Chất lượng của lao động tư nhân là lao động công hiện nay đang chênh lệch khá rõ rệt. Muốn cải thiện điều này, cụ thể là tăng chất lượng lao động công thì chính sách được nhiều người ủng hộ là tăng mức lương tối thiểu của lao động công ngang bằng với mức lương tối thiểu của lao động tư nhân. Lời mở đầu 1 I. Lời mở đầu 2 1. Các khái niệm 3 2. Giới thiệu về hệ thống lương ở khu vực công và tư hiện nay 4 3. Mô hình luật mức lương tối thiểu 5 II. Chính sách mức lương tối thiểu ở khu vực công và tư nhân của Việt Nam 6 1. Chất lượng lực lượng lao động................................................................................6 2. Phân tích chính sách mức lương tối thiểu ở khu vực công và tư nhân hiện nay............................................................................................................................8 3. Ảnh hưởng chính sách của Chính phủ về tăng mức lương tối thiểu ở khu vực công và tư nhân............................................................................................................... Đôi khi trong cuộc sống, có nhiều người trong chúng ta thường tự hỏi, tại sao cũng 24h như nhau nhưng có những người sống một cuộc sống thật thảnh thơi, thoải mái,giàu sang, trong khi nhiều người khác lại phải luôn chật vật với cuộc sống của mình thậm chí luẩn quẩn trong vòng quay tài chính không lối thoát. Liệu đó có phải do người giàu may mắn hơn người nghèo hay anh này có số giàu còn anh kia có số nghèo? Tất cả đều không phải, đó là sự khác nhau đơn giản về tư duy kiếm tiền giữa một người giàu có và một người lao động thông thường. Lao động có khá nhiều kiểu lao động, trong đó lại có 2 loại chính, đó chính là lao động tư nhân và lao động công. Hai khối lao động này có nhiều điểm giống và khác nhau, như thời gian làm việc, mức độ công việc ...và được quan tâm nhất là mức lương tối thiểu. Qua thống kê thực tế, ta luôn thấy mức lương của lao động tư nhân luôn cao hơn mức lương của lao động công, đồng thời chất lượng ngày công lao động cũng khá khác nhau: trong khi lao động tư nhân rất hiệu quả thì lao động công tỏ ra trì trệ, chậm chạp. Vì vậy muốn nâng cao chất lượng lực lượng lao động công thì chính phủ Việt nam cần có chính sách tăng mức lương tối thiểu trong khu vực công sao cho bằng mức lương tối thiểu của khu vực tư nhân hiện nay.Chúng ta sẽ cùng đi làm rõ qua điểm này thông qua lý thuyết kinh tế học lao động về lao động công và lao động tư nhân.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Đôi khi trong cuộc sống, có nhiều người trong chúng ta thường tự hỏi, tại sao cũng 24h như nhau nhưng có những người sống một cuộc sống thật thảnh thơi, thoải mái,giàu sang, trong khi nhiều người khác lại phải luôn chật vật với cuộc sống của mình thậm chí luẩn quẩn trong vòng quay tài chính không lối thoát Liệu đó có phải do người giàu may mắn hơn người nghèo hay anh này có số giàu còn anh kia có số nghèo? Tất cả đều không phải, đó là sự khác nhau đơn giản về tư duy kiếm tiền giữa một người giàu
có và một người lao động thông thường
Lao động có khá nhiều kiểu lao động, trong đó lại có 2 loại chính, đó chính là lao động tư nhân và lao động công Hai khối lao động này có nhiều điểm giống và khác nhau, như thời gian làm việc, mức độ công việc và được quan tâm nhất là mức lương tối thiểu Qua thống kê thực tế, ta luôn thấy mức lương của lao động tư nhân luôn cao hơn mức lương của lao động công, đồng thời chất lượng ngày công lao động cũng khá khác nhau: trong khi lao động tư nhân rất hiệu quả thì lao động công tỏ ra trì trệ, chậm chạp Vì vậy muốn nâng cao chất lượng lực lượng lao động công thì chính phủ Việt nam cần có chính sách tăng mức lương tối thiểu trong khu vực công sao cho bằng mức lương tối thiểu của khu vực tư nhân hiện nay.Chúng ta sẽ cùng đi làm rõ qua điểm này thông qua lý thuyết kinh tế học lao động về lao động công và lao động tư nhân
Trang 2I Cơ sở lý thuyết
1.Các khái niệm
- Lương tối thiểu: là mức lương thấp nhất theo luật định trả cho lao động giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu đủ để tái tạo sức lao động Lương tối thiểu được quy định bằng tiền lương danh nghĩa
- Lao động công là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan,
tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này
2 Giới thiệu về hệ thống lương ở khu vực công và khu vực tư nhân hiện nay.
Tiền lương là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế - xã hội, tạo động lực tăng trưởng kinh tế và giải quyết công bằng, tiến bộ xã hội, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý Nhà nước, khai thác tiềm năng sáng tạo của người lao động
+Trong khu vực tư nhân, tiền lương chịu sự tác động và chi phối rất lớn của thị trường và thị trường lao động
+Trong khu vực công, tiền lương là số tiền mà các cơ quan, tổ chức của Nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế, chính sách của Nhà nước và được thể hiện
trong hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định Trong hoạt động công vụ, tiền
lương đóng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố kiên quyết thu hút
và giữ được những người có tài năng tham gia hoạt động trong khu vực công, tránh hiện tượng chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư Đối với công chức bao gồm lương cơ bản, phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên và thưởng Các vị trí khác nhau được hưởng lương khác nhau Những người có vị trí cao và chịu trách nhiệm nhiều hơn được hưởng lương cao hơn nhiều so với người ở vị trí thấp
*Quy định về Tiền lương năm 2014
a Lương tối thiểu vùng
Mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động
Theo đó, mức lương tối thiểu vùng như sau:
Trang 3- 2.700.000 đồng/tháng đối với vùng I.
- 2.400.000 đồng/tháng đối với vùng II
- 2.100.000 đồng/tháng đối với vùng III
- 1.900.000 đồng/tháng đối với vùng IV
b Lương cơ sở
Mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động (gọi chung là người hưởng lương, phụ cấp) làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội có tính chất đặc thù ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện), ở xã, phường, thị trấn (cấp xã) và lực lượng vũ trang
Theo đó, mức lương cơ sở là 1.150.000 đồng/tháng
c Lương tối thiểu ngành
Mức lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành
Theo đó, mức lương tối thiểu ngành không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng
3 Mô hình luật mức lương tối thiểu
3.1 Mô hình luật mức lương tối thiểu áp dụng toàn diện
Luật mức lương tối thiểu có thể có những hiệu ứng phụ không mong muốn chống lại mục tiêu của chương trình giảm nghèo đói Xem xét một thị trường lao động chưa lành nghề và giả sử ban đầu là tất cả các công nhân đều được áp dụng luật mức lương tối thiểu
Hình 3.1 cho thấy thị trường của những công nhân chưa lành nghề, trong đó điểm cân bằng thị trường trước khi áp dụng luật mức lương tối thiểu có mức lao động sử dụng
là E0 và mức lương thực tế W0/P0 bây giờ, giả sử Quốc Hội ban hành mức lương tối thiểu danh nghĩa là W1 > W0 , luật này sẽ làm tăng mức lương thực tế lên W1 / P0 và giảm xuống E1 công nhân mà hãng muốn thuê Mặc dù một lượng lớn công nhân E2 sẵn sàng tham gia thị trưường lao động với mức lương này, nhưng áp lực giảm đè lên lương danh nghĩa do lương không thể giảm dưới mức danh nghĩa tối thiểu Kết quả là tác động tức thời của việc tăng lương tối thiểu là giảm sử dụng lao động và tăng thất nghiệp tương ứng với E2 –E1
Trang 4Tiền lương thực tế
0 E1 E0 E2 Số lao động (E)
Hình 3.1
Qua thời gian, Chính Phủ có biện pháp khuyến khích nền kinh tế với hi vọng giảm thất nghiệp Những hành động như vậy luôn bao gồm những chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ nới lỏng (tăng chi tiêu chính phủ và cung tiền, giảm thuế) Tuy nhiên, khi giá tăng, mức lương thực tế lại giảm do mức lương danh nghĩa được giữ nguyên, khiến cho lượng lao động được sử dụng tăng lên Nếu Quốc Hội không thực hiện hoạt động nào khác mà vẫn theo đuổi chính sách nới lỏng thì giá sẽ tăng tới mức W1 /P1 = W0 / P0 như vậy, giá trị thực sự của mức lương tối thiểu lại giảm xuống mức ban đầu của thị trường
và tình trạng sử dụng lao động lại quay về ban đầu Trong khi tác động tức thời của lương tối thiểu tăng khiến cho giẳm dụng lao động, qua một thời gian dài tình trạng giảm sử dụng lao động sẽ được hạn chế tại thời điểm mức giá cao hơn
Như đã nói ở trên, quốc hội cứ định kỳ lại tăng mức lương tối thiểu nhằm khôi phục lai giá trị tương đối của số tiền trung bình có thể kiếm được trả theo giờ sản xuất.nếu tăng tới
W2 , tại đây W2 /P1 =W1/P0 và một lần nữa lai giảm lao động sử dụng xuống E1 và tạo ra
áp lực cho Chính Phủ phải hành động nhằm giảm thất nghiệp Kết quả là chu kỳ lương tối thiểu tăng làm mất việc trong ngắn hạn, lạm phát làm giảm giá trị thực của lương tối thiểu và khôi phục việc làm, và sau đó việc tăng lương danh nghĩa lại bắt đầu quá trình này lại từ đầu Theo định kỳ, các đề xuất chính sách được trình lên Quốc Hội nhằm thắt chặt mức lương tối thiểu với mức giá tiêu dùng hoặc số tiền trung bình có thể kiếm được trả theo giờ; mức lương tối thiểu sẽ tự động tăng mỗi năm nhằm duy trì giá trị tương đối không đổi với các biến trên Nếu quá gắn với mức lương tối thiểu cũ, tác động ròng của luật này sẽ gắn mức lương thực tế của lao động kỹ năng thấp với mức W1/P0 ở hình 3.1 liệu chính sách như vậy có thỏa mãn nhóm lao động kỹ năng thấp như là một nhóm phụ thuộc vào hoặc là mức lương cao hơn đủ để đền bù cho các công nhân kỹ năng thấp vì
S
W2/P1=W0/P0
W1/P1=W0/P0
D
Trang 5mất việc (E0-E1 ) và phụ thuộc vào các chương trình hỗ trợ thu nhập như bảo hiểm thất nghiệp sẵn có đối với công nhân thất ngiệp Tăng mức lương tối thiểu gây mất việc cho các công nhân và Chính Phủ phải cố gắng giúp đỡ họ
3.2 Mô hình luật mức lương tối thiểu không áp dụng toàn diện
Mặc dù việc áp dụng mức lương tối thiểu ngày càng rộng rãi, nên ngày nay khoản 88% người lao động ở Mỹ không phải bị giám sát được áp dụng luật này Trong khi năm
1965 khoảng hơn 1/3 số lượng lao động này không được áp dụng luật này Các khu vực không áp dụng luật này chủ yếu là những nơi buôn bán lẻ, các ngành công nghiệp dịch vụ
và nông nghiệp Ngày nay, những người lao động trong các ngành công nghiệp này đều làm cho những hãng nhỏ Sẽ là có ích để thể hiện những tác động của mức lương tối thiểu khi chưa áp dụng được cho toàn bộ lao động Để đơn giản hóa thảo luận này chúng ta sẽ giả sử rằng:
a Giá cả cố định
b Thị trường lao động chưa lành nghề có đặc điểm là đường cung theo trục tung nên toàn bộ lao động chưa lành nghề được sử dụng là ET
c Thị trường này có một khu vực áp dụng mức lương tối thiểu và một khu vực không áp dụng mức lương tối thiểu
d Các công nhân chưa lành nghề di chuyển đi di chuyển lại giữa những khu vực này nhằm tìm kiếm việc với mức lương cao nhất có thể
Những giả thiết gợi ý rằng nếu không có mức lương tối thiểu,mức lương ở các khu vực sẽ là như nhau Ở hình 3.2 giả sử rằng mức lương “trước khi áp dụng mức tối thiểu”
là W0 và tổng số lao động là ET thì bị hạ xuống E0c trong khu vực áp dụng mức lương tối thiểu công với E0U trong khu vực không áp dụng mức lương tối thiểu
Nếu tăng mức lương ở khu vực này từ W0 lên W1, giảm cầu và lượng lao động sử dụng trong khu vực áp dụng luật mức lương tối thiểu sẽ giảm từ E0C xuống E1C Một số công nhân trước đây đã có việc làm trong khu vực áp dụng mức lương tối thiểu bây giờ phải tìm việc trong khu vực chưa áp dụng luật này Do đó, một số công nhân trước đây làm trong khu vực chưa áp dụng mức lương tối thiểu là E0U thì giờ có thêm E0C-E1C những người công nhân khác tìm kiếm việc làm ở khu vực này Vì vậy, tất cả các công nhân chưa lành nghề mà có đủ may mắn để tìm thấy việc trong khu vực áp dụng mức lương tối thiểu W1 giờ phải tìm việc trong khu việc chưa áp dụng mức lương tối thiểu cung lao động tăng trong khu vực này làm giảm mức lương từ W0 xuống W2
Trang 6Tiền lương tiền lương
W0
W1
W0 W1 D
D
0 E1C E0C Số lao động (E) 0 E0U E1U số lđ (E)
Hình 3.2
Giống như các luật khác, việc mức lương tối thiểu chưa được áp dụng hết ở các khu vực tạo ra cả người hưởng lợi và người bị hại Người hưởng lợi là những người ở khu vực được áp dụng mức lương tối thiểu đã giữ được công việc của họ và giờ nhận mức lương tối thiểu cao hơn
II Chính sách mức lương tối thiểu ở khu vực tư nhân và khu vực công ở
Việt Nam hiện nay.
1 Chất lượng lực lượng lao động
1.1.Lực lượng lao động tư nhân
Tính đến 1/7/2011, cả nước có 51,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chiếm 58,5% tổng dân số Trong đó lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 70,3%
-Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động đông nhưng số lao động có tay nghề , có chất lượng của nước ta đang còn rất hạn chế, trình độ học vấn chưa cao và không đồng đều giữa các vùng miền
Nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây liên tục tăng, nhưng các doanh nghiệp vẫn kêu thiếu lao động Nguyên nhân là do lao động Việt Nam chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chứ chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng
- Do nguồn lực tăng nhanh nên hàng năm trung bình có thêm trên một triệu lao động gia nhập vào thị trường lao động nên nguồn nhân lực nước ta là một trong những quốc gia có một nguồn nhân lực trẻ Lực lượng lao động trẻ cũng là một lợi thế của nước ta trong việc
Trang 7phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Thực tế khẳng định, năng suất lao động ở Việt Nam thấp so với các nước không phải do người Việt Nam thua kém lao động các nước khác về tính cần cù, cường độ lao động, khả năng nắm bắt kiến thức cần thiết khi được đào tạo đúng nội dung và phương thức, cũng như khả năng sáng tạo, tinh thần kỷ luật, năng lực hội nhập và thích nghi với quy trình và môi trường lao động hiện đại khi được khuyến khích và tạo cơ hội, điều kiện phù hợp
1.2.Chất lượng lao động công
Cả nước đến nay có khoảng 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 1131 giáo sư, 52129 giảng viên đại học và cao đẳng trong đó có 49% có trình độ thạc sĩ trở lên Đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài hiện có khoảng 300 nghìn người trong tổng số gần 3 triệu Việt kiều trong đó 200 giáo sư đang giảng dạy tạị một số trường đại học trên thế giới Sự tăng lên đáng kể này cho thấy lực lượng lao động công ở Việt Nam có chất lượng tiến bộ nhanh chóng trong những năm gần đây
Những năm gần đây, đội ngũ cán bộ, công chức đã được rèn luyện, thử thách qua quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng Kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được nâng cao về mọi mặt, góp phần tích cực vào thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước trong giai đoạn vừa qua
Tuy nhiên, thực trạng đội ngũ công chức hiện nay vẫn bộc lộ những yếu kém, bất cập Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức chưa tương xứng, chưa đáp ứng yêu cầu công việc; tính chủ động, ý thức trách nhiệm với công việc được giao còn thấp; khả năng quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế Một bộ phận công chức thoái hoá, biến chất, tham ô, buôn lậu, nhũng nhiễu phiền hà, thiếu công tâm, khách quan khi giải quyết công việc ; kỷ luật hành chính lỏng lẻo, bản lĩnh thiếu vững vàng, lãng phí
Ta cần nhận thấy một thực tế: còn không ít cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính Nhà Nước hiện nay làm việc thiếu tích cực Đi muộn về sớm hay “đi để điểm danh” là một hiện tượng phổ biến Điều đó còn thể hiện ở chỗ: nhiều cán bộ, công chức bảo thủ trong cách nghĩ, cách làm, thiếu sự năng động, sáng tạo và đổi mới; cách làm việc quan liêu, hành chính hoá, không thạo việc, tác phong chậm chạp, rườm rà, thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm dẫn đến sự trì trệ về phương thức hoạt động trong các cơ quan hành chính khi người dân kêu ca về tinh thần, thái độ, ý thức trách nhiệm của không ít cán bộ, công chức trong giải quyết công việc, lợi ích của người dân bị tổn hại Bên cạnh
đó, vì lương không đáp ứng đủ cho nhu cầu nên nhiều nguời còn “làm thêm ngoài giờ”,
Trang 8không chú trọng vào công việc Nhà Nuớc.
Ngoài ra, còn có hiện tượng chạy chọt, xin xỏ, dựa vào các mối quan hệ để vào làm trong Nhà Nuớc do đó việc chất luợng kém là điều không tránh khỏi
2 Phân tích chính sách mức lương tối thiểu ở khu vực tư nhân và khu vực công
2.1.Mức lương tối thiểu ở khu vực công
Như tất cả mọi người đã biết, chính sách lương của cán bộ công chức nói riêng và nhân viên các quan quản lý Nhà Nước của nước ta thật tệ, dẫn đến tình trạng các cơ quan quản lý nhà nước không thu hút nổi người tài, người có năng lực Người tài lần lượt đến và đi, và chủ yếu là nơi có cho họ thu nhập cao hơn đồng nghĩa với việc sức lao động của họ được coi trọng Những người ở lại một là không có tài thực sự, hoặc là gia đình giàu có hậu thuẫn mới yên tâm công tác
Trên thế giới hiện phổ biến ba hình thức lương tối thiểu: lương tối thiểu duy nhất chung cho cả nước, lương tối thiểu theo ngành nghề và lương tối thiểu theo vùng Việt Nam là trường hợp ngoại lệ, bởi các doanh nghiệp Nhà Nước đang áp dụng mức lương tối thiểu thấp hơn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Một đặc thù khác, lương tối thiểu ở Việt Nam có quá nhiều ràng buộc với hệ thống an sinh Nếu như ở các nước, lương tối thiểu gắn với yếu tố lạm phát, thường được điều chỉnh kịp thời dựa trên những thay đổi về chỉ số giá linh hoạt thì ở Việt Nam, lương tối thiểu còn là cơ sở để điều chỉnh lương hưu, trợ cấp, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc…Chính vì lẽ đó, trong khi nhiều nước có thể điều chỉnh mức lương tối thiểu định kỳ hằng năm cho phù hợp với biến động của thị trường, thì Việt Nam không thể làm được điều này
Chính sách tiền lương tối thiểu vẫn còn nhiều hạn chế:
Thứ nhất, mức lương tối thiểu thấp, chưa được tính đúng, tính đủ cho mức
sống tối thiểu của người có nuôi con và chỉ đáp ứng được 60- 65% nhu cầu cơ bản của người lao động Tiền lương chưa bảo đảm người hưởng lương chủ yếu sống bằng lương Đây chính là nguyên nhân khu vực nhà nước không giữ được lao động có năng lực Hiện tượng chảy máu chất xám từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân đã trở thành
xu hướng phổ biến những năm qua Một bộ phận đáng kể người lao động có thu nhập ngoài lương chiếm tỷ trọng lớn làm cho quan hệ tiền lương bị méo mó
Thứ hai, vẫn tồn tại sự bất bình đẳng trong việc xác định tiền lương giữa người
lao động và người sử dụng lao động; giữa khối doanh nghiệp Nhà Nước và khối doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp tư nhân; giữa lao động nam và nữ; giữa các vùng miền
Trang 9Ngoài ra, chính sách tiền lương bị ràng buộc bởi các chính sách an sinh xã hội và có sự phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp theo sở hữu Hệ thống thang bảng lương còn rườm rà, phức tạp.Vấn đề tiền lương dễ tạo ra vòng luẩn quẩn trong việc tháo gỡ những vướng mắc của thị trường lao động
Để đáp ứng sự gia tăng giá cả của thị trường, cũng như nhằm cải thiện mức sống của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Việt Nam cũng thực hiện áp dụng chế độ lương tối thiểu và đã thực hiện việc tăng lương tối thiểu liên tục qua các năm Kể từ năm 2001, Chính phủ đã có 8 lần nâng lương tối thiểu từ 210.000đ/tháng đến 1.050.000đ/tháng như thời điểm hiện nay Việc điều chỉnh tăng lương tối thiểu thời gian qua đã cải thiện phần nào cuộc sống của người lao động Tuy nhiên, mức điều chỉnh đó cũng chỉ đạt 65% mức sống tối thiểu của người lao động Xung quanh mức lương tối thiểu (LTT), cơ chế áp dụng, thời gian điều chỉnh LTT ở Việt Nam còn không ít bất cập Việc ấn định, điều chỉnh LTT vùng chủ yếu xuất phát từ phía cơ quan Chính phủ, việc tham gia, tham vấn của các cơ quan đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động còn hạn chế, do vậy tiền lương tối thiểu chưa phản ánh đầy đủ các yếu tố thị trường lao động, chưa có nghiên cứu đầy đủ về địa bàn phân vùng để quy định mức lương tối thiểu
Những kết quả đầu ra của chương trình cải cách tiền lương cán bộ công chức chưa đáng kể, chưa tạo được những thay đổi cơ bản như mục tiêu đề ra Tiền lương chưa thực
sự trở thành động lực của nền công vụ, chưa thúc đẩy cán bộ công chức hoàn thành nhiệm vụ và do đó chưa góp phần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính công, các thang, bảng, ngạch, bậc lương hiện rất phức tạp Hệ thống tiền lương hiện nay còn mang nặng tính bình quân, cào bằng, không có tác dụng khuyến khích, thúc đẩy cán bộ công chức phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ Trong đó, vấn đề khoảng cách tối thiểu - trung bình - tối đa (1 - 2,34 - 10) đang là một bất hợp lý đáng kể Cần mở rộng thêm đáng kể khoảng cách tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa thì mới có tác dụng khuyến khích, động viên, khắc phục tình trạng bình quân như hiện nay Việc mở rộng khoảng cách này còn làm cho tiền lương phản ánh chính xác hơn kết quả, hiệu quả lao động của công chức
Về nội dung chính sách tiền lương: Quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa chưa
hợp lý, hệ số trung bình quá thấp nên chưa cải thiện được đời sống, chưa khuyến khích được cán bộ, công chức và người lao động có hệ số lương thấp
Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp công (dịch vụ công) còn chậm và đạt kết quả thấp, nhất là trong y tế, giáo dục và đào tạo… gây khó khăn cho cải cách tiền lương, thiếu nguồn tài chính để trả lương xứng đáng cho cán bộ công chức và người lao động; chưa tách bạch rõ ràng chính sách tiền lương đối với công chức khu vực hành chính Nhà nước và viên chức khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công Hiện vẫn phổ biến tình trạng trả lương còn mang tính “cào bằng”, cán bộ, công chức được trả theo chức vụ, chức danh nghiệp vụ chuyên môn, thâm niên công tác; “làm nhiều, làm ít cũng hưởng lương như nhau”, tiền lương chưa phù hợp với mức độ cống hiến, chưa phản ánh đúng năng lực, kết quả công tác của cán bộ, công chức
Trang 10Về mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu vùng: Mức lương tối thiểu hiện nay
chưa thật sự phù hợp với cơ chế thị trường, dù liên tục điều chỉnh nhưng tăng vẫn không kịp so với tốc độ trượt giá và mức tăng trưởng của nền kinh tế Do đó, tiền lương thực tế của cán bộ, công chức và người lao động có phần giảm sút, chưa bảo đảm trang trải cho các nhu cầu thiết yếu của bản thân, chưa kể đến gia đình họ
2.2 Mức lương tối thiểu ở khu vực tư nhân
Từ năm 2008 đến tháng 10-2011, mức lương tối thiểu vùng của doanh nghiệp còn gắn với mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với khu vực hưởng lương từ ngân sách Nhà Nước, dẫn đến khó khăn trong nâng tỷ lệ tăng lương do phụ thuộc chủ yếu vào nguồn ngân sách Nhà Nước Mặt khác, các doanh nghiệp được phân chia theo địa bàn 4 vùng để
áp dụng mức lương tối thiểu vùng, nhưng thực tế khi áp dụng, các doanh nghiệp chỉ điều chỉnh tăng tiền lương để đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,… Tiền lương thực
tế doanh nghiệp trả cho người lao động cao hơn nhiều so với quy định, nên các doanh nghiệp có thể không điều chỉnh hoặc có điều chỉnh nhưng mức điều chỉnh tăng không theo tỷ lệ tăng tiền lương tối thiểu vùng
Ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhiều công ty đã trả mức lương trung bình từ hơn 2 triệu đồng một tháng thì mức này ở phương án tối thiểu của Bộ Lao động và thương binh xã hội chỉ là 1.5 triệu đồng, điều này cũng gây ra nhiều thiệt thòi cho các lao động tại các công ty nước ngoài, khi mà phía nước ngoài sẽ không chấp nhận trả quá cao
so với mức lương tối thiểu mà nhà nước quy định Các doanh nghiệp đều cho rằng mức lương này là quá thấp, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn tuyển dụng lao động Mức lương tối thiểu cũng khiến cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi khách hàng tính giá thành cũng dựa vào nó Hiện tại lương tối thiểu chung và lương tối thiểu vùng đang áp dụng chung cho cả doanh nghiệp lẫn cả khối hành chính sự nghiệp, cho nên nếu muốn tăng thì sẽ ảnh hưởng tới ngân sách nhà nước, điều này khiến mức lương tối thiểu của doanh nghiệp cũng tăng rất chậm, không phù hợp chức năng
Việc tăng mức lương tối thiểu trong thời gian qua chưa góp phần cải thiện đời sống của người làm công ăn lương, nhất là người lao động làm việc trong doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, như lĩnh vực may mặc, giày da, chế biến hải sản,… Chính sách tiền lương chưa thực sự là đòn bẩy khuyến khích được cán bộ công chức và người lao động nâng cao trách nhiệm, hiệu quả, phát huy năng lực trong thực thi công vụ Nhiều công chức, viên chức, trong đó không ít đội ngũ trẻ, có trình độ chuyên môn cao chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp có mức lương cao như các công ty dầu khí, công ty nước ngoài
Vì vậy việc tăng mức lương tối thiểu trong khu vực tư nhân rất khó khăn, cần được nghiên cứu kỹ
2.3 So sánh giữa 2 khu vực
Hệ thống chính sách tiền lương của Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển Từ 1/2003 đến 5/2012, Chính phủ đã điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với cán bộ công chức, viên chức từ 210.000 đồng lên 1.050 đồng/tháng, tăng 400% cao