1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động rd ở các trường đại học tại việt nam thông qua thông tin sáng chế

120 570 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ việc tra cứu thông tin sáng chế, các Viện nghiên cứu, các trường đại học tránh được việc nghiên cứu trùng lặp, tiết kiệm được thời gian và chi phí, các doanh nghiệp có thể định hướng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI THANH TÙNG

XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ

HOẠT ĐỘNG R&D Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM THÔNG QUA THÔNG TIN SÁNG CHẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI THANH TÙNG

XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG R&D Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM THÔNG QUA THÔNG TIN SÁNG CHẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Kim

Hà Nội, 2016

Trang 3

Mục lục

LỜI CẢM ƠN 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 3

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

3 Mục tiêu nghiên cứu 8

4 Phạm vi nghiên cứu 8

5 Mẫu khảo sát 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 9

7 Giả thuyết nghiên cứu 9

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 10

9 Kết cấu luận văn 10

PHẦN NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG R&D Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÔNG QUA THÔNG TIN SÁNG CHẾ 11

1.1 Các phương pháp đánh giá nghiên cứu khoa học phổ biến 11

1.1.1 Các phương pháp đánh giá 11

1.1.1.1 Đo lường ấn phẩm khoa học (bibliometrics) 11

1.1.1.2 Nghiên cứu trường hợp điển hình (Case studies) 13

1.1.1.3 Bình duyệt đồng nghiệp (Peer review) 14

1.1.1.4 Khảo sát và tư vấn (Surveys and Consultation) 17

1.1.1.5 Phân tích kinh tế (Micro Economic Analysisa) 17

1.1.1.6 Đánh giá nghiên cứu dựa trên dữ liệu về sáng chế 18

1.1.2 Đặc điểm, thuận lợi và hạn chế của các phương pháp 18

1.2 Công nghệ 21

1.2.1 Khái niệm về công nghệ 21

1.3 Sáng chế 24

1.3.1 Khái niệm sáng chế 24

1.3.2 Bảo hộ sáng chế 25

1.4 Thông tin sáng chế 36

1.4.1 Khái niệm thông tin sáng chế 36

1.4.2 Vai trò của thông tin sáng chế đối với hoạt động nghiên cứu và triển khai 36

1.4.3 Nội dung thông tin sáng chế 39

1.4.3.1 Các loại tư liệu sáng chế 39

1.4.3.2 Nội dung của tư liệu sáng chế 40

1.5 Đại học và đại học nghiên cứu 43

1.6 Khái niệm hiệu quả và hiệu quả nghiên cứu và triển khai 45

Tiểu kết chương 1 46

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG R&D Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 47

2.1 Tổng quan thực trạng hoạt động R&D tại các trường đại học Việt Nam 47

2.2 Tổng quan về thực trạng hoạt động khai thác và áp dụng sáng chế ở Việt Nam 55

2.2.1 Tình hình nộp đơn đăng ký sáng chế của người Việt Nam ở Việt Nam 55

Trang 4

2.2.2 Tình hình khai thác, áp dụng sáng chế ở Việt Nam 57

2.3 Thực trạng việc đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường đại học Việt Nam 61

2.4 Tổng quan về các chính sách và hoạt động bảo hộ sáng chế tại Việt Nam 63

2.4.1 Các chính sách liên quan đến sáng chế của Việt Nam từ 2005 – nay 63

2.4.2 Hoạt động bảo hộ sáng chế tại Việt Nam 66

2.4.3 Tác động của các chính sách liên quan đến sáng chế từ năm 2005 – nay 69

2.4.3.1 Tác động của chính sách tới hoạt động sáng tạo 69

2.4.3.2 Tác động của chính sách tới hoạt động xác lập quyền đối với sáng chế 70

2.4.3.3 Tác động của chính sách tới hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế 72

2.4.3.4 Tác động của chính sách tới hoạt động thực thi quyền đối với sáng chế 74

Tiểu kết Chương 2 76

CHƯƠNG 3 77

XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ 77

HOẠT ĐỘNG R&D Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM THÔNG QUA 77

THÔNG TIN SÁNG CHẾ 77

3.1 Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế 77

3.2 Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường Đại học tại Việt Nam 79

3.2.1 Số lượng đơn sáng chế/số lượng bằng độc quyền sáng chế 84

3.2.2 Lĩnh vực kỹ thuật mà các sáng chế đề cập 89

3.2.3 Số lượng sáng chế/sản phẩm được tạo ra bởi sáng chế đã được chuyển giao/thương mại hóa 93

3.2.4 Kinh phí thu được của việc chuyển giao sáng chế/sản phẩm được thương mại hóa 99

3.3 Hướng dẫn cách tính điểm đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế 102

3.3.1 Đối tượng khảo sát 102

3.3.2 Mẫu phiếu điều tra 103

3.3.3 Xử lý kết quả điều tra 103

Tiểu kết chương 3 106

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107

1.Cải thiện chất lượng và số lượng các sáng chế tại các trường đại học theo hướng sử dụng hiệu quả hệ thống thông tin và liên kết với doanh nghiệp 107

2 Phát triển hoạt động thương mại hóa sáng chế theo mô hình liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Phụ lục 1 .111

Phụ lục 2 .114

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập Chương trình cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, học viên đã có cơ hội tiếp nhận kiến thức và sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô trong Khoa Khoa học Quản lý nói riêng và các Thầy, Cô giáo trong trường cũng như Ban lãnh đạo nhà trường nói chung

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Kim – người thầy đã dành nhiều thời gian, công sức giúp đỡ hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Một lần nữa, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến các chuyên gia, các đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cám ơn

Học viên

Bùi Thanh Tùng

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tiếng nước ngoài Tiếng Việt

ASEAN Asscociation Of Southeast

Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

EPO European Patent Office Văn phòng sáng chế Châu Âu

ISI Institute For Sciencefic Viện Thông tin Khoa học

JPO Japan Patent Office Cơ quan sáng chế Nhật Bản

R&D Research & Development Nghiên cứu và triển khai

SCI Science Citation Index Chỉ số trích dẫn Khoa học

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

2.1 Chỉ tiêu về năng lực khoa học và tầm ảnh hưởng của ĐHQG-HCM, ĐHQG-HN, và Chulalongkorn

52

2.2 Tổng số công bố quốc tế của các trường nghiên cứu và phát triển hàng đầu của Việt Nam và Thái Lan năm 2004

53

2.3 Thống kê đơn đăng ký sáng chế của người Việt Nam và người nước ngoài từ 2009-2013

56

2.4 Thống kê đơn và Bằng SC/GPHI của các trường đại học/viện nghiên cứu ở Việt Nam từ 2009 đến tháng 6/2012

57

2.5 Thống kê Đơn chuyển nhượng quyền sử dụng Sáng chế/giải pháp hữu ích tại Việt Nam (Hợp đồng li xăng)

58

2.6 Thống kê Đơn chuyển giao quyền sở hữu sáng chế/giải pháp hữu ích tại Việt Nam 59 2.7 Bằng độc quyền sáng chế và giải pháp

hữu ích của chủ thể Việt Nam từ năm 2000-2014 theo chủ thể

62

2.8 Số đơn đăng ký sáng chế được nộp 67 2.9 Số bằng độc quyền sáng chế đã cấp 68 2.10 Số lượng bằng độc quyền sáng chế của

người Việt Nam năm 2011-2014 theo chủ thể

học

90

3.4 Phát triển một số lĩnh vực công nghệ 91 3.5 Tỷ lệ SC đồng dạng tại các nền kinh tế

3.8 Phát triển SC TRIADIC theo khu vực 88

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong những thước đo chính xác về giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu khoa học là công bố kết quả nghiên cứu tại các tạp chí khoa học uy tín trong nước và quốc tế, đặc biệt trên các tạp chí được công nhận bởi ISI (Institute for Scientific Information) Tuy nhiên, danh sách các tạp chí ISI lựa chọn có thể chưa hoàn toàn công bằng Đánh giá chi tiết về tính khoa học của ISI thông qua chỉ số trích dẫn (Impact Factor – IF), cũng chịu nhiều chỉ trích Do vậy, tác giả đưa ra tiêu chí mới để đánh giá hiệu quả hoạt động R&D thông qua thông tin sáng chế

Sáng chế là nguồn cung cấp các dữ kiện ban đầu vô cùng quan trọng cho các hoạt động R&D Đồng thời, thông tin sáng chế cũng giữ vai trò rất quan trọng trong suốt cả quá trình hình thành phương hướng nghiên cứu, lập kế hoạch

và thực hiện kế hoạch nghiên cứu – triển khai, sản xuất cũng như quá trình lưu thông và sử dụng sản phẩm Nhờ việc tra cứu thông tin sáng chế, các Viện nghiên cứu, các trường đại học tránh được việc nghiên cứu trùng lặp, tiết kiệm được thời gian và chi phí, các doanh nghiệp có thể định hướng sản xuất và kinh doanh các sản phẩm mới, đáp ứng đúng nhu cầu thì trường vào tạo lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt thông tin sáng chế còn giúp tránh xâm phạm, vi phạm độc quyền sáng chế đã được bảo hộ của người khác

Đánh giá qua thông tin sáng chế là một phương pháp định lượng nhằm tìm ra các xu hướng phát triển công nghệ trên thế giới nhằm phục vụ các mục đích quản lý, dự báo và định hướng đã làm cho sáng chế có một vai trò to lớn đối với R&D so với các nguồn thông tin khoa học kỹ thuật khác

Trong suốt quá trình lịch sử của các quốc gia, sinh viên và giảng viên tại các trường đại học là nòng cốt của hoạt động có quy mô toàn quốc về văn hóa, khoa học và trí tuệ Công việc chủ yếu của trường đại học là giảng dạy và nghiên cứu, nhưng trong phạm vi mà hoạt động trí tuệ phong phú, tại các trường

Trang 9

đại học cũng được ứng dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn Ở các nước đang phát triển, mối quan hệ giữa công tác nghiên cứu trong trường đại học và sự phát triển kinh tế quốc gia có tầm quan trong đặc biệt Vì vậy, tác giả chọn đối tượng nghiên cứu là các trường đại học khoa học và công nghệ hàng đầu tại Việt Nam

và chọn đề tài: “XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG R&D Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM THÔNG QUA THÔNG TIN

SÁNG CHẾ“

Ý nghĩa lý thuyết của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm bổ sung

cơ sở lý luận nhằm xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động R&D ở các trường đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế

Ý nghĩa thực tế: Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở

các trường đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trên thực tế, tại Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào về các phương pháp phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học, đặc biệt sử dụng phương pháp định lượng patentomatrics Tuy nhiên, có một số học giả quan tâm về chất lượng nghiên cứu khoa học, quan tâm về các công bố khoa học Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế, quan tâm về các sáng chế của các nhà khoa học Việt Nam như tác giả Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đình Nguyên, Đặng Đình Thi, Lê Văn

Út, Thái Văn Toàn, v.v… Qua các bài viết của các tác giả, chúng ta có thể thấy rằng các tác giả cũng nêu lên hai vấn đề chính để đánh giá về KH&CN của một quốc gia đó là số lượng bài báo đăng tải trên các tạp chí quốc tế và số bằng độc quyền sáng chế

Bài viết “Chỉ số H trong nghiên cứu khoa học” (http://www.tiasang.com.vn/news?id=2741), “Chất lượng nghiên cứu khoa học

ở Việt Nam qua chỉ số trích dẫn” (http://nguyenvantuan.com) của các tác giả

Nguyễn Văn Tuấn và Nguyễn Đình Nguyên giúp chúng ta hiểu rằng “năng suất khoa học của một quốc gia có thể đo bằng 2 chỉ số chính: số lượng bài báo khoa học và số bằng độc quyền sáng chế Số lượng bài báo khoa học công bố trên các

tập san khoa học trong danh mục của Viện thông tin khoa học (ISI) có lẽ là chỉ

Trang 10

số quan trọng nhất để đánh giá năng suất của nghiên cứu khoa học Trong quá khứ và hiện nay, các trung tâm nghiên cứu khoa học vẫn dùng chỉ tiêu đó để định vị một nước trong bản đồ khoa học quốc tế Chỉ tiêu thứ hai cũng rất quan trọng là số bằng độc quyền sáng chế Bằng độc quyền sáng chế cũng chính là một hình thức chuyển giao công nghệ Bằng độc quyền sáng chế có thể đăng ký trong và ngoài nước Ở nước ngoài, thường dùng số bằng độc quyền sáng chế đăng ký ở Mỹ như là một thước đo thứ hai để đánh giá năng suất khoa học của một nước”

Bài viết “Hơn 9000 giáo sư sao không có bằng sáng chế” (http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/78867/hon-9-000-giao-su-sao-khong-co-bang-sang-che.html đăng ngày 03/07/2012) của tác giả Lê Văn Út và Thái Lâm Toàn cho thấy một chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng độc quyền sáng chế Số bằng độc quyền sáng chế không chỉ phản ánh hiệu quả thực tiễn của các kết quả nghiên cứu lý thuyết, mà còn cho biết tiềm lực về nghiên cứu ứng dụng.Tuy nhiên các tác giả chưa đề cập đến vấn đề một số nhóm ngành đặc biệt là nhóm khoa học xã hội và nhân văn, một bộ phận của Y học (ví dụ phương pháp chẩn đoán và chữa bệnh cho người)

là không thể có sáng chế Mặc dù ý kiến của các tác giả chưa xét hết các trường hợp và có phần hơi gay gắt khi đề cập đến vấn đề số lượng sáng chế trong nước còn ít so với số lượng người có học hàm, học vị, tuy nhiên các ý kiến mà bài viết đưa ra về vai trò của sáng chế trong việc đánh giá thành tựu khoa học là khá chính xác

Bài viết “Đo lường khả năng sáng tạo của người Việt” (https://www.danluan.org/tin-tuc/20120704/nguyen-van-tuan-do-luong-kha-nang-sang-tao-cua-nguoi-viet ngày 05/07/2012) của tác giả Nguyễn Văn Tuấn cũng cho thấy ở Việt Nam “chưa ai phân tích số bằng độc quyền sáng chế từ Việt Nam trong thời gian qua” Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn tìm hiểu từ báo cáo của UNESCO thì trong thời gian 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng độc quyền sáng chế tại Mỹ, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng độc quyền sáng chế Có năm (như 2002) chẳng có bằng độc

Trang 11

quyền sáng chế nào Trong cùng thời gian, Thái Lan đăng kí được 310 bằng độc quyền sáng chế, Singapore 3644, cao hơn Việt Nam đến 192 lần! Thật ra, số bằng độc quyền sáng chế từ Việt Nam cũng thấp hơn Indonesia (85), Philippines (256) và Malaysia (901)”.Mặc dù tác giả chỉ phân tích dựa trên số liệu đơn của người Việt Nam nộp tại Mỹ, chưa khảo sát số liệu trong nước nhưng bài viết cũng một lần nữa nhấn mạnh vai trò của sáng chế trong việc đánh giá thành tựu khoa học

Ngoài ra, một số nghiên cứu của nước ngoài đã được công bố như sau:

Department of Industry of Australia (2013), Research Performance of Universities Patenting in Australia: A Pilot Assessment, Australia Tài liệu này

khảo sát các tư liệu về sáng chế của 12 trường đại học tại Australia, từ đó tìm ra mối liên quan giữa các tài liệu sáng chế với chất lượng nghiên cứu của các trường Đại học này, từ đó đề xuất các tiêu chí để đánh giá khả năng nghiên cứu của các trường đại học này

Peter S Mortensen (2011), “Patentometrics as Performance Indicators for Allocating Research Funding to Universities”, University of Aarhus, Denmark Tài liệu này đề xuất các thông tin sáng chế tiềm năng, và cách thức sử

dụng các thông tin này trong việc phân tích và đánh giá các trường đại học và các viện nghiên cứu khác nhau, từ đó tìm ra mối liên quan giữa thông tin sáng chế và việc phân bố kinh phí nghiên cứu tại các đơn vị này

Ampere A Tseng, Miroslav Raudensky (2014), “Performance Evaluations

of Technology Transfer Offices of Major US Research Universities”, Journal of Technology Management and Innovation, Vol 9, Issue 1, pages 93-102 Tác giả

đề cập đến việc đánh giá hoạt động của các Trung tâm Chuyển giao Công nghệ tại 20 trường Đại học lớn ở Hoa Kỳ, trong đó bao gồm việc sử dụng các thông tin sáng chế của các trường Đại học này để đánh giá hiệu quả chuyển giao công nghệ đối với các nghiên cứu được bảo hộ

Các tác giả mới chỉ đề cập đến phương pháp đánh giá kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học dựa trên số lượng bằng độc quyền sáng chế, hiệu quả

Trang 12

chuyển giao chứ chưa nghiên cứu sâu đến các tiêu chí đánh giá hoạt động R&D dựa trên thông tin sáng chế

Bởi vậy, nội dung đề tài Luận văn là khác biệt với các nghiên cứu đã công

bố, Luận văn sẽ lấp một phần “khoảng trống” trong các nghiên cứu đã nêu, đây

là tính mới của Luận văn

3 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường đại

học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế

* Nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế

- Phân tích thực trạng đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế

- Đưa ra khuyến nghị về bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các

trường đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

+ Tổng quan các phương pháp đánh giá KH&CN;

+ Sáng chế ở các trường đại học tại Việt Nam;

+ Phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế;

+ Chính sách của Việt Nam liên quan đến sáng chế trong giai đoạn nay;

2005 Phạm vi thời gian: từ năm 2005 – nay

- Phạm vi không gian: Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội;Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng; Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc

Trang 13

gia Thành phố Hồ Chí Minh; Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội

5 Mẫu khảo sát

Thông tin, số liệu đăng ký sáng chế của 04 trường đại học hàng đầu tại Việt Nam về KH&CN là Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội;Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng; Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội tại Cục Sở hữu trí tuệ

Phát phiếu điều tra và lấy ý kiến chuyên gia từ 30 cán bộ, giảng viên là những người hoạt động hoặc phụ trách các lĩnh vực liên quan đến KH&CN và SHTT

6 Câu hỏi nghiên cứu

Cần có những tiêu chí gì để đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các

trường đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế ?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường Đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế dựa trên kết quả khảo sát lấy ý kiến chuyên gia và nghiên cứu tài liệu như sau:

(1) Số lượng đơn đăng ký sáng chế trong một năm của trường Đại học; (2) Số lượng bằng độc quyền sáng chế được cấp trong một năm của trường Đại học;

(3) Lĩnh vực kỹ thuật của các sáng chế được nộp bởi trường Đại học trong một năm;

(4) Tỷ lệ số lượng đơn sáng chế của trường Đại học trong các lĩnh vực

kỹ thuật tương ứng trong một năm;

(5) Số lượng sáng chế/sản phẩm được tạo ra bởi sáng chế đã được chuyển giao/thương mại hóa;

Trang 14

(6) Kinh phí thu được của từng thương vụ chuyển giao sáng chế/sản phẩm được thương mại hóa;

(7) Tổng kinh phí thu được trong một năm của trường Đại học từ việc chuyển giao sáng chế/sản phẩm được tạo ra bởi sáng chế

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phân tích các tài liệu, số liệu liên quan từ các nguồn trong và ngoài nước Tổng hợp và phân tích các tài liệu từ đó xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu hoạt động R&D dựa trên thông tin sáng chế

- Phỏng vấn bằng bảng hỏi

Để thu thập thông tin định lượng tác giả thực hiện điều tra bằng bảng hỏi đổi với các cán bộ, giảng viên có liên quan đến công tác R&D và SHTT ở 04 trường đại học hàng đầu tại Việt Nam về KH&CN là Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội; Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng; Trường Đại học Bách Khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội

9 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có kết cấu như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường đại học Việt Nam thông qua thông tin sáng chế

Chương 2 Thực trạng đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường đại học tại Việt Nam

Chương 3 Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động R&D ở các trường đại học tại Việt Nam thông qua thông tin sáng chế

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG R&D Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

THÔNG QUA THÔNG TIN SÁNG CHẾ

1.1 Các phương pháp đánh giá nghiên cứu khoa học phổ biến

1.1.1 Các phương pháp đánh giá

1.1.1.1 Đo lường ấn phẩm khoa học (bibliometrics) 1

Đo lường ấn phẩm khoa học là một trong những phương thức quan trọng của đo lường tác động của các ấn phẩm học thuật Nếu một bài báo được công

bố trên một tạp chí với chỉ số tác động cao, được xác định một phần bởi số lượng trích dẫn cho bài báo trong một tạp chí cụ thể, điều này làm tăng uy tín xuất bản của tác giả Số lượng trích dẫn cho rằng bài viết theo thời gian cũng là một biện pháp quan trọng của năng suất và tác động của các học giả đó

[1] Phương pháp đo lường ấn phẩm khoa học thường được sử dụng trong lĩnh vực thư viện và khoa học thông tin, bao gồm cả đánh giá khoa học Ví dụ,

đo lường ấn phẩm khoa học được sử dụng để cung cấp các phân tích định lượng của tài liệu học thuật

[2] Phân tích trích dẫn và phân tích nội dung thường được sử dụng phương pháp đo lường ấn phẩm khoa học Nhiều lĩnh vực nghiên cứu sử dụng phương pháp này để đánh giá tác động của lĩnh vực của họ

[3] của một nhóm các nhà nghiên cứu, hoặc các tác động của một bài báo

cụ thể Đo lường ấn phẩm khoa học cũng có một loạt các ứng dụng khác, chẳng hạn như trong ngôn ngữ mô tả, sự phát triển của bộ từ chuẩn, và đánh giá việc

Trang 16

Trong lịch sử, phương pháp đo lường ấn phẩm khoa học đã được sử dụng

để theo dõi các mối quan hệ giữa các trích dẫn tạp chí học thuật Phân tích trích dẫn, trong đó có việc kiểm tra văn bản đề cập một mục, được sử dụng trong việc tìm kiếm vật liệu và phân tích đóng góp của họ Chỉ số trích dẫn, chẳng hạn như Viện Khoa học Thông tin của khoa học, cho phép người dùng tìm kiếm về phía trước trong thời gian từ một bài báo được biết đến nhiều ấn phẩm gần đây trích dẫn sách các mục được biết đến

Dữ liệu từ các chỉ số trích dẫn có thể được phân tích để xác định sự phổ biến và tác động của các điều khoản cụ thể, tác giả, và các ấn phẩm Sử dụng phân tích trích dẫn để đánh giá tầm quan trọng của công việc của một người, ví

dụ, đánh giá hiệu quả hoạt động theo nhiệm kỳ Các nhà khoa học thông tin cũng sử dụng phân tích định lượng trích dẫn để đánh giá các tên tạp chí và các

ấn phẩm cốt lõi đầu nguồn ở các ngành cụ thể; mối quan hệ giữa các tác giả từ các tổ chức khác nhau và trường phái tư tưởng; và dữ liệu liên quan về xã hội học của học viện

Một số ứng dụng thực tế hơn về thông tin này bao gồm việc lập kế hoạch

của các thư mục hồi, “Đưa ra một số dấu hiệu cho thấy cả hai tuổi của vật liệu

sử dụng trong một kỷ luật, và các mức độ mà các ấn phẩm gần đây hơn thay thế những người lớn tuổi”; chỉ thông qua tần số cao trích dẫn mà các văn bản được

lưu trữ; so sánh độ bao phủ của các dịch vụ thứ cấp mà có thể giúp các nhà xuất bản đánh giá những thành tựu và sự cạnh tranh của họ, và có thể giúp cán bộ thư viện trong việc đánh giá “hiệu quả của các cổ phiếu của họ” Cũng có một số hạn chế đối với các giá trị của dữ liệu trích dẫn Họ thường là không đầy đủ hoặc sai lệch; dữ liệu đã được phần lớn thu gom bằng tay (mà là đắt tiền), mặc

dù chỉ số trích dẫn cũng có thể được sử dụng; không chính xác dẫn lời các nguồn xảy ra liên tục; do đó, tiếp tục điều tra là cần thiết để thực sự hiểu được lý

do đằng sau với lý do để cho phép nó được áp dụng một cách tự tin

Đo lường ấn phẩm khoa học đang được sử dụng trong các bài tập đánh giá nghiên cứu định lượng của khối lượng học tập Chính phủ Anh đang xem xét sử dụng như một công cụ đo lường thư mục phụ trợ có thể có trong Excellence

Trang 17

khung nghiên cứu của mình, một quá trình mà sẽ đánh giá chất lượng của các kết quả nghiên cứu của các trường Đại học Vương quốc Anh và trên cơ sở kết quả đánh giá, phân bổ kinh phí nghiên cứu

Các ứng dụng đo lường ấn phẩm khoa học khác bao gồm: sáng tạo từ chuẩn; đo tần số hạn; như số liệu trong phân tích đánh giá khoa học, khám phá cấu trúc ngữ pháp và cú pháp của văn bản; đo sử dụng bởi các độc giả

Mặc dù phân tích trích dẫn không phải là mới (chỉ số trích dẫn khoa học

đã bắt đầu xuất bản vào năm 1961), trước khi nó có thể được tính toán bằng máy tính đó đã được thực hiện thủ công và như vậy là tốn thời gian Các thuật toán tự động đang làm cho nó hữu ích hơn nhiều, đa năng, và phổ biến rộng rãi Điều này dẫn đến việc tạo ra các lĩnh vực mới của đo lường thư mục tính toán Thuật toán đầu tiên như vậy để khai thác dẫn nguồn tự động và lập chỉ mục là bởi CiteSeer PageRank của Google được dựa trên nguyên tắc phân tích trích dẫn

1.1.1.2 Nghiên cứu trường hợp điển hình (Case studies)

Nghiên cứu điển hình hay điển cứu tức nghiên cứu dựa trên những trường hợp (còn gọi là „ca‟, tiếng Anh là „case‟) đặc trưng mang tính là một phương pháp được sử dụng rất phổ biến trong các ngành giáo dục học, xã hội học, quản trị học, luật học, và y học Mục tiêu cơ bản của phương pháp này là tìm hiểu rõ

về trường hợp nghiên cứu bằng cách theo dõi sát sao và toàn diện trường hợp đã chọn trong một thời gian đủ dài và ngay tại môi trường tự nhiên của nó Kết quả nghiên cứu điển hình cho phép nhà nghiên cứu đưa ra lời giải thích tại sao mọi việc xảy ra như đã xảy ra, và thông qua đó xác định các vấn đề quan trọng cần được tiếp tục nghiên cứu rộng rãi hơn trong tương lai

Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case studies) bắt đầu được khởi xướng từ những năm 40 của thế kỷ 20 bởi James B Conant ở Đại học Havard,

Trang 18

Hoa Kỳ (Conant, 1949) Tuy nhiên, sự khởi xướng này đã không nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các nhà giáo dục thời ấy do bởi Conant không sử dụng các

“case” như vấn đề cho sinh viên thảo luận mà chỉ đưa vào bài giảng của mình

Đến những năm 80, các trường Luật và Thương mại của Đại học Havard

bắt đầu sử dụng rộng rãi các “case”, là các ví dụ điển hình trong thực tế, để làm

nội dung chính cho sinh viên thảo luận trong các môn học (Christensen, 1986)

Từ sự thành công ở các trường này, phương pháp giáo dục này đã dần được mở rộng sang các ngành đào tạo khác Đến nay, nó đã trở thành một trong các phương pháp giáo dục chủ đạo ở bậc đại học Nhiều trường đại học thành lập riêng các trung tâm nghiên cứu và phát triển Phương pháp giáo dục này, tiêu biểu như Đại học Buffalo - Hoa Kỳ

Các tài liệu truyền thống về phương pháp nghiên cứu thường phân loại điển cứu như một trong những phương pháp định tính với mục đích mô tả Quan điểm này hiện nay đang được xem xét lại vì nó không bao trùm được hết các mục đích và phương pháp đa dạng của điển cứu Trong một số tài liệu được xuất bản gần đây, các nhà phương pháp luận không xem điển cứu như một phương pháp mà quan niệm đây chỉ là một cách tiếp cận hoặc một chiến lược mà thông qua đó nhà nghiên cứu có thể lựa chọn một hoặc nhiều trường hợp phù hợp cho hướng nghiên cứu của riêng mình Ngoài ra, điển cứu không thể được liệt kê vào nhóm các phương pháp định tính, vì nó sử dụng cả những chứng cứ định tính lẫn định lượng khác nhau

1.1.1.3 Bình duyệt đồng nghiệp (Peer review)

Bình duyệt đồng nghiệp và hội đồng chuyên gia: là quá trình đánh giá liên quan đến những người có trình độ cao trong lĩnh vực chuyên ngành hoặc lĩnh vực liên quan nhằm phản ánh kết quả hay tác động của nghiên cứu Bình duyệt đồng nghiệp được thực hiện cả trước và sau khi dự án được tài trợ, mục đích là nhằm duy trì các tiêu chuẩn chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như mang lại sự khả tín cho những quyết định của giới quản lý khoa học

Tầm quan trọng của bình duyệt đồng nghiệp, cũng được biết tới dưới tên gọi tham chiếu chuyên môn, là một dải rộng nhiều mức độ, từ chỗ đánh giá đến

Trang 19

chỗ kiểm soát chất lượng trong thế giới học thuật Bình duyệt đồng nghiệp có nhiều hình thức và nơi chốn Nó vận hành như là một cách đánh dấu chất lượng

của một công trình nghiên cứu Nó cũng đồng thời có chức năng “giữ cửa”, tức

là quyết định xem liệu một ý tưởng mới nào đó có được gia nhập vào kho tàng tri thức chuyên ngành hay không Nó duy trì chuẩn mực học thuật nói chung cũng như ghi nhận những cá nhân xuất sắc.2

Hơn thế nữa, nó điều chỉnh cơ hội trong sự nghiệp của một nhà khoa học

Nó gắn chặt với uy tín, danh tiếng và là dấu hiệu cho giá trị của nhà khoa học

trên thị trường hàn lâm đầy cạnh tranh “Quá trình bình duyệt và khối lượng công việc bình duyệt khác nhau nhiều tùy theo lĩnh vực chuyên ngành, sự đa dạng và linh hoạt này nhằm thích ứng với nhu cầu các chuyên ngành hẹp, trong lúc vẫn bảo toàn những chuẩn mực học thuật nghiêm ngặt, là thế mạnh của bình duyệt đồng nghiệp.”3

• Bình duyệt trong quá trình phát triển của công trình nghiên cứu: Các

nhà khoa học thu lượm những góp ý của đồng nghiệp về công việc nghiên cứu

mà họ đang thực hiện, thông qua những kênh không chính thức như thảo luận trong phòng thí nghiệm, chia sẻ bản thảo với đồng nghiệp, viết blog

• Bình duyệt trước khi công bố: các nhà khoa học trình bày và phổ biến

những công trình đã phát triển tương đối hoàn thiện hơn tại những buổi nói chuyện, hội thảo mọi loại để mời gọi những ý kiến bình luận hay trích dẫn Lời mời trình bày bản thân nó đã được điều tiết bởi một mức độ bình duyệt bổ sung rồi) Đưa những công trình đã được góp ý lên website cá nhân và các trang mạng khác, là cách làm ngày càng phổ biến hơn mặc dù việc chia sẻ những công trình

2 Becher, Tony, and Paul R Trowler 2001 Academic Tribes and Territories: Intellectual Enquiry and the Culture of Disciplines Second ed Buckingham, UK: The Society for Research into Higher Education & Open University Press

3 Kling, Rob, and Lisa B Spector 2004 Rewards for Scholarly Communication In Digital Scholarship in the Tenure, Promotion, and Review Process, ed Deborah Lines Anderson, 78-103 Armonk, NY: M.E Sharpe http://www.mesharpe.com/mall/resultsa.asp?Title=Digital+Scholarship+in+the+Tenure%2C+Promotion%2C+an d+Review+Process

Trang 20

chưa công bố chính thức như thế khác nhau rất nhiều tùy theo lĩnh vực chuyên ngành

• Bình duyệt nhằm công bố trên các ấn phẩm khoa học: Ấn phẩm khoa

học có nhiều loại: sách, bài báo khoa học trên các tập san, kỷ yếu hội thảo, các tuyển tập, và trải qua những hình thức bình duyệt khác nhau qua đó biên tập viên và người bình duyệt sẽ đưa ra những quyết định có tính chất đánh giá Các

mô hình biên tập và bình duyệt có thể là bình duyệt kín đơn hoặc kép, có khi chỉ

là bình duyệt sơ như trường hợp thực hiện các tuyển tập

• Bình duyệt sau khi xuất bản: Chỉ báo cho tầm quan trọng, mức độ tác

động và sự đón nhận của giới học thuật đối với một công trình nghiên cứu là: được nêu lên trong những bài giới thiệu sách hoặc giới thiệu công trình nghiên cứu, hay thư gửi ban biên tập; số lượng trích dẫn (ngành trắc lượng thư mục cónhiều cách tính khác nhau);được bố trí những phiên họp riêng trong các hội thảo, được giải thưởng dành cho sách hay hoặc bài báo hay; kể cả việc được đưa vào đề cương bài giảng, câu lạc bộ tập san, tin tức hay bìa báo, blog, v.v

• Bình duyệt về dữ liệu hay những sản phẩm tri thức khác: Trong một số

lĩnh vực chuyên ngành, bình duyệt là tiêu chí chủ yếu để đánh giá; ví dụ như đối với cơ sở dữ liệu, phim tài liệu, website và phần mềm Bình duyệt dữ liệu diễn

ra ngày càng nhiều và gây ra những trở ngại về mặt kinh tế cho cả các tác giả và các nhà xuất bản

• Bình duyệt cấp trường/viện trong trường hợp đề bạt chức danh khoa học

và xét biên chế: Trong việc xét đề bạt chức danh khoa học và xét biên chế, việc

bình duyệt do đại diện của nhà trường thực hiện cùng với một số người ngoài trường được mời tham chiếu Ở hầu hết các trường đại học nghiên cứu, sự xuất sắc trong nghiên cứu của các học giả được đánh giá dựa trên ba lãnh vực: công

bố khoa học, phục vụ cộng đồng, và giảng dạy Hai lĩnh vực sau chiếm trọng số thấp; quan trọng hơn vẫn là hồ sơ công bố khoa học và những minh chứng cho thấy tác phẩm của họ được biết đến rộng rãi, được các nhà bình duyệt trong và ngoài trường đánh giá cao, và mở rộng biên giới kiến thức của chuyên ngành

Trang 21

• Bình duyệt đối với việc xét tài trợ nghiên cứu: trong trường hợp này là

đánh giá ý tưởng ban đầu (và cả năng lực thể hiện trong quá khứ) của nhà khoa học Có sự khác biệt rất rõ giữa các lĩnh vực khác nhau Nhiều trường chuyên ngành như trường luật, trường báo chí, kiến trúc, thiết kế môi trường, xây dựng những tiêu chí đánh giá đặc thù của riêng họ để đánh giá kết quả của hoạt động sáng tạo tri thức, cũng như bề dày nghiên cứu của ứng viên, để xét xem ứng viên

có thể nhận tài trợ cho một chương trình hay hoạt động nào đó hay không.4

• Bình duyệt lũy tiến: Những sản phẩm của sự sáng tạo được đánh giá qua

những giải thưởng cao nhất, những phần thưởng, tặng thưởng, và bầu chọn vào những tổ chức tinh hoa chẳng hạn như Viện Hàn lâm Quốc gia

Một vài hình thức bình duyệt có thể cung cấp thông tin cho những hình thức bình duyệt khác Ví dụ, tầm ảnh hưởng của các ấn phẩm được bình duyệt của một nhà khoa học thường được đưa vào việc bình duyệt hồ sơ xin tài trợ cho

dự án nghiên cứu, hay hồ sơ đề bạt chức danh khoa học của người đó Những đánh giá không chính thức đối với một công trình đang thực hiện có thể ảnh hưởng đến nơi mà nó sẽ được công bố (ví dụ biên tập viên các tập san có thể gặp

gỡ các nhà khoa học ở các hội thảo chuyên ngành và mời họ viết bài cho tập san) Cuối cùng, mặc dù những hình thức bình duyệt khác nhau có thể có những mục đích khác nhau, một công trình sáng tạo tri thức của một nhà khoa học có thể trong thực tế sẽ được bình duyệt bởi một số tương đối nhỏ những nhà chuyên môn trong một lĩnh vực chuyên ngành

1.1.1.4 Khảo sát và tư vấn (Surveys and Consultation)

Dùng để thu thập thông tin định lượng và định tính trong một quần thể; có

thể nhấn mạnh vào ý kiến hay thông tin thực tế tùy theo mục đích đánh giá 1.1.1.5 Phân tích kinh tế (Micro Economic Analysisa)

Đây những phân tích dựa trên các chỉ báo về mặt kinh tế để đo lường sản phẩm, kết quả và tác động của nghiên cứu:

4

Xem thêm tại: Lamont, Michèle 2009 How Professors Think: Inside the Curious World of Academic

Judgment Cambridge, MA: Harvard University Press

http://www.hup.harvard.edu/catalog/LAMHOW.html

Trang 22

a Phân tích kinh tế lượng vi mô và mô hình hóa cho phép ước lượng sản phẩm, kết quả và tác động của nghiên cứu ở cấp độ cá nhân hay bộ phận;

b Phân tích kinh tế vĩ mô và mô hình hóa cho phép ước lượng tác động kinh tế xã hội rộng hơn của việc can thiệp chính sách ở cấp độ quốc gia

1.1.1.6 Đánh giá nghiên cứu dựa trên dữ liệu về sáng chế

Sáng chế được các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách sử dụng từ rất lâu để phân tích sự đổi mới trong phát triển công nghệ Hai mươi năm qua cùng với với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông cho phép giảm chi phí lưu trữ và chuyển giao thông tin, giúp cho việc sử dụng rộng rãi và thuận tiện kho dữ liệu thống kê sáng chế trên toàn thế giới

Do yêu cầu phải có các tư liệu bắt buộc trong hồ sơ nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ sáng chế, các tư liệu về sáng chế có thể cung cấp các thông tin hữu ích giải quyết những câu hỏi và vấn đề khác nhau Chẳng hạn, một tài liệu về sáng chế cung cấp cho những người ứng dụng sáng chế và những người tham khảo các tư liệu KH&CN khác có thể biết tên, địa chỉ, tổ chức làm việc của nhà sáng chế Thông tin này còn có khả năng giải thích và hình dung ra quá trình phát triển và hợp tác trong lĩnh vực công nghệ thậm chí có thể tiếp cận với năng lực cạnh tranh của tổ chức có sáng chế Các nguồn dữ liệu quan trọng trong quá trình nghiên cứu và phân tích sáng chế là Văn phòng sáng chế Châu âu (EPO), Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO), Văn phòng sáng chế Nhật Bản (JPO)… Dữ liệu về sáng chế có thể chỉ ra bức tranh tổng quát về những công nghệ đang được chú ý của mỗi quốc gia, tiềm năng của những ngành công

nghiệp đang nổi

1.1.2 Đặc điểm, thuận lợi và hạn chế của các phương pháp

Mỗi phương pháp đánh giá được đề cập ở trên đều có ưu và nhược điểm riêng Vì vậy, cần cân nhắc những điểm thuận lợi và bất lợi nêu trên khi lựa chọn phương pháp thích hợp để đánh giá nhằm phù hợp với mục tiêu và bối cảnh Ví dụ, nghiên cứu điển hình có vẻ không mấy thích hợp khi thời gian và nguồn tiền cho việc đánh giá bị hạn chế, hay trắc lượng thư mục có thể không

Trang 23

phù hợp lắm đối với những lĩnh vực có ít tập san được tính đến trong các cơ sở

dữ liệu hiện nay

Mỗi phương pháp đều có giới hạn, chúng ta rất nên xem xét việc kết hợp các phương pháp khác nhau nếu nó khả thi, vì điều này có thể cải thiện chất lượng chung của việc đánh giá khoa học

- Đo lường về định

về sản phẩm

- Có thể dùng như chỉ báo về chất lượng sản phẩm

- Tạo điều kiện cho việc phân tích xu hướng trên toàn cầu

- Ước lượng chất lượng chỉ dựa trên chỉ số trích dẫn có thể dẫn đến nhận định sai lầm

- Dữ liệu cần được chuẩn hóa để có thể

so sánh giữa các chuyên ngành và tập san khác nhau

- Không đo lường được tiềm năng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu trường

hợp điển hình

Đánh giá được số lượng ít nhưng mang tính chuyên môn, học thuật cao

- Đem lại phân tích sâu sắc về quá trình khám phá của hoạt động NCKH

- Có thể minh chứng con đường từ khoa học cơ bản đến khoa học ứng dụng

- Áp dựng rộng rãi

- Được chấp nhận

- Định kiến trong lựa chọn: làm sao

để biết trường hợp được chọn có tính chất đại diện hay không

- Muốn thực hiện tốt cần nguồn lực lớn

- Có thể khó khái

Trang 24

rộng rãi

- Linh hoạt và thích nghi

quát hóa từ kết quả này

Bình duyệt đồng

nghiệp có hệ thống

Đánh giá được số lượng ít nhưng mang tính chuyên môn, học thuật cao

- Là một bộ phận được hiểu rất rõ trong công tác quản

lý khoa học

- Được chấp nhận rộng rãi

- Hạn chế về thời gian của các chuyên gia có thể thực hiện bình duyệt

- Quan ngại về tính khách quan và đáng tin cậy của kết quả

Khảo sát và tư vấn - Đánh giá trên

quy mô lớn

- Có thể xác định sản phẩm và kết quả nghiên cứu liên đới như thế nào với tài trợ

- Cho phép phân tích định tính về kết quả nghiên cứu

- Phụ thuộc vào mối quan hệ có sẵn

- Tỉ lệ câu trả lời nhận được thấp có thể hạn chế kết quả khảo sát

- Có tiềm năng so sánh, ví dụ phân tích chi phí cơ hội và lợi ích

- Các nghiên cứu chứa đựng tính mới

và tính rủi ro do đó

có nhiều nhân tố có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu không thể quy thành tiền

- Khó xác định được đóng góp của từng thành phần, từng cá nhân hay của nhà tài trợ

Đánh giá dựa trên Đánh giá được số - Sản phẩm xác định - Phải đáp ứng các

Trang 25

dữ liệu về sáng chế lượng ít nhưng

mang tính chuyên môn, học thuật

- Khả năng ứng cao yêu cầu mới được

bảo hộ

1.2 Công nghệ

1.2.1 Khái niệm về công nghệ

Từ “công nghệ” có gốc Hy Lạp, nó được ghép bởi tekhne có nghĩa là kỹ năng và logos có nghĩa là sự nghiên cứu Thuật ngữ technology trong tiếng Anh

có thể hiểu là sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật

Có nhiều khái niệm về công nghệ

- Tổ chức PRODEC (1982) đưa ra quan niệm: “Công nghệ là mọi loại

kĩ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”

- Ngân hàng thế giới thì định nghĩa (1985): “Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: Thông tin về phương pháp; Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để chuyển hóa; Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”

- F.R.Root cho rằng: “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng đươc vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sang tạo ra sản phẩm mới”

- J.R.Dunning cho rằng: “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được

áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới”

- Nawar Sharif đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là là một hệ thống tri thức

về quá trình chế biến vật chất hoặc/và thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất hoặc/và thông tin” Công nghệ là một tập hợp phần cứng và

phần mềm bao gồm 4 yếu tố: phần kỹ thuật, phần thông tin, phần con người và phần tổ chức

Trong luận văn này tác giả sử dụng định nghĩa về công nghệ do tác giả

Trần Ngọc Ca đưa ra: “Công nghệ có thể được hiểu như là mọi loại hình kiến

Trang 26

thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép ) và mọi loại hình thiết bi, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác ( tổ chức, pháp chế, dịch vụ ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ”

Trong định nghĩa nêu trên, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản:

- Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, hệ thống

hạ tầng );

- Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm );

- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp );

- Dạng thiết chế tổ chức (sắp xếp cơ cấu nhân lực, cách thức điều hành,

thiết kế, sắp đặt hệ thống thiết bị…)

1.2.2 Đánh giá kết quả công nghệ

Cho tới nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá công nghệ, trong đó có thể đưa ra một vài định nghĩa như sau:

Đánh giá công nghệ là một dạng nghiên cứu chính sách nhằm cung cấp hiểu biết toàn diện về một công nghệ hay một hệ thông công nghệ cho đầu vào của quá trình ra quyết định

Đánh giá công nghệ là quá trình tổng hợp xem xét tác động giữa công nghệ với môi trường xung quanh nhằm đưa ra các kết luận về khả năng thực tế

và tiềm năng của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ

Đánh giá công nghệ là việc phân tích định lượng hay định tính các tác động của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ đối với các yếu tố của môi trường xung quanh

Khi đánh giá cần xem xét hàng loạt các yếu tố như sau:

- Các yếu tố công nghệ: Các chỉ tiêu liên quan đến khía cạnh kỹ thuật như năng lực, độ tin vậy và hiệu quả; các phương án lựa chọn công nghệ như độ linh hoạt và qui mô; mức độ phát triển của hạ tầng như sự hỗ trợ và dịch vụ

Trang 27

- Các yếu tố kinh tế: các chỉ tiêu phản ảnh các yếu tố này có thể là tính khả thi về kinh tế (chi phí – lợi ích); cải thiện năng suất (vốn là các nguồn lực khác); tiềm năng thị trường (qui mô, độ co giãn); tốc độ tăng trưởng và độ chuyển dịch

cơ cấu kinh tế

- Các yếu tố đầu vào: Một công nghệ có thể tác động đến mức độ dồi dào của nguyên vật liệu và năng lượng, tài chính và nguồn nhân lực có tay nghề

- Các yếu tố môi trường: Các chỉ tiêu phản ánh yếu tố này bao gồm môi trường vật chất, điều kiện sống, cuộc sống (độ an toàn và sức khỏe) và môi sinh

- Các yếu tố dân số: Một công nghệ có thể tác động đến tốc độ tăng trưởng dân số, tuổi thọ, cơ cấu dân số theo các chỉ tiêu khác nhau, trình độ học vấn và các đặc điểm về lao động (mức thất nghiệp và cơ cấu lao động)

- Các yếu tổ văn hóa – xã hội : Thuộc nhóm yếu tố này có chỉ tiêu như sự tác động đến cá nhân (chất lượng cuộc sống), tác động đến xã hội và sự tương thích với nền văn hóa hiện hành

- Các yếu tố chính trị - pháp lý: Một công nghệ có thể được chấp nhận về mặt chính trị hoặc là không, có thể đáp ứng được đại đa số nhu cầu của dân chúng hoặc là không, và có thể phù hợp hoặc không phù hợp với thể chế chính sách

Sự cần thiết của việc đánh giá công nghệ:

Ở các nước đang phát triển, đánh giá công nghệ gồm các mục đích như:

- Đánh giá công nghệ để chuyển giao hay áp dụng một công nghệ Để đạt được mục đích này, đánh giá công nghệ phải xác định được tính thích hợp của công nghệ đối với môi trường nơi áp dụng nó

- Đánh giá công nghệ để điều chỉnh và kiểm soát công nghệ Thông qua đánh giá công nghệ để nhận biết các lợi ích của một công nghệ, tận dụng các lợi ích và tìm ra các bất lợi tiềm tàng của công nghệ để có biện pháp điều chỉnh

- Đánh giá công nghệ cung cấp một trong những đầu vào cho quá trình ra quyết định:

+Xác định chiến lược công nghệ khi có thay đổi lớn trong chính sách kinh

tế - xã hội quốc gia

Trang 28

+ Khi quyết định chấp nhận các dự án tài trợ công nghệ của nước ngoài + Quyết định triển khai một công nghệ mới hay mở rộng một công nghệ đang hoạt động

+ Xác định thứ tự ưu tiên phát triển công nghệ của quốc gia trong từng giai đoạn

1.3 Sáng chế

1.3.1 Khái niệm sáng chế

Một trong những sản phẩm đặc biệt của nghiên cứu khoa học là sáng chế Sáng chế Sáng chế là loại thành tựu trong khoa học kỹ thuật và công nghệ Sáng chế (Tiếng Anh, Tiếng Pháp – invention, Tiếng Nga là izobretenije) là một giải pháp kỹ thuật mang tính mới về nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo và áp

dụng được Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế: Giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội” Luật SHTT của Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”

Ví dụ: James Watt sáng chế máy hơi nước, Nobel sáng chế công thức thuốc nổ TNT…

Sáng chế có khả năng áp dụng trực tiếp vào sản xuất và đời sống, nó có ý nghĩa thương mại, trong thực tế người ta có thể mua, bán sáng chế (chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế) hoặc license sáng chế (chuyển quyền sử dụng sáng chế)

Giá trị của bằng độc quyền sáng chế là tiện ích thương mại trong tương lai

có thể được chiết xuất từ việc sử dụng các bằng độc quyền sáng chế Các bằng độc quyền sáng chế có thể được sử dụng để bảo vệ sản phẩm của chính mình hoặc để tạo ra thu nhập cấp giấy phép

Giá trị của một bằng độc quyền sáng chế phụ thuộc vào lý do cho việc đánh giá và những người đang khai thác sáng chế Ngoài giá trị tiền tệ , bằng độc quyền sáng chế cũng có một giá trị phi tiền tệ Ví dụ, họ có thể cải thiện hình ảnh của một công ty Nhận được bằng độc quyền sáng chế cũng có thể làm tăng

Trang 29

uy tín của các nhà sáng chế và hoạt động như một động lực để sáng tạo lớn hơn

Có 3 tiêu chí bắt buộc để một giải pháp kỹ thuật được cấp Bằng độc quyền sáng chế (Patent), đó là: Có tính mới (so với thế giới); có trình độ sáng tạo; có khả năng áp dụng công nghiệp

Tính mới là một trong những tiêu chí hàng đầu của sáng chế (phát minh và

phát hiện không có tiêu chí này) Như vậy, một sáng chế không sử dụng tình trạng kỹ thuật đã biết Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác

ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền

ưu tiên

Trình độ sáng tạo của sáng chế được thể hiện trên 3 khía cạnh, đó là: Vấn

đề cần giải quyết, giải pháp cho vấn đề đó và các ưu điểm của sáng chế so với tình trạng kỹ thuật đã biết Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô

tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó

là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người

có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng

Khả năng áp dụng công nghiệp của một sáng chế là vệc sản xuất, sử dụng

sáng chế đó bằng những phương tiện kỹ thuật ở một quy mô nhất định Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định

1.3.2 Bảo hộ sáng chế

Bảo hộ sáng chế là việc Nhà nước thừa nhận một sáng chế là đối tượng sở hữu của một chủ thể (cá nhân, tổ chức) nhất định, được đánh dấu bằng việc cấp một bằng độc quyền sáng chế cho chủ sở hữu sáng chế đó Một hệ thống bảo hộ sáng chế bao gồm rất nhiều yếu tố như chính sách, các điều kiện về kinh tế, công

Trang 30

nghệ, môi trường pháp lý, hệ thống cơ quan thực thi quyền Sở hữu trí tuệ

Sáng chế được bảo hộ theo bằng độc quyền sáng chế do cơ quan có thẩm quyền cấp (Cục Sở hữu trí tuệ) Việc cấp văn bằng bảo hộ dựa trên cơ sở đơn do người nộp đơn nộp và phải trải qua quy trình thẩm định để xác định sáng chế có đáp ứng đủ các điều kiệm để được cấp hay không Một khi được cấp văn bằng bảo hộ thì chủ sở hữu sẽ có độc quyền sở hữu tài sản trí tuệ của mình Theo đó, bất kỳ ai muốn khai thác, sử dụng sáng chế cũng phải được sự cho phép của chủ

sở hữu Nếu không, hành vi đó sẽ bị coi là hành vi xâm phạm sáng chế hay vi phạm pháp luật Chỉ có chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ (hay còn gọi là chủ thể quyền) mới có quyền ứng dụng các kiến thức của mình vào cuộc sống, chỉ

có họ mới có quyền chuyển giao, phổ biến kiến thức của mình, chỉ có họ mới được phép bán những sản phẩm hình thành từ thành quả lao động sáng tạo của

họ Đổi lại, chủ sở hữu phải bộc lộ đầy đủ sáng chế sao cho một người có trình

độ kỹ thuật trung bình trong lĩnh vực tương ứng có thể thực hiện sáng chế

Ở Việt Nam, sáng chế còn được bảo hộ theo bằng độc quyền giải pháp hữu ích Giải pháp hữu ích thực ra là một sáng chế nhỏ, yêu cầu về trình độ sáng tạo không cao như sáng chế và thời hạn bảo hộ cũng ngắn hơn sáng chế

Bảo hộ sáng chế bị giới hạn theo lãnh thổ và theo thời gian có nghĩa là bằng độc quyền sáng chế chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia mà sáng chế đó được cấp, trong thời hạn 20 năm (đối với giải pháp hữu ích là 10 năm) Tuy nhiên, Nhà nước trao độc quyền sáng chế nhưng Nhà nước không tự động thực thi độc quyền sáng chế, mà việc tiến hành khởi kiện hành vi xâm phạm sáng chế thuộc

Các nguyên tắc và nội dung bảo hộ sáng chế

Trang 31

Một sáng chế phải đáp ứng một số tiêu chuẩn mới có thể được bảo hộ độc quyền Trước hết, sáng chế phải thuộc đối tượng được bảo hộ: phải có tính mới,

có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp Phạm vi bảo hộ được xác định theo yêu cầu bảo hộ ghi trong Bằng độc quyền sáng chế Thời gian bảo

hộ áp dụng với sáng chế là 20 năm, với giải pháp hữu ích là 10 năm tính từ ngày nộp đơn Khi sáng chế được cấp Văn bằng bảo hộ, các nội dung chi tiết của sáng chế được đưa vào Đăng bạ Các tài liệu liên quan (bản mô tả) sẽ được lưu lại và trở thành nguồn thông tin kỹ thuật cung cấp cho bên thứ ba với điều kiện phải nộp phí cung cấp tài liệu

Một khi được cấp bằng độc quyền sáng chế, chủ sở hữu có quyền thực thi theo luật định, quyết định ai được phép và không được phép khai thác sáng chế của mình Chủ sáng chế được hưởng quyền này trong thời hạn hiệu lực của sáng chế với điều kiện phải nộp đầy đủ các khoản lệ phí gia hạn và duy trì hiệu lực Tuy nhiên độc quyền sáng chế có thể bị giới hạn theo một số cách khác nhau

- Thứ nhất là quyền sử dụng trước đối với sáng chế: trước ngày đơn đăng

ký sáng chế được công bố mà có người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế đồng nhất với sáng chế trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng sáng chế trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc

đã chuẩn bị để sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu sáng chế

- Thứ hai là để duy trì độc quyền của mình, chủ sáng chế phải tự mình sử dụng sáng chế hoặc cấp li xăng cho người khác sử dụng sáng chế đó Li xăng không tự nguyện có thể được cấp cho bên thứ ba nếu sáng chế đó không được sử dụng

- Thứ ba là Chính phủ hoặc bên thứ ba được Chính phủ cho phép có thể sử dụng sáng chế vì mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân và đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế theo

Trang 32

các điều kiện được ấn định

Việc thực thi độc quyền sáng chế hoàn toàn phụ thuộc vào chủ sáng chế Chủ sở hữu là người có trách nhiệm phát hiện hành vi xâm phạm và khuyến cáo người xâm phạm Khi đó, chủ sáng chế có thể gửi thư khuyến cáo chỉ ra sự tồn tại của sáng chế với ngụ ý rằng mình sẽ khởi kiện nếu hành vi xâm phạm vẫn tiếp diễn Nếu người xâm phạm vẫn cố tình xâm phạm, chủ sáng chế có thể khởi kiện về hành vi xâm phạm, yêu cầu ngăn chặn hành vi sử dụng sáng chế trái phép Để xác định hành vi xâm phạm, chủ sở hữu phải chứng minh tất cả các dấu hiệu sau đây: thực hiện hành vi bị cấm, hành vi này thực hiện sau khi công

bố việc cấp sáng chế, hành vi thực hiện tại nước được cấp sáng chế Tuy nhiên, phần lớn tranh chấp về xâm phạm không phải đưa đến tòa án để giải quyết mà được giải quyết thông qua đàm phán Kết quả giải quyết hầu như dẫn đến việc cấp li xăng và bồi thường thiệt hại

Các chế tài dành cho chủ sáng chế khi diễn ra hành vi xâm phạm thường có hai hình thức: chế tài dân sự và chế tài hình sự Chế tài dân sự bao gồm bồi thường thiệt hại, ra lệnh cấm, thu giữ, tiêu hủy các sản phẩm xâm phạm hoặc những công cụ được sử dụng để sản xuất các sản phẩm xâm phạm đó Các chế tài hình sự là hình thức phạt tù hoặc phạt tiền hoặc áp dụng cả hai hình thức Khai thác sáng chế là vấn đề được các chủ sở hữu sáng chế quan tâm, bởi

nó mang lại lợi nhuận để bù lại công sức và chi phí đầu tư để tạo ra sáng chế Chủ sở hữu có thể bán hoặc cấp li xăng cho phép người khác sử dụng, hoặc chính tác giả sáng chế có thể trở thành nhà sản xuất bằng việc xây dựng nhà máy hoặc ký hợp đồng với các xưởng sản xuất khác

1.3.3 Khai thác sáng chế

Khai thác sáng chế là một khâu quan trọng trong chu trình sáng tạo trí tuệ

vì bằng việc khai thác sáng chế đó, chủ sở hữu sáng chế thu hồi được mọi chi phí tạo dựng, phát triển sáng chế đó, đồng thời có điều kiện tái đầu tư (vốn) để tiếp tục sáng tạo ra sáng chế mới Mặt khác, thông qua việc khai thác mà giá trị

Trang 33

của sáng chế ngày càng tăng, góp phần tạo dựng vị thế và phát triển giá trị thị trường của chủ sở hữu sáng chế

Việc khai thác, sử dụng sáng chế bao gồm những hình thức chủ yếu sau đây:

- Thương mại hoá sáng chế: là việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích thương mại dưới hình thức: sản xuất sản phẩm là sáng chế; áp dụng quy trình

là sáng chế; khai thác công dụng của sản phẩm hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình là sáng chế; lưu thông (bán), quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm nói trên; nhập khẩu sản phẩm sản phẩm nói trên

- Chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng, góp vốn bằng giá trị sáng chế

Chủ sở hữu sáng chế có quyền trực tiếp khai thác, sử dụng sáng chế thuộc quyền của mình hoặc cho phép (ủy quyền) người khác tiến hành khai thác, sử dụng sáng chế đó (trong trường hợp chủ sở hữu không có đủ điều kiện, khả năng tự khai thác, sử dụng hoặc có nhu cầu trao đổi giá trị sáng chế với người khác) Việc uỷ quyền có thể gồm hai dạng: chuyển nhượng quyền sở hữu (bán đứt), chuyển giao quyền sử dụng (li-xăng), bao gồm cả dạng góp vốn liên doanh, đầu tư Chuyển nhượng, chuyển giao quyền là hình thức phổ biến, đặc biệt là chuyển giao (li-xăng) quyền sử dụng và thường liên quan tới chuyển giao công nghệ

+ Chuyển nhượng quyền sở hữu, chủ sở hữu sáng chế trao cho bên nhận quyền sở hữu sáng chế của mình để đổi lấy một khoản tiền nhất định và khi đó bên nhận sẽ trở thành chủ sở hữu của sáng chế đó Việc đưa ra quyết định chuyển nhượng thường được xem xét một cách thận trọng, và nói chung là giải pháp ít được khuyến khích bởi vì chủ sở hữu chỉ thu lợi một lần duy nhất vào thời điểm bán sáng chế của mình mà không còn khả năng tiếp tục gặt hái lợi ích tiềm tàng trong tương lai từ sáng chế đó

+ Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế là việc chủ sở hữu sáng chế cho

Trang 34

phép người khác khai thác, sử dụng sáng chế của mình trong khoảng thời gian nhất định, trên một lãnh thổ nhất định và với một số điều kiện nhất định để lấy một khoản tiền (phí li-xăng) nhất định Trong trường hợp này, chủ sở hữu sáng chế (bên giao) chỉ được phép chuyển giao đối tượng thuộc quyền của mình và bên nhận quyền sử dụng chỉ nhận những gì mình cần và không có quyền định đoạt đối với sáng chế được chuyển giao, cụ thể: bên nhận không được tự ý cải tiến sáng chế nếu hợp đồng li-xăng không cho phép làm điều đó

Hình thức chuyển giao quyền sử dụng phổ biến hơn là chuyển nhượng quyền sử dụng sáng chế Việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế được thực hiện thông qua một hợp đồng bằng văn bản, và tuỳ theo pháp luật của mỗi nước, hợp đồng này có thể phải được đăng ký với Cơ quan Sở hữu trí tuệ mới

có giá trị pháp lý Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối với sáng chế, hợp đồng chuyển nhượng chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại Cơ quan Sở hữu trí tuệ; hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng có hiệu lực theo thoả thuận giữa các bên, nhưng chỉ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng

ký tại Cơ quan Sở hữu trí tuệ

1.3.4 Đánh giá kết quả công nghệ dưới hình thức sáng chế

Đánh giá công nghệ không có các công cụ và kỹ thuật riêng, do đây là một

bộ môn khoa học còn mới mẻ Các công cụ dùng trong đánh giá thường được vay mượn từ các ngành khoa học– xã hội và khoa học hệ thống như:

Trang 35

Một kỹ thuật phân tích mới cũng đã được sử dụng trong đánh giá công nghệ, đó là phương pháp phân tích kịch bản (Senario analysis) Mỗi kịch bản là một chuỗi các sự kiện được giả thiết xây dựng nhằm mục tiêu tập trung sự chú ý vào các quá trình nhân quả và các thời điểm có tính quyết định Phương pháp phân tích kịch bản phát sinh từ lý thuyết trò chơi và mô phỏng bằng máy tính được coi là một kỹ thuật mạnh để khảo sát tương tác giữa một thực thể với môi trường xung quanh ở hiện tại và trong tương lai

Ở Việt Nam, thì việc đánh giá công nghệ còn nhiều bất cập Trong đó, phương pháp Đánh giá trình độ công nghệ (ĐGTĐCN) được đề cập trong khá nhiều tài liệu trong và ngoài nước Tài liệu hiện được các nhóm đánh giá tham khảo nhiều nhất là Phương pháp ĐGTĐCN của tổ chức Atlat (1989) đã được Bộ Khoa học Công nghệ dịch ra tiếng Việt (1997), và Các chỉ tiêu ĐGTĐCN (1989)

Bộ chỉ tiêu này đó đã được chỉnh sửa nhiều lần theo tinh thần của Phương pháp Atlat, đề cao hơn vai trò của “phần mềm” gồm con người, thông tin và tổ chức Phiên bản chỉnh sửa gần nhất là thông tư “Hướng dẫn ĐGTĐCN sản xuất” (2004), được các đề tài tham khảo khi xây dựng hệ tiêu chí, sau khi lựa chọn phương pháp luận phù hợp Dù vậy, các nhóm chỉ thống nhất ở điểm chính là ĐGTĐCN theo 4 thành phần: Thiết bị (T), Con người (H), Thông tin (I) và Tổ chức (O) Các tiêu chí và thang đo hầu như không thống nhất, thậm chí cách tổng kết điểm thành phần để có điểm TĐCN chung cũng khác nhau, như vậy đánh giá theo phương pháp khác nhau sẽ đưa ra kết quả đánh giá khác nhau

công nghệ

Phương pháp luận Atlas công nghệ dựa trên chín bước thực hiện đánh giá trình độ công nghệ của K.Ramanathan Phương pháp này tập trung đánh giá sự thay đổi giá trị trong sản lượng khi có một sự thay đổi về trình độ công nghệ

Để thực hiện phương pháp này đầy đủ cần có một hệ thống thu thập dữ liệu rất mạnh và ổn định lâu dài Sau đây là tóm tắt quy trình chín bước thực hiện, theo

Trang 36

tài liệu Atlas hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ và theo tác giả Ngô Văn Quế:

Bước 1: Khái quát toàn bộ ngành công nghiệp

Công việc này nhằm chỉ ra vị trí của nước có ngành công nghệip đó trên thế giới Những mặt cần tập trung xem xét là các khuynh hướng xuất khẩu, những thay đổi công nghệ, các loại hình đầu tư, các đặc điểm về nguồn nhân lực, các

nỗ lực R&D, sự chuyển giao công nghệ mới… Nếu cần thiết, cũng cần phải xem xét lại các đặc trưng công nghệ của các công ty thuộc ngành công nghiệp đó về triển vọng kỹ thuật

Bước 2: Đánh giá định tính các đặc trưng công nghệ

Đây là bước đánh giá các đặc điểm công nghệ ở cấp ngành dựa trên bốn thành phần công nghệ và môi trường công nghệ Để đánh giá định tính bốn thành phần công nghệ, người ta sử dụng khái niệm cấp tinh xảo của từng thành phần đó Việc đánh giá toàn bộ ngành công nghiệp được thực hiện nếu chỉ ra được ý nghĩa của từng thành phần công nghệ trong nước Thay vì liệt kê toàn bộ các cấp tinh xảo hiện nay, người ta xác định những thành phần trội nhất của một ngành công nghiệp ở từng nước

• Trước hết, thực hiện kiểm tra chất lượng bốn thành phần công nghệ và thu thập tất cả các thông tin phù hợp

• Các loại chính của phần con người có thể bao gồm công nhân, đốc công, cán bộ quản lý, cán bộ R&D Nhưng trong phần Thông tin và phần Tổ chức, việc đánh giá chỉ được thực hiện ở cấp toàn công ty

• Trong thực tiễn việc lựa chọn mức độ tinh xảo cho các phương tiện chuyển đổi phụ thuộc vào đặc tính nguyên liệu đầu vào, các thuộc tính cần có của sản phẩm đầu ra, các yếu tố kinh tế có liên quan và những cân nhắc về chính trị - xã hội và pháp lý khác

Sau khi có giới hạn tinh xảo trên và dưới của bốn thành phần công nghệ, vị trí của mỗi thành phần nằm trong khoảng các giới hạn này phụ thuộc vào trình

độ hiện đại của nó Trình độ hiện đại của công nghệ cũng được đánh giá dựa trên bốn thành phần công nghệ T – H – I – O

Trang 37

Bước 3: Đánh giá hàm lượng công nghệ gia tăng (TCA)

Hàm lượng công nghệ gia tăng được dùng để đo trình độ phát triển kinh tế của một doanh nghiệp, một ngành hay một quốc gia Nó chứa đựng sự đóng góp công nghệ và sự phát triển kinh tế, nếu những giá trị TCA của tất cả các công ty nằm trong ngành xác định được thì ta sẽ nhận được giá trị TCA cấp ngành bằng cách tính tổng những giá trị đó

Bước 4: Đánh giá hàm lượng nhập khẩu đầu vào

Việc xác định hàm lượng nhập khẩu đầu vào giúp ta nắm được mức độ phụ thuộc của nền công nghiệp một nước vào các nước khác Bằng cách ước lượng dưới dạng đại lượng vật lý hoặc giá trị tiền tệ, các hàm lượng nhập khẩu (HLNK) đầu vào được tính như sau:

• HLNK phần Tự nhiên = Lượng nhập khẩu/ Tổng số sử dụng

• HLNK phần Bán thành phẩm = Lượng nhập khẩu/ Tổng số sử dụng

• HLNK phần Tiêu dùng = Lượng nhập khẩu/ Tổng số sử dụng

• HLNK phần Kỹ thuật = Lượng nhập khẩu/ Tổng số sử dụng

• HLNK phần Con người = Số công nhân nước ngoài/ Tổng số công nhân

• HLNK phần Thông tin = Chi phí bản quyền/ Chi phí R&D và bản quyền phải trả

• HLNK phần Tổ chức = Giá trị gia tăng do các công ty nước ngoài/ Tổng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp

Bước 5: Đánh giá hàm lượng xuất khẩu (HLXK) đầu ra

Đây là cách giúp ta nắm được tính cạnh tranh của các sản phẩm đầu ra của một ngành công nghiệp, phương thức tính toán như sau:

• HLXK phần Tự nhiên = Lượng xuất khẩu/ Tổng sản phẩm

• HLXK phần Bán thành phẩm = Lượng xuất khẩu/ Tổng sản phẩm

• HLXK phần Tiêu dùng = Lượng xuất khẩu/ Tổng sản phẩm

• HLXK phần Kỹ thuật = Lượng xuất khẩu/ Tổng sản phẩm

• HLXK phần Con người = Số công nhân làm việc ở nước ngoài/ Tổng số công nhân (trong và ngoài nước)

Trang 38

• HLXK phần Thông tin = Tiền bản quyền và các loại phí thông tin thu được từ nước ngoài/ Tổng số phí và tiền bản quyền thu được

• HLXK phần Tổ chức = Giá trị gia tăng nhờ đầu tư của chủ thể trong nước

ra nước ngoài/ Tổng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp

Bước 6: Đánh giá giai đoạn triển khai công nghệ

Bằng cách quan sát khối lượng các yếu tố đầu vào nhập khẩu và các yếu tố đầu ra xuất khẩu, người ta có thể xác định vị trí phát triển công nghệ mà quốc gia đó đang đứng Bước này đánh giá hiệu quả của những tác động phát triển công nghệ

Bước 7: Đánh giá định tính mức độ đổi mới

Công việc này được thực hiện bằng cách kiểm tra sản phẩm, quá trình công nghệ, và các ứng dụng mới trong một ngành công nghiệp Trước tiên, những đổi mới công nghiệp được xem xét riêng rẽ ở từng phạm trù sản phẩm, quá trình công nghệ và các ứng dụng công nghệ Sau đó, ta tiến hành việc phân tích để xem xét mỗi đổi mới đó ở pha nào của vòng đời công nghệ Việc đánh giá định tính sẽ cho phép ta hình dung được phần nào trình độ công nghệ của ngành công nghiệp đó và hướng phát triển tương lai của nó

Bước 8: Đánh giá định lượng mức độ đổi mới

Đánh giá định lượng mức độ đổi mới của một ngành công nghiệp bằng cách xác định tỷ lệ tương đối của đầu ra/ đầu người ở các pha khác nhau của vòng đời công nghệ Người ta không tính đến pha triển khai, vì khó tính được số sản phẩm đầu ra ở pha này, cũng như rất khó nắm được các thông tin cá nhân

Bước 9: Lập báo cáo tổng thể trình độ công nghệ

Tất cả những chỉ số thu được từ việc áp dụng các bước trên có thể tổ hợp lại trong một bảng tổng kết giúp ta thấy được trình độ tổng thể của một ngành công nghiệp Đó là sự tổ hợp của các thông số đã thu được ở các bước trên:

• Khái quát chung về ngành công nghiệp

• Đánh giá định tính các đặc trưng công nghệ

• Hàm lượng công nghệ gia tăng

• Hàm lượng nhập khẩu đầu vào

Trang 39

• Hàm lượng xuất khẩu đầu ra

• Tính đổi mới của các đầu ra

Phương pháp đánh giá trình độ công nghệ theo K.Ramanathan là một phương pháp đánh giá toàn diện ảnh hưởng của trình độ công nghệ lên giá trị gia tăng sản lượng Tuy nhiên, phương pháp này còn nhiều nhược điểm và chưa phù hợp với việc đánh giá kết quả công nghệ theo sáng chế Các sáng chế có thể không tính được hàm lượng xuất nhập khẩu hay năng lực của một tổ chức nào nếu sáng chế thuộc về cá nhân

Hiện nay trên thế giới, tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới đã sử dụng một số công cụ để đánh giá sáng chế Trong đó, EPO đã mua , thông qua và phân phối phần mềm " IPscore " cho cơ quan sáng chế quốc gia các nước thành viên của

IPscore, được phát triển bởi các bằng độc quyền sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá Văn phòng Đan Mạch trong hợp tác với Trường Kinh doanh và công nghiệp Copenhagen, cho phép bạn thực hiện một đánh giá định tính

Phương pháp IPscore được sử dụng để đánh giá công nghệ, bằng độc quyền sáng chế và danh mục đầu tư bằng độc quyền sáng chế trong nội bộ, trong các công ty, và cung cấp một khuôn khổ cho việc đánh giá và quản lý chiến lược bằng độc quyền sáng chế Đánh giá IPscore của một bằng độc quyền sáng chế bao gồm năm loại: pháp lý , công nghệ, thị trường, tài chính và chiến lược Mỗi câu hỏi liên quan đến chỉ số giá trị khác nhau Trong mỗi câu hỏi bằng độc quyền sáng chế được đánh giá 1-5 theo điểm mạnh và điểm yếu của nó Cùng với nhau, các chỉ số 40 hoặc hơn giá trị tạo thành một hình ảnh toàn bộ các bằng độc quyền sáng chế và các rủi ro liên quan (ví dụ như sự tồn tại của một công nghệ thay thế ) hoặc các cơ hội (ví dụ như chiến thắng thị trường mới ) Những sau đó được hiển thị trong bảng khác nhau và các hình thức đồ họa được sử dụng bởi quản lý đưa ra quyết định chiến lược Bằng cách này IPscore có thể hiển thị thông tin liên quan đến quá trình ra quyết định và tạo điều kiện đa chức năng hợp tác trong các công ty

Trang 40

Như vậy, có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá kết quả công nghệ

dưới hình thức sáng chế

1.4 Thông tin sáng chế

1.4.1 Khái niệm thông tin sáng chế

Thông tin sáng chế là các thông tin kỹ thuật, thông tin thương mại và thông tin pháp lý chứa đựng trong các tư liệu sáng chế do các Cơ quan Sáng chế quốc gia và các Tổ chức SHCN quốc tế công bố theo định kỳ về các sáng chế đã được nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ và các sáng chế đã được cấp bằng

Tư liệu sáng chế là một loại tư liệu thông tin chuyên dạng của hệ thống thông tin khoa học kỹ thuật Cùng với các nguồn thông tin khoa học kỹ thuật khác, tư liệu sáng chế là một bộ phận quan trọng của tiềm lực khoa học công nghệ của một quốc gia

1.4.2 Vai trò của thông tin sáng chế đối với hoạt động nghiên cứu và triển khai

Thông tin sáng chế là nguồn thông tin khoa học công nghệ lớn nhất: Không

có một số liệu thống kê chính xác về tổng số tư liệu sáng chế đã được công bố từ trước đến nay, nhưng theo Cơ quan Patent châu Âu có thể ước tính là trên 60 triệu Đây là tập hợp đầy đủ và có hệ thống các giải pháp công nghệ mà loài người đã tạo ra trongvòng hai thế kỷ qua và cũng là nguồn thông tin khoa học công nghệ lớn nhất

- Thông tin sáng chế là nguồn thông tin khoa học công nghệ mới nhất, được công bố sớm nhất: Theo luật sáng chế của hầu hết các nước trên thế giới, nếu như có nhiều người cùng tạo ra một giải pháp kỹ thuật đạt tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế, thì Bằng độc quyền sáng chế chỉ được cấp cho người nào nộp đơn sáng chế sớm nhất, những người nộp đơn sau sẽ bị từ chối Để bảo vệ quyền lợi của mình, bao giờ người ta cũng rất khẩn trương nộp đơn đăng ký sáng chế, vì vậy thông tin sáng chế bao giờ cũng được công bố sớm nhất

- Thông tin sáng chế là nguồn thông tin công nghệ có độ tin cậy cao: Nguồn thông tin công nghệ chứa trong tư liệu sáng chế là cụ thể, xác thực, có thể áp dụng ngay vào thực tiễn chứ không dừng ở trạng thái lý thuyết, giả định

Ngày đăng: 02/12/2016, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Báo cáo Chương trình hành động về hợp tác phòng chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ giai đoạn 2006 – 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chương trình hành động về hợp tác "phòng chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ giai đoạn 2006 – 2010
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2007
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Thông tƣ của số 01/2007/TT-BKH&CN ngày 14 tháng 02 năm 2007: hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP "ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2007
4. Nguyễn Văn Kim (2015), Nghiên cứu, phân tích và so sánh kết quả nghiên cứu khoa học và tiềm lực các lĩnh vực KH&CN chủ chốt của Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực thuộc Đề án “Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đến năm 2020” , Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, phân tích và so sánh kết quả nghiên cứu "khoa học và tiềm lực các lĩnh vực KH&CN chủ chốt của Việt Nam với một số "quốc gia trong khu vực" thuộc Đề án "“Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ "đến năm 2020”
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 2015
5. Hoàng Thị Hải Yến (2011), Tác động của chính sách khoa học và công nghệ tới bảo hộ sáng chế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn ThS ngành: Quản lý khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của chính sách khoa học và công nghệ tới "bảo hộ sáng chế
Tác giả: Hoàng Thị Hải Yến
Năm: 2011
6. Kamil Idris (2012), Sở hữu trí tuệ một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), tr. 24-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu trí tuệ một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế
Tác giả: Kamil Idris
Năm: 2012
7. Phạm Duy Nghĩa (2003), Tài sản trí tuệ ở Việt Nam: Từ quan điểm đến các rào cản và cơ chế bảo hộ, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài sản trí tuệ ở Việt Nam: Từ quan điểm đến các rào "cản và cơ chế bảo hộ
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Năm: 2003
8. Phạm Phi Anh, Trần Văn Hải (2011), Sáng chế và mẫu hữu ích, Bài giảng dành cho chuyên ngành SHTT, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng chế và mẫu hữu ích, Bài giảng dành "cho chuyên ngành SHTT
Tác giả: Phạm Phi Anh, Trần Văn Hải
Năm: 2011
9. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam , sửa đổi, bổ sung năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam , sửa
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2005
12. Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế Giới (WIPO), Hướng dẫn soạn thảo đơn đăng ký sáng chế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn soạn thảo đơn đăng ký
13. Trần Văn Hải (2007), Bàn về các thuật ngữ “phát minh”, “phát hiện”, “SC”,Tạp chí Hoạt động khoa học, số 6.2007 (577), tr. 26 – 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các thuật ngữ “phát minh”, “phát hiện”, "“SC”
Tác giả: Trần Văn Hải
Năm: 2007
14. Trần Văn Hải (2013), Tính mới trong việc bảo hộ sáng chế đối với các bài thuốc cổ truyền của Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, Tập 29, Số 2, tr.7-15.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính mới trong việc bảo hộ sáng chế đối với các bài thuốc "cổ truyền của Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Hải
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Chỉ tiêu về năng lực khoa học và tầm ảnh hưởng của ĐHQG- - Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động rd ở các trường đại học tại việt nam thông qua thông tin sáng chế
Bảng 2.1. Chỉ tiêu về năng lực khoa học và tầm ảnh hưởng của ĐHQG- (Trang 56)
Bảng 2.2. Tổng số công bố quốc tế của các trường nghiên cứu và phát triển - Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động rd ở các trường đại học tại việt nam thông qua thông tin sáng chế
Bảng 2.2. Tổng số công bố quốc tế của các trường nghiên cứu và phát triển (Trang 57)
Bảng 2.3. Thống kê đơn đăng ký sáng chế của người Việt Nam và người - Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động rd ở các trường đại học tại việt nam thông qua thông tin sáng chế
Bảng 2.3. Thống kê đơn đăng ký sáng chế của người Việt Nam và người (Trang 60)
Bảng 2.6. Thống kê Đơn chuyển giao quyền sở hữu sáng chế/giải pháp hữu - Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động rd ở các trường đại học tại việt nam thông qua thông tin sáng chế
Bảng 2.6. Thống kê Đơn chuyển giao quyền sở hữu sáng chế/giải pháp hữu (Trang 63)
Bảng 3.9. Mẫu phiếu điều tra - Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động rd ở các trường đại học tại việt nam thông qua thông tin sáng chế
Bảng 3.9. Mẫu phiếu điều tra (Trang 107)
Bảng 3.10. Kết quả điều tra - Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động rd ở các trường đại học tại việt nam thông qua thông tin sáng chế
Bảng 3.10. Kết quả điều tra (Trang 108)
Bảng 3.11. Điểm trọng số của các tiêu chí - Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động rd ở các trường đại học tại việt nam thông qua thông tin sáng chế
Bảng 3.11. Điểm trọng số của các tiêu chí (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w