Qua bảng kết quả cho thấy: SV xây dựng kế hoạch tự học qua suy nghĩ trong đầu mà
không viết ra giấy chiếm tỉ lệ rất lớn (67.7%), chỉ có một số lượng rất nhỏ (4.8%) SV xây
dựng kế hoạch bằng văn bản và với (27.1%) SV sử dụng cả hai hình thức xây dựng kế hoạch
trên Như vậy kết hợp với kết quả của bảng 2.6 về mức độ xây dựng kế hoạch tự học của SV
trong quá trình tự học cho chúng ta thấy rằng: với 90.8% SV có xây dựng (thỉnh thoảng và
Trang 36thường xuyên) kế hoạch thì đa số cũng chỉ là suy nghĩ trong đầu, rất ít SV xây dựng kế
hoạch một cách nghiêm túc Điều đó ảnh hưởng đến kết quả thực hiện HĐTH và việc học tập
của SV Mặt khác, CBGV không thể hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá về KHTH của SV một
Từ kết quả bảng trên cho thấy, SV chỉ xây dựng kế hoạch tự học trước mắt, mang tính
chất ngắn hạn như kế hoạch tuần (55.2%) hoặc tháng (26.3%), còn những kế hoạch mang
tính chất lâu dài, chiến lược như kế hoạch học kỳ (10.6% SV xây dựng) và năm học (7.5%
SV xây dựng) chưa được nhiều SV quan tâm xây dựng
- Việc xác định nội dung tự học của SV
Bảng 2 9: Nội dung tự học của SV
2 Bài mới chuẩn bị cho ngày học tiếp theo 206 43 3 3
3 Tài liệu tham khảo GV giới thiệu bổ sung,
Trọng tâm của việc xây dựng KHTH là việc xác định nội dung tự học Xác định đúng
NDTH giúp SV hình dung, khái quát được kế hoạch học tập của bản thân, từ đó có phương
pháp, cách thức thực hiện phù hợp, khoa học, chủ động về thời gian và phân chia hợp lý về
nội dung thực hiện trong quá trình tự học
Qua kết quả bảng trên cho thấy: nội dung bài cũ đã được nghe giảng được phần lớn SV
lựa chọn để tự học (55.9%) và được xếp thứ hạng cao nhất trong các NDTH Nội dung tài
liệu tham khảo GV giới thiệu bổ sung, củng cố cho bài học được SV quan tâm lựa chọn xếp
Trang 37thứ hạng thứ hai (54.2% SV) Với hai NDTH mang tính chất trước mắt để củng cố bài học trên lớp được SV quan tâm nhiều, những nội dung mang tính chất lâu dài, mở rộng hơn thì tỉ
lệ SV quan tâm lựa chọn ít hơn với 43.3% SV chọn nội dung là bài mới chuẩn bị cho ngày học tiếp theo và 37.6% SV chọn nội dung là tài liệu mở rộng kiến thức chuyên môn nghề nghiệp
Qua đó cho thấy, sự đầu tư vào NDTH của SV chưa có tính đồng đều, còn ưu tiên cho những nội dung gần, trước mắt, còn mang tính đối phó, chưa chịu đầu tư vào những nội dung sâu rộng hơn, mang tính chất bổ sung, bồi dưỡng cho tay nghề, dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác thực tiễn khi tốt nghiệp ra trường
2.2.1.4 Việc sử dụng các phương pháp, thời gian tự học
- Việc sử dụng các phương pháp tự học của SV
Khảo sát về việc sử dụng phương pháp tự học của SV, chúng tôi đặt ra bốn mức thang điểm cho từng câu hỏi (1 - Không có, 2 - Thỉnh thoảng, 3 - Thường xuyên, 4 - Rất thường xuyên) để đánh giá mức độ sử dụng của từng phương pháp và cho phép SV chọn mức phù hợp với bản thân mình, từ đó tính trung bình mức độ sử dụng cho từng phương pháp đã đưa
ra hỏi
Trang 38Bảng 2 10: Phương pháp tự học của SV
Mức độ sử dụng
Thứ bậc
1 Đọc lại bài giảng trong vở ghi và giáo trình 2 17 4
2 Đọc tài liệu chuẩn bị cho việc nghe giảng bài mới 2 36 2
5 Nghiên cứu tài liệu tham khảo bổ sung, nâng cao
bài giảng
Với kết quả trên cho thấy: đa số các phương pháp đều được SV sử dụng trong giới hạn
từ thỉnh thoảng đến thường xuyên, không có phương pháp nào được SV sử dụng một cách thường xuyên hoặc rất thường xuyên
Phương pháp thứ 3 “thực hiện nhiệm vụ GV giao” (2 80) được SV đánh giá cận tới mức 3 (sử dụng thường xuyên), cho thấy SV rất quan tâm đến việc thực hiện những nhiệm
vụ tự học của GV giao Đa phần những vấn đề GV giao cho SV TH là những nội dung dễ hiểu, dễ tiếp cận hoặc là những vấn đề còn mới trong lí luận Thông qua việc nghiên cứu giúp cho SV phát hiện ra vấn đề để nghiên cứu khoa học, viết chuyên đề thi SV giỏi môn học, làm khóa luận tốt nghiệp Quan sát thực tiễn cho thấy, SV rất hứng thú khi nghiên cứu, trình bày về những vấn đề mới được GV giao trong các buổi thảo luận, xêmina, từ đó nâng cao khả năng nhận thức và kết quả học tập của bản thân
Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy SV sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu tham khảo bổ sung, nâng cao bài giảng đều tập trung vào một số SV có khả năng và xác định đúng động cơ, mục đích học tập, đặc biệt là động cơ, mục đích nghề nghiệp – xã hội, khoa học Trong khi số SV còn lại thường dùng phương pháp đọc lại bài giảng sau khi nghe giảng, chủ yếu để giải quyết những vấn đề trước mắt trong học tập Do vậy mà kết quả học tập cũng chỉ dừng lại ở mức trung bình, trung bình khá
Trung bình phương pháp làm dàn ý bài học sau khi nghe giảng (1.99) nằm trong khoảng mức một và hai (chưa đến mức thỉnh thoảng sử dụng) Đây là một phương pháp giúp
SV ghi nhớ bài học một cách tích cực, chủ động, lâu nhất và bao quát nhất, thể hiện quá trình
Trang 39tư duy bậc cao, là phương pháp tốt trong quá trình tự học ở bậc đại học Tuy nhiên, kết quả
đã thể hiện SV ít chọn phương pháp này để tự học, chỉ chọn những phương pháp mang tính
chất dễ dàng hơn, chưa chịu khó hệ thống hóa, khái quát hóa hay làm dàn ý bài đã học, còn
thụ động trong việc tự học Điều này đã dẫn đến những hạn chế nhất định trong kết quả học
tập cũng như nghiên cứu khoa học của SV
- Việc sử dụng thời gian tự học của SV
Trường ĐH ANND có qui định về chế độ học tập, rèn luyện và các hoạt động sinh hoạt
chính trị, hoạt động phong trào Đoàn, Hội và hoạt động khác một cách chi tiết, cụ thể với 24
giờ trong ngày Trong đó, có qui định thời gian tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp của
SV Theo qui định số 345/QĐ-T47(QLSV) ngày 14/8/2007, qui định về thời gian hoạt động
học tập, rèn luyện của SV trường ĐH ANND, tại phần I, qui định: từ 19h00 đến 21h30 vào
các buổi tối thứ 2, 3, 5, 6 là giờ nghiên cứu tự học hoặc sinh hoạt chuyên đề học tập; ngày
thứ 7 tổ chức tự nghiên cứu học tập theo chương trình môn học; từ 7h30 – 11h30 và 13h00 –
17h05 hàng ngày nếu không lên lớp thì SV tự học
Bên cạnh đó, các chương trình, kế hoạch học tập của SV nhà trường cũng tạo điều kiện
để SV tự nghiên cứu, tự học Trong khoảng thời gian này có thể SV phải giải quyết những
nhiệm vụ mà GV đã giao hoặc tự học theo nội dung kế hoạch của cá nhân, của tập thể tiểu
đội, trung đội hoặc của lớp Như vậy, trong một ngày SV có khoảng hai đến ba giờ tự học
vào buổi tối không kể thời gian tự học theo chương trình, lịch học của nhà trường
Căn cứ vào thực tế đó chúng tôi có khảo sát thực trạng sử dụng thời gian tự học của SV
và thu được kết quả qua bảng sau:
Bảng 2 11: Thời gian dành cho việc tự học trong một ngày của SV
Qua đó, cho thấy đa số SV (42 3%) dành khoảng từ 01 đến 02 giờ cho việc tự học, một
bộ phận SV (32 9%) dành khoảng từ 02 đến 03 giờ cho việc tự học, chỉ có một số ít SV (11
5%) có thời gian tự học từ 03 giờ trở lên Như vậy, so với thực tế cho thấy một bộ phận lớn
Trang 40SV (75 2%) sử dụng thời gian tự học trong khoảng thời gian theo qui định của nhà trường,
chưa có sự đầu tư vượt bậc cho việc tự học, thời gian còn hạn chế Từ đó, kết quả tự học còn
chưa cao và việc tự học chưa thật sự có chất lượng
Còn có một bộ phận SV (13 3%) đầu tư chưa đến 01 giờ/ ngày cho việc tự học Qua
thực tế cho thấy bộ phận SV này còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, chưa có sự đầu tư
nhiều, còn có tâm lí ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Ngành (Vì Ngành tuyển sinh đào tạo
theo nhu cầu đòi hỏi của thực tế các địa phương, nên SV ra trường là có sự bố trí nơi công
Qua kết quả trên cho thấy phần lớn SV (86 9%) chọn hình thức tự học một mình Quá
trình tự học là quá trình tư duy của chính cá nhân, cho nên trước hết là cá nhân SV phải tự
học một mình để lĩnh hội tri thức Đây là hình thức tự học đơn giản nhất Tuy nhiên, để tự
học hiệu quả SV cần phải biết cách học nhóm để trao đổi, thảo luận, bàn bạc với nhau, thậm
chí trao đổi với GV những vấn đề còn thắc mắc hoặc chưa thỏa đáng để nhận thức được đầy
đủ vấn đề nghiên cứu Trong thực tế thì SV rất ít học nhóm (12 1%) và chỉ có một vài SV
(1 0%) mạnh dạn trao đổi với GV trong quá trình tự học
Qua đó cho thấy, SV vẫn chưa chọn được những hình thức học phù hợp với SV ở bậc
đại học, chưa tiếp cận với những hình thức học tập tích cực để phát huy tính chủ động, sáng