1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu

18 249 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu Sáng kiến kinh nghiệm quy tụ chủ ngữ về 1 ký hiệu

Trang 1

Phần 1: Đặt vấn đề

1 Lý do chọn đề tài.

Chỳng ta đang hũa nhập giữa thế giới cụng nghệ, thụng tin hiện đại hiện nay do vậy để cú được những kiến thức, chiếm lĩnh được khoa học kĩ thuật hiện đại một điều tất yếu là phải biết dựng ngoại ngữ núi chung, Tiếng Anh núi riờng Hơn thế nữa tiếng Anh được coi là ngụn ngữ thứ hai trờn thế giới Tiếng Anh cũn là ngụn ngữ vận hành của hầu cỏc hệ thống mỏy trờn thế giới Hơn thế nữa ngày nay đất nước ta đó hội nhập với cỏc nước trờn thế giới nờn việc học tiếng Anh là điều vụ cựng hữu dụng cho cỏc em học sinh sau này Những năm gần đõy Đảng cũng như Nhà nước và cỏc ban ngành xó hội đều quan tõm đến việc học tiếng Anh trong cỏc trường phổ thụng Tuy nhiờn để học được tốt một ngoại ngữ nào đú thỡ khụng phải là điều dễ dàng mà ai cũng cú thể biết ngay được Vậy làm thế nào để học tốt một ngoại ngữ Theo tụi cú những yếu tố sau: Khả năng nghe, núi, đọc, viết tuy nhiờn là phải biết sử dụng ngụn ngữ đỳng ngữ phỏp của ngụn ngữ đú Với tiếng Anh là loại ngụn ngữ biến hỡnh khỏc hẳn với tiếng Việt của Việt Nam chỳng ta Hơn thế nữa lượng từ mới rất nhiều Do vậy vấn đề học ngữ phỏp ở mụn tiếng Anh là khỏ phức tạp và là vấn đề thiết yếu trong học tiếng Anh Ở lần nghiờn cứu này, tụi mạnh dạn đưa ra một số phương phỏp giỳp học sinh học ngữ phỏp trong trường THCS được dễ dàng hơn

2 Mục đớch nghiờn cứu

Giỳp học sinh nắm được một số phương phỏp học, túm lược lại những kiến thức ngữ phỏp mà người học đó học để ghi nhớ

3 Khỏch thể và đối tượng nghiờn cứu.

Do đặc điểm học sinh ở các lớp không đồng đều về

nhận thức cũng nh học lực nên tôi đã áp dụng triệt để phơng

pháp này ở lớp 6A

* Lớp 6A: Tổng số học sinh: 28, Số học sinh khá giỏi chiếm

40%, còn lại là học sinh trung bình, yếu

4 Giả thuyết khoa học.

Việc cú được cỏc phương phỏp đỳng, túm lược lại kiến thức ngữ phỏp bằng cỏch “quy tụ chủ ngữ bằng một ký hiệu tự người học quy định và nhúm từ loại” cho mụn tiếng Anh, giỳp học sinh ghi nhớ ớt mà học được nhiều

5 Nhiệm vụ nghiờn cứu.

Nghiờn cứu cỏc phương phỏp học ngữ phỏp và túm lược lại ngữ phỏp theo phương phỏp “quy tụ chủ ngữ bằng ký hiệu tự người học quy định và nhúm từ loại” là điều cốt yếu để ghi nhớ lại những kiến thức theo một logic hợp lớ, vững chắc

Trang 2

6 Ph ạm vi nghiên cứu.

- Ý tưởng của kinh nghiệm này xuất phát từ việc sử dụng thường xuyên các

phương pháp học tập, tóm lược lại kiến thức bằng cách “quy tụ chủ ngữ bằng ký hiệu tự người học quy định và nhóm từ loại” trong những tiết học ở lớp 6A-Trường PTDT BT THCS Hộ Đáp

- Đề tài này rộng, phong phú, đa dạng nên tôi chỉ đi sâu nghiên cứu hai phương pháp chính để giúp học sinh ghi nhớ nhanh những kiến thức đã học: Phương pháp đưa chủ ngữ về dạng ký hiệu chung, phương pháp ghi nhớ chi tiết liên quan đến từ loại

7 Ph ương pháp nghiên cứu.

- Quan sát, tìm hiểu tình hình học tập cũng như trình độ tiếp thu của từng đối tượng học sinh trong các giờ dạy cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh có áp dụng một số phương pháp tóm lại ngữ pháp để củng cố kiến thức cho học sinh và để học sinh ghi nhớ

- Đánh giá, nhận xét thái độ học tập, khả năng tiếp thu kiến thức, sự hứng thú và tính sáng tạo của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức

8 Cấu trúc của đề tài.

Các phần chính

Bìa

Trang phụ bìa

Mục lục

Phần 1 Đặt vấn đề ( Lý do chọn đề tài )

Phần 2 Giải quyết vấn đề ( Nội dung sáng kiến kinh nghiệm )

      Chương 1 Cơ sở lý luận của vấn đề

      Chương 2 Thực trạng của vấn đề

      Chương 3 Đề xuất một số biện pháp thực hiện nhằm giải quyết vấn đề Phần 3 Kết luận và kiến nghị

Kết luận

Kiến nghị 

Trang 3

Phần 2: Nội Dung Chương 1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển kinh tế xã hội đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân, vì lẽ đó sẽ không quá khi coi rằng giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển

Có thể khẳng định không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người cũng như đối với nền kinh tế và văn hóa Chính nhờ giáo dục mà các di sản về tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật của thế hệ trước có thể được thế hệ sau lĩnh hội và đưa lên tầm cao mới, qua thời gian các di sản này được tích lũy ngày càng phong phú làm cho xã hội ngày càng đi lên Xác định được tầm quan trọng đó của giáo dục trong văn kiện hội nghị TW4 - Khóa VII đã khẳng định “ Giáo dục là chìa khóa để mở cửa tiến vào tương lai” Cũng chính

vì tinh thần đặc biệt coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp Công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước Đảng ta đã chỉ rõ vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục và đào tạo, đồng thời chỉ rõ sứ mệnh của nó trong giai đoạn hiện nay: “Cùng với khoa học công nghệ giáo dục là quốc sách hàng đầu!”

-“Nhiệm vụ của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Như vậy chúng ta có thể thấy rằng giáo dục đóng một vai trò rất to lớn trong quá trình đưa nước ta “sánh ngang với các cường quốc nam châu” như lời Bác Hồ đã căn dặn

Nhằm đào tạo nên thế hệ người của thời đại công nghiệp hóa- hiện đại hóa của đất nước hiện nay và thời đại bùng nổ thông tin trong bối cảnh toàn cầu Làm thế nào để có thể đi tắt đón đầu, để con người Việt Nam có thể vươn lên tầm cao trí tuệ thế giới? Phải đầu tư, phát triển giáo dục, phải biết ngoại ngữ

là một vấn đề tất yếu Ngoại ngữ có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo và trong sự phát triển của đất nước Không những vì biết ngoại ngữ là yêu cầu tất yếu của lao động kỹ thuật cao nhằm đáp ứng những quy trình công nghệ thường xuyên được đổi mới, mà biết ngoại ngữ cũng là một năng lực cần thiết đối với người Việt Nam hiện đại

Việc dạy và học trong nhà trường hiện nay, đã có nhiều khởi sắc, điều kiện cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đã được trang bị đầy đủ hơn, đội ngũ giáo viên chuẩn hoá cao Đặc biệt phong trào đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên và phương pháp học của học sinh được đẩy mạnh, đa số giáo viên có sáng tạo biết lựa chọn phương pháp phù hợp, phát huy được tính tích cực của học sinh Nhưng thực tế, như chúng ta đã biết trong rất nhiều năm trước đây, theo phương pháp dạy học cổ truyền ở trong lớp thầy giáo là trung tâm, là người nặng

nề về truyền đạt kiến thức, chưa rèn luyện được cho học sinh cách học tập tích cực, cách sử dụng kiến thức, cách nắm bắt vấn đề chủ động Phương pháp giảng chủ yếu như vậy đã ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng nhận thức độc lập của học sinh ở tất cả các môn học núi chung và đặc biệt là môn ngoại ngữ- một môn học

có những đặc thù riêng là học sinh được rèn luyện độc lập nhiều càng tốt và trong giờ học, học sinh phải được tạo điều kiện sử dụng ngôn ngữ theo chính khả năng của mình Như vậy, phương pháp đổi mới trong dạy và phương pháp học ngoại ngữ là điều cần thiết giúp cho học sinh học tập tích cực Để đạt được mục đích đó trong một giờ học ngoại ngữ thì giáo viên là người tạo ra cho học

Trang 4

sinh thói quen noi theo các chủ điểm tình huống do giáo viên tạo ra cho tiết học diễn ra “ Nhẹ nhàng, sinh động, hiệu quả”

Chương 2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu.

Đứng trước một vấn đề dạy và học đó tôi đã suy nghĩ để tìm ra một phương

pháp dạy quy tụ ngữ pháp theo nhóm cho cả học sinh và giáo viên Những việc làm đó tôi đã viết thành phương pháp dạy tóm lược ngữ pháp trong một tiết học Dạy một bài cấu trúc ngữ pháp cho học sinh, sau cùng hướng dẫn học sinh tóm lược lại kiến thức ngữ pháp mà các em học sinh đã học Việc này giúp cho các em học sinh phải ghi nhớ ít mà học được nhiều Giúp các em biết cách tóm lược những kiến thức đã học không chỉ cho môn tiếng Anh mà còn cho nhiều các môn khác nữa

Để làm được điều này tôi đã gặp được nhiều thuận lợi và có một số khó khăn cụ thể như sau:

Thuận lợi:

- Nhà trường rất quan tâm đến việc giảng dạy bộ môn tiếng Anh, tạo điều kiện tốt cho giáo viên và học sinh như: Đài đĩa, sách giáo khoa, sách tham khảo, … , lớp học được trang bị đầy đủ bàn ghế, thiết bị chiếu sáng …

- Tập thể: Tổ, nhóm chuyên môn cùng bàn bạc trao đổi, góp ý để có được các bước tiến hành bài dạy tốt hơn

- Tập thể học sinh đoàn kết, ngoan ngoãn và có ý thức học tập

- Bản thân tôi thực sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu và học hỏi thêm các đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy

Khó khăn:

- Nhìn chung trình độ nhận thức của các em chưa đồng đều, điều kiện và môi trường sống của các em chưa đủ để giúp các em học tập tốt

- Phần lớn các em chưa chuyên cần, dẫn đến việc các em học trước quên sau và

đó là nguyên nhân chính làm cho chất lượng học tập của các em chưa cao

- Một số em tuy rất chăm chỉ học tập song chưa có phương pháp học hiệu quả,

có thể tiếp thu kiến thức từng bài tốt nhưng chưa biết cách tổng hợp và vận dụng các kiến thức của bản thân để tóm lược lại cấu trúc ngữ pháp sau mỗi bài giảng của các thầy, cô giáo

Chương 3 Đề xuất một số biện pháp

1 Nội dung:

Có câu: “Học cốt để hiểu, không cứ ở nhiều (Quý hồ tinh, bất quý hồ đa)” Con người khác với con vật ở khả năng tư duy và đầu óc suy nghĩ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người để hình thành xã hội Trong quá trình học Tiếng Anh, bốn kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết luôn luôn được chú ý đến nhiều hơn nhưng học các cấu trúc ngữ pháp lại là phần quan trọng nhất trong khi giao tiếp hay khi viết các văn bản Theo tôi, nên có một số phương pháp nào đó để học ngữ pháp được tốt hơn

a Việc tiếp xúc với Tiếng Anh: Cần phải tính đến cả thời gian lẫn mức

độ tiếp xúc với Tiếng Anh Người học càng có nhiều thời gian tiếp xúc với Tiếng Anh thì càng nắm chắc được các kiến thức ngữ pháp hơn Người học cũng

sẽ đạt được nhiều tiến bộ hơn nếu được rèn luyện ngữ pháp qua các cách tóm lược lại ngữ pháp tiếng Anh

Trang 5

b Tuổi của người học: Người học ngoại ngữ cần phải có tư duy tốt, biết

suy nghĩ và biết tóm tắt các sự kiện cũng như các câu chuyện trong các bài văn, bài thơ vì vậy ở lứa tuổi từ lớp 6 là thích hợp giúp cho việc hình thành các kỹ năng tóm lược những gì mình đã học Sau đến các lứa tuổi lớn hơn như từ lớp 7 đến lớp 9 sẽ nâng cao hơn khả năng tóm lược ngữ pháp

c Sự chuyển di của tiếng mẹ đẻ: Do tiếng mẹ đẻ của người học có

những kiểu ngữ pháp khác so với tiếng Anh nên người học như bắt đầu một kiểu kiến thức ngữ pháp khác hẳn với những gì mà người học đã được học từ bé Hơn thế nữa tiếng mẹ đẻ của người học là dạng ngôn ngữ bất biến mà tiếng Anh lại là ngôn ngữ biến hình Người học ban đầu chưa biết nhiều về loại ngôn ngữ này nên khá khó khăn trong truyền đạt kiến thức Ví dụ: Ở tiếng Việt: 1 quả trứng  2 quả trứng (Từ “quả trứng” vẫn giữ nguyên)

Ở tiếng Anh: 1 egg  2 eggs (từ “egg” phải thêm “s” thì mới đúng ngữ pháp)

Hoặc: Tiếng Việt: Hàng ngày anh ấy đi bộ đi học  Hôm qua anh ấy đi bộ đi học

Tiếng Anh: He goes to school on foot everyday  He went to school on foot yesterday

Ở tiếng Việt từ đi không có gì thay đổi trong cả hai câu Tuy nhiên ở tiếng Anh

thì “goes  went” khi ở hai thời điểm khác nhau.

d Khả năng tóm lược của người học: Phần lớn các em đã biết được cách tóm

tắt lại các nội dung như: Truyện, thơ, hò, vè qua môn văn, tóm lược lại các công thức trong các môn như: Toán, lý

e Động cơ học tập của người học và sự quan tâm của họ đối với việc tóm lược lại kiến thức đã học

Đây là một yếu tố rất quan trọng trong việc hướng dẫn người học tóm tắt lại các hiện tượng ngữ pháp mà người học đã được học Nếu người học chủ động tiếp thu kiến thức bằng cách tóm tắt lại các nội dung mà mình đã học thì hiệu quả sẽ rất cao trong quá trình học tập

f Thái độ và cảm nhận: Thái độ của người học đối với ngôn ngữ mà họ

đang học

cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến phương pháp tóm lược ngữ pháp này Thái độ học tập của người học càng tốt thì việc tóm lược lại nội dung đã học càng tốt vì

họ cố gắng tập trung nhóm cách kiến thức về gắn gọn để ghi nhớ

2 Kinh nghiệm trong ph ươ ng pháp tóm tắt nội dung ngữ pháp đã học

KNOWLEDGE SUMMARY

I Introduction:

It’s very important to summarise the knowledge that students have learnt in periods or units, summarising in teaching English is because of the following reasons:

- It’s used to help remember his idea and get himself understood

- Summary is good for students in learning structures

- It helps learners to select the same items with the same functions or separate them other kinds

II English knowledge summary:

Trang 6

1 With subjects summary:

a Single subjects: He/ she/ it/ a name of person/ single nouns/ uncountable noun/ single pronouns… We have a symbol for these subjects such

as S1 We can use S1 instead of single subjects above in structures after 3 units

in English 6

Examples: S1 + is + … (a/n) or S1 + V(s/es) + ……

<S1 = He/ she/ it/ single nouns/ uncountable noun/ single pronouns….>

b Plural subjects: They/ We/ plural nouns/ more than two nouns connected with conjunctions such as: ……and… / both……and… We have a symbol for these subjects such as Sn We can use Sn instead of plural subjects above in structures after 3 or 4 units in English 6

Examples: Sn + are + … (a/n) or Sn + V(inf) + ……

2 With parts of speech:

a With single nouns and plural nouns:

- Nouns ending with o/s/x/z/ch/sh, we add “es” to the end of the word in order

to make plural nouns

Example: a match  3 matches

- Nouns ending with f/fe, we change f/fe into “ves”

Example: a knife  2 knives

* Except some cases such as: thief/ cliff…

- Other cases, we add “s” to the end of the words

Example: a dog  5 dogs

b With verbs in gerund forms:

- Verbs ending with voiceless e, We leave it out and add “ing” in stead.\

Example: become  becoming

- Verbs ending with a vowel and a consonant after it, we double the consonant, then add “ing” to the end of that word

Example: sit  sitting

- Other cases, we summarise in the same ways

III Some of the Vietnamese students’ problems in English summary.

When learning English, Vietnamese students often find it difficult in summarising knowledge such as:

(1) Choose parts of speech to summarise:

Students do not have a large number of vocabulary to summarise the kind

of word that they want to sum up

Ex: When they need to sum up words that have both functions such as: early (a/adv), fast (a/adv)… But they don not have words else to select them in the same group

(2) Some collective nouns make students nervous:

A family, a team, a fleet… or somebody, everybody, everything… If students do not understand the usages of these words, they will make mistakes in use

b There are two main ways to summarise knowledge:

- Firstly, Students must be sure about parts of speech They must know which word is noun or adjective or verb…

Trang 7

- Secondly, After each lesson students should collect the word that they have learnt in their own groups

If they do these regularly, they can summarise any grammar structures or parts of speech

IV The way for summary methods.

First, Students can sum up parts of speech: nouns, verbs, adjectives,

….subjects, objects… They put the word in the different groups to learn all the time that they want

Second, learners select structures have the same way to form in one group Like that, they can learn it more easily

* The teacher could give them guidance when they want to summarise things

* Teacher should correct them to make them more self-confident

* Students should use dictioaries for these

* Learners can draw a table to make a summary

Ending with IE Voiceless E Double consonant Others

Tie – tying

Lie – lying Love – lovingMove - moving Fit – fittingStop – stopping Draw – drawingPlay – playing

3 Kĩ thuật rèn luyện:

a Chú ý các bài học cấu trúc và từ loại: Học sinh nghe và nắm bắt chắc

các kiến thức về từ và cách dùng các từ đó

Example: Luyện khả năng tóm tắt chủ ngữ cho động từ “to be”

Học sinh chú ý nghe hướng dẫn của giáo viên trên lớp về chức năng của chủ từ, vị trí của nó và kết hớp với động từ “to be” như thế nào

S1 + is + …… (ở đây S1 đã được giáo viên hướng dẫn là chủ ngữ số ít Đối với người học có thể tự quy định bằng các ký hiệu khác sao cho khi học càng dễ nhớ càng tốt)

Sn + are +…… (ở đây Sn là chủ ngữ số nhiều)

Người học có thể quy định nhóm nhỏ hơn cho chủ ngữ khác, chủ ngữ tập hợp hoặc không xác định được số lượng như: everybody/ everything/ everyone = S.e; somebody/ something/ someone = S.s; nobody/ noone/ nothing

= S.no; anybody/ anyone/ anything = S.a Có thể quy định cho các nhóm từ này theo một nhóm lớn như: S.i = S.e + S.s + S.no + S.a

……

b Áp dụng trong các bài tập : Học sinh tự suy ra các chủ ngữ dựa theo

sự nhận biết của chủ ngữ

Example: The water (be) cold in winter

(be  is ) vì water là danh từ không đếm được, nó quy định là S1 do đã được quy định từ trước

Hoặc: Nam and Bac (go) to school on foot every day

(go  go) không thay đổi “go”, “go” ở dạng nguyên thể không có “to”, vì Nam và Bắc là chủ ngữ số nhiều (Sn) được quy định từ trước

c Những chú ý khi tóm lược ngữ pháp

Giáo viên phải lưu ý cho học sinh những từ, ngữ được dùng cố định như thành ngữ hoặc từ mượn…

Trang 8

Example: a fish  2 fish (ở trường hợp này từ fish không thay đổi khi chuyển sang dạng số nhiều)

* Ở nhóm này giáo viên tạo cho học sinh ghi nhớ những nhóm từ đặc biệt theo quy ước riêng của học sinh sao cho dễ nhớ

Hoặc các thành ngữ như: In the morning (vào buổi sáng)… các nhóm thành ngữ cố định cũng có thể liệt kê theo danh sách và quy tụ chúng thành nhóm

d Tập chia động từ : Giáo viên hướng dẫn học sinh chia động từ theo các chủ ngữ đã được quy ước theo bảng sau:

Subjects To be Ordinary verbs Note for subjects

Bảng 1.1

Áp dụng trong câu: I am a student in Ho Dap ethnic boarding secondary school

 Tra theo bảng quy ước Bảng 1.1 bên trên ta thấy chủ ngữ “I” đi với động từ

“to be” là “am”

Nam plays soccer every afternoon

 Theo Bảng 1.1 thì “Nam” là chủ ngữ số ít (S1) vậy động từ theo sau phải thêm “s/es” mà ở đây theo cách nhóm từ loại thì “play” chỉ thêm “s”

e Dạng bài tập áp dụng: Giáo viên đưa ra một số dạng bài tập liên quan đến

chủ ngữ, động từ, từ loại… Học sinh có thể dựa vào bảng quy ước Bảng 1.1 để làm những dạng bài sau:

Form 1: Choose the best answer (multiple choice)

1 Hoa _ television 5 times a week

2 _ are good friends

Form 2: Give the correct form of the verb in brackets

1 Thao (live) in Deo Trang – Ho Dap

2 They (do) their homework every night

….etc…

4 Giáo án thực hiện:

Nội dung bài giảng: Các bài dạy cấu trúc ngữ pháp và từ loại (Presentation – Practice – Production lessons)

- Nội dung lồng ghép 4-5 phút trên một tiết dạy cấu trúc ngữ pháp Cụ thể unit 5: Things i do – Part A: My day (A1,2)

1 Phần tóm lược nội dung ngữ pháp:

Teacher’s activities

Yêu cầu học sinh mở sách phần A1 (trang 52)

Giáo viên hướng dẫn học sinh đưa ra cấu trúc

thì hiện tại đơn với động từ thường

Ss’ activities Học sinh mở sách Học sinh ghi chép lại phần cấu

Trang 9

Giáo viên hướng dẫn học sinh cách quy tụ chủ

ngữ theo nhóm và đặt ký hiệu cho chủ ngữ

- Giáo viên đưa ra ví dụ quy ước cho học sinh

làm thử

Vd: he/she/it/ Nam/ a/an + n / … = S1 (quy

định là chủ ngữ ngôi 3 số ít, động từ theo sau

nó ở dạng ngôi 3 số ít Với động từ thường

thêm es/s vào sau nó)

- Nếu chủ ngữ là: we/ they/ Nam and Ba/

plural nouns… = Sn (Quy định là chủ ngữ

ngôi 3 số nhiều, động từ ở dạng số nhiều Với

động từ thường động từ để ở dạng nguyên thể

không “to”)

2 Luyện quy ước để ghi nhớ (Các cấu trúc

vừa học)

Giáo viên làm mẫu cho học sinh một đến hai

trường hợp

BT 1: Dựa vào chủ ngữ hãy viết dạng đúng

của động từ trong dấu ngoặc đơn

0 Hoa (study) English every day (Hoa tên

riêng chỉ có 1 người  vậy là chủ ngữ S1 

Động từ phải thêm “es/s” theo quy tắc nhóm

từ loại.)

Giáo viên đưa ra một số bài tập khác cho học

sinh làm theo

- Giáo viên cho học sinh làm hai dạng bài tập

chính là multiple choice and correcting the

verbs

BT 1: Give the correct form of the verbs

1 They (do) their homework every night

2 Hung (ride) his bike to Ho Dap twice a

week

BT 2: Choose the best answer

1 Hai _meals every day

a cooks b cook c cooking d is cooking

2 Mai and Nga catch every afternoon

a plays b playing c play d playing

……

3 Luyện nhóm từ loại :

- Phần thêm “es/s” vào sau động từ khi chủ

trúc Học sinh làm theo và tự quy ước chủ ngữ cho riêng mình để dễ nhớ, thuận lợi nhất cho bản thân mình ghi nhớ

Học sinh nhìn lên bảng ghi nhớ cách quy ước cho chủ ngữ Học sinh tự mình có thể quy ước chủ ngữ cho riêng mình

Vd: S1 học sinh quy định là CN1, Sn = CNn…

Học sinh quan sát giáo viên làm mẫu Tập suy luận chủ ngữ theo quy ước

Study – Studies

Học sinh Nghe giáo viên hướng dẫn, chú ý làm bài tập

Học sinh thực hành làm bài tập dựa vào phần tự quy ước chủ ngữ

Học sinh chép vào vở những

Trang 10

ngữ là ngôi ba số ít.

+ Nhóm động từ có chữ cuối cùng là:

o/s/x/z/ch/sh (= Nhóm V.s) ta thêm es vào sau

động từ đó

Vd: watch  watches

+ Nhóm động từ có chữ cuối cùng là: phụ âm

+ Y  đổi Y thành “ies” (nhóm V.y)

Vd: try  tries

+ Nhóm động từ có chữ cuối cùng còn lại ta

thêm “s” vào sau động từ (V.cl)

Vd: live  lives

- Giáo viên đưa ra bài tập thêm “es/s” cho học

sinh luyện tập ngay tại lớp

nhóm từ loại trên và quy ước chúng theo cách riêng của mình hoặc theo giáo viên

-Quy ước của học sinh

Học sinh làm bài tập do giáo viên yêu cầu (Luyện tập thêm ở nhà)

5 Một số dạng bài kiểm tra kiến thức ngữ pháp.

1 Multiple choice: Choose the correct answer to complete sentences

1 Nam _ to school every day

2 Ba and Bon _good students

3 Binh: Hello! My name is Binh Minh: Hello! My name _Minh

4 Where does he live? _lives in Ho Dap

2 Give the correct form of the verbs:

1 Ha (be) hard-working

2 Thu and Chi (be) good farmers

3 Nam (go) to market every month

4 They (work) in the field every day

3 Find out the mistakes of verbs in these sentences and correct them

1 They lives in Ho Dap

2 Nga always get up early

6 Kết quả thu đư ợc:

Qua một thời gian tìm tòi phương pháp và áp dụng vào thực tế dạy học đến nay tôi nhận thấy học sinh hiểu bài tốt, biết tìm cách quy ước các nhóm từ theo các quy ước dễ hiểu, dễ học để ghi nhớ bài học nhanh hơn, nhớ bài học lâu hơn Học sinh có các quy ước đều có tính sáng tạo hơn

Qua một thời gian áp dụng biện pháp quy tụ chủ ngữ bằng một kí hiệu tự người học quy định Tôi nhận thấy học sinh nhớ cấu trúc ngữ pháp lâu hơn, chắc chắn hơn

Từ khi áp dụng phương pháp quy tụ chủ ngữ bằng một ký hiệu do người học tự quy ước tôi thấy kết quả được nâng lên rõ rệt

Ngày đăng: 02/12/2016, 17:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w