1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN CHỦ ĐỘNG đấu TRANH làm THẤT bại mọi âm mưu THỦ đoạn PHÁ HOẠI KHỐI đại đoàn kết dân tộc ở nước TA HIỆN

15 318 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 283 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước. Cùng chung vận mệnh sinh tồn, các tộc người ở nước ta đã sớm đoàn kết, cố kết “chung lưng đấu cật” để chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, xây dựng và phát huy, trở thành nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Vì vậy, các thế lực thù địch luôn xác định chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là là “huyệt” nhạy cảm, trọng điểm “ưu tiên” chống phá cách mạng nước ta.

Trang 1

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT

DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước Cùng chung vận mệnh sinh tồn, các tộc người ở nước ta đã sớm đoàn kết, cố kết “chung lưng đấu cật” để chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, xây dựng và phát huy, trở thành nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Vì vậy, các thế lực thù địch luôn xác định chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là là “huyệt” nhạy cảm, trọng điểm “ưu tiên” chống phá cách mạng nước ta

Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống; các dân tộc đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước Hiện nay,

nước ta có 54 dân tộc cùng sinh sống, dân số giữa các dân tộc không đều nhau Dân

tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm khoảng 87% dân số, các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 13% dân số của cả nước Số dân của các dân tộc không đồng đều: có 4 dân tộc có dân số trên 1 triệu người (Tày, Thái, Khơme, Mường); 4 dân tộc có số dân từ

60 vạn đến dưới 1 triệu (Hoa, Nùng, Dao, Mông); 9 dân tộc có dân số từ 10 vạn đến dưới 60 vạn người; 19 dân tộc có số dân từ 10 nghìn đến 100 nghìn người; 12 dân tộc có dân số từ 1 nghìn đến dưới 1 vạn người; 5 dân tộc có dân số từ 301 đến

840 người (Ơ Đu, Rơ Măm, Brâu, PuPéo, Si La)

Các dân tộc ở nước ta đã gắn bó lâu đời trong sản xuất, chiến đấu đã bồi đắp nên truyền thống yêu nước, anh hùng, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, giàu lòng nhân ái,

tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau Trong lịch sử dân tộc ta không có các cuộc chiến tranh

Trang 2

dân tộc, chiến tranh tôn giáo Trái lại, trước họa ngoại xâm, các tộc người không phân biệt miền xuôi, miền ngược, đa số và thiểu số đều đoàn kết chiến đấu để giành

và giữ độc lập dân tộc

Từ khi có Đảng, có chế độ xã hội chủ nghĩa, các giá trị truyền thống đó đã được phát huy cao độ, giúp cho dân tộc ta giành được những thắng lợi vĩ đại, vẻ vang Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhvào điều kiện thực tế của nước ta hiện nay, quan điểm, chính sách dân tộc

nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là:

Một là, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu

dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách; giải quyết vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam

Hai là, “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ

nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dận tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”1 Mục tiêu chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc; phát huy tinh thần cách mạng và năng lực sáng tạo của các tộc người trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Ba là, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và an ninh

-quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi, gắn tăng trưởng kinh tế với

giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số;

1Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011,

tr 81.

Trang 3

giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự phát triển chung các cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất

Bốn là, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền

núi; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương

và sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước

Năm là, thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân

và toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị, nhưng trước hết là sự nghiệp của chính đồng bào các tộc người định cư ở đó Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế cần xác định thực thi tốt các chủ trương, kế hoạch, chính sách kinh tế - xã hội phù hợp, hướng dẫn, giúp đỡ các tộc người ổn định sản xuất, nâng cao đời sống vật chất - tinh thần, giữ vững ổn định chính trị - xã hội Đồng bào các tộc người đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp

Tóm lại nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ,

truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dận tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”2

Thực hiện quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta, trong những năm qua khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta không ngừng được củng cố.

Công cuộc Đổi mới đã đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Tổng sản

phẩm trong nước (GDP) năm 2010 đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011,

tr 81.

Trang 4

2000 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 42,9% GDP, tăng gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001 - 2005 Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội đã có bước phát triển vượt bậc, nhất

là bưu chính, viễn thông, dịch vụ, giao thông

Giáo dục, đào tạo, được quan tâm; quy mô giáo dục tiếp tục phát triển, xã hội hoá giáo dục, đào tạo thu được thành tựu bước đầu; trước 1945, hơn 90% dân ta mù chữ mà đến năm 2010 cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở3

Bộ mặt của đất nước và đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao Trước Đổi mới, GDP bình quân đầu người chưa tới 300 USD/ năm, nay đã tăng gấp 4 lần, đạt 1168 USD/ năm Từ một nước thiếu ăn triền miên trước Đổi mới, nay chúng ta xuất khẩu lương thực nhất nhì thế giới Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị còn dưới 4,5%,

tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 9,5%, chỉ số phát triển con người tăng lên, từ 0,683 vào năm 2000, lên 0,733 vào năm 2008, xếp thứ 100/177 nước thuộc nhóm trung bình cao, hoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu Thiên niên kỷ(MDG) do Liên hợp quốc đặt ra cho các nước đang phát triển đến năm 20154

Sức mạnh về mọi mặt được tăng cường, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao Dân chủ xã hội chủ nghĩa được mở rộng, tiến bộ, sức mạnh khối đoàn kết dân tộc được củng cố Hiệu quả tổ chức, hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được nâng cao Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng từng bước được củng cố, nâng cao Quốc phòng, an ninh, đối ngoại được tăng cường góp phần tạo thế và lực mới của đất nước Đã tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới5

Quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các tộc người tiếp tục được củng cố, tăng cường Trong khi nhiều nước trên thế giới, như

các nước Bắc Phi, Mỹ La tinh và cả ở Đông Nam Á… xung đột, chia rẽ, li khai dân tộc xảy ra liên miên; các nước trong khối Thị trường chung Châu Âu khủng hoảng

nợ công đến mức nguy hiểm, thậm chí như nước Mỹ nợ công lên đến cả nghìn tỉ,

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011,

tr.153

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011,

tr.154

5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011,

tr.177

Trang 5

có lúc nguy cơ Chính phủ phải ngừng hoạt động vì … thiếu tiền thì ở nước ta tình hình chính trị xã hội ổn định, các tộc người bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển tiếp tục được củng cố, tăng cường

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vùng dân tộc từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá Tốc độ tăng trưởng GDP của các tỉnh miền núi luôn đạt mức bình quân 8 đến 10%/ năm trong suốt nhiều năm Số hộ đói nghèo hàng năm giảm khoảng 4-5% Kinh tế trang trại phát triển nhanh cả về số lượng và quy mô Điển hình ngay từ năm 2000 ở xã Tân Châu, Huyện Di Linh, Tỉnh Lâm Đồng có 1.395 hộ thì đã có 20% hộ thu nhập trên 500 triệu đồng/ hộ/ năm, cả xã có 30 ô tô tải, 306 máy kéo,

717 xe máy… hộ nghèo chỉ còn 5%

Cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống vùng dân tộc được xây dựng ngày càng nhiều Hệ thống ruộng nước, ruộng bậc thang được mở rộng;

hệ thống thuỷ lợi phát triển mạnh: Việt Bắc có 70-80%, Tây Bắc 60%, Tây Nguyên 90% diện tích ruộng được các công trình thuỷ lợi tưới

Mạng lưới giao thông phát triển khá: gần 100% xã có đường ô tô tới trung tâm Xưa từ Hà Nội lên Lai Châu mất 1 tháng thì nay chỉ 1 ngày; lên Mèo Vạc, Lũng Cú cũng chỉ mất 2 ngày… Đường mở đến đâu là kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng phát triển đến đó Đây là một thành công lớn của Đảng, Nhà nước

ta, đem lại lợi ích toàn diện cho đồng bào

Giáo dục, đào tạo vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc được quan tâm; quy mô giáo dục tiếp tục phát triển, xã hội hoá giáo dục, đào tạo thu được thành tựu bước đầu: 100% số xã đặc biệt khó khăn có trường tiểu học, nhà mẫu giáo; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 90-95%; đến năm 2010, cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Đời sống văn hoá của đồng bào được nâng cao: 90% xã có điện thoại, 80% số hộ được xem truyền hình, 90% được nghe đài phát thanh bằng nhiều tiếng các dân tộc; gần 100% xã vùng dân tộc có nhà văn

Trang 6

hoá, bưu điện văn hoá; văn hoá truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy

Việc khám, chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa được quan tâm hơn : gần 100% số xã có cán bộ y tế trực ; 93,5% số xã có trạm y tế; trên 95% trẻ

em được tiêm chủng theo Chương trình tiêm chủng mở rộng Các loại bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi

Hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc và miền núi bước đầu được tăng cường

và củng cố Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đã có bước trưởng thành, tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị các cấp ngày càng cao Hàng vạn sinh viên dân tộc thiểu số được đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp theo chế

độ cử tuyển Tình hình chính trị, trật tự xã hội vùng dân tộc cơ bản ổn định; an ninh, quốc phòng được giữ vững6

Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được những kết quả to lớn Theo kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2012, được công bố ngày 4-3-2014, của Tổng cục Thông kê, thu nhập bình quân mỗi người/tháng của đồng bào dân tộc tăng nhanh: vùng Tây Nguyên tăng 1,5 lần, Đông Bắc bộ tăng 1,4 lần, Tây Bắc 1,3 lần Tỷ lệ giảm nghèo trong các dân tộc thiểu số giảm từ 24,3 (năm 2010) xuống còn 19,2

(năm 2012) Mức độ trâm trọng của hộ nghèo giảm từ 11,3% (năm 2010) xuống

còn 8,2% (năm 2012)7 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn được cài thiện rõ rệt, với 97,9% số xã trên có đường ô-tô đến trung tâm xã; 96,4% có điện; 94,3% có trường tiêu học; 86,4% có điểm bưu điện - văn hóa, Văn hoá phát triển phong phú hơn; đời sống văn hoá của đồng bào được nâng cao một bước; văn hoá truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy Các loại bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi; việc khám, chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa được quan tâm hơn

6 Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX về công tác dân tộc, ngày 29 tháng 7 năm 2009.

7 Tổng cục thống kê; Khảo sát mức sống dân cư, năm 2014

Trang 7

Hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc bước đầu được tăng cường và củng cố; chính trị, trật tự xã hội cơ bản ổn định; an ninh, quốc phòng được giữ vững

Tômát Gian-đơn (Thomas Jandl), TS người Mỹ đã nhiều lần đến Việt Nam, nhận xét: Việt Nam đã rất thành công và đạt nhiều tiến bộ trong giải quyết vấn đề liên quan đến quyền con người, như chương trình xoá đói giảm nghèo và hoàn thành sớm Mục tiêu Thiên niên kỷ Nhìn vào tổng thể, có thể nói Việt Nam đã đảm bảo tốt hơn các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cho người dân… Việt Nam được thế giới biết đến như một tấm gương về tiến độ thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, đặc biệt là mục tiêu xoá đói, giảm nghèo8 Đây là thành công lớn do công cuộc Đổi mới đem lại, mà những người mặc cảm, định kiến nhất đối với chúng ta cũng không thể nào phủ nhận được

Bên cạnh những thành tựu trên, quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta còn nhiều hạn chế, yếu kém cần khắc phục:

Quan hệ dân tộc ở Việt Nam cũng tiềm ẩn những vấn đề phức tạp: Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các tộc người; vấn đề di dân

tự do, tranh chấp về quyền lợi giữa các tộc người; những vấn đề phức tạp mới nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội; tình trạng quan liêu, tham nhũng, suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, yếu kém năng lực quản lý xã hội của cán bộ công chức trong thực hiện chính sách kinh tế, xã hội và chính sách dân tộc

Đặc biệt, kinh tế vùng dân tộc còn chậm phát triển, lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế; môi trường sinh thái đang tiếp tục bị suy thoái… Chênh lệch

về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng; chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp, công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn; tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển; bản sắc tốt đẹp trong văn hoá của các dân tộc thiểu số đang bị mai một

8 Báo Quân đội Nhân dân ngày 13/6/2011

Trang 8

Một số dân tộc có tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn rất cao, như dân tộc

Mông: 98,7%, Khmer: 97,7%, Thái: 94,6%; các dân tộc thiểu số khác: 95,95% Lao động đã qua đào tạo thi chủ yếu ở trình độ thấp, sơ cấp: 2,54%, trung cấp: 4.8%, cao đẳng 1,43%, đại học trở lên chiếm 4,81%

Hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều vùng dân tộc còn yếu: trình độ của độ ngũ cán bộ còn thấp, công tác phát triển Đảng chậm; cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi hoạt động chưa hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào

Ở một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường, trái pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán của nhân dân; một số nơi đồng bào bị các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, kích động, lôi kéo vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Vấn đề nghèo, chênh lệch giàu nghèo, Tỷ lệ hộ nghèo của đồng bào dân tộc

thiểu số (21%) cao gấp 3,44 lần so với tỷ lệ nghèo chung của cả nước (5,8%) và gấp gần 6 lần tỷ lệ nghèo của dân tộc Kinh9 Hết năm 2013, cả nuớc còn 2.068 xã

và 3.506 thôn đặc biệt khó khăn Thu nhập bình quân/ người ở các xã này chỉ bằng 1/6 thu nhập bình quân/người của cả nước; Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo bình quân ờ các xà đặc biệt khó khăn có đông đồng bào dân tộc thiểu sổ sinh sống là trên 45% Chênh lệch mức sống 8 lần, Tây Nguyên 12 lần.- 30 lần

Thiếu đất sản xuất, đến nay, còn 326.909 hộ thiếu đất, trong đó số cần hỗ

trợ đất sản xuất là 293.934 hộ, số thiếu đất ở là 32.9745 hộ10 Uớc tính, cứ 5 hộ

dân tộc thiểu số thi có 1 hộ không có và thiếu hoặc không có đất sản xuất

Mai một văn hoá truyền thống, ngôn ngữ 5 dân tộc dưới 1.000 người

người (Pu Péo, La Ha, ơ-đu, Brâu, Rơ-măm) đang mất dấn; 16 dân tộc thiểu sổ

có số dân dưới 10.000 người của nước ta cũng khó có thể duy trì được ngôn ngữ

9

Tiếp cận nghèo đa chiều - chìa khóa để giảm nghèo bền vững, www.giamngheo olisa.gov.vn, 2014.

10 Báo cáo số 43?BC-UBDT ngày 18-4-2014, của UBDT về việc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số, giai đoạn 2005 - 2012

Trang 9

của dàn tộc mình Trang phục bị Kinh hóa, Tây hóa

Chất lượng nguồn nhân lực: tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn rất cao 89,94% chưa qua đào tạo (3thang), như dân tộc Mông: 98,7%, Khmer: 97,7%, Thái: 94,6%; các dân tộc thiểu số khác: 95,95% Lao động đã qua đào tạo thi chủ yếu ở trình độ thấp, sơ cấp: 2,54%, trung cấp: 4.8%, cao đẳng 1,43%, đại học trở lên chiếm 4,81%

Vấn đề cán bộ, trong 22 bộ duy nhất 1 bộ có người dân tộc thiểu số có thứ trưởng Người dân tộc thiểu số chiếm 14,3% dân số mà công chức 5%, viên chức 1,8%

Các tệ nạn xã hội gia tăng, diễn biến phức tạp ở vùng dẫn tộc thiểu số

Tây Bắc có số người nghiện ma tuý rất lớn cao gấp 10 lần so với tỷ lệ bình quân chung cả nước Trong số 10 tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân cao nhất năm

2012, có 7 tỉnh thuộc miền núi phía Bắc

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sợi dây kết nối, quan hệ đông tộc giữa đồng bào các dân tộc trong và ngoài nước ngày càng thuận lợi, dễ dàng hơn Các thế lực thù địch sẵn sàng tạo cớ, can thiệp vào công việc nội bộ hòng gây bất ổn, chia cắt thống nhất, toan vẹn lãnh thổ và chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa Hiện nay, âm mưu của các thế lực thù địch là lợi dụng vấn đề dân tộc làm mũi nhọn tiến công thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá từ bên trong, thúc đẩy quá trình tự diễn biến với sự kết hợp từ bên ngoài nhằm làm chuyển biến chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Mục tiêu của chúng nhằm:

Một là, tạo ra sự mất đoàn kết, mâu thuẫn, xung đột giữa các dân tộc thiểu

số với người kinh và giữa các dân tộc thiểu số, làm rạn nứt mối quan hệ dân tộc truyền thống tốt đẹp ở nước ta

Hai là, khơi dậy, kích động tư tưởng chống đối các phần tử bất mãn, tiêu

cực, làm cho chúng hướng ra ngoài, tạo lực lượng từ bên trong để khi có thời cơ kết hợp với lực lượng bên ngoài chống phá sự nghiệp cách mạng

Trang 10

Ba là, làm suy giảm niềm tin của đồng bào đối với Đảng, tạo sự bất bình

trong nhân dân, gây mất ổn định chính trị - xã hội, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam

Để thực hiện âm mưu phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, chúng đã và đang sử dụng các thủ đoạn chủ yếu là:

- Tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, trực tiếp là quan điểm, chính sách dân tộc Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại như đài RFA, một số đài khác bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc, mạng Interne… để phát tán tài liệu phản động, sai trái; khai thác tối đa công cụ truyền miệng để tung tin thất thiệt, sai lệch về đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

- Kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai… như đòi

cái gọi là quyền “tự trị” của các dân tộc thiểu số, thành lập “Vương quốc Mông độc lập”, “nhà nước Đê ga độc lập”, “quốc gia Khơ me Crôm”… Triệt để lợi dụng sự chênh lệch giữa các dân tộc về chính trị kinh tế - xã hội, sự khác nhau về văn hoá, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo giữa các dân tộc, những tồn tại của lịch sử để tuyên truyền kích động đòi ly khai, tự trị và tìm cách luật pháp hóa, quốc tế hóa vấn đề dân tộc để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, như tổ chức kỷ niệm cái gọi là “lễ mất đất” (ngày 04 tháng 6) của một nhóm người Khơme hải ngoại, “ngày thành lập FULRO” (ngày 20 tháng 09) tung hô cái gọi là “vấn đề người Thượng ở Tây Nguyên”, “vấn đề người Chăm”, “vấn đề người Khơ-me”, “vấn

đề người Mông”

- Dùng tiền, vật chất để mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc chống đối chính quyền, di cư và vượt biên trái phép, gây bất ổn chính trị - xã hội Thâm độc hơn, chúng gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo và nhân quyền gây xung đột, bạo loạn, tạo các “điểm nóng” để vu khống Việt Nam đàn áp các dân tộc,

Ngày đăng: 02/12/2016, 19:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w