Trước khi Việt Nam xác lập chủ quyền, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ vô chủ, chưa từng thuộc quyền sở hữu của bất cứ quốc gia nào; hành động chiếm cứ của Việt Nam được t
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG VÀ HAI QUẦN ĐẢO
HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
Gia Bình, ngày 30 tháng 03 năm 2013
CHUYÊN ĐỀ:
Trang 2NỘI DUNG BÁO CÁO
I Khái quát về Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa.
II Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền và
là quốc gia duy nhất quản lý liên tục hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
III Lập trường của các bên tranh chấp đối với quần
đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
IV.Tình hình biển đông và trủ trương, biện pháp chiến
lược của một số nước liên quan.
V Chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong giải quyết vấn đề biển Đông.
VI Một số định hướng trong công tác tuyên truyền,
giáo dục.
Trang 3Vị trí của biển Đông
Trang 4I Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
- Biển Đông là biển lớn thứ hai trong các biển của Thái Bình Dương, có diện tích 3 447 000 km2, nối hai đại dương là
Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương
Trang 5I Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
- Bờ biển Việt Nam dài tới 3.260 km, bao bọc lãnh thổ Việt Nam ở cả 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam, trung bình cứ
100 km2 đất liền thì có một km bờ biển (cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới)
- Có 28/64 tỉnh, thành có biển Bờ biển nước ta có 112 cửa sông, cửa rạch; 90 cảng biển lớn nhỏ và gần 100 địa điểm có thể xây dựng cảng; 125 bãi biển có cảnh quan đẹp, trong đó
có 20 bãi đạt tiêu chuẩn quốc tế và nhiều vịnh đẹp như: Hạ Long, Bái Tử Long, Vân Phong, Cam Ranh, Nha Trang… để phát triển du lịch biển
- Vùng biển nước ta rộng trên một triệu km2, lớn gấp ba lần diện tích đất liền; và có 4000 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 1 636 km2
Trang 6Năm vùng biển theo Công ước của LHQ về Luật biển
1982 mà Việt Nam tham gia từ ngày 23/6/1994
1hải lý = 1,852 km
Trang 7Các b ph n c a vùng bi n n ộ phận của vùng biển nước ta ận của vùng biển nước ta ủa vùng biển nước ta ển nước ta ước ta c ta
Các b ph n c a vùng bi n n ộ phận của vùng biển nước ta ận của vùng biển nước ta ủa vùng biển nước ta ển nước ta ước ta c ta
Trang 8Nói đến Biển Đông, chúng ta không thể không nói đến
hai quần đảo thiêng liêng của Tổ Quốc là Hoàng Sa và
đánh chiếm bất hợp pháp vào năm 1956 và 1974
- Quần đảo Trường Sa : nằm trong một vùng biển rộng khoảng 180.000 km² Hiện Việt Nam kiểm soát trên 20
đảo, bãi đá ngầm, một số bị chiếm đóng bất hợp pháp bởi Trung Quốc (8), Philippines (8), Malaysia (4), Đài Loan (1).
Trang 9Quần đảo Hoàng Sa
Trang 10Quần đảo Trường Sa
Trang 11Biển Đông
Hoàng Sa gồm 30 đảo, bãi đá, cồn san hô
và bãi cạn Nằm ở khu vực biển Vị trí: Từ
15 0 45’ đến 17 0 05’ vĩ độ Bắc Từ 111 0 đến
113 0 kinh độ Đông Diện tích phần nổi là:
10 km 2 Đảo lớn nhất là : Phú Lâm, rộng: 1,5 km 2
Đảo Lý Sơn (Quảng
111 0 30’ đến 117 0 20’ kinh độ Đông Diện tích phần nổi là: 10 km 2 Đảo lớn nhất là :
Trang 12II Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trước khi Việt Nam xác lập chủ quyền, hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ vô chủ, chưa từng thuộc quyền sở hữu của bất cứ quốc gia nào; hành động chiếm cứ của Việt Nam được thực hiện mang tính Nhà nước, phù hợp với luật pháp quốc tế, thỏa mãn các điều kiện theo quy định của luật quốc tế là: Chiếm cứ thực sự; chiếm cứ công khai; chiếm cứ hoà bình và chiếm cứ liên tục.
Trang 13II Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền
hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
- Chiếm cứ thực sự : Biểu hiện rõ nhất của hành vi chiếm
cứ thực sự là việc các chính quyền phong kiến Việt Nam
đã dựng bia chủ quyền, sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa (khi đó được gọi bằng nhiều tên như Cát Vàng, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa…) vào lãnh thổ của mình, thiết lập bộ máy quản lý và khai thác (đó là các đội Hoàng Sa, Bắc Hải) Mặt khác tiến hành nhiều cuộc đo đạc, lập hải trình, cắm mốc, đánh dấu, lập bia, xây miếu, trồng cây cối trên hai quần đảo này…Đây
chính là những biểu hiện cụ thể cho một sự chiếm cứ
thực sự của Việt Nam.
Trang 14II Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Chiếm cứ công khai: Việt Nam là quốc gia đầu tiên phát
hiện ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau đó tiến
hành chiếm cứ công khai với việc nhiều tàu thuyền qua lại
đây, thường xuyên cử người ra giám sát, tìm hiểu, khai thác trên hai quần đảo và thực hiện chức năng Nhà nước trên đó
- Chiếm cứ hòa bình: Hai quần đảo vốn là lãnh thổ vô chủ,
không có người ở và hoạt động chiếm cứ của Việt Nam được thực hiện hòa bình, không có việc sử dụng vũ trang
- Chiếm cứ liên tục: Với tầm nhìn chiến lược và sâu rộng,
người Việt Nam đã tiến hành chiếm hữu, khai thác, quản lý và bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa liên tục, ít nhất là từ thế kỷ XV
mà không có sự tranh chấp với bất cứ quốc gia nào
Trang 15- Từ thế kỷ XVII, chúng ta có bằng chứng đầy đủ về chủ quyền của nhà nước Đại Việt (gồm cả Đàng Ngoài của chúa Trịnh và Đàng Trong của chúa Nguyễn) qua Tấm bản đồ trong Thiên
Nam Tứ Chí Lộ Đồ được vẽ theo bút pháp đương thời với lời
chú thích rất rõ ràng: “ Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm… Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng
hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”
- Trong cuốn sách Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696 Trong quyển 3 của Hải Ngoại Ký Sự
đã nói đến Vạn Lý Trường Sa tức Hoàng Sa và đã khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa
Trang 161816 là năm vua Gia Long thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo Hoàng sa, 1938 là năm dựng bia
Trang 17Cột mốc chủ quyền trên đảo Nam Yết (Trường Sa)
do Chính quyền Sài gòn cũ xây dựng năm 1956.
Trang 18Việc chiếm cứ được sự thừa nhận của các quốc gia: Việc
xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa được sự thừa nhận của nhiều quốc gia và
không gặp một sự phản đối nào Trong rất nhiều tư liệu, sách
vở, bản đồ của phương Tây như: Hải ngoại ký sự (1696), An Nam đại quốc họa đồ (1838)…và cả trong sách sử, bản đồ của Trung Quốc cũng trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận điều
đó
Ví dụ cuốn Hải lục (1842) viết: “Vạn lý Trường Sa là đất nối giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên dậu của An Nam”
Trong hội nghị quốc tế tại San Francisco (Mỹ) năm 1951,
khi Chính phủ Bảo Đại - Việt Nam khẳng định chủ quyền
đối với Hoàng Sa và Trường Sa thì không có một quốc gia nào phản đối, kể cả Trung Quốc Mà theo luật quốc tế, điều
đó thể hiện sự thừa nhận hoàn toàn
Trang 19III Lập trường của các bên tranh chấp chủ quyền đối với
Hoàng Sa và Trường Sa
Trung Quốc (kể cả Đài Loan) luôn cho rằng họ đã phát
hiện ra hai quần đảo này và chiếm hữu, khai thác “từ
lâu đời”, nhưng thực tế không có một tài liệu sách sử hay bản đồ nào xác nhận điều đó Ngược lại nhiều tư liệu của chính họ viết điểm cực Nam của Trung Quốc là “mũi núi ngoài cảng Du Lân”, “phía Nam từ vĩ độ Bắc 18º13’, tận cùng là bờ biển Nhai Châu đảo Hải Nam” và cũng không
có một tài liệu nào nhắc tới hay vẽ vào bản đồ rằng hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc
Trang 20
III Lập trường của các bên tranh chấp chủ quyền đối với
Hoàng Sa và Trường Sa
- Sau cuộc đổ bộ chớp nhoáng của Đô đốc Lý Chuẩn lên
Hoàng Sa (1909), Trung quốc bắt đầu quan tâm tranh
chấp chủ quyền trên quần đảo này.
- Tuy nhiên, tại các cuộc hội nghị quốc tế về quy chế lãnh thổ sau chiến tranh thế giới thứ hai như Hội nghị San
Francisco, Cairo, Posdam… Trung Quốc lại tuyệt nhiên không nói gì tới hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Trang 21Cơ sở xác định chủ quyền của ta đối với hai quần đảo
- Theo những tài liệu chính thức, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu và làm chủ hai quần đảo từ thế kỷ thứ 17, tiếp đó Chính quyền Đông Dương đã củng cố chủ quyền
Việt Nam trên hai quần đảo: thành lập bộ máy hành chính
thuộc hai tỉnh Thừa Thiên và Bà Rịa, cho cảnh sát ra đồn trú, lập đài khí tượng, trạm vô tuyến điện, xây đèn biển Cho đến đầu thế kỷ 20 không có nước nào tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo đối với Việt Nam
- Đại Thanh đế quốc toàn đồ xuất bản năm 1905 tái bản lần thứ tư năm 1910 chỉ vẽ đế quốc Đại Thanh đến Hải Nam
Trung Quốc địa lý học xuất bản năm 1906 viết: "Điểm mút của Trung Hoa ở Đông Nam là bờ biển Nhai Châu, đảo
Quỳnh Châu, vĩ tuyến 18 độ13' Bắc"
Trang 22- Đầu năm 1907, Nhật Bản chiếm Đông Sa, các nhà cầm
quyền Trung Quốc quan tâm đến các đảo trên Biển Đông
Tháng 5 năm 1909, đô đốc Lý Chuẩn đem 3 pháo thuyền ra thăm chớp nhoáng một vài đảo trên quần đảo Hoàng Sa rồi
về Năm 1921 Chính quyền miền Nam Trung Quốc ra quyết định sát nhập quần đảo Hoàng Sa (mà họ gọi là Tây Sa) vào đảo Hải Nam
- Từ đó bắt đầu có sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Pháp
về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và từ những năm 1930 trên quần đảo Trường Sa Năm 1935 lần đầu tiên Trung Quốc chính thức công bố một bản đồ có cả 4 quần đảo trên Biển
Đông là của Trung Quốc (công hàm của Công sứ Trung Quốc
ở Paris gửi Bộ Ngoại giao Pháp năm 1932 còn viết rằng:
"Các đảo Tây Sa là bộ phận lãnh thổ Trung Quốc xa nhất về phía Nam")
Trang 23- Nếu không có chiến tranh thế giới thứ hai thì chủ quyền
của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là liên tục và thật sự từ thế kỷ 17 Nhưng năm 1939, Nhật Bản đã
chiếm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ tay Pháp và
đã biến quần đảo Trường Sa thành căn cứ hải quân trong
chiến tranh thế giới thứ hai
- Tháng 11/1943, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ, Anh, Trung họp tại Cairo có bàn về các lãnh thổ mà Nhật chiếm của
Trung Quốc Tuyên bố của Hội nghị viết: "Các vùng lãnh thổ
mà Nhật chiếm của Trung Quốc phải trả lại cho Trung Quốc gồm Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ" Như vậy
rõ ràng là 3 cường quốc trong đó có Tổng thống Tưởng Giới Thạch của Trung Quốc đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc
Trang 24- Tháng 8 năm 1945 Tuyên ngôn của Hội nghị Potsdam với
sự tham gia của 4 nước Mỹ, Anh, Trung, Liên Xô lại viết:
"Các điều khoản của bản tuyên bố Cairo sẽ được thi hành" Như vậy cả 4 cường quốc trong đó có Trung Quốc đều thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không phải là lãnh thổ TQ
- Trong Hoà ước giữa TQ và Nhật Bản ngày 28/4/1952, TQ ghi nhận việc Nhật Bản từ bỏ mọi quyền đối với hai quần
đảo như nội dung đã được ghi trong văn kiện Hội nghị San Francisco mà không hề yêu cầu Nhật Bản trả lại cho Trung Quốc hai quần đảo
Trang 251 Trung Quốc
- Trong cuộc hội nghị quốc tế về quy chế lãnh thổ sau
chiến tranh thế giới thứ hai: Cairo, Posdam… Trung
Quốc lại tuyệt nhiên không nói gì tới hai quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa
- Ngay cả khi Pháp chính thức chuyển giao hai quần đảo này cho Chính phủ Bảo Đại ngày 14/10/1950 và tại Hội nghị San Francisco (1951) có đại diện của Trung
Quốc, Ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng
Ngoại giao của Chính quyền Bảo Đại tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này mà không gặp
phải ý kiến phản đối nào
QUAN ĐIỂM CỦA CÁC BÊN VỀ 2 QUẦN ĐẢO
HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
Trang 26- Năm 1947, Chính quyền Trung hoa dân quốc xuất bản bản
đồ “Nam hải chư đảo” và sau đó (1950), Trung cộng tái bản trên bản đồ “Trung hoa nhân dân cộng hoà phân tỉnh tinh đồ” thể hiện đường yêu sách 9 đoạn đứt khúc (gọi nôm na là
đường lưỡi bò) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông
- Ngày 15/8/1951, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: "Các quần đảo Tây Sa và Nam Sa cũng như các quần đảo Đông Sa và quần đảo Trung Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ
Trung Quốc."
Trang 27Trung Quốc x
ác định trong b ản đồ “
Trung Hoa Nh ân dân
Cộng hoà qu ốc phân
tỉnh tinh đồ ” thể h
iện 9 đoạn đ ứt khú
c
Trang 28Bản đồ hình lưỡi bò của Trung Quốc
Trang 29- Tháng 4/1956, Lợi dụng tình hình Pháp rút khỏi Đông
Dương, Việt Nam chưa tiếp quản hai quần đảo, TQ cho quân đội ra chiếm đoạt 7 đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa, trong
đó có đảo Phú Lâm Đài Loan cho quân đội ra chiếm đảo Ba Bình trên quần đảo Trường Sa
- Tháng 1/1974, lợi dụng tình hình Mỹ phải rút khỏi Đông Dương, TQ đánh chiếm nốt 6 đảo phía Tây quần đảo Hoàng
Sa (Trung Sa) từ Quân đội Chính quyền Sài Gòn cũ
=> Như vậy, đến nay Trung Quốc đã chiếm trọn 13 đảo của Quần đảo Hoàng Sa và hiện đã xây dựng xong sân bay Phú Lâm, là đảo lớn nhất trên quần đảo Hoàng Sa Đây cũng là đảo Trung Quốc đã đưa dân ra sinh sống và trồng dừa trên khắp đảo này
Trang 30Trận đánh chiếm Hoàng Sa của Hải quân Trung Quốc từ Hải
Quân Việt Nam Cộng Hoà, tháng 1/1974
Hải quân Trung Quốc
Trang 31Sân bay của Trung Quốc trên đảo Phú Lâm – Hoàng Sa
Trang 32Trung quốc leo thang
- Biển Đông luôn thể hiện trên bản đồ là Biển Nam Trung Hoa Thực tế lòng biển Hải Nam đến Hòang Sa và Trường
Sa không liên tục như của Việt Nam
- Tháng 3/1988 và tháng 01/1995, TQ đánh chiếm 7 bãi
đá, bãi cạn ở quần đảo Trường Sa (Nam Sa)
- Tháng 12/2007, Tuyên bố thành lập thành phố cấp huyện, thành phố Nam Sa thuộc tỉnh Hải Nam
- Trong năm 2012 Trung Quốc đơn phương thành lập thành phố Tam Sa trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa bất chấp luật pháp quốc tế và đặt tên là đảo Vĩnh Hưng
Trang 34Sinh viên biểu tình trước Tổng lãnh sự quán Trung Quốc
ở thành phố Hồ Chí Minh ngày 9/12/2007
Trang 35Sinh viên biểu tình trước Đại sự quán Trung Quốc ở Hà
Nội ngày 9/12/2007
Trang 36Sinh viên tuần hành trước Đại sự quán Trung Quốc ở Hà
Nội ngày 16/12/2007
Trang 37Sinh viên tuần hành trước Đại sự quán Trung Quốc ở Hà
Nội ngày 16/12/2007
Trang 382 Đài Loan
- Đài Loan hiện đang chiếm đóng 02 đảo trong Quần
đảoTrường Sa, trong đó có đảo Ba Bình, đảo lớn nhất
Trường Sa và đã xây dựng công trình trên bãi cạn Bàn
Than vào năm 2004, cách đảo Ba Bình khoảng 0,4 km
- Đài Loan đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa và đã xác lập đơn vị hành chính cho đảo Ba Bình thuộc đơn vị hành
chính thành phố Cao Hùng Hiện đang xúc tiến nâng cấp đường băng và hệ thống giao thông trên đảo Ba Bình
Trang 393 Philippin
Về lịch sử, trước năm 1898, Nhà nước Philippin qua các thời
kỳ chưa bao giờ coi quần đảo Trường Sa là thuộc lãnh thổ
của mình Năm 1898, khi Tây Ban Nha ký Hiệp ước Pari,
nhượng quần đảo Philippin cho Mỹ thì quần đảo Trường Sa không nằm trong đường ranh giới của quần đảo Philippin
- Năm 1956, một người Philippin đến Trường Sa, vạch một đường bao quanh và tuyên bố sở hữu quần đảo này, đặt tên là Kalayaan (vùng đất tự do)
- Năm 1979, tổng thống Philippin đã ký Sắc lệnh sáp nhập
toàn bộ quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa lớn) vào tỉnh Palawan của Philippin với lập luận rằng các đảo này thuộc
Philippin vì nó cận kề về địa lý và quan trọng cho an ninh
quốc phòng của Philippin Hiện Philippin chiếm đóng 9 đảo, bãi đá và bãi cạn
Trang 404 Malaysia và Brunei
4.1 Malaysia:
Năm 1979, Malaysia xuất bản bản đồ công bố ranh giới thềm lục địa của Malaysia bao trùm lên phần phía Nam
quần đảo Trường Sa với lập luận các đảo, bãi đá ở Trường
Sa thuộc về Vương quốc cổ của Malaysia và nằm trong
phạm vi yêu sách thềm lục địa của Malaysia Hiện
Malaysia chiếm đóng 5 đảo, bãi đá, bãi cạn
4.2 Brunei:
Năm 1988 và 1993, Brunei công bố bản đồ yêu sách
thềm lục ở Biển Đông trùm lên một phần nhỏ phía Nam
quần đảo Trường Sa Tuy nhiên, Brunei không có yêu sách hay chiếm đóng đảo, bãi đá nào của quần đảo Trường Sa
Trang 41Đ ôn g
Trang 42kiểm soát Biển Đông của
Trung Quốc là không hề
thay đổi, nhưng Trung
Trang 43
1.1 Tham vọng độc quyền kiểm soát Biển Đông của Trung Quốc là không
hề thay đổi, nhưng Trung Quốc đã có những điều chỉnh về sách lược và ứng xử với các nước tranh chấp nhằm thực hiện mục tiêu, ý đồ đề ra
Ứng xử của TQ đối với
vấn đề Biển Đông thời