Lịch sử cho thấy rằng, bất cứ lực lượng xã hội chính trị nào muốn tác động tích cực vào quá trình phát triển đều phải nắm lấy văn hoá. Khi xã hội có những chuyển biến lớn lao thì lực lượng tiên phong lại càng coi trọng vai trò của văn hoá. Các chính đảng có sứ mệnh lãnh đạo xã hội xưa nay đều sử dụng văn hoá văn nghệ như là một vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng. Dù công khai hay che giấu việc sử dụng văn hoá văn nghệ như là lợi khí đều được các lực lượng chính trị sử dụng một cách có ý thức, có tổ chức.
Trang 1NGHIÊN CỨU NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TICH HỒ CHÍ MINH
VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT
Lịch sử cho thấy rằng, bất cứ lực lượng xã hội - chính trị nào muốn tácđộng tích cực vào quá trình phát triển đều phải nắm lấy văn hoá Khi xã hội
có những chuyển biến lớn lao thì lực lượng tiên phong lại càng coi trọng vaitrò của văn hoá Các chính đảng có sứ mệnh lãnh đạo xã hội xưa nay đều sửdụng văn hoá văn nghệ như là một vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh giai cấptrên mặt trận tư tưởng Dù công khai hay che giấu việc sử dụng văn hoá vănnghệ như là lợi khí đều được các lực lượng chính trị sử dụng một cách có ýthức, có tổ chức
Ở nước ta từ ngày có Đảng, văn nghệ đã thực sự trở thành một bộ phận khăngkhí của cách mạng, trở thành vũ khí đắc lực trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập,
tự do, dân chủ văn hoá ngày càng có vai trò quan trọng góp phần vào việc địnhhình nội dung sống của con người và xã hội Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hànhTrung ương lần thứ IV khoá VII (14-1-1993) khẳng định: "Nhiệm vụ trọng tâmcủa văn hoá văn nghệ nước ta là góp phần xây dựng con người Việt Nam về trítuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vữngvàng ngang tầm sự nghiệp đổi mới vì dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh” 1
Xuất phát từ cơ sở lý luận Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ĐảngCộng sản Việt Nam ngay từ những ngày đầu lãnh đạo cách mạng Việt Nam
đã xác định: “văn hoá nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể
thuật là bộ phận không thể tách rời của cuộc sống, hoạt động văn hoá nghệ
1 §CSVN (1993) VKHN lần thứ 4 BCHTW khoá VII, NxbCTQG.H.Tr53.)
2 HCM (1995) ToµnTËp., NxbCTQG.H T6.Tr 368
Trang 2thuật cũng giữ vai trò quan trọng như các hoạt động sản xuất, hoạt động sángtạo của con người, nó “có liên lạc với chính trị rất là mật thiết” 3 Điều đó đặt
ra yêu cầu đối với cuộc cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng nói chung và hoạtđộng văn hoá nghệ thuật nói riêng, phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.Đảng giữ độc lập quyền lãnh đạo cách mạng, tất yếu Đảng phải độc quyềnlãnh đạo sự nghiệp văn hoá Sự lãnh đạo của Đảng đảm bảo cho các hoạtđộng văn hoá nghệ thuật đi đúng hướng và phát huy hiệu quả
Với quan niệm “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em
Cộng sản Việt Nam đã luôn nhận thức rõ ý nghĩa to lớn và vai trò của hoạtđộng văn hoá nghệ thuật trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh của nhân
tố tinh thần trong chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam; đã sớmnhận thức được văn hoá khi thâm nhập vào quần chúng sẽ là một sức mạnh vềvật chất và có khả năng đánh bại mọi kẻ thù, giành độc lập thống nhất cho đấtnước, và vì thế, ngay từ “Đề cương văn hoá” năm 1943, Đảng ta đã chủtrương cùng với nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thì đồng thời phải giải phóngvăn hoá nghệ thuật khỏi sự kiềm chế của hệ tư tưởng thực dân, phong kiến,đưa hoạt động văn hoá nghệ thuật trở về phục vụ cách mạng, phục vụ dân tộc.Bởi “dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do văn nghệ muốn tự do thìphải tham gia cách mạng”5
Vượt lên quan niệm hạn chế của các quan điểm nho giáo Phương Đôngkhông quen coi văn hoá như là động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế
mà “chỉ xem văn hoá như là tổng số những biện pháp để tu dưỡng con ngườisao cho thích hợp với môi trường tự nhiên và xã hội” 6 Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm thấy được văn hoá luôn đóng vai tròquan trọng trong việc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội “Kinh
tế và chính trị quyết định văn hoá, rồi sau văn hoá tác động lại kinh tế và
3 HỒ CHÍ MINH - Về công tác văn hoá văn nghệ ST H.1971 Tr72
4 HỒ CHÍ MINH -Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận Văn học.H.1981.Tr 349.
5 HỒ CHÍ MINH - Về công tác văn hoá văn nghệ ST H.1971.Tr 63.
6 TRẦN TUẤN HIỆP - điện ảnh phía Nam - những điều lạ // NTĐA 9/1992.Tr 72.
Trang 3chính trị, nhiều khi với một sức mạnh phi thường”7 Trong các văn kiện chủyếu của Đảng như Chính cương vắn tắt của Đảng (1930); Lời kêu gọi nhândịp thành Đảng Cộng sản Đông Dương (1930); Chương trình tóm tắt củaĐảng (1931); Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương(1932); Án nghị quyết của Trung ương (1931), Nghị quyết Đại hội Đảng lầnthứ nhất (27-31/3/1935); Nghị quyết Trung ương tháng 8 và 9/1937)… đã nêu
ra những vấn đề: chống mọi chính sách, thủ đoạn văn hoá của đế quốc, vạchtrần những cách lừa bịp về giáo dục, báo chí, xuất bản của chúng; làm cáchmạng để thực hiện tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do xuất bản , kêu gọitrí thức đi theo cách mạng; đào tạo đội ngũ trí thức, nhà báo của Đảng; ranhững sách báo bí mật, ra báo chí bằng tiếng các dân tộc, dùng tiếng Việt,tiếng Pháp, chữ Hán, chữ Nôm để viết báo tuyên truyền cách mạng
Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương 1936-1939, Trung ương chỉthị cho các báo chí công khai mở các mục về văn học, mỹ thuật, thể thao, v.v
để thu hút thanh niên và đông đảo bạn đọc Trong điều kiện hoạt động bí mật,lúc công khai và khi mà nhiệm vụ trọng tâm là lật đổ ách thống trị của đếquốc phong kiến tay sai, Đảng ta không có chính sách riêng và toàn diện vềvăn hoá, song Đảng đã có những chủ trương thích hợp, đã chuẩn bị mọi mặt:
về quan điểm tư tưởng, về tổ chức, về con người cho việc ra đời đường lốivăn hoá văn nghệ đúng đắn về sau
Đến cuối những năm 30 đầu những năm 40 của thế kỷ này, khi đất nướcsục sôi khí thế chuẩn bị cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, Đảng ta đã thấy sựcần thiết phải tiến hành cuộc cách mạng văn hoá; đặt cách mạng văn hoátrong mối quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính trị và cách mạng kinh tế
“Cuộc đấu tranh cách mạng của văn hoá Việt Nam là một bộ phận của cuộc
xác định: Mặt trận văn hoá là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, vănhoá) “ở đó người cộng sản phải hành động”
7 VŨ QUANG CHÍNH - Góp bàn về phim thương mại // NDCN 4-4-1993 Tr17.
8 VŨ QUANG CHÍNH - Góp bàn về phim thương mại // NDCN 4-4-1993 Tr77
Trang 4Vào đầu những năm 40, dân tộc ta, đất nước ta còn nghèo nàn và lạc hậu.Nhưng nhờ có cái nhìn khoa học và sáng suốt về văn hoá, bằng việc công bố
Đề cương văn hoá, Đảng đã tập hợp được lực lượng, đoàn kết những nhà văn
hoá văn nghệ, những trí thức có khuynh hướng tiến bộ, phát huy tinh thần yêunước, lòng khao khát tự do độc lập cùng với toàn dân đấu tranh giải phóngdân tộc, giành dộc lập tự do đồng thời thực hiện sứ mệnh thiêng liêng là giảiphóng văn hoá, xây dựng văn hoá mới Việt Nam
Từ ngày thành lập Đảng cho đến khi có Đề cương văn hoá Đảng đã tạo
một bước chuyển biến lớn trong văn hoá văn nghệ, đưa nó từ chỗ là phươngtiện nô dịch, ru ngủ của kẻ thù của cách mạng, là tiếng thở than của người dânmất nước chưa tìm ra con đường giải phóng trở thành vũ khí đấu tranh cáchmạng, hướng văn nghệ sĩ đi theo con đường của Đảng, góp phần xứng đángvào sự nghiệp cách mạng của nhân dân
Cách mạng Tháng Tám thành công, văn nghệ sĩ lại cùng với nhân dânbước vào cuộc chiến đấu mới: xây dựng lại đời sống về mọi mặt và tiến hànhcuộc kháng chiến anh hùng chống thực dân Pháp
Trong giai đoạn lịch sử này, ngay trong điều kiện kháng chiến, Đảng vẫnkhông ngừng cụ thể hóa đường lối văn hoá văn nghệ, nêu ra và giải quyết nhiềuvấn đề rất cơ bản của lý luận văn nghệ: vấn đề tự do và quy luật trong sáng tạonghệ thuật, vấn đề quan điểm đối với văn hoá cổ và văn hoá nước ngoài, vấn đềđào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc lànhiệm vụ của văn hoá, vấn đề nhận thức sâu sắc hơn về quan điểm dân tộc, khoahọc, đại chúng trong Đề cương văn hoá trước yêu cầu mới, vấn đề học tập lýluận Mác- Lênin để tạo bước chuyển căn bản trong thế giới quan và tâm hồn vănnghệ sĩ
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình được lập lại, nửa nước được giảiphóng, cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, nhân dân ta phải gánh vác hainhiệm vụ cực kỳ khó khăn và vĩ đại: Chiến đấu chống một kẻ thù lớn mạnh và
Trang 5hung hãn là đế quốc Mỹ và chuẩn bị bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội trênnửa nước Trong giai đoạn này, trên lĩnh vực văn hoá văn nghệ đặt ra một sốvấn đề mới và xuất hiện những khó khăn nhất định Đảng lại kịp thời đưa ranhững giải đáp lý luận giúp quyết những vấn đề tư tưởng và nghệ thuật (vấn
đề Nhân văn, Giai phẩm, vấn đề mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, vềchủ nghĩa nhân đạo mới, về công tác lãnh đạo của Đảng với văn nghệ, vấn đềmiêu tả sự thật và phê bình xây dựng, v.v…)
Những phương hướng sáng suốt và kịp thời của Đảng nêu ra trong thời kỳ này
đã giúp văn nghệ sĩ tránh được những sai lầm, vấp váp, xác định rõ nhiệm vụ củavăn nghệ sĩ, lôi cuốn, cổ vũ các nhà văn nghệ ở miền Bắc cũng như miền Nam “rasức xây dựng một nền văn nghệ dân tộc, phong phú, tích cực góp phần xây dựngmột nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh” 9
Tháng 6/1960, Đảng tiến hành Đại hội lần thứ III, “Đại hội xây dựng Chủnghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”10 Đó làthời kỳ mà dân tộc đứng trước những thử thách to lớn nhưng cũng tràn đầyniềm tin vào thắng lợi cuối cùng Trong điều kiện lịch sử đó, Đảng lại càngquan tâm hơn đến đời sống tinh thần của nhân dân Báo cáo chính trị tại Đạihội III khẳng định: “Chúng ta phải xây dựng một nền văn nghệ mới có tínhchất dân tộc và nội dung xã hội chủ nghĩa phong phú Văn nghệ phải có tínhĐảng và tính nhân dân rõ rệt… Phải không ngừng nâng cao tính tư tưởng vàtính nghệ thuật của các tác phẩm văn nghệ, làm cho các tác phẩm đó trở thànhnhững vũ khí sắc bén trong việc xây dựng con người mới về tư tưởng và tình
văn hoá mới, việc phát động phong trào quần chúng rộng rãi làm văn nghệ có
ý nghĩa rất quan trọng”12
Sau Đại hội III, Trung ương đã ra một loạt các chỉ thị về công tác văn hoávăn nghệ: chỉ thị về công tác văn hoá trong quần chúng (ra ngày 3/1/1961),
9 TRƯỜNG CHINH - Về văn hoá và nghệ thuật, tập I Nxb Văn học H.1985 Tr199
10 ĐLĐVN (1960) VKĐHĐBTQ lần thứ III BCHTW Đảng lao động Việt Nam xuất bản 9-1960.Tr11.
11 S®d Tr 75
12 S®d Tr76
Trang 6chỉ thị về vấn đề tăng cường công tác xuất bản (ra ngày 1/10/1961), chỉ thị vềcông tác văn hoá văn nghệ trong tình hình mới (ra ngày 28/7/1965), v.v Từcác chỉ thị này của Trung ương, đã dần dần xuất hiện một nền văn hoá nghệthuật chống Mỹ cứu nước với hai chủ đề lớn: Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.Một điều đáng chủ ý là trong giai đoạn từ sau khi có chỉ thị về xuất bản, việc
ưu tiên xuất bản các sách kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin, những quanđiểm của Mác, Ăngghen, Lênin và văn hoá nghệ thuật đã tạo một bước ngoặttrong sự phát triển lí luận và phê bình nghệ thuật ở Việt Nam
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước ta bướcvào thời kỳ lịch sử mới Tại Đại hội IV, Đảng lại tiếp tục khẳng định và pháttriển những tư tưởng “biến mọi giá trị văn hoá thành tài sản của nhân dân vàtạo điều kiện để nhân dân trực tiếp sáng tạo ra mọi giá trị văn hoá”13 Trên cơ
sở những đòi hỏi tất yếu của cuộc sống cộng đồng, của quyền làm chủ tập thể,phải tôn trọng và đảm bảo các quyền công dân, bảo đảm sự phát triển phongphú của nhân cách, bồi dưỡng và phát huy sở trường và năng khiếu cá nhân,
tạo điều kiện cho mọi người “tự do tìm tòi và sáng tạo trên các lĩnh vực sản
xuất, hoạt động khoa học, kỹ thuật, văn hoá, văn học nghệ thuật "14
Đại hội V tiếp tục quan điểm của Đại hội IV, nêu rõ : “nền văn hoá mới là nềnvăn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhândân sâu sắc, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản” 15
Suốt trong những năm tháng từ sau Đại hội IV đến Đại hội VI, nhân dân
ta tiến hành xây dựng đất nước trong tình hình kinh tế xã hội vô cùng khókhăn Cách quản lý xã hội đã quen trong thời chiến trở nên lỗi thời khi hoàbình lập lại, sự kéo dài cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã tạo nên những trìtrệ trên các lĩnh vực hoạt động xã hội, những vấn đề kinh tế - xã hội của một
13 Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV ST H.1977 Tr 56.
14 Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V 3-1982.).
15
15 Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V 3-1982 Tr73.
Trang 7nước sau chiến tranh v.v đã tạo ra tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội.Tất cả những điều đó ảnh hưởng và được phản ánh vào hoạt động văn hoánghệ thuật; tâm trạng bi quan, hoang mang hoặc mất phương hướng xuấthiện, có nhiều dấu hiệu sa sút của nhiều mặt hoạt động văn hoá nghệ thuật vàđạo đức xã hội, có những biểu hiện tiêu cực trong sáng tác, lý luận, phêbình…
Đại hội VI, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật đã nhận
ra những thiếu sót, sai lầm, khuyết điểm sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã
hội trên cả nước trong hoàn cảnh mới Đại hội đã vạch ra đường lối đổi mới,
đáp ứng yêu cầu bức thiết của dân tộc và thời đại Về hoạt động văn hoá nghệthuật, Đảng xác định “tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng các hoạtđộng văn hoá, văn học, nghệ thuật; xây dựng nền văn hoá, văn nghệ xã hộichủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc” 16 Bên cạnh việc khẳng định các tư tưởngvăn nghệ trước đây,
“Đảng yêu cầu các văn nghệ sĩ trau dồi ý thức trách nhiệm công dân,
chiến sĩ, thực hiện chức năng cao quý: tạo nên những giá trị tinh thần, bồidưỡng tâm hồn và tình cảm, xây dựng nhân cách và bản lĩnh các thế hệ côngdân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội”.17
Thực hiện “quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần
“Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và vănhoá phát triển lên một bước mới” (Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 28-11-1987).Nghị quyết đã đánh giá một cách toàn diện, đúng đắn về tình hình hoạt độngvăn hoá nghệ thuật từ sau Cách mạng tháng Tám đến 1987 và các thành tựu,thiếu sót trên các mặt lãnh đạo, quản lý, sáng tác, lý luận phê bình… Nghịquết đã làm rõ hơn nhiều vấn đề lý luận về vai trò, bản chất, nhiệm vụ của vănhoá nghệ thuật trong giai đoạn cách mạng mới Những phương hướng chỉ đạo
16 Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V 3-1982 Tr222
17 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI ST.H.1987.Tr 130.
18 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI ST.H.1987 Tr 209.
Trang 8có tính chiến lược, những chính sách lớn được nêu ra trong nghị quyết, trong
đó có việc đề ra phương hướng và một số biện pháp cụ thể khắc phục nhữngnhược điểm thiếu sót trong lãnh đạo và quản lý văn hoá nghệ thuật, “đã tạođiều kiện cho văn hoá, nghệ thuật đạt nhiều thành tựu, đáp ứng một phần nhucầu hưởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân, đóng góp tích cực vào sựnghiệp đổi mới”19
Kế thừa và phát triển đường lối văn nghệ nhiều năm trước, Đại hội VIII tiếp tục
xác định “xây dựng nền văn hóa mới, tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong
phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ Phát huy vai trò văn hoá,nghệ thuật trong việc nuôi dưỡng, nâng cao tâm hồn Việt Nam”20
Sau 6 năm thực hiện Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, gần 2 năm thực hiệnnghị quyết Đại hội VII, Đảng lại có nghị quyết “Về một số nhiệm vụ văn hoá, vănnghệ những năm trước mắt” (ngày 14-1-1993) Cùng với sự khẳng định nhữngquan điểm đổi mới có tính nguyên tắc của Đảng trên lĩnh vực văn hoá văn nghệ,Nghị quyết đã chỉ ra một số nhược điểm của nghị quyết 05, những thiếu sót chungquanh việc phổ biến và thực hiện nghị quyết 05 Những tư tưởng chỉ đạo vànhững biện pháp thực hiện đối với văn hoá văn nghệ nước nhà
Tiếp tục đi theo những quan điểm được đề cập trong Nghị quyết 05 KhoáVII, Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định
“Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mụctiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng Việt nam”, xác định moị hoạtđộng văn hoá nghệ thuật phải trở thành bộ phận khăng khít của sự nghiệp đổimới trong giai đoạn hiện nay, Đảng đã chỉ rõ “Mọi hoạt động văn hoá nhằm xâydựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạođức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lònh nhân ái, khoan dung,tôn trong nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộngđồng và xã hội”21
19 Văn kiện hội nghị lần thứ 4 ban chấp hành trung ương khoá VII, tháng 2-1993 Tr51.
20 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thờikỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ST H.1991 Tr 9
21 VKĐHĐBTQ lần thứ IX NxbCTQG, H.2001, Tr114.
Trang 9Nhìn tổng quát, có thể thấy rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản Việt Nam trước sau đều coi văn hoá văn nghệ là bộ phận khăng khít
của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, coi văn hoá văn nghệ là một mặt trận và văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy; luôn luôn nhất quán
trong quan điểm xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, đưa hoạt động văn hoá nghệ thuật thực sự trở thành bộ phận khăng khít
của cách mạng Việt Nam Sự đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta
về vai trò của hoạt động văn hoá nghệ thuật được thể hiện trên những mặt chủyếu sau đây:
1.Hoạt động văn hoá nghệ thuật luôn bám sát và phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước, của dân tộc
Trong từng thời kỳ lịch sử, những sự kiện chính trị - xã hội quan trọng bao giờcũng là nội dung cơ bản của ý thức xã hội, chi phối tư duy xã hội và từng cá nhâncông dân - nghệ sĩ, là tiền đề và là cơ sở cho tư duy nghệ thuật, là mục tiêu phảnánh và phục vụ của mọi hoạt động văn hoá nghệ thuật, vì nghệ thuật là “một bộphận trong toàn thể sự nghiệp của toàn thể giai cấp vô sản, phải thành “một cáibánh xe nhỏ và một cái đinh ốc” trong một bộ máy dân chủ - xã hội vĩ đại, thốngnhất, do toàn đội tiên phong giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân điều khiển”.22
Văn hoá luôn luôn vận động, không ngừng vận động Các giá trị văn hoá
dù rất cao đẹp của thế hệ này, của thời đại này cũng không thể đáp ứng hoàntoàn cho nhu cầu của cuộc sống mới ở thế hệ sau, thời đại sau Từ thế hệ nàysang thế hệ khác, từ thời đại này đến thời đại kia đều có sự kế thừa, điềuchỉnh và phát huy các giá trị từng có để phù hợp với môi trường và điều kiệnđổi mới
Trong những năm tháng chiến đấu để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, ýthức tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, tất cả vì độc lập tự do đã trởthành nhịp đập, hơi thở, thành mệnh lệnh đối với tất cả mọi người Việt Namyêu nước Cả nước hoạt động dưới sự chi phối khắc nghiệt của quy luật chiến
22 V.I Lênin TT, T12, NxbST.H.1980, Tr123.
Trang 10tranh Cái bất bình thường của chiến tranh được chấp nhận cả trong đời sốngthường ngày cũng như trong sản xuất và công tác Khi “cả nước lên đườngxao xuyến bờ tre từng hồi trống giục”, khi toàn dân lao vào cuộc chiến đấusinh tử với kẻ thù để giữ nước và giành lại toàn vẹn đất nước thì độc lập dântộc là đỉnh cao nhất định hướng cho mọi hoạt động trong đó có hoạt động vănhoá nghệ thuật Sáng tác và biểu diễn về cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do củadân tộc đã là cảm hứng chủ dạo của mọi nghệ sĩ - chiến sĩ Nhu cầu lớn nhấtlúc đó là cổ vũ con người vượt qua trăm ngàn khó khăn để chiến đấu và giànhchiến thắng Phản ánh, tái tạo những hình tượng nghệ thuật cao đẹp nhằm cổ
vũ quân dân ta trong cuộc kháng chiến, đó là nhiệm vụ lịch sử cũng là nhucầu, là lương tâm, tình cảm của người nghệ sĩ gắn bó tha thiết và hiểu biết sâusắc cuộc sống chiến đấu và sản xuất của nhân dân “Với thành tựu đã đạtđược chủ yếu trong việc phản ánh hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc,văn học nghệ thuật nước ta xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong củanhững nền văn học, nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”23
Vị trí tiên phong của nền văn học nghệ thuật mà Đảng ta đánh giá, trướchết là sự đánh giá về tính chiến đấu, tinh thần cách mạng, ý thức về nghĩa vụ,trách nhiệm và lương tâm của các thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam, những người
đã góp phần phản ánh chân thật và hùng hồn chủ nghĩa anh hùng cách mạngcủa quân dân Việt Nam trong kháng chiến Lịch sử hoạt động văn hoá nghệthuật Việt Nam mãi mãi khắc ghi những chiến công - sáng tạo của những vănnghệ sĩ - chiến sĩ hào hứng ra mặt trận, có người đã anh dũng hy sinh như mộtngười lính chân chính; mãi mãi không quên những xưởng nghệ thuật sơn màilập ngay trong căn cứ cách mạng, những đoàn kịch nhỏ, những đội văn công,chiếu bóng phục vụ lưu động trên trận địa, trong chiến hào, dưới địa đạo…,
và cả những cuốn sách được mang trong ba lô chiến sĩ ra tuyến đầu Tổ quốc Qua thực tiễn hoạt động văn hoá nghệ thuật trong hai cuộc kháng chiếnĐảng ta cũng tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo, chỉ
23 Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV ST H.1977 Tr121.
Trang 11đạo, tổ chức hoạt động văn hoá nghệ thuật, đồng thời nhận rõ hơn những quanđiểm lệch lạc, sai trái cần đấu tranh phê phán để sự nghiệp văn hoá nghệ thuậtnước nhà ngày càng phát huy rực rỡ hơn vai trò của mình, đóng góp hiệu quảhơn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc Cần phê phán và loại bỏ những tưtưởng lệch lạc, phiến diện về hoạt động văn hoá nghệ thuật, xem hoạt độngvăn hoá nghệ thuật chỉ đơn thuần là một mặt của công tác tuyên huấn, chỉ làchuyện “cờ, đèn, kèn, trống”… những quan niệm đó là chưa thật sự nhận thứcđầy đủ về vai trò của văn hoá và hoạt động văn hoá nghệ thuật Nhận thứckhông đầy đủ đã dẫn đến việc lãnh đạo, tổ chức và sử dụng hoạt động văn hoánghệ thuật không đúng tầm, dẫn đến can thiệp không thích hợp vào quá trìnhsáng tạo và biểu diễn nghệ thuật: Đây là một hạn chế trong lãnh đạo văn hoávăn nghệ mà ngay từ năm 1957, Đảng đã tự phê bình: “Đảng Lao động ViệtNam nhận rằng có một số cán bộ chính trị của Đảng can thiệp vào việc lựachọn chủ đề, hình thức và cá tính văn nghệ sĩ” 24
phục tùng chính trị”26, một cách giản đơn, thô cứng, từ đó đã làm cho văn hoánghệ thuật chỉ tập trung khai thác những vấn đề trực tiếp liên quan đến nhiệm
vụ trước mắt, đến việc tuyên truyền các chủ trương chính sách một cách khôkhan, công thức, đến việc ca ngợi một chiều và thuyết minh giản đơn, đã vôtình tầm thường hoá hoạt động văn hoá nghệ thuật, làm nghèo đi bức tranhnghệ thuật, làm văn hoá nghệ thuật thiếu sức sống tự nhiên của nó
Từ Đại hội VI, chúng ta đã thấy xuất hiện trong văn kiện những dòng
“Văn học nghệ thuật phải không ngừng nâng cao tính đảng và tính nhân dân,
gắn bó với hai nhiệm vụ chiến lược” 27
Nói văn hoá nghệ thuật gắn bó với hai nhiệm vụ chiến lược, với đời sống
nhân dân và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, vừa tránh tạo nên sự
24 TRƯỜNG CHINH - Về văn hoá và nghệ thuật, tập I Nxb Văn học H.1985 Tr217.
25 CÁC MÁC - Bản thảo kinh tế triết học năm 1844.ST H.1962.
26 MÁC- ANGGHEN - Tuyển tập, tập I ST H.1980.
27 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI ST.H.1987 Tr130.
Trang 12nhìn nhận giản đơn, sai lệch về hoạt động văn hoá nghệ thuật và vai trò củahoạt động văn hoá nghệ thuật mà vẫn nhất quán với quan điểm của Đảng vàNhà nước ta coi văn hoá nghệ thuật nghệ là bộ phận khăng khít của cáchmạng xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới hiện nay.
2 Hoạt động văn hoá nghệ thuật góp phần nâng cao trình dộ thẩm mỹ
và nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân.
Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người luôn có nhu cầu hướng tới cái đẹp.Đúng là nhân tố hàng đầu của văn hoá là sự hiểu biết song lịch sử cũng chothấy mỗi bước tiến của xã hội là một bước con người vươn tới cái đep, “nhàonặn hiện thực theo quy luật của cái đẹp” (Mác) Chính nhu cầu và khả năngvươn tới cái đẹp là một trong những động lực giúp con người tạo nên nhữngtiến bộ về vật chất và tinh thần trong cuộc sống, cũng như phát triển nhậnthức và trí tuệ là một động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển.Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng ta luôn luôn thể hiện sự coi trọngbản chất xã hội và đặc trưng của hoạt động văn hoá nghệ thuật, tôn trọng tính
tư tưởng, tính nghệ thuật, chú trọng đến chức năng giáo dục, nhận thức cũngnhư chức năng thẩm mỹ của hoạt động văn hoá nghệ thuật Báo cáo chính trịcủa Ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
đặt yêu cầu: “Phải không ngừng nâng cao tính tư tưởng và tính nghệ thuật của
tác phẩm văn nghệ làm cho các tác phẩm đó trở thành những vũ khí sắc béntrong việc xây dựng con người mới về tư tưởng và tình cảm” “góp phần giáodục và động viên nhân dân đấu tranh cho cách mạng xã hội chủ nghĩa và cho
sự nghiệp thống nhất nước nhà”28
Trong khi nhấn mạnh chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, khẳngđịnh nguyên tắc cơ bản là văn hoá văn nghệ chịu sự lãnh đạo của Đảng, Đảng
ta không quy các hoạt động văn nghệ vào khuôn với các hoạt động khác
28 VKĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của ĐLĐVN BCHTW Đảng lao động Việt Nam xuất bản 9-1960 Tr75