Dưới góc độ Chính trị học, tác giả nghiên cứu đời sống chính trị với những quan hệ, khung cảnh và chủ thể chính trị như các công dân, đảng chính trị, quan hệ giữa các chủ thể khác nhau,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
DÒNG BÁO CHÍNH TRỊ VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1925 - 1945
LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
DÒNG BÁO CHÍNH TRỊ VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1925 - 1945
Chuyên ngành: BÁO CHÍ HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS ĐỖ QUANG HƯNG
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
GS.TS Đỗ Quang Hưng GS.TS Phùng Hữu Phú
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Tên đề tài luận án không trùng với bất cứ nghiên cứu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, rõ ràng và chính xác Những kết quả nêu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Đỗ Quang Hưng, người đã gợi
ý tưởng, truyền cảm hứng, giảng dạy cho tôi về phương pháp, tri thức và tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận án này
Tôi xin gửi lời tri ân đến GS Hà Minh Đức, thầy đã hướng dẫn tôi khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ và cho tôi những động viên tinh thần trong quá trình làm luận án Xin cảm ơn PGS.TS Đinh Văn Hường, Ban Chủ nhiệm Khoa và các thầy cô giáo trong Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã đào tạo tôi suốt cả quá trình từ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ Báo chí
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến GS.TS Phùng Hữu Phú, Ban Chủ nhiệm Khoa, các thầy cô giáo, anh chị em đồng nghiệp ở Khoa Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, về những chỉ bảo, góp ý cũng như
sự quan tâm, khích lệ trong suốt quá trình tôi làm nghiên cứu sinh Đặc biệt, xin được cảm ơn chị Vũ Thị Minh Thắng, người đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc biên dịch các tài liệu tiếng Pháp và đọc bản thảo luận án
Tôi cũng muốn dành cơ hội này để gửi lời cảm ơn đến TS Eva Hansson, cô giáo đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu ở Đại học Stockholm, Thụy Điển Xin cảm ơn các thầy, cô giáo, các nhà báo ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hội Nhà báo, các cơ quan báo chí đã trả lời phỏng vấn và cho tôi thêm những chỉ dẫn trong quá trình nghiên cứu Cảm ơn các cán bộ ở Thư viện Quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Viện Sử học, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Trung Tâm Thông - Tin Thư viện - ĐHQGHN và nhiều cơ quan khác đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khai thác tư liệu phục vụ luận án Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, ở cả trong và ngoài nước, đã động viên, khích lệ
Đặc biệt, Luận án này xin được dành tặng Gia đình - Bố mẹ, Chồng và các con, những người đã chịu nhiều hy sinh, vất vả, yêu thương và chia sẻ cùng tôi trong suốt thời gian tôi làm luận án!
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Giả thuyết nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận án 6
7 Cấu trúc của luận án 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 8
1.1.1 Nhóm các công trình về lịch sử báo chí 8
1.1.2 Về mối quan hệ báo chí và đời sống chính trị 13
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 15
1.2.1 Về báo chí và đời sống chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đến năm 1945 15
1.2.2 Về lý thuyết truyền thông chính trị 18
1.3 Những thành tựu đã đạt được và những vấn đề cần giải quyết 22
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BÁO CHÍ VÀ ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ 25
2.1 Khái niệm dòng báo chính trị, đời sống chính trị 25
2.1.1 Khái niệm dòng báo chính trị 25
2.1.2 Khái niệm đời sống chính trị 29
2.2 Các lý thuyết về mối quan hệ báo chí và đời sống chính trị 31
2.2.1 Quan điểm mác xít 31
2.2.2 Các lý thuyết khác 39
Tiểu kết chương 2 45
CHƯƠNG 3: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN DÒNG BÁO CHÍNH TRỊ
TRONG ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM (1925-1945) 46
3.1 Cơ sở hình thành dòng báo chính trị ở Việt Nam 46
3.1.1 Cơ sở chính trị-xã hội 46
3.1.2 Cơ sở văn hóa-tư tưởng 51
3.2 Các giai đoạn phát triển của dòng báo chính trị ở Việt Nam 54
3.2.1 Giai đoạn trước năm 1925 54
3.2.2 Giai đoạn 1925 đến 1936 56
3.2.3 Giai đoạn 1936 đến 1939 58
3.2.4 Giai đoạn 1939 đến Cách mạng tháng Tám 1945 60
3.3 Các khuynh hướng của dòng báo chính trị 61
3.3.1 Báo chí theo khuynh hướng mác xít 62
3.3.2 Báo chí theo khuynh hướng dân tộc cách mạng và đối lập chính quyền 64
3.3.3 Báo chí theo khuynh hướng thân chính quyền và chủ nghĩa quốc gia cải lương 66
3.3.4 Báo chí theo khuynh hướng Trotskyist 68
Trang 63.4 Lực lượng làm báo chính trị 69
3.4.1 Các nhà Nho cấp tiến 69
3.4.2 Giới trí thức Tây học 71
3.4.3 Các nhà báo cách mạng 74
Tiểu kết chương 3 77
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT DÒNG BÁO CHÍNH TRỊ
Ở VIỆT NAM (1925-1945) 79
4.1 Nội dung dòng báo chính trị ở Việt Nam (1925-1945) 79
4.1.1 Thể hiện thái độ chính trị 79
4.1.2 Phản ánh các phong trào yêu nước và cách mạng 82
4.1.3 Đấu tranh tư tưởng và lý luận 85
4.1.4 Cổ động, tổ chức quần chúng tranh đấu 94
4.2 Nghệ thuật làm báo chính trị 1925-1945 96
4.2.1 Hoạt động tổ chức tòa soạn 96
4.2.2 Tổ chức trang báo và thể hiện chuyên mục 100
4.2.3 Tổ chức “nhóm báo” 102
4.2.4 Phong cách báo chí chính trị 104
Tiểu kết chương 4 111
CHƯƠNG 5: VAI TRÒ CỦA DÒNG BÁO CHÍNH TRỊ VỚI ĐỜI SỐNG
CHÍNH TRỊ VIỆT NAM (1925-1945) VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC 113
5.1 Vai trò của dòng báo chính trị với đời sống chính trị Việt Nam (1925-1945) 113
5.1.1 Vũ khí tư tưởng của các đảng phái và phong trào chính trị 113
5.1.2 Nâng cao lòng yêu nước và nhận thức chính trị của quần chúng 117
5.1.3 Làm rung chuyển chính quyền thuộc địa 125
5.2 Một số bài học 129
5.2.1 Báo chí - một thành công lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 129
5.2.2 Dòng báo chính trị-lực lượng chủ lực của chủ nghĩa dân tộc 133
5.2.3 Vấn đề lãnh đạo và quản lý báo chí 136
5.2.4 Xây dựng đội ngũ làm báo chính trị 139
5.2.5 Kinh nghiệm về nghệ thuật làm báo chí chính trị 141
Tiểu kết chương 5 144
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC
Trang 7HÌNH VẼ/BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
TÊN HÌNH VẼ/BIỂU ĐỒ TRANG
Mô hình về quá trình sản xuất, nội dung và hiệu quả của truyền
thông chính trị 27
Trang 8TƯ Trung ương
TVQG Thư viện Quốc gia
UBTƯ Ủy ban Trung ương
VSH Viện Sử học
VTTKHXH Viện Thông tin Khoa học Xã hội
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Báo chí Việt Nam ra đời gần như cùng với công cuộc xâm lăng của thực dân Pháp trên đất nước ta Báo chí trước hết là công cụ phục vụ cho chương trình khai hoá thuộc địa của thực dân Pháp Nhưng rất nhanh chóng, các nhà yêu nước và cách mạng Việt Nam đã nắm lấy vũ khí này, đấu tranh một cách có hiệu quả cho những mục tiêu chính trị cụ thể Báo chí đã theo sát từng bước đi trong cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp trong lòng xã hội Việt Nam “Lịch sử báo chí Việt Nam đồng thời cũng là sự phản ánh của lịch sử cận đại Việt Nam, là lịch sử của cuộc đấu tranh giành độc lập tự do và cũng phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa một nền báo chí thực dân với một nền báo chí yêu nước và cách mạng” [65, tr.7] Báo chí đã đóng một vai trò đặc biệt quan trọng ở Việt Nam vì bên cạnh mục tiêu thông tin, báo chí còn là phương tiện giáo dục, là vũ khí tranh đấu, thậm chí là diễn đàn lý luận - tư tưởng của các đảng phái, các phong trào chính trị
Năm 1925, sự ra đời của báo Thanh Niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập cũng chính là mốc mở đầu cho nền báo chí cách mạng Việt Nam Từ đây đến
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, qua hai thập kỷ, báo chí cách mạng đã hình thành và phát triển mạnh mẽ Nhưng bên cạnh đó là sự phát triển nhanh chóng về số lượng và phân hoá một cách sâu sắc về những màu sắc chính trị-xã hội của lịch sử báo chí Việt Nam Năm 1925 cũng “đánh dấu một bước ngoặt trong biến chuyển của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, bởi vì đây chính là thời điểm ra đời của các đảng phái chính trị” [78, tr 534], các phong trào chính trị ở Việt Nam mà báo chí là cơ quan ngôn luận Có thể nói đời sống chính trị giai đoạn 1925-1945 đan xen nhiều mâu thuẫn dân tộc, giai cấp, các xu hướng khiến cho hoạt động báo chí càng phức tạp Bên cạnh báo chí theo khuynh hướng mác xít, hệ thống báo chí ngày càng phát triển mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dòng báo chính trị còn phát triển một cách đa dạng theo các khuynh hướng khác như báo chí thân chính quyền
và chủ nghĩa quốc gia cải lương; báo chí theo khuynh hướng dân tộc cách mạng và đối lập chính quyền; báo Trotskyist, v.v Báo chí vừa là tấm gương phản ánh các phong trào chính trị, vừa tác động trở lại đối với những phong trào đó Chính trên diễn đàn báo chí, các tư tưởng chính trị Việt Nam đã được phản ánh, đồng thời phản chiếu cả những cuộc đấu tranh giữa các hệ tư tưởng, để rồi từ đó, báo chí đã góp phần tổ chức, củng cố, phát triển các phong trào chính trị Việt Nam Báo chí chính trị giống như những cuốn sổ lịch đại, vừa phản chiếu đời sống chính trị Việt Nam, vừa phản ánh những hơi thở của đời sống văn hóa dân tộc
Đề tài “Dòng báo chính trị với đời sống chính trị Việt Nam giai đoạn
1925-1945” đã được lựa chọn cho luận án tiến sĩ báo chí bởi rất nhiều lý do
Trước hết, sự vận động phong phú của dòng báo chính trị trong đời sống
chính trị Việt Nam giai đoạn 1925-1945 đã tạo cảm hứng và niềm say mê cho
Trang 10nghiên cứu sinh với với đề tài này Báo chí với sự đa màu sắc, đa giọng điệu, có dòng báo thân chính quyền, nhưng cũng có dòng báo đấu tranh mạnh mẽ với chính quyền thực dân, và bản thân các dòng báo vừa tồn tại cùng nhau, nhưng cũng cạnh tranh và xung đột với nhau mạnh mẽ làm nên một bức tranh đa dạng của báo chí Việt Nam, đòi hỏi cần được phân tích, đánh giá “Dòng báo chính trị” là một khái niệm khoa học, nhưng cũng là ngôn ngữ của đời sống, vận hành theo nguyên tắc của đời sống, hàm chỉ báo chí chính trị Chúng tôi hoàn toàn không loại trừ các tạp chí chính trị trong đối tượng khảo sát của mình
Bên cạnh đó, trong một bối cảnh lịch sử cụ thể, khi thực dân Pháp đang áp
đặt ách cai trị ở Việt Nam, xuất bản và dung dưỡng cho báo chí phục vụ chính quyền thực dân, thì các nhà dân tộc cách mạng và những người cộng sản cũng đã nắm lấy báo chí để phục vụ cho những mục tiêu chính trị Tác giả luận án muốn đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Tại sao báo chí cách mạng, dòng báo xuất bản bí mật, bất hợp pháp, tồn tại trong điều kiện cực kỳ khó khăn và thiếu thốn, lại có thể đóng vai trò to lớn trong quá trình vận động cách mạng và góp phần quan trọng tạo nên thành công của cách mạng Việt Nam?
Hơn nữa, dòng báo chính trị luôn chế ngự trong đời sống báo chí và chính trị Việt Nam cận, hiện đại Dòng báo chính trị rất phong phú, phức tạp, không chỉ là dòng báo của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, đa phần các nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu dòng báo cách mạng, báo chí của Đảng Cộng sản và một số báo chí yêu nước, khuynh tả mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện dòng báo chính trị với các khuynh hướng báo chí ở Việt Nam Với luận án này, tác
giả dựng lên diện mạo dòng báo chính trị Việt Nam giai đoạn 1925-1945, đi sâu
phân tích và lý giải một cách đầy đủ và hệ thống về cơ sở hình thành, sự phát triển của dòng báo chính trị Việt Nam, các khuynh hướng báo chí chính trị, lực lượng làm báo chính trị cũng như nội dung và nghệ thuật dòng báo chính trị Việt Nam trong giai đoạn này
Về mối quan hệ của dòng báo chính trị với đời sống chính trị Việt Nam, tác giả luận án không có khả năng liên tưởng, giải quyết trọn vẹn mối quan hệ giữa báo chí và chính trị hiện nay Nhưng từ việc phân tích vị trí, vai trò của dòng báo chính trị trong đời sống chính trị Việt Nam (1925-1945), ý thức được cần phải trau dồi và nâng cao tính cách báo chí chính trị ở nước ta trong bối cảnh kinh tế thị trường, khi cách làm báo đang xuất hiện những biểu hiện lệch lạc, thương mại hóa, chúng tôi rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá khứ về xử lý mối quan hệ giữa báo chí
và chính trị để vận dụng vào thực tiễn báo chí Việt Nam đương đại Từ xưa đến nay, dòng báo chính trị luôn có vị trí quan trọng, không chỉ là việc tuyên truyền cho đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, mà còn phải phản ánh những sắc thái chính trị từ đời sống, là diễn đàn ngôn luận của nhân dân Tác giả luận án hy vọng
có thể đóng góp vào việc nghiên cứu báo chí truyền thông ở Việt Nam hiện nay, góp phần vào việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của báo chí chính trị
Trang 112 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Luận án nhằm phục hiện diện mạo tương đối hoàn chỉnh về dòng báo chính trị ở Việt Nam giai đoạn 1925-1945, qua đó thấy được vai trò của dòng báo này đối với đời sống chính trị Việt Nam và rút ra một số bài học về mối quan hệ giữa báo chí và chính trị
Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ cách đặt vấn đề về mục đích nghiên cứu như trên, những nhiệm vụ nghiên cứu chính được xác định như sau:
- Xác định một khung lý thuyết về mối quan hệ báo chí và chính trị theo quan điểm mác xít (C.Mác, Ph Ăng ghen, V.I Lênin, Hồ Chí Minh), có đối chiếu
với những lý thuyết truyền thông phương Tây hiện đại; xác định hệ khái niệm (dòng
báo chính trị, dòng báo chính trị ở Việt Nam)
- Định nghĩa khái niệm dòng báo chính trị ở Việt Nam; làm rõ cơ sở ra đời
và phát triển dòng báo chính trị và các khuynh hướng báo chí chính trị; lực lượng làm báo chính trị; nội dung và nghệ thuật làm báo chính trị giai đoạn 1925-1945
- Phân tích vai trò của dòng báo chính trị đối với các đảng phái và phong trào chính trị giai đoạn 1925-1945, với quần chúng nhân dân và sự tác động đến chính quyền thuộc địa
- Rút ra một số bài học trong việc nhận thức và xử lý mối quan hệ báo chí và chính trị trong giai đoạn 1925-1945 đối với thực tiễn báo chí và chính trị hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong luận án này, đối tượng nghiên cứu là dòng báo chính trị ở Việt Nam
giai đoạn 1925-1945 Báo chí chính là cơ quan ngôn luận của các đảng phái, các
phong trào chính trị, qua đó chúng tôi tìm hiểu vai trò của dòng báo chính trị đối
với đời sống chính trị Việt Nam giai đoạn 1925-1945
Phạm vi thời gian là báo chí chính trị giai đoạn 1925-1945, nhưng tập trung nghiên cứu những tờ báo, tạp chí tiêu biểu nhất của các đảng phái, các khuynh hướng chính trị, ngoài ra có tham khảo một số tờ báo có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị Việt Nam trước năm 1925 Vì số lượng các đảng phái ở Việt Nam trước năm 1945 khá lớn, nên luận án cũng chỉ tập trung vào những đảng phái, xu hướng chính trị có hoạt động báo chí sôi nổi và hiệu quả nhất
Phạm vi không gian là báo chí chính trị tiêu biểu ở cả ba miền Bắc Trung Nam, chủ yếu tập trung vào báo chí tiếng Việt, có so sánh đối chiếu với một số báo chí tiếng Pháp
-Cụ thể, đối tượng và phạm vi khảo sát là những tờ báo của các khuynh hướng chính trị như sau:
Trang 12- Báo chí theo khuynh hướng mác xít - dĩ nhiên đây là đối tượng nghiên cứu chủ yếu bao gồm hệ thống báo chí của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng Cộng sản
Đông Dương) (Dân Chúng, Tin Tức, Tạp Chí Cộng Sản, Giải Phóng, Cờ Giải
Phóng) và của các tổ chức cách mạng, tổ chức chính trị -xã hội đi theo hệ tư tưởng
Mác -Lênin (Thanh Niên, Lao động, Việt Nam Độc Lập, Cứu Quốc v.v.)
- Báo thân chính quyền và theo khuynh hướng chủ nghĩa quốc gia cải lương
(khuynh hướng chính trị thân thực dân, có sự bảo trợ của chính quyền): Đông Pháp,
Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong Tạp Chí, La Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ), La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương)
- Báo theo khuynh hướng dân tộc cách mạng và đối lập chính quyền: Đông
Pháp Thời Báo, La Cloche Fêlée (Tiếng chuông rè), L’Annam, Le Nhà quê v.v
- Báo theo khuynh hướng Trotskyist: La Lutte, Tháng Mười
Vì không có đủ sử liệu nên tác giả không nghiên cứu dòng báo chí thân Nhật,
dù đây cũng là một dòng báo tồn tại khoảng 6 năm trong giai đoạn này
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Luận án được tiếp cận theo nguyên tắc liên ngành, kết hợp giữa Báo chí học, Chính trị học và Sử học
Trên cơ sở trục lý thuyết Báo chí học, tác giả luận án dựa vào lý thuyết về
loại hình báo chí để nghiên cứu một dòng báo đặc biệt là dòng báo chính trị Đây là
dòng báo quan trọng bậc nhất trong hệ thống báo chí ở Việt Nam giai đoạn
1925-1945, bởi mục đích của báo chí chính trị là giành quyền lực Ngoài ra, tác giả cũng
sử dụng trục lý thuyết liên quan đến Chính trị học, trong đó các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung, báo chí nói riêng được coi là một công cụ, phương tiện
để giành quyền lực chính trị Theo lý thuyết Chính trị học, đây chính là nghệ thuật
sử dụng báo chí trong hoạt động chính trị
Dưới góc độ Báo chí học, tác giả tiếp cận hệ thống, nghiên cứu một cách toàn diện và kỹ lưỡng tất cả những gì có liên quan đến một tờ báo như tòa soạn, ban biên tập, hình thức và nội dung của tờ báo để thấy được tính chất và diễn biến về đường lối của mỗi tờ báo cũng như đối tượng độc giả của báo chí
Dưới góc độ Chính trị học, tác giả nghiên cứu đời sống chính trị với những quan hệ, khung cảnh và chủ thể chính trị như các công dân, đảng chính trị, quan hệ giữa các chủ thể khác nhau, các quá trình tham gia chính trị, đặc biệt là những lý thuyết về các dạng quyền lực (quyền lực nhà nước, quyền lực xã hội, quyền lực truyền thông), sử dụng các phạm trù chính trị hiện đại như truyền thông chính trị
Dưới góc độ Sử học, tác giả nghiên cứu dòng báo chính trị ở Việt Nam giai đoạn 1925-1945 theo trình tự thời gian (lịch đại), đồng thời nhìn thấu vào quá trình chuyển biến, những tác động của các điều kiện lịch sử cụ thể đến sự vận động của dòng báo chính trị (đồng đại), phân tích sử liệu học
Trang 13Dựa trên cơ sở các tư liệu thu thập được và cách tiếp cận liên ngành, tác giả
đã sử dụng các phương pháp cụ thể:
Phương pháp phân tích văn bản: tác giả phân tích các bài viết tiêu biểu trên
các tờ báo, tạp chí thuộc dòng báo chính trị Việt Nam 1925-1945 để tìm ra đặc điểm nội dung và phương thức làm báo chính trị trong giai đoạn này
Phương pháp so sánh lịch sử: tác giả phân tích điểm tương đồng và khác biệt
trong nội dung và hình thức trình bày, trong cách tranh cãi và lập luận của báo chí theo các khuynh hướng khác nhau để thấy được sự vận động đa dạng của dòng báo chính trị giai đoạn 1925-1945
Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả tiến hành phỏng vấn một số chuyên gia
là các nhà báo lão thành từng tham gia lãnh đạo, quản lý thực tiễn báo chí Việt Nam; các nhà nghiên cứu báo chí; nhà sử học có am hiểu về lịch sử báo chí Việt Nam; nhà quản lý báo chí và nhà báo chính trị hiện đang làm việc tại cơ quan báo chí chính trị để phục vụ cho đề tài luận án Mục đích của phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu quan điểm của các chuyên gia để làm rõ hơn mối quan hệ giữa truyền thông và chính trị nói chung, báo chí và chính trị nói riêng; làm rõ khái niệm dòng báo chính trị và vai trò của dòng báo chính trị với đời sống chính trị Việt Nam giai đoạn 1925-
1945 và những bài học kinh nghiệm trong việc xử lý mối quan hệ giữa báo chí và chính trị hiện nay Các buổi phỏng vấn đều xin phép được ghi âm Kết quả phỏng vấn đã được mã hóa để sử dụng trong luận án
Để hoàn thành được những nội dung nêu trong luận án, tác giả đã tham khảo các nguồn tài liệu cơ bản sau:
Nguồn tài liệu chủ yếu, tài liệu sơ cấp, được sử dụng nhiều nhất trong luận
án là các tờ báo, tạp chí chính trị giai đoạn 1925-1945 hiện đang được lưu trữ ở Thư viện Quốc gia, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I - Phông Phủ Toàn quyền Đông Dương (các tài liệu thuộc series D61 - Cơ quan kiểm duyệt báo chí, F3 - Các báo cáo chính trị của chính quyền, F71- Báo chí nước ngoài) và Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia), Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Sử học Việt Nam, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Thư viện Khoa Lịch sử -Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, v.v
Bên cạnh đó là các nguồn tài liệu thứ cấp: các công trình nghiên cứu về lý luận báo chí, lịch sử báo chí, lịch sử các phong trào chính trị Việt Nam được công
bố dưới dạng sách, các bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học; quan điểm của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước; hồi ký của các chính khách, các nhà báo; quan điểm của các học giả nước ngoài về lịch sử cận hiện đại, về báo chí với đời sống chính trị
ở Việt Nam và về các lý thuyết truyền thông chính trị v.v
Trang 145 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu hiểu một cách đơn giản nhất, giả thuyết là “câu trả lời” cho những “câu hỏi” đã được trình bày trong “vấn đề khoa học” thì vấn đề mà chúng tôi muốn nêu ra trong luận án này là: Mối quan hệ giữa báo chí và đời sống chính trị? Khái niệm dòng báo chính trị ở Việt Nam và diện mạo của nó? Vai trò của dòng báo chính trị đối với đời sống chính trị Việt Nam 1925-1945 và những bài học cho báo chí hiện nay?
Các giả thuyết nghiên cứu mà tác giả luận án đặt ra như sau:
Thứ nhất, dòng báo chính trị ở Việt Nam là dòng báo chí chuyên biệt của một tổ chức, một đảng phái, một nhóm xã hội đi theo một xu hướng chính trị nhất định; nội dung chủ yếu của nó phản ánh những vấn đề chính trị - xã hội và có tác động trực tiếp đến đời sống chính trị Việt Nam
Thứ hai, đã có một dòng báo chính trị ở Việt Nam trong giai đoạn 1925-1945
Dòng báo chính trị ở Việt Nam chỉ có thể hình thành khi có sự xuất hiện các giai cấp mới (giai cấp tư sản, tiểu tư sản, công nhân), các tổ chức, đảng phái và phong trào chính trị sử dụng báo chí làm cơ quan ngôn luận của mình, có tiếng nói độc lập với chính quyền thực dân, đồng thời có sự tiếp biến các giá trị tư tưởng - văn hóa phương Tây và sự ảnh hưởng của các yếu tố quốc tế
Thứ ba, nội dung và nghệ thuật làm báo chính trị trong giai đoạn
1925-1945 rất phức tạp và đa dạng, gắn với các khuynh hướng báo chí khác nhau Các
dòng báo đã đã tồn tại cùng nhau, nhưng cũng xung đột và đấu tranh với nhau một cách mạnh mẽ, tạo nên một bức tranh đa sắc gồm báo chí thân chính quyền và chủ nghĩa quốc gia cải lương; báo chí theo khuynh hướng dân tộc cách mạng và đối lập chính quyền; báo chí theo khuynh hướng Trotskyist và báo chí theo khuynh hướng mác xít
Thứ tư, dòng báo chính trị đã có vai trò quan trọng đối với đời sống chính trị Việt Nam 1925-1945 và để lại những bài học quý báu trong việc xử lý mối quan hệ báo chí và chính trị hiện nay
Luận án sẽ lần lượt trình bày các luận cứ và luận chứng để chứng minh cho các giả thuyết khoa học này
6 Đóng góp của luận án
Chúng tôi hướng đến cái mới là: lần đầu tiên có một công trình nghiên cứu
phục hiện lại một cách tương đối hoàn chỉnh về dòng báo chính trị Việt Nam giai đoạn 1925-1945 với các khuynh hướng báo chí chính trị tiêu biểu trong giai đoạn này Cũng là lần đầu tiên có một công trình nghiên cứu loại hình báo chí gắn với quyền lực chính trị Như vậy luận án không chỉ phục hiện mà còn tìm ra
nghệ thuật sử dụng báo chí trong cuộc đấu tranh giành quyền lực, giành chính quyền ở Việt Nam, từ đó rút ra những nhận định cần thiết về mối quan hệ giữa báo chí và đời sống chính trị
- Phác họa một cái nhìn tổng quan theo quan điểm mác xít và các lý thuyết khác về mối quan hệ truyền thông và chính trị nói chung, báo chí và chính trị nói
Trang 15riêng; nhìn nhận rằng báo chí chính trị ở Việt Nam dưới chế độ thuộc địa đã đi theo
mô hình báo chí chính trị của Pháp
- Khắc họa diện mạo, cơ sở hình thành, sự phát triển của dòng báo chính trị ở Việt Nam giai đoạn 1925-1945 Luận án có cái nhìn so sánh để từng bước dựng lại các khuynh hướng báo chí chính trị ở Việt Nam và lực lượng làm báo chính trị trong giai đoạn này, không chỉ là đội ngũ nhà báo, phóng viên mà cả những người đứng sau hậu trường như các nhà quản lý, chủ nhiệm, cả những người mang hai dòng máu Pháp - Việt ít được chú ý trong các công trình nghiên cứu báo chí trước đây
- Phân tích nội dung và nghệ thuật dòng báo chính trị ở Việt Nam, trong đó tập trung làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong nội dung của các khuynh hướng báo chí chính trị; nghệ thuật làm báo của báo chí công khai, hợp pháp và nghệ thuật tuyên truyền của báo chí xuất bản bí mật dưới chính quyền thực dân
- Trên cơ sở phân tích tài liệu lưu trữ, đánh giá sự tác động của dòng báo chính trị đến chính quyền thuộc địa, đến các đảng phái và phong trào chính trị, đến công chúng; từ đó rút ra một số bài học và ý nghĩa lịch sử
Với ý nghĩa như vậy, về phương diện lý luận, tác giả luận án sẽ đóng góp vào
lý luận báo chí truyền thông định nghĩa về dòng báo chính trị ở Việt Nam, đồng thời
góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý thuyết về mối quan hệ báo chí và chính trị; góp phần bổ sung, phát triển một nội dung lý thuyết quan trọng của chuyên ngành Báo chí học (Truyền thông chính trị)
Về phương diện thực tiễn, trong giai đoạn hiện nay, khi việc xây dựng nền
báo chí truyền thông, vấn đề báo chí và chính trị đang có những diễn biến mới, phong phú và phức tạp thì việc tìm ra những đặc điểm, thành tựu giải quyết mối quan hệ này trong lịch sử báo chí sẽ là những gợi ý thiết thực và có giá trị đối với những người hoạt động báo chí cũng như các nhà lãnh đạo, quản lý báo chí ở Việt Nam Luận án cũng có thể là một nguồn tư liệu có giá trị tham khảo đối với sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Báo chí học, Chính trị học, Lịch sử cũng như những mối quan tâm nghiên cứu về Lịch sử báo chí, Truyền thông và Chính trị ở Việt Nam
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 5 chương, 13 tiết
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về mối quan hệ báo chí và đời sống chính trị
Chương 3: Sự hình thành và phát triển dòng báo chính trị trong đời sống chính trị Việt Nam (1925-1945)
Chương 4: Nội dung và nghệ thuật dòng báo chính trị ở Việt Nam (1925-1945) Chương 5: Vai trò của dòng báo chính trị với đời sống chính trị Việt Nam
(1925-1945) và bài học kinh nghiệm
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1 Nhóm các công trình về lịch sử báo chí
Trước năm 1945 đã có một số tác giả nghiên cứu về lịch sử báo chí, như
Diệp Văn Kỳ với công trình Chế độ báo giới Nam Kỳ (1938), Hoa Bằng với một loạt bài viết trên tạp chí Tri Tân (1941,1942) như “Từ bước tiến tới của báo giới
Việt Nam đến những biến thiên của quốc văn trên trang báo chí” [10], “Trên đường văn hóa thế giới: từ nghề ấn loát ngoại quốc đến nghề ấn loát Việt Nam” [11],
“Những cái lạ tai trong làng báo” [12], “Những thủ tục làm thành tờ báo ở xứ ta” [13] v.v Tuy nhiên, các công trình mới dừng lại ở quy mô những bài viết trên tạp chí, hay một cuốn sách nhỏ khắc họa một số nét khái quát về báo giới Việt Nam trong buổi đầu, về một số vấn đề cụ thể như báo chí với chữ quốc ngữ, nghề in, thủ tục làm báo v.v mà chưa phải là công trình chuyên khảo đi sâu phân tích sự hình thành, phát triển của lịch sử báo chí Việt Nam
Sau năm 1945, đã có những khảo cứu khá công phu của các nhà nghiên cứu
về lịch sử báo chí như: Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1930 (Huỳnh Văn Tòng, 1973); Lược sử báo chí Việt Nam (Nguyễn Việt Chước, 1974); 120 năm báo
chí Việt Nam (Hồng Chương, 1985); Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam (Hồng
Chương, 1987); Báo chí cách mạng Việt Nam 1925-1945 (Nguyễn Thành, 1984);
Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945 (Đỗ Quang Hưng chủ biên, 2000, 2001); Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1945 (Huỳnh Văn Tòng, 2000); Diện mạo báo chí chính trị Việt Nam trước năm 1954 (Hoàng Văn Quang, 2010) v.v
Huỳnh Văn Tòng với công trình Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến
1930 [133], sau bổ sung, phát triển trong cuốn Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến năm 1945 [134] là một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu một cách bài bản và
hệ thống về lịch sử báo chí Việt Nam Ông phân chia báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ
đến 1945 thành bốn thời kỳ: thời kỳ đầu tiên (1865-1907); thời kỳ thứ hai 1918); thời kỳ thứ ba (1918-1930); thời kỳ thứ tư (1930-1945) Trong từng thời kỳ,
(1907-tác giả đã miêu tả những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của báo chí, những tờ báo tiêu biểu, đặc biệt đã có những đánh giá vai trò của báo chí trên phương diện văn học và xã hội, trên lĩnh vực chính trị, trên lĩnh vực kỹ thuật và nghề nghiệp Một số vấn đề đặc biệt của làng báo Việt Nam như bản chất, cơ cấu về xã hội và nghề nghiệp của độc giả, báo chí và vấn đề tài chính cũng đã được nêu ra Tuy nhiên, sự đánh giá
về vai trò của báo chí đối với đời sống chính trị trong từng thời kỳ cũng chỉ là những nhận xét bước đầu đơn giản, và cũng không phải là trọng tâm nghiên cứu của tác giả trong công trình này Huỳnh Văn Tòng cũng đánh giá quá thấp khả năng của báo chí trong việc ảnh hưởng đến thế giới quan chính trị của độc giả, trong sự tác động đến nhận thức, thái độ và hành vi chính trị của họ Công trình của tác giả hình thành ở miền Nam trước năm 1975 nên chưa đề cập nhiều đến báo chí miền Bắc
Trang 17Nguyễn Thành trong công trình nghiên cứu về Báo chí cách mạng Việt Nam
1925-1945 [120] đã có những tìm tòi, nghiên cứu rất công phu về phương diện tư
liệu Căn cứ vào các thời kỳ phát triển của cách mạng Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945, tác giả đã chia quá trình phát triển của báo chí cách mạng làm bốn thời kỳ, viết thành bốn chương: thời kỳ 1925-đầu năm 1930; thời kỳ 1930-1936; thời kỳ 1936-1939; thời kỳ 1936-1945 Trong từng chương, theo từng thời kỳ, tác giả đều dựng lại theo cấu trúc: những nét khái quát về tình hình chính trị xã hội của Việt Nam, chính sách báo chí của địch, tình hình báo chí xuất bản công khai, hợp pháp, báo chí cách mạng và giới thiệu một số tờ báo cách mạng tiêu biểu Ngoài ra, tác giả xây dựng Danh mục báo chí cách mạng Việt Nam 1925-1945 một cách rất
cụ thể, chi tiết [120] Tuy nhiên, nghiên cứu về báo chí, tác giả chủ yếu đi vào nội dung, vào chức năng nhiệm vụ, còn về hình thức trình bày, về chuyên môn nghiệp
vụ báo chí chỉ điểm qua một số nét rất khái lược; về đội ngũ cán bộ làm báo cũng chỉ tìm hiểu trong một giới hạn nhất định Vậy nên, công trình rất có giá trị về phương diện tư liệu, viết một cách công phu, chi tiết, nhưng chủ yếu về phương diện nội dung, còn những vấn đề của “nghề báo” chưa được khai thác nhiều Tác giả cũng chưa đánh giá một cách toàn diện về vai trò của báo chí cách mạng đối với đời sống chính trị Việt Nam 1925-1945
Đỗ Quang Hưng (chủ biên) để lại nhiều dấu dấn trong công trình Lịch sử báo
chí Việt Nam 1865-1945 cả về phương diện tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Công trình gồm 5 chương và chương tổng luận, nhóm tác giả đã đi từ buổi đầu tiên của báo chí Việt Nam cho đến báo chí xứ Bắc Kỳ trước và trong chiến tranh thế giới thứ nhất, báo chí Việt Nam trong thời kỳ 1919-1930, báo chí Việt Nam trong thời
kỳ 1930-1939 và báo chí Việt Nam thời kỳ 1939-1945 Rất nhiều nhận xét về sự phát triển của báo chí Việt Nam trước năm 1945 đã được nêu ra, như “tính cách thuộc địa” của báo chí trong thời kỳ này, nhưng “báo chí Việt Nam vẫn phát triển,
và phát triển khá nhanh theo những quy luật nội tại của nó” [65, tr 221], “báo chí Việt Nam trước năm 1945 không phải là một khái niệm thuần nhất” [65, tr 224] Vị trí, vai trò của báo chí trên phương diện chính trị - xã hội và trên phương diện văn hoá cũng đã được tác giả đánh giá, cũng như những nhận xét về báo chí - một nghề mới, một sự nghiệp đã được phác hoạ Cách viết không quá nặng vào việc mô tả nội dung chi tiết mà đưa ra một cái nhìn tổng quan về lược đồ báo chí Việt Nam 1865-
1945, các dòng báo, các khuynh hướng báo chí, mối quan hệ của sự phát triển báo chí với cuộc đấu tranh dân tộc, giai cấp, sự đụng độ và tiếp xúc văn hoá Đông Tây trên địa hạt báo chí, những giá trị xã hội, chính trị và văn hoá của báo chí lúc đó làm cho cuốn sách khá hấp dẫn, lôi cuốn Tuy nhiên, vì phạm vi nghiên cứu rất rộng nên các tác giả cũng chỉ đánh giá một cách tổng quan nhất cho từng giai đoạn và chọn một số tờ báo tiêu biểu để bình luận, chưa dừng lại để phân tích dòng báo chính trị
và vai trò của dòng báo chính trị trong đời sống chính trị Việt Nam 1925-1945
Trang 18Nhóm công trình của Hồng Chương: 120 năm báo chí Việt Nam [19], Tìm
hiểu lịch sử báo chí Việt Nam [20] chủ yếu miêu tả lại lịch trình diễn tiến của lịch
sử báo chí Việt Nam từ 1865 đến 1985 Trong đó, tác giả cho rằng lịch sử báo chí
Việt Nam có thể chia làm hai thời kỳ: thời kỳ 1865-1925 là thời kỳ báo chí chính thống của chủ nghĩa thực dân; thời kỳ 1925-1985 với ba giai đoạn: 1925-1945, báo
chí ở địa vị là báo chí của thực dân, báo chí cách mạng phải đấu tranh chống chủ
nghĩa thực dân và báo chí thực dân để tồn tại và phát triển; 8.1945-4.1975: báo chí
cách mạng Việt Nam đã trở thành báo chí chính thống của dân tộc Việt Nam, song phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài để bảo vệ địa vị là báo chí thống
trị trong cả nước; 1975 về sau: báo chí chính thống của nước Việt Nam hoà bình,
thống nhất và xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, cách phân chia của tác giả vẫn cần phải được tranh luận, vì bản thân cách nhìn nhận thời kỳ 1865-1925 là thời kỳ báo chí chính thống của chủ nghĩa thực dân cũng không hẳn, bởi trong đó đã có những mầm mống báo chí chống đối chính quyền thực dân, khuynh tả và đối lập Cách đánh giá của tác giả cũng còn quá nặng về tính chính trị, tập trung vào báo chí của Đảng Cộng sản, báo chí cách mạng mà chưa thấy hết những giá trị lịch sử, văn hoá của các khuynh hướng báo chí khác
Tóm lại, có thể thấy rằng hầu hết các công trình nghiên cứu về lịch sử báo chí đều chủ yếu trình bày lược sử báo chí Việt Nam; các dòng báo, các khuynh hướng báo chí; sự phát triển báo chí với cuộc đấu tranh dân tộc, giai cấp; những giá trị xã hội, chính trị và văn hoá của báo chí lúc đó mà chưa tập trung vào dòng báo chính trị và mối quan hệ báo chí - chính trị, vai trò báo chí đối với đời sống chính trị Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể
Gần đây nhất, Hoàng Văn Quang đã có một tập chuyên khảo Diện mạo báo
chí chính trị Việt Nam trước năm 1954 (2010), trong đó nêu những tác động của
lịch sử đối với sự hình thành các khuynh hướng báo chí Việt Nam; báo chí Việt Nam dưới thời Pháp thuộc; các khuynh hướng báo chí thời kỳ kháng chiến chống Pháp Đây là công trình đầu tiên đặt tên một cách trực tiếp “diện mạo báo chí chính trị Việt Nam”, trong đó tác giả khắc họa báo chí phục vụ mục tiêu khai hóa của thực dân Pháp, báo chí yêu nước, báo chí cách mạng Công trình đã trình bày sự vận động của báo chí Việt Nam trong từng thời kỳ trước năm 1954 khá rõ nét, tuy nhiên mới là một tài liệu chuyên khảo cho sinh viên, chưa được tác giả in và phát hành rộng rãi để phục vụ bạn đọc
Cũng nghiên cứu về lịch sử báo chí, nhưng có những công trình tập trung
khảo sát về một số tờ báo hay các nhân vật báo chí tiêu biểu như: Sự nghiệp báo chí
của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nguyễn Thành, 1995); Lịch sử báo Tiếng Dân (Nguyễn
Thành, 1992); Nguyễn An Ninh (Nguyễn An Tịnh sưu tầm); Sự tiến hoá liên tục của
Nguyễn An Ninh một lãnh tụ cách mạng hùng biện (Hà Huy Giáp, 1989); Nguyễn
An Ninh (Nhiều tác giả, 1988); Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong: 1917-1934
Trang 19(Nguyễn Khắc Xuyên, 2002); Tạp chí Tri Tân 1941-1946: Các bài viết về lịch sử và
văn hoá Việt Nam (Sưu tầm và tuyển chọn: Nguyễn Quang Ân, Phạm Đình Nhân,
Phạm Hồng Toàn, 2000), Tạp chí Cộng sản những chặng đường phát triển (Nguyễn Phú Trọng chủ biên, Nguyễn Trọng Thụ, Lê Trì, 1995); Huỳnh Thúc Kháng tác
phẩm (Nguyễn Q Thắng, 1992); Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (UBTƯ Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam - Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 1997); Luật sư Phan Văn
Trường (Nguyễn Phan Quang - Phan Văn Hoàng, 1995) v.v Các công trình này
rất có giá trị, tuy nhiên chủ yếu tập trung vào một tờ báo, một tạp chí, một nhân vật báo chí nhất định mà thiếu sự nhìn nhận trong một tổng thể, đánh giá tổng quát vai trò của báo chí chính trị trong đời sống chính trị Việt Nam 1925-1945
Bên cạnh đó, một số lượng khá lớn hồi ký của những người làm báo đã được
xuất bản như Hồi ký Trần Huy Liệu (1991); Hồi ký Vũ Đình Hoè (1995), Hồi ký
Thanh Nghị (2000); Những chặng đường báo Cứu quốc (Xuân Thuỷ, Nguyễn
Thành Lê, Nguyễn Văn Hải, Tô Hoài, Nguyễn Tiêu, 1987); Bốn mươi năm nói láo (Vũ Bằng, 2001), 41 năm làm báo (Hồ Hữu Tường, 1968) hay hồi ký của những người từng là chứng nhân lịch sử giai đoạn trước năm 1945 như Một cơn gió bụi (Trần Trọng Kim), Nhớ nghĩ chiều hôm (Đào Duy Anh), Ngồi tù khám lớn (Phan
Văn Hùm) v.v
Có thể nói rằng đây là những tác phẩm viết rất hấp dẫn, là tiếng nói của những người trong cuộc, nên sống động, chi tiết, với hơi thở của cuộc sống trên từng trang
giấy Cụ thể, Hồi ký Thanh Nghị, Vũ Đình Hoè là chủ nhiệm của tờ báo từ số đầu đến
số cuối, một nhà hoạt động xã hội, nhà trí thức lớn, có uy tín, một chứng nhân trong một thời kỳ sóng gió và vinh quang của lịch sử nước nhà Tác giả đã cố gắng tái hiện
lại báo Thanh Nghị và nhóm Thanh Nghị, từ xuất xứ và tổ chức cho đến hoạt động của Thanh Nghị hướng vào cuộc đấu tranh dân tộc và hoạt động khảo cứu của Thanh
Nghị - phụng sự Tổ quốc Riêng về vấn đề chính trị, Thanh Nghị đã có những khảo
cứu về chế độ chính trị, như dân chủ và Hiến pháp, chế độ Nhà nước ta sau này, vấn
đề làng xã tự trị, đồng thời có những hoạt động hướng vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Có thể nói đây là một công trình có giá trị phong phú về nhiều mặt lịch sử, văn hoá, xã hội Tuy nhiên, chính như lời tác giả, công trình này không phải không có những hạn chế: “Chuyện xảy ra đã quá nửa thế kỷ rồi Hầu như những người trong cuộc đã khuất bóng Nhiều sự việc khá quan trọng mình chỉ nhớ mang máng Nhất là phải làm sống lại sự việc cho trung thực và đúng với bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, đúng với tâm trạng những người chủ trì tờ báo thì thật là thiên nan, vạn nan Ngay cả ngôn từ dùng để diễn đạt cũng không hoàn toàn giống khi xưa” [62, tr 9]
Trần Huy Liệu là một nhà báo xuất sắc trong lịch sử báo chí Việt Nam, người từng tham gia sáng lập Đảng Thanh niên, chủ trương Cường Học thư xã, gia nhập Đảng Cộng sản rồi trở thành Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền và Cổ động, thay mặt Chính phủ cách mạng chấp nhận sự thoái vị của Hoàng đế Bảo đại và đảm nhiệm
Trang 20nhiều trọng trách của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồi ký Trần Huy Liệu
tái hiện lại chân dung ông cũng như cả một thời đại qua những sự kiện lịch sử cụ thể [84] Bởi ông vừa là nhân chứng, là nhân vật lịch sử, đồng thời lại là nhà viết sử, những biến cố lịch sử gắn với những cảm nhận của ông đã giúp người đọc nhận thức được những vấn đề lớn của lịch sử, đất nước và những người đương thời trong
cả một giai đoạn dài của lịch sử dân tộc, trong đó có giai đoạn trước năm 1945 Hoạt động báo chí của Trần Huy Liệu trước năm 1945, gắn với sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam, sự chuyển đổi lập trường từ một thành viên của Việt Nam Quốc dân đảng sang đảng viên Đảng Cộng sản, những tác động của báo chí đối với đời sống chính trị cũng đã được tái hiện Tuy nhiên, vì đây là công trình tập hợp những mẩu hồi ký riêng lẻ của ông, nên nhìn tổng thể đôi khi bị đứt đoạn, chưa liền mạch, và chưa đánh giá khái quát vai trò của báo chí trong đời sống chính trị Việt Nam
Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng là một thiên tự truyện và hồi kể nổi
tiếng của ông về một giai đoạn đáng nhớ của lịch sử văn học và báo chí nước nhà,
từ những năm 30 dưới chế độ Pháp thuộc đến tận những năm dưới chế độ Mỹ - Nguỵ sau này Mặc dù tiêu đề cuốn sách có vẻ như ngang tàng, nhưng gần 400 trang sách là những tư liệu quý giá, những sự thật sống động về một dòng chảy báo chí công khai, tự do, từ “Báo tếu”, “Báo đấu tranh”, “Báo xây dựng”, “Báo hại” cho đến suy nghĩ “Báo là gì” như ông đặt tên cho từng phần của cuốn sách [15] Ông viết một cách chân thực và sinh động về những thăng trầm được thua của hàng chục
tờ báo trong thời Pháp thuộc, và cái tôi của ông cũng được chìm lấp giữa bao khuôn hình bạn bè khác Không chỉ được nghe Vũ Bằng “nói láo” về nghề làm báo, mà độc giả còn được nghe biết bao những câu chuyện kỳ thú về những nhân vật báo chí một thủa như Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Tích Chu, Phùng Tất Đắc, Đào Trinh Nhất,
Vũ Đình Long, Vũ Trọng Phụng v.v Bốn mươi năm nói láo “còn có thể là lịch sử
một kiếp sống lê thê của người viết báo chuyên nghiệp xứ này” [15, tr 9] Như vậy, thiên tự truyện của ông đã giúp tái hiện lại nghề báo và những người làm báo trong giai đoạn trước năm 1945 với lối diễn tả giản dị và cách khắc hoạ thật sinh động Tuy nhiên, với cách viết trào lộng chứ không phải là một công trình khảo cứu chi tiết với các nguồn chú giải cụ thể, cuốn sách nghiêng về một tác phẩm văn học chứ không phải là một công trình nghiên cứu một cách hệ thống, với luận cứ, luận chứng rõ ràng và đánh giá một cách chuyên sâu
Những chặng đường báo Cứu Quốc lại là tập hồi ký của nhiều tác giả, được
viết theo sáng kiến của Xuân Thuỷ, nguyên Chủ nhiệm báo Cứu Quốc, tờ báo được
sáng lập vào năm 1942 và kéo dài cho đến thắng lợi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, dẫn đến sự hợp nhất hai cơ quan ngôn luận của Mặt trận
là báo Cứu Quốc và báo Giải phóng Trong tập hồi ký này, khi tái hiện những chặng đường báo Cứu Quốc, Xuân Thuỷ đã mô tả lại việc tổ chức báo Cứu Quốc trước
Trang 21Cách mạng tháng Tám [131] Tuy nhiên, ảnh hưởng và tác động của tờ báo nói riêng, báo chí cách mạng nói chung đối với đời sống chính trị Việt Nam trước năm
1945 cũng chưa được khắc hoạ rõ nét
Như vậy, điểm qua một số công trình nghiên cứu về lịch sử báo chí nói chung, lịch sử hình thành và phát triển các tờ báo nói riêng và các tập hồi ký tiêu biểu của các tác giả về hoạt động báo chí trước năm 1945, chúng ta thấy rằng tuy
có những công trình khảo cứu khá công phu về lịch sử báo chí Việt Nam cũng như hồi ức sống động của những người trực tiếp làm báo trong một giai đoạn lịch sử, nhưng hầu hết các công trình chưa phân tích vai trò của tờ báo nói riêng
và cả dòng báo chính trị nói chung trong đời sống chính trị Việt Nam giai đoạn 1925-1945
Các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam cận đại ít nhiều có đề cập đến hoạt động báo chí trong giai đoạn 1858-1945 Tiêu biểu như công trình Sự
phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám (gồm 3
tập, Trần Văn Giàu, 1973, 1975, 1993) [46,47,48] David Marr, một trong những học giả có uy tín nhất về Việt Nam ở phương Tây đã nhận xét về bộ sách của Trần Văn Giàu “Trong số các công trình đã xuất bản bằng mọi thứ tiếng trên thế giới thì
đó là bộ sử tốt nhất về tư tưởng Việt Nam” [168, tr.449] Tuy nhiên, trong các công trình này, báo chí cũng chỉ được nhắc đến như những cơ quan ngôn luận của các hệ tư tưởng
1.1.2 Về mối quan hệ báo chí và đời sống chính trị
Một số công trình nghiên cứu về lý luận báo chí đã bước đầu đề cập đến mối quan hệ báo chí với chính trị như Cơ sở lý luận báo chí truyền thông (Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, 2004), Truyền thông đại chúng trong công tác
lãnh đạo quản lý (Vũ Đình Hoè chủ biên, 2000); Báo chí, những vấn đề lý luận và thực tiễn (Hà Minh Đức chủ biên, 1997); Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn
(Nguyễn Văn Dững chủ biên, 2000, 2002); Cơ sở lý luận báo chí (Nguyễn Văn
Dững, 2013) v.v
Công trình Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của Dương Xuân Sơn, Đinh
Văn Hường, Trần Quang đã có chương trình bày về “Báo chí - loại hình thông tin chính trị - xã hội”, trong đó khẳng định “thông tin báo chí bao giờ cũng chứa đựng những giá trị xã hội hay chính trị”, khác với thông tin cá nhân [105, tr 51] Công trình cũng phân tích về vai trò của báo chí trong đời sống xã hội, trong đó có chính trị: “Báo chí là công cụ, vũ khí quan trọng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa Vai trò của báo chí trong lĩnh vực chính trị là hướng dẫn nhận thức và hành động cho công chúng” [105, tr 29] Tuy nhiên, vì đây là một giáo trình đại học, nội dung đề cập đến những vấn đề có tính phương pháp luận, không mở rộng và đi sâu vào các khía cạnh phức tạp nên mối quan hệ báo chí - chính trị không phải là một vấn đề được thảo luận và phân tích một cách kỹ lưỡng
Trang 22Trong công trình Cơ sở lý luận báo chí, Nguyễn Văn Dững khẳng định “hoạt
động báo chí là hoạt động chính trị” [25, tr 91] Có thể hiểu hoạt động chính trị ở bình diện chính sách hay lĩnh vực bao quát - chính sách đối nội và chính sách đối ngoại của lực lượng chính trị thống trị xã hội hoặc tiếp cận dưới góc độ chính trị học, liên quan đến vấn đề quyền lực chính trị “Bản chất chính trị của báo chí được thể hiện trên các bình diện khác nhau, như tuyên truyền tư tưởng chính trị, quan điểm và đường lối chính trị; tập hợp và tranh thủ lực lượng đồng minh chính trị; cổ
vũ chủ trương chính sách; tuyên truyền cổ vũ các chính sách và nhiệm vụ đối nội, đối ngoại ” [25, tr 94] Tuy nhiên, vì đây cũng là giáo trình đại học nhằm mục đích cung cấp những kiến thức cơ bản và hệ thống về hệ thống khái niệm cơ bản của lý luận báo chí, nên không tập trung phân tích riêng mối quan hệ báo chí - chính trị, và bản chất chính trị của báo chí như được nêu trên đây cũng cần bổ sung, hoàn thiện thêm, khi mới nhấn mạnh tính chất tuyên truyền chính trị từ trên xuống, mà chưa nêu rõ tính chính trị được phản ánh từ quần chúng lên
Bên cạnh đó đã có một số công trình nghiên cứu, tuyển chọn, giới thiệu quan
điểm của các nhà kinh điển về báo chí - xuất bản như Mác - Ăngghen, Lênin, Hồ
Chí Minh bàn về báo chí, xuất bản (Vũ Duy Thông chủ biên, 2004) [129] Cuốn
sách được chia làm ba phần: Phần I - C Mác - Ph Ăngghen bàn về báo chí, xuất bản; Phần II - V.I.Lênin bàn về báo chí, xuất bản; Phần III: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về báo chí, xuất bản Trong mỗi phần, nhóm biên soạn đã sắp xếp nội dung các đoạn trích theo vấn đề, trong đó đề cập một số quan điểm về mối quan hệ báo chí và chính trị Đây là một công trình hữu ích, có giá trị về mặt tư liệu trong việc trích dẫn lại quan điểm của Mác - Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh về báo chí, xuất bản Tuy nhiên, nếu có những phân tích, bình luận về quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lênin thì công trình sẽ có sức thuyết phục hơn nữa
Một công trình cũng có tên tương tự là C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin với
báo chí (Hà Minh Đức, 2010) [41] Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã phân tích một
cách tỉ mỉ nhiều vấn đề như: Mác - Ăngghen, Lênin và hoạt động báo chí; quan điểm của Mác - Ăngghen, Lênin về chức năng, đặc điểm, khuynh hướng chính trị
xã hội của các tác phẩm báo chí; báo chí dưới chế độ tư bản, báo chí của giai cấp vô sản v.v Đồng thời, tác giả còn trình bày việc Hồ Chí Minh tiếp nhận và vận dụng sáng tạo quan điểm báo chí của Mác - Ăngghen, Lênin cũng như báo chí cách mạng Việt Nam theo đường lối của chủ nghĩa Mác - Lênin Công trình đã cung cấp cho người đọc, đặc biệt là những người làm công tác báo chí những kiến thức, hiểu biết
cơ bản về hoạt động báo chí cũng như quan điểm báo chí của các nhà kinh điển và chủ tịch Hồ Chí Minh Tuy nhiên, tác giả cũng chưa chỉ ra và gọi tên một cách chính xác mối quan hệ báo chí với đời sống chính trị chính trị và phân tích hệ thống quan điểm của các nhà mác xít về mối quan hệ này
Như vậy, có thể thấy rằng cho đến nay ở Việt Nam rất ít các công trình
nghiên cứu về lịch sử báo chí nói chung và dòng báo chính trị nói riêng phân tích
một cách hệ thống, tập trung và trực tiếp về mối quan hệ báo chí và chính trị Mặc
Trang 23dù có những công trình nghiên cứu rất công phu về lịch sử báo chí và các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã bước đầu tìm hiểu nội dung chính trị của một số tờ báo
nhưng chưa đưa ra khái niệm dòng báo chính trị cũng như cơ sở hình thành, đặc
điểm, nội dung và nghệ thuật thể hiện của báo chí chính trị, vai trò, vị trí của dòng báo này trong đời sống chính trị Việt Nam 1925-1945 nói riêng và trong dòng chảy chính trị Việt Nam nói chung
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1 Về báo chí và đời sống chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đến năm 1945
Các nhà nghiên cứu người Việt Nam ở nước ngoài và các học giả nước ngoài nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận hiện đại cũng có đề cập một số nét về báo chí, vai trò báo chí đối với các tổ chức chính trị trong giai đoạn trước năm 1945 như các
công trình nghiên cứu của D Hémery: Révolutionnaires Vietnamiens et pouvoir
colonial en Indochine (Các nhà cách mạng Việt Nam và chính quyền thực dân ở
Đông Dương) (1975); W.J Duiker: The rise of nationalism in Vietnam 1900-1941
(Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam 1900-1941) (1976); Huỳnh Kim
Khánh với Vietnamese Communism 1925-1945 (Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam 1925-1945); Hồ Tài Huệ Tâm với Radicalism and the Origins of the Vietnamese
Revolution (Chủ nghĩa cấp tiến và nguồn gốc của cách mạng Việt Nam); S.F
McHale với Print and Power: Buddhism, Confucianism and Communism in the
Making Modern Vietnam (Ấn phẩm và quyền lực: Phật giáo, Nho giáo và Chủ nghĩa
cộng sản trong việc hình thành một Việt Nam hiện đại) (2004); P.M.F Peycam
(2012), The Birth of Vietnamese Political Journalism, Saigon 1916 -1930 (Sự hình
thành báo chí chính trị Việt Nam, Sài Gòn 1916-1930), v.v
Hồ Tài Huệ Tâm trong Radicalism and the Origins of the Vietnamese
Revolution với nguồn tin đa dạng, từ các hồ sơ lưu trữ đến lịch sử cá nhân - hồi ức
của các nhân chứng, đã phác họa lại một giai đoạn rất phức tạp trong những năm
1920 ở Việt Nam với những chi tiết sống động và chân dung cụ thể, đặc biệt là Nguyễn An Ninh, một nhân vật cấp tiến điển hình [165] Ngay từ khi ra đời, cuốn sách đã được đánh giá cao và điểm khác biệt của công trình này so với nhiều công trình trước đó của các học giả Việt Nam và quốc tế là nhận định của Hồ Tài Huệ Tâm khi cho rằng cách nhìn mang nặng tính hồi tưởng của những người cộng sản đã hình thành nên câu chuyện về chủ nghĩa cộng sản như một thành công tất yếu và che dấu đi tính đa dạng của chủ nghĩa cấp tiến trong những năm 20 của thế kỷ XX, trong đó báo chí là một hoạt động sôi nổi của những người cấp tiến
David Marr là một trong những nhà Việt Nam học xuất sắc với các công
trình Vietnamese Anticolonialism 1885-1925 (Người Việt Nam chống chủ nghĩa thực dân 1885-1925) (1971), Vietnam: Tradition on Trial 1920 -1945 (Truyền thống Việt Nam trong thời kỳ thử thách 1920-1945) (1981) và Vietnam 1945: The
Trang 24Quest for Power (Việt Nam năm 1945: trong cuộc cạnh tranh quyền lực) (1995)
Với Vietnamese Anticolonialism 1885-1925, David Marr đã nhìn nhận cuộc kháng
chiến chống thực dân ở Việt Nam như một sự chuyển giao thế hệ: thế hệ Cần Vương, thế hệ Phan Bội Châu - Phan Châu Trinh và thế hệ thanh niên Tây học
Tiếp đó, trong Vietnam: Tradition on Trial 1920-1945, ông tìm cách lý giải những
biến đổi trong cấu trúc xã hội Việt Nam, đặc biệt là giới trí thức, những biến đổi từ
bộ máy cai trị của thực dân đến đạo đức, chính trị, tôn giáo, ngôn ngữ, văn học, phụ
nữ và trí thức, trong đó có ít nhiều đề cập đến hoạt động báo chí Tuy nhiên, nếu như hai công trình nói trên vẫn tiếp cận lịch sử theo chiều từ trên xuống, thì đến
Vietnam 1945: The Quest for Power, ông đã thay đổi cách tiếp cận của mình, theo
chiều từ dưới lên, phản chiếu quan điểm của tất cả các nhóm chính trị có liên quan,
từ người Pháp, người Nhật, người Việt - từ Việt Minh đến các phe nhóm khác, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Anh David Marr đã kết luận rằng phong trào của Việt Nam năm 1945 không được chỉ đạo trực tiếp từ Trung ương, các nhóm địa phương
mà tự gọi họ là Việt Minh thường hiểu những chỉ đạo (nếu thực sự họ nhận được chúng) theo cách riêng của họ Tuy nhiên, ông cũng không tập trung vào việc giải thích về việc tuyên truyền của chủ nghĩa cộng sản cho độc giả [169]
W.J Duiker trong The rise of nationalism in Vietnam 1900-1941 (1976) đã
cấu trúc cuốn sách thành ba phần: các văn thân yêu nước; các nhà dân tộc chủ nghĩa
ở đô thị và các cuộc cách mạng xã hội Trong đó tác giả đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: tại sao chủ nghĩa Mác có thể thâm nhập và in dấu ấn đậm nét ở Việt Nam mà không thể ở một nơi nào khác ở Đông Nam Á? Những nhân tố nào ở Việt Nam đã chống lại sự nổi lên của các phong trào dân tộc chủ nghĩa một cách rộng rãi như Đảng Quốc đại của Nehru ở Ấn Độ, hay Đảng Dân tộc của Sukarno ở Indonesia Những nhận xét về quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa dân tộc cũng như sự gặp gỡ của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam của Duiker
là rất đáng ghi nhận [159]
R.B.Smith trong bài viết “Bùi Quang Chiêu and the Constitutionalist Party in French Cochinchina 1917-1930” (Bùi Quang Chiêu và Đảng Lập hiến ở Nam Kỳ
1917-1930) trên tạp chí Modern Asian Studies [181] đã cố gắng tìm hiểu vai trò của
Bùi Quang Chiêu và Đảng Lập hiến trong đời sống chính trị ở Nam Kỳ Tuy nhiên, ông cũng chưa lý giải được nguyên nhân gây ra sự thất bại của Đảng này cũng như thất bại của bản thân Bùi Quang Chiêu, lãnh tụ của Đảng Lập hiến đồng thời cũng
là một nhà báo chính trị
Có thể nói rằng, một trong những bộ sách tốt nhất ở nước ngoài về lịch sử tư
tưởng Việt Nam cận, hiện đại là Vietnam du confucianisme au communisme (Việt
Nam từ Khổng giáo đến chủ nghĩa cộng sản) của Trịnh Văn Thảo, xuất bản tại Paris
năm 1990 và được dịch và xuất bản ở Việt Nam vào năm 2012 với tên gọi Ba thế hệ
trí thức người Việt (1862-1954) [124] Điểm hấp dẫn nhất của công trình này là tác
Trang 25giả đã tiếp cận lịch sử dưới góc độ xã hội học với việc lựa chọn ra 222 trí thức tiêu biểu nhất, xếp thành 3 thế hệ: thế hệ năm 1862, 1907 và 1925, dựa trên bảy tiêu chí:
họ tên, năm sinh - mất, nơi sinh, nguồn gốc xuất thân, học vấn, nghề nghiệp - chức
vụ, đặc điểm về sự nghiệp văn chương, hoạt động chính trị Trong đó, nhiều trí thức tham gia vào hoạt động báo chí, là nhà báo cũng đã được nêu tên, phân tích, tuy nhiên báo chí cũng không phải là trọng tâm nghiên cứu của ông
Các tác giả phương Tây có quan điểm nghiên cứu gắn báo chí với đời sống chính trị Việt Nam rõ nét nhất là D Hémery, Huỳnh Kim Khánh, Mc Hale và Peycam, những người đã coi báo chí như một kênh quan trọng để chuyển tải tư tưởng của các tổ chức và đảng phái chính trị ở Việt Nam
Huỳnh Kim Khánh với Vietnamese Communism 1925-1945 đã được nhiều
học giả nước ngoài cho rằng là một tài liệu khá toàn diện về phong trào cộng sản ở Việt Nam Một số tư liệu đã dẫn đến việc xét lại một số quan điểm rất quan trọng, ví
dụ như vai trò của Hồ Chí Minh đối với cách mạng, sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản và thành công của Việt Minh vào năm 1945 Nhưng Huỳnh Kim Khánh cũng có điểm nhìn nhận sai lầm khi cho rằng cuộc xung đột giữa cộng sản và Trotskyist ở Việt Nam trong những năm 30 là một cuộc xung đột giữa “nước Việt Nam cũ” và “nước Việt Nam mới”, nước Việt Nam mới được đại diện bởi những nhà hoạt động được thấm nhuần văn hóa giáo dục Pháp (Trotskyist) còn nước Việt Nam cũ được đại diện bởi các nhà hoạt động cũ hoặc những người cộng sản Đông Dương Ông cũng cho rằng trong cuộc xung đột này, quan điểm của cộng sản là cải lương, còn Trotskyist là cách mạng, cộng sản làm giai cấp thỏa hiệp, còn Trotskyist làm giai cấp đấu tranh, v.v [166] Có thể nói đó là những nhận định còn chủ quan
và thiếu căn cứ
Trong công trình Print and Power: Buddhism, Confucianism and
Communism in the Making Modern Vietnam [171], trên cơ sở khảo sát một lượng
ấn phẩm rất lớn tại Thư viện Quốc gia Pháp và Thư viện Quốc gia Việt Nam, McHale đã xây dựng các chương của cuốn sách theo đúng quỹ đạo của các ấn phẩm: từ sự sáng tạo đến xuất bản, sự kiểm soát của chính quyền đối với những ấn phẩm này, cho đến sự truyền bá và tiếp thu chúng Trong hai chương đầu, tác giả đưa ra cái nhìn toàn cảnh về không gian công cũng như sự trấn áp của chính quyền
Ba chương tiếp nối sau, ba chủ đề là văn hoá ngành in của Phật giáo, Nho giáo và Cộng sản Bị hấp dẫn bởi chủ đề xuyên suốt của cuốn sách là sự xuất hiện của không gian công và vai trò của ngành in từ năm 1920 đến năm 1945, tác giả đã dùng mọi cách để lập luận rằng, Việt Nam đã quá xem nhẹ văn hoá và tri thức của Phật giáo cũng như Nho giáo và coi trọng quá mức tầm quan trọng của Cộng sản Tác giả đã chứng minh được mối liên hệ giữa chủ nghĩa cộng sản, ngôn ngữ và văn hoá xuất bản trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 và trong sự hồi sinh của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Bắc giai đoạn 1941-1945 Ông liên kết sự phát triển
Trang 26của nghệ thuật tuyên truyền qua một bài thảo luận của độc giả báo in và xem sự đón nhận chủ nghĩa cộng sản của độc giả có thể dẫn tới sự thay đổi trong hoạt động thực tiễn của các nhà cộng sản như thế nào Dĩ nhiên, cuốn sách còn có nhiều điều cần phải trao đổi, như quan điểm của tác giả về việc phải đánh giá lại quan niệm về vai trò của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân như là phần quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, nhưng công trình cũng đã đưa lại những cái nhìn khách quan và gợi mở về cuộc cách mạng xuất bản, sự truyền bá chủ nghĩa cộng sản đầu thế kỷ XX, những bài học thành công và thất bại
Philippe M F Peycam có một công trình đặc sắc về The Birth of Vietnamese
Potilical Journalism, Saigon 1916-1930, trong đó nghiên cứu sự hình thành báo chí
chính trị ở Sài Gòn và việc chống lại chủ nghĩa thực dân [178] Ông đã chỉ ra rằng, một thập kỷ trước khi Đảng Cộng sản được thành lập, chính báo chí chính trị đã tạo không gian công cho công chúng và những cuộc tranh luận chính trị đã làm thay đổi thái độ của người Việt Nam Peycam đã gắn quá trình đô thị hóa của Sài Gòn với việc tạo nên những mẫu hình mới về tổ chức chính trị cá nhân và tập thể Ông cho rằng quá trình hiện đại hóa đô thị với sự hình thành các nhà báo - nhà hoạt động chính trị của Việt Nam, và vai trò của Pháp, thậm chí bằng sự đàn áp của họ, cùng với tầng lớp trí thức tài năng và trách nhiệm với cộng đồng đã thay đổi tâm tưởng người Việt Nam trong giai đoạn này Công trình đã được viết dựa trên tài liệu tiểu
sử, báo chí và hồ sơ lưu trữ một cách phong phú Tuy nhiên, Peycam mới chỉ dừng lại ở năm 1930 và vẫn còn những tranh luận xung quanh vấn đề chủ nghĩa cộng sản
và chủ nghĩa dân tộc tác động đến nhận thức của công chúng Công trình cũng tập trung nghiên cứu báo chí chính trị ở Sài Gòn mà chưa đề cập đến một địa bàn quan trọng là Hà Nội, nơi tập trung truyền bá những hệ tư tưởng mới trong nửa đầu thế
kỷ XX ở Việt Nam Và giai đoạn 1925-1945, với sự vận động đa dạng của nhiều đảng phái, nhiều xu hướng chính trị, sự vận động phong phú của báo chí chính trị vẫn là một khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu mà tác giả luận án sẽ cố gắng thực hiện trong đề tài nghiên cứu của mình
1.2.2 Về lý thuyết truyền thông chính trị
Trên thế giới có hệ thống các công trình lý thuyết về truyền thông chính trị rất phong phú Chúng tôi cho rằng lý thuyết về báo chí chính trị nên được đặt trong một tổng thể lớn hơn, là truyền thông chính trị
Trước tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Siebert, Peterson, và
Schramm, 1956, Four theories of press (Bốn lý thuyết truyền thông), đã được dịch
sang tiếng Việt [111], một công trình vẫn duy trì ảnh hưởng một cách đáng kể khắp nơi trên thế giới như một nỗ lực để thiết lập một khung lý thuyết rộng rãi cho việc phân tích so sánh các phương tiện truyền thông Trong đó Siebert, Peterson, và Schramm đã chỉ ra rằng các mô hình truyền thông khác nhau bắt nguồn từ sự khác biệt lớn hơn của cấu trúc chính trị và kinh tế và một người không thể hiểu phương
Trang 27tiện truyền thông nếu không hiểu về bản chất của nhà nước, hệ thống đảng phái chính trị, mô hình của các mối quan hệ giữa lợi ích chính trị và kinh tế, và sự phát
triển của xã hội dân sự, giữa các yếu tố khác của cấu trúc xã hội Các ông đã phân
chia bốn lý thuyết về truyền thông: thuyết Độc đoán; thuyết Tự do; thuyết Trách
nhiệm xã hội và thuyết Cộng sản Xô viết Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã phê
bình quan điểm của Siebert, Peterson và Schramm khi cho rằng họ đã tập trung quá nhiều vào “triết lý” (“philosophies”) hay “hệ tư tưởng” (“ideologies”) của truyền thông và đây là điểm hạn chế chính của công trình này Họ không những không nhìn vào các chức năng của hệ thống xã hội nơi các phương tiện truyền thông vận hành, mà chỉ nhìn vào các “cơ sở lý luận hay hệ tư tưởng” “Đã có một tranh luận rằng „ở trường hợp cuối cùng sự khác biệt giữa các hệ thống báo chí là vấn đề tư tưởng‟, cuốn sách đã bỏ qua sự tồn tại của các phương tiện truyền thông” [176, tr
21] Những phân tích của họ cũng không thực sự mang tính so sánh Trong việc truy
tìm nguồn gốc của bốn lý thuyết, ví dụ như Siebert, Peterson, và Schramm chỉ tham khảo gần như chỉ có ba nước – Hoa Kỳ, mà họ gọi là lý thuyết tự do và trách nhiệm
xã hội; Anh, họ thấy cả mô hình độc đoán, và cùng với Hoa Kỳ, có cả lý thuyết tự do; và Xô Viết Tuy nhiên, tất cả các mô hình, thực sự “đã được xác định từ trong một trong bốn lý thuyết, đó là chủ nghĩa tự do cổ điển” Hallin và Mancini cho rằng:
Bốn lý thuyết truyền thông đã sử dụng những hiểu biết về thực tế châu Âu một cách
hạn chế Các tác giả cũng nghĩ rằng đã đến lúc phải chuyển sang các mô hình phức tạp hơn dựa trên phân tích so sánh thực sự [163]
Một học giả khác là Daya K.Thussu đã có cuốn sách viết về truyền thông
quốc tế, trong đó có giới thiệu về các lý thuyết truyền thông, International
communication - Continuity and Change (Truyền thông quốc tế - Sự tiếp nối và
thay đổi) (2010) [182] Trong cuốn sách này, ông đã giới thiệu nhiều lý thuyết truyền thông chính trị: Lý thuyết “Dòng chảy tự do của thông tin” nhấn mạnh quá
trình truyền thông ở phương Tây và đặc biệt là Mỹ, chống lại việc quản lý nhà nước
và kiểm duyệt về truyền thông cũng như sử dụng truyền thông cho mục đích tuyên
truyền Lý thuyết quyền lãnh đạo (hay lý thuyết bá quyền) bắt nguồn từ nhà mác xít
Italia Antonio Gramsci (1891-1937) nhấn mạnh chức năng chính trị của truyền thông đại chúng trong việc tuyên truyền và duy trì hệ tư tưởng thống trị Tác giả luận án đã tham khảo lý thuyết này như một khung lý thuyết cho luận án, đặt trong
bối cảnh xã hội thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Lý
thuyết phê phán được dẫn dắt bởi các nhà khoa học của trường phái Frankfurt với
những tên tuổi như Max Horkheimer (1895-1973), Theodor Adorno (1903-1969) và Herbert Marcue (1898-1979) với khái niệm “culture industry” (công nghiệp văn
hoá) [154] Các lý thuyết về xã hội thông tin nhấn mạnh sự đổi mới nhanh chóng
trong lĩnh vực thông tin và công nghệ truyền thông, đặc biệt là máy tính và công nghệ số cùng sự mở rộng của quá trình toàn cầu hóa đã dẫn đến những tuyên bố về
Trang 28một kỷ nguyên của xã hội thông tin Nhà lý luận truyền thông Canada Marshall McLuhan (1911-1980) với quan niệm “phương tiện là thông điệp” là một trong những nhà lý thuyết đầu tiên đã phân tích tác động xã hội của kỹ thuật truyền thông [172] Daniel Bell, người đã được biết đến trên toàn thế giới với ý tưởng về một xã hội “hậu công nghiệp” Alvin Toffler, người đã gây ảnh hưởng rất lớn qua việc tuyên truyền tư tưởng về một xã hội thông tin, mà ông gọi là “làn sóng thứ ba”, sau thời đại nông nghiệp và công nghiệp của văn minh con người [183] Hay nhà lý thuyết Tây Ban Nha Manuel Castells đã tạo ra một khái niệm mới: “chủ nghĩa tư bản số hóa” [179] Bên cạnh đó là lý thuyết “sức mạnh mềm” của J.Nye, trong đó ông cho rằng sức mạnh mềm của một quốc gia bao gồm trong bản thân nó năng lực hấp dẫn của văn hoá, của các chuẩn giá trị, của khả năng thuyết phục và phụ thuộc rất lớn vào các phương tiện truyền thông đại chúng Là một công trình viết rất công phu, Daya K Thussu tập trung viết về các vấn đề về truyền thông quốc tế, truyền
thông chính trị, chứ không bàn về về các lý thuyết truyền thông nói chung
Các phương tiện truyền thông là sản phẩm của chính trị và quay trở lại ảnh hưởng đến chính trị Công trình có tính chất mở đường về nghiên cứu so sánh
Comparing Media Systems - Three models of Media and Politics (So sánh các hệ
thống truyền thông - Ba mô hình của truyền thông và chính trị) của Hallin và Mancini (2004) [163] chứng minh rằng hệ thống truyền thông của một quốc gia xuất hiện trong những cách thức được giải thích bởi văn hóa chính trị và hệ thống
chính trị của nó Hallin và Mancini đã giới thiệu ba mô hình truyền thông: Mô hình
Tự do, chiếm ưu thế ở Anh, Ireland, và Bắc Hoa Kỳ, được đặc trưng bởi sự thống trị
tương đối của cơ chế thị trường và các phương tiện truyền thông thương mại; Mô
hình Nghiệp đoàn Dân chủ, phổ biến ở Bắc Âu, với sự cùng tồn tại của phương tiện
truyền thông thương mại và các phương tiện truyền thông gắn với các nhóm chính trị và xã hội có tổ chức, vai trò tương đối tích cực nhưng hạn chế về mặt pháp lý của
nhà nước; và Mô hình Đa nguyên Phân cực, chủ yếu ở các quốc gia Địa Trung Hải
ở Nam Âu với sự tham gia của phương tiện truyền thông vào các nền chính trị đảng phái, phương tiện truyền thông thương mại yếu kém, và vai trò mạnh mẽ của nhà
nước Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu so sánh có giá trị về mối quan hệ
truyền thông - chính trị, với đối tượng khảo sát phong phú ở hàng chục các quốc gia Tuy nhiên, các tác giả đã tập trung so sánh các hệ thống phương tiện truyền thông và chính trị ở Tây Âu và Bắc Mỹ hơn là một công trình giới thiệu các lý thuyết truyền thông, và Việt Nam vẫn chưa phải là một đối tượng khảo sát và xếp loại trong các mô hình này
Ở một số công trình nghiên cứu khác đã tập trung nghiên cứu về các lý
thuyết truyền thông như A First Look at Communication Theory (Một cái nhìn tổng
quan về các lý thuyết truyền thông), được xuất bản bởi McGraw - Hill của các tác
Trang 29giả Griffin, Em and Andrew Ledbetter, Glenn Sparts đã in đến bản thứ 9 năm 2014 [161] Các tác giả đã thống kê hơn 80 lý thuyết về truyền thông, một con số rất lớn phản chiếu sự phong phú của hoạt động truyền thông cũng như các lý thuyết truyền
thông một cách đa dạng Trong đó có giới thiệu các lý thuyết truyền thông như Mũi
kim tiêm, Dòng chảy hai bước, Thiết lập chương trình nghị sự, Vòng xoáy của sự im lặng, Phê phán, Kiến tạo, Nghiên cứu văn hóa v.v Hay công trình của Severin,
Werner J and James W Tankard, Communication theories: origins, methods, and
uses in the mass media (Các lý thuyết truyền thông: nguồn gốc, phương pháp, và
việc sử dụng trong phương tiện truyền thông đại chúng) (1992) [180] trong đó đã nêu một cách cụ thể các lý thuyết truyền thông, từ nguồn gốc, các phương pháp và việc sử dụng trong các phương tiện truyền thông đại chúng như thế nào
Không trực tiếp viết về một lý thuyết truyền thông cụ thể, nhưng trong công
trình The Structural Transformation of the Public Sphere: An inquiry into a
Category of Bourgeois Society (Sự biến đổi về cấu trúc của không gian công: một
cuộc điều tra xã hội tư sản), bản tiếng Đức 1962, bản dịch tiếng Anh 1989 của Jürgen Habermas đã nhấn mạnh đến vai trò của báo chí trong sự hình thành “không gian công” Habermas quan niệm “không gian công” (the public sphere) là một vũ đài độc lập với chính phủ, “cùng tồn tại với cơ quan công quyền” và cũng mang phẩm chất tự trị xét trong quan hệ với các phe phái kinh tế cũng như chính trị, vốn sinh ra là để cho những cuộc tranh luận duy lý (tức là tranh luận và thảo luận về “lợi ích”, về “sự che đậy” hay về “sự thao túng”) và mở ngỏ hoàn toàn cho sự giám sát của công dân Chính ở đó, dư luận xã hội (public opinion) được hình thành [162] Tuy nhiên, Habermas cũng chỉ tập trung nói về “không gian công” trong bối cảnh châu Âu Tác giả luận án đã tham khảo công trình này như một khung lý thuyết cho nghiên cứu của mình, đặt trong bối cảnh Việt Nam những năm 1920 đến 1945 ở Việt Nam
Bên cạnh đó, đã có nhiều công trình trên thế giới viết về truyền thông chính trị (political communication), như các công trình của Denton, Robert E and Gary C
Woodward (1990), Political communication in America; McNair, Brian (1995), An
Introduction to Political Communication; McQuail, Denis (2000), Mass
Communications”, Encyclopedia of the Social Sciences v.v Cụ thể, Denton và
Woodward đã đưa ra định nghĩa về truyền thông chính trị, xác định đặc trưng của
truyền thông chính trị là ở nội dung và mục đích của thông điệp [157, tr 11] Cũng
tương tự như vậy là quan điểm của McNair [173], Pippa Noris [177] khi cho rằng phương tiện truyền thông đóng vai trò trung gian trong giao tiếp chính trị Những công trình nói trên đã được tác giả luận án tham khảo để tìm hiểu lý thuyết về truyền thông chính trị nói chung, dòng báo chính trị nói riêng, từ đó soi chiếu vào lý luận và thực tiễn báo chí chính trị ở Việt Nam 1925-1945 Các công trình nghiên cứu lý thuyết truyền thông trên thế giới hiện nay đều chưa lấy Việt Nam là đối tượng nghiên cứu để khái quát lên mô hình truyền thông và chính trị
Trang 30Ở Việt Nam, ảnh hưởng từ báo chí Xô viết, khái niệm “báo chí chính trị” xuất hiện sớm Ngay trong các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh đã luôn nhấn mạnh báo chí phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, có quan hệ chặt chẽ với chính trị, đặc biệt nhấn mạnh đến tính chất “tuyên truyền” của báo chí mà ít dùng khái niệm “truyền thông” Năm 1999, môn học “Lý thuyết truyền thông” lần đầu tiên được đưa vào giảng dạy trong chương trình cử nhân báo chí của Khoa Báo chí và một số chuyên ngành khác thuộc Học viện Báo chí và Tuyên truyền Môn học “Truyền thông chính trị” vẫn đang rất mới mẻ và mấy năm gần đây mới được đưa vào chương trình đào tạo sau đại học của Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng là cơ sở đầu tiên giảng dạy môn học “Chính trị và Truyền thông” trong chương trình đào tạo cử nhân Chính trị học từ năm học 2005 -2006
1.3 Những thành tựu đã đạt đƣợc và những vấn đề cần giải quyết
Có thể thấy liên quan đến đề tài Dòng báo chính trị với đời sống chính trị Việt
Nam giai đoạn 1925-1945, một số vấn đề đã được các học giả trong và ngoài nước
nghiên cứu Tựu chung lại, những nghiên cứu đó đã đạt được những thành tựu như sau:
- Thứ nhất, về phương diện tư liệu: các nhà nghiên cứu đã khai thác được
khối lượng khá lớn báo chí Việt Nam trước năm 1945 và nhiều tài liệu lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ tại Việt Nam, kho lưu trữ tại Pháp, lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô và Quốc tế Cộng sản tại Nga, lưu trữ tại Hoa Kỳ và các trung tâm lưu trữ khác Trong lĩnh vực này, đóng góp của các nhà nghiên cứu nước ngoài và các học giả người Việt Nam ở nước ngoài có phần nổi bật hơn do có điều kiện thuận lợi trong việc khai thác các nguồn tài liệu lưu trữ Nhưng về mảng tư liệu báo chí cách mạng, với những tìm tòi về báo chí bí mật gắn liền với hoạt động cách mạng, thì chủ yếu là thành tựu của các nhà nghiên cứu Việt Nam Bên cạnh đó, nhiều bộ sưu tập báo chí trước năm 1945 của các cá nhân, tổ chức cũng đã được gìn giữ, trở thành những tư liệu quý hiếm cho đến nay Ngoài ra, một loạt các hồi ký của những người làm báo, các nhà chính trị tham gia vào hoạt động báo chí cũng được các nhà nghiên cứu sưu tầm và xử lý nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu Những văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có quan điểm về báo chí, đã được tập hợp,
in ấn và công bố một cách rộng rãi Không chỉ riêng báo chí của Đảng Cộng sản Việt Nam mà báo chí của các đảng phái, các khuynh hướng chính trị khác cũng được giới nghiên cứu phân tích và bình luận Những tư liệu này không chỉ góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong lịch sử báo chí Việt Nam mà còn có ý nghĩa quan trọng cho những nghiên cứu kế tiếp khi theo đuổi mảng đề tài này
Thứ hai, về phương diện phương pháp luận: Khi nghiên cứu về lịch sử báo
chí, mối quan hệ báo chí - chính trị, nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu quan trọng: như Huỳnh Văn Tòng, Đỗ Quang Hưng với việc nghiên cứu một cách kỹ càng tất cả những gì có dính líu đến một tờ báo như tòa soạn, ban
Trang 31biên tập, về hình thức cũng như nội dung của tờ báo, hay nói cách khác là cách
nghiên cứu đưa đến việc tìm hiểu đằng sau tờ báo, trong tờ báo và đối tượng tờ báo;
phương pháp tiếp cận lịch sử xã hội, khi lịch sử không phải chỉ là lịch sử của nhà nước, của lãnh tụ, của chính đảng mà còn là lịch sử của những người dân thường, như của David Marr, Hồ Tài Huệ Tâm; cách tiếp cận xã hội học - lịch sử của Trịnh Văn Thảo khi đặt các tác nhân xã hội vào những nhóm xã hội và biến đổi xã hội cụ thể; phương pháp tiếp cận tiểu sử của P.Peycam; cách tiếp cận liên ngành báo chí - chính trị học của các nhà nghiên cứu truyền thông Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Nguyễn Văn Dững; cách nhìn vai trò báo chí trong mối tương quan văn hóa, tôn giáo trong việc hình thành một Việt Nam hiện đại của McHale; đặc biệt là phương pháp
so sánh của các học giả truyền thông thế giới như Hallin và Mancini để đưa ra ba mô hình truyền thông - chính trị nổi bật ở các nước phương Tây và Bắc Mỹ v.v
Thứ ba, về phương diện nhận thức: Có thể nói các học giả trong và ngoài nước
đã làm rõ những nét lớn về lịch sử báo chí, đặc biệt là báo chí cách mạng Việt Nam; những vấn đề về nội dung và hình thức báo chí, nhất là nội dung và vai trò của báo chí cách mạng trong cuộc vận động đấu tranh để giải phóng dân tộc Các giá trị lịch
sử và văn hóa của báo chí thân chính quyền và chủ nghĩa quốc gia cải lương như
Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí v.v đã được phân tích Chân dung của một
số nhà báo chính trị tiêu biểu trong giai đoạn này như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Trần Huy Liệu v.v cũng đã được khắc họa Các học giả Việt Nam cũng đã tìm hiểu quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về báo chí, mối quan hệ báo chí và đời sống chính trị theo lý thuyết mác xít Các nhà nghiên cứu truyền thông trên thế giới với các lý thuyết truyền thông và ba mô hình truyền thông và chính trị được phân tích chủ yếu ở các nước Tây Âu và Mỹ
Nói tóm lại, nghiên cứu về lịch sử báo chí Việt Nam 1925 -1945 và mối quan
hệ báo chí với đời sống chính trị đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, cả về phương diện tư liệu, phương pháp và nhận thức Tuy nhiên, tác giả luận án nhận thấy vẫn còn những hạn chế, những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết:
Một là những hạn chế trong khai thác và sử dụng tư liệu: đối với các nhà
nghiên cứu Việt Nam, việc khai thác các tài liệu lưu trữ ở nước ngoài, đặc biệt liên quan đến báo chí trước năm 1945 thì nguồn lưu trữ ở Pháp là rất quan trọng, nhưng
do hạn chế về kinh phí mà rất khó được thực hiện, nên chủ yếu vẫn phải nghiên cứu qua tài liệu thứ cấp Ngay tại Việt Nam, những tài liệu về các xu hướng chính trị khác ngoài Đảng Cộng sản và các nhà báo chính trị ngoài xu hướng mác xít cũng rất khó tìm kiếm Hơn nữa, do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện bảo quản, rất nhiều báo chí Việt Nam trước năm 1945 đã bị hư hỏng, thất lạc, các bộ sưu tập không đầy
đủ gây khó khăn trong quá trình nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống Cũng còn ít nhà nghiên cứu Việt Nam nghiên cứu tài liệu ở các trung tâm lưu trữ như một nguồn tài liệu sơ cấp quan trọng
Trang 32Hai là, những hạn chế trong phương pháp và cách tiếp cận: phương pháp
liên ngành còn ít được sử dụng trong các nghiên cứu Thường có những nghiên cứu riêng lẻ về lịch sử báo chí, báo chí cách mạng, hoặc về một số tờ báo, một số nhà báo tiêu biểu trước năm 1945 mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện dòng báo chính trị với đời sống chính trị Việt Nam 1925-1945 Một số nghiên cứu về lịch sử chính trị có đề cập ít nhiều đến hoạt động báo chí của các đảng phái, phong trào đó, nhưng nhìn chung đều khá sơ lược và không đặt nặng mục tiêu nghiên cứu một cách xâu chuỗi báo chí của các đảng phái, phong trào, trừ báo chí của Đảng Cộng sản, lực lượng đã nắm vai trò lãnh đạo cách mạng và đưa đến thành công cho cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam Về báo chí truyền thông, tuy đã có một số nghiên cứu so sánh về các mô hình truyền thông và chính trị trên thế giới nhưng chưa có cái nhìn đối sánh báo chí Việt Nam trong hệ thống phương tiện truyền thông đại chúng của thế giới, chưa nghiên cứu Việt Nam như một trường hợp thuộc mô hình nào
Ba là, những điểm còn chưa được đề cập về mặt tri thức: chưa một công
trình nào phân tích một cách tổng thể, hệ thống về các khuynh hướng của dòng báo chính trị ở Việt Nam giai đoạn 1925-1945, từ cơ sở hình thành và phát triển đến lực lượng làm báo chính trị, nội dung và nghệ thuật làm báo chính trị cũng như vai trò của dòng báo chính trị đối với đời sống chính trị Việt Nam trước năm 1945 và bài học đối với thực tiễn báo chí - chính trị Việt Nam hiện nay
Từ đó, luận án đề ra các vấn đề nghiên cứu hướng tới như sau:
Trước hết, dựng lên được diện mạo dòng báo chính trị ở Việt Nam giai đoạn
1925-1945 một cách tương đối chỉnh thể và hệ thống, với sự đa dạng về khuynh hướng chính trị, sự đa dạng về quan điểm, sự đa dạng về lực lượng làm báo, đa dạng về nội dung và phương thức biểu hiện như bản thân sự vận động nội tại của báo chí chính trị trong giai đoạn này
Bên cạnh đó, lý giải được tại sao dòng báo chính trị ở Việt Nam lại ra đời
trong những năm 20 của thế kỷ XX chứ không phải một bối cảnh nào khác, tại sao báo chí cách mạng - dòng báo xuất bản bí mật, trong điều kiện khó khăn và thiếu thốn, lại có thể trở thành dòng báo chủ đạo trong hệ thống báo chí chính trị
Hơn thế nữa, đánh giá vai trò của dòng báo chính trị đối với đời sống chính
trị 1925-1945 và di sản của nó với đời sống báo chí đương đại Báo chí là công cụ tuyên truyền, cổ động cho các đảng phái, các tổ chức chính trị, nhưng mặt khác, chính báo chí lại phát triển, củng cố và thúc đẩy trở lại các phong trào chính trị
Luận án sẽ lần lượt trình bày các luận cứ và luận chứng để phân tích, luận giải và chứng minh cho các vấn đề nghiên cứu này
Trang 33CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ BÁO CHÍ VÀ
ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ 2.1 Khái niệm dòng báo chính trị, đời sống chính trị
2.1.1 Khái niệm dòng báo chính trị
Dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp, ở Tây Âu vào thế kỷ XVI đã có những bước chuyển mạnh mẽ, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong đó có báo chí Tuy nhiên, báo chí ban đầu chỉ được coi như các công báo đăng tải những tin tức của chính quyền hay tin tức kinh tế đơn thuần, mà chưa bàn đến hoặc phân tích nhiều về chính trị “Đến giữa thế kỷ XVII, báo chí Anh dưới chế độ quân chủ chuyên chế và chịu ảnh hưởng của nội chiến, chỉ được đăng những tin chính thức của chính quyền và bị cấm đăng tin quốc tế Tới năm 1660, khi nền quân chủ được phục hồi, báo chí lại bị kiểm duyệt nghiêm ngặt hơn” [1, tr.50]
XV-Tuy nhiên, cuộc đấu tranh đòi tự do ngôn luận vẫn bùng nổ khắp nơi Cuối thế kỷ XVIII, sau cuộc Cách mạng Pháp, nhà văn Emund Burke đã gọi báo chí là
“quyền lực thứ tư” Qua một quá trình đấu tranh liên tục, các quyền tự do báo chí đã được ghi nhận trong Hiến pháp hoặc điều luật của chính quyền các nước Thụy Điển, Đan Mạch, Anh, Pháp, v.v
Ở Mỹ, từ năm 1690, 70 năm sau khi người châu Âu xâm chiếm lục địa châu
Mỹ, báo chí xuất hiện Ban đầu, báo chí hoạt động chủ yếu vì mục đích kinh tế Đến giữa thế kỷ XVIII, khi cuộc đấu tranh của nhân dân 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ chống lại thực dân Anh bước vào giai đoạn gay gắt nhất thì báo chí chính thức bước vào đời sống chính trị Mỹ
Từ thế kỷ XVIII-XIX, báo chí phương Tây đã thực sự bước lên vũ đài đấu tranh chính trị - tư tưởng Giai cấp thống trị đã sử dụng báo chí như một công
cụ, vũ khí sắc bén trong bảo vệ lợi ích của mình Báo chí chính là phương tiện của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế phong kiến lỗi thời” [1, tr.51]
Những tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái được truyền tải rộng rãi đến người dân, giai cấp tư sản đã khai thác triệt để thế mạnh báo chí phục vụ cho mục đích chính trị của mình
Hallin và Mancini trong công trình Comparing Media Systems - Three
models of Media and Politics cho rằng:
Từ khi bắt đầu kỷ nguyên của in ấn, đặc biệt là từ thời kỳ Phục hưng, vận động chính trị cũng là một chức năng then chốt của các phương tiện truyền thông, và vào cuối thế kỷ XVIII cho đến đầu thế kỷ XIX, khi báo chí bắt đầu nổi lên như một lực lượng trong đời sống chính trị, nó trở thành một chức năng chính của mọi quốc gia trong nghiên cứu này [163]
Trang 34Các ông khẳng định vào cuối thế kỷ XIX, ở Tây Âu một mô hình tương phản về báo chí chính trị đã bắt đầu xuất hiện, trong đó các nhà báo được coi như một trọng tài trung lập của quá trình truyền thông chính trị, đứng ngoài lợi ích và nguyên nhân cụ thể, cung cấp thông tin và phân tích một cách khách quan, không
bị chi phối bởi tính đảng phái Tuy nhiên, Hallin và Mancini cũng thừa nhận không một nền báo chí ở bất cứ nơi nào trên thế giới là trung lập hoàn toàn, thậm chí ngay cả những nơi mà các nhà báo cam kết trung thành với hệ tư tưởng chuyên nghiệp về “tính khách quan”, các tin tức vẫn gắn kết với các giá trị chính trị
Các nhà nghiên cứu truyền thông phương Tây đã đặt khái niệm báo chí chính trị trong một tổng thể lớn hơn, là “truyền thông chính trị” Cụ thể, Denton
và Woodward đã đưa ra định nghĩa về truyền thông chính trị là “sự thảo luận công khai về việc phân bổ các nguồn lực công (doanh thu), quyền hạn chính thức (người được trao quyền để đưa ra quyết định lập pháp, hành pháp và tư pháp), và biện pháp trừng phạt chính thức (sự khen thưởng hay trừng phạt từ nhà nước)” [157, tr 9] Ngoài ra, Denton và Woodward xác định: “yếu tố quan trọng làm cho truyền thông mang “tính chính trị” không phải là nguồn của thông điệp
(hoặc, chúng ta có thể thêm rằng, việc đề cập trở lại hình thức của nó, là để nhấn mạnh tác động của nó đối với “công luận” mà là ở nội dung và mục đích của
thông điệp” [157, tr 11] Dựa trên quan điểm của Denton và Woodward, McNair cũng cho rằng “trong hệ thống chính trị dân chủ, phương tiện truyền thông đóng
cả hai chức năng như người truyền các thông tin chính trị có nguồn gốc bên ngoài tổ chức truyền thông, và như người gửi thông điệp chính trị được xây dựng bởi các nhà báo” [173, tr 11]
Pippa Noris, người từng được giải thưởng của Hiệp hội Khoa học chính trị
Mỹ cho công trình nghiên cứu tốt nhất về truyền thông chính trị, cho rằng:
Truyền thông chính trị là một quá trình tương tác liên quan đến việc truyền tải thông tin giữa các chính trị gia, các phương tiện truyền thông và công chúng Đó là một quá trình hoạt động theo chiều từ trên xuống - từ các tổ chức quản lý xuống tới người dân, theo chiều ngang - giữa các nhà hoạt động chính trị, và chiều từ dưới lên - từ dư luận xã hội tác động đến chính quyền [177]
Pippa Noris cũng đưa ra một mô hình về truyền thông chính trị: mối quan
hệ giữa nguồn thông điệp, nội dung thông điệp và hiệu quả của truyền thông đại chúng Tác giả luận án có tham khảo mô hình này trong việc phân tích hiệu quả
của hoạt động truyền thông chính trị trong việc thay đổi nhận thức, thái độ và
hành vi chính trị của độc giả
Trang 35Mô hình về quá trình sản xuất, nội dung và hiệu quả của
truyền thông chính trị
Các điều kiện bên ngoài Nguồn thông điệp Nội dung thông điệp Hiệu quả
của TTĐC
CacC
Nguồn: Pippa Noris, “Truyền thông chính trị” [177]
Có thể thấy trong lĩnh vực chính trị, sự tác động của báo chí hướng đến hai
đối tượng chủ yếu là công chúng và giới cầm quyền Thứ nhất, báo chí tác động lên
công chúng nhằm truyền dẫn những thông điệp (chỉ thị, nghị quyết, một quan điểm hoặc ý kiến về một vấn đề nào đó) của chính quyền đến toàn bộ xã hội, qua đó định
hướng tư tưởng và áp đặt ý chí của giai cấp cầm quyền lên công chúng Thứ hai,
báo chí là diễn đàn để nhân dân bày tỏ quan điểm, nguyện vọng của mình, thông qua đó tác động trực tiếp lên chính quyền, những người hoạch định chính sách Như vậy, cơ chế tác động của báo chí thực sự là cơ chế tác động hai chiều: vừa tác động lên đối tượng của quyền lực nhà nước (công chúng), vừa tác động lên chủ thể của quyền lực nhà nước (giai cấp cầm quyền) Điều này quy định tính độc lập tương đối của báo chí, cũng như sức mạnh to lớn của nó trong xã hội nói chung, hoạt động chính trị nói riêng
Khác với báo chí phương Tây ra đời trước hết dành cho những bản tin
thương mại, các mục tiêu kinh tế, báo chí Việt Nam ra đời trước hết là do mục tiêu
chính trị, phục vụ cho chính quyền thực dân, gắn với sự thiết lập chế độ thuộc địa
của chủ nghĩa tư bản Pháp Báo chí ra đời trước hết do nhu cầu thống trị và xâm lăng văn hóa của chủ nghĩa thực dân, song cùng với sự phát triển của bản thân nó, báo chí đã theo sát từng bước đi của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp trong lòng
xã hội Việt Nam
Các điều kiện
kinh tế, chính
trị, xã hội
Các thông điệp được
đưa ra bởi:
Các đảng phái Các tổ chức Các phong trào xã hội mới Các nhà chính trị
Nội dung
của:
Báo Tạp chí Đài phát thanh Đài truyền hình Internet
Tác động
lên:
Nhận thức chính trị Thái độ chính trị Hành vi chính trị Các kênh trực tiếp
Phản hồi
Trang 36Như vậy, xét về bản chất, báo chí nói chung luôn tiềm ẩn “yếu tố chính trị” như chính con người luôn là “vật thể chính trị” Báo chí luôn có tính chính trị, vì bất
cứ tờ báo nào cũng vận hành trong đời sống chính trị của một quốc gia và phản ánh hơi thở chính trị - xã hội Chế độ chính trị nào cũng sử dụng và khai thác triệt để báo chí nói riêng, phương tiện truyền thông đại chúng nói chung nhằm phục vụ,
củng cố và duy trì chế độ đó Nhưng dòng báo chính trị mà chúng tôi nghiên cứu ở đây được xác định trước hết đó là một dòng báo chuyên biệt Dòng báo này lấy
chính trị (quan hệ quyền lực) làm đối tượng chủ yếu, lấy mục đích giành quyền lực chính trị làm tôn chỉ và gắn với sự ra đời của các tổ chức, các đảng phái và phong trào chính trị mà bản thân nó là một bộ phận
Từ những tiêu chí như vậy, có thể đi đến một định nghĩa: dòng báo chính
trị ở Việt Nam là dòng báo chí chuyên biệt của một tổ chức, một đảng phái, một nhóm xã hội đi theo một xu hướng chính trị nhất định; nội dung chủ yếu của
nó phản ánh những vấn đề chính trị - xã hội và có tác động trực tiếp đến đời sống chính trị Việt Nam
Vậy đâu là đặc điểm của dòng báo chính trị ở Việt Nam giai đoạn 1945?
1925-Chúng tôi nhận thấy rằng dòng báo chính trị ở các nước nhìn chung đều có
hai đặc điểm lớn: thứ nhất, dòng báo chính trị là tiếng nói trực tiếp của tổ chức và đảng phái, được xác định rõ nhóm xã hội; thứ hai, dòng báo chính trị gắn với nhịp
thở đời sống chính trị, cụ thể như các hoạt động tranh cử, bầu cử, việc ban hành các chính sách cụ thể, v.v
Dòng báo chính trị ở Việt Nam giai đoạn 1925-1945 ngoài những đặc điểm chung của dòng báo chính trị, còn có một số đặc điểm riêng: (1) Dòng báo chính
trị giai đoạn này kết cấu gồm hai bộ phận: báo chí của chính quyền, là báo chí hợp
pháp và công khai (báo chí của Đảng Cộng sản Đông Dương giai đoạn 1936-1939
cũng tận dụng đặc điểm này) và báo chí bí mật, bất hợp pháp Báo chí bí mật, bất
hợp pháp - báo chí cách mạng lại là chủ lực của dòng báo chính trị (2) Nội dung chủ yếu của dòng báo chính trị chủ yếu là tuyên truyền và vận động chính trị, ví dụ như nội dung tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể đã trở thành
điểm đặc thù của báo chí cách mạng trước năm 1945 (3) Khác với các dòng báo chí
khác (như báo chí thương mại, báo chí văn học, báo chí chỉ dẫn, v.v.), diện mạo dòng báo chính trị có những nét khác biệt như ở các dòng báo chí khác rất chú trọng hoạt động quảng cáo, dòng báo chính trị không đặt nặng vấn đề này; lực lượng làm báo chính trị rất đa dạng, ví dụ như lực lượng làm báo mác xít chủ yếu là cán bộ cách mạng, bắt đầu từ những năm 1940 mới bắt đầu có đội ngũ làm báo chuyên nghiệp; tổ chức tòa soạn của dòng báo chính trị cũng rất linh hoạt, nhà lãnh đạo cách mạng đồng thời là tổng biên tập; công tác phát hành cũng khác biệt khi báo chí thương mại có tiền, báo chí cách mạng chủ yếu lấy tiền từ tổ chức Đảng, phát không cho quần chúng, v.v
Trang 372.1.2 Khái niệm đời sống chính trị
Trước khi tìm hiểu khái niệm “đời sống chính trị” cần xuất phát từ khái niệm ban đầu là “chính trị” “Chính trị” được coi là một trong những từ phổ biến và đa nghĩa nhất trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới
Trong ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại, thuật ngữ “chính trị” (Politic) có gốc từ danh
từ “Polis” - là “thành bang” hay “nhà nước - thành bang” theo cách chú giải hiện nay Thực tế thuật ngữ này còn nhiều tranh cãi, một phần vì nó xuất hiện đã hơn hai thiên nhiên kỷ và đối tượng phản ánh của nó - “đời sống chính trị” cũng tiến hóa và phát triển khác xa Aritstotle, vẫn được viện dẫn
là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “chính trị” với tư cách là thuật ngữ khoa học, hiểu “chính trị” là hình thức sinh hoạt của cộng đồng văn minh, là sự liên kết của các công dân ở trình độ cao nhờ lý tính để đạt tới phúc lợi chung
và cuộc sống hạnh phúc Khổng Tử, một nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại, cũng trong khoảng thời gian trên giải nghĩa “chính trị” là làm cho việc cai trị được ngay thẳng, chính tắc Cho nên, về đại thể có thể hình dung nghĩa khởi phát của thuật ngữ "chính trị" mang cách nghĩa cơ bản sau: chính trị trước hết hàm chỉ những hoạt động liên quan tới việc tổ chức đời sống cộng đồng, tới nhà nước, tới việc cai trị (quan hệ giữa người cai trị và bị trị) trên nguyên tắc vì lợi ích và hạnh phúc chung của cộng đồng [151]
Một khái niệm chính trị được sử dụng phổ biến ở Việt Nam: “Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, mà tập trung ở quyền lực nhà nước” [59] Điều quan trọng nhất trong chính trị, theo cách hiểu này, là “tổ chức chính quyền nhà nước” Tuy nhiên, nói đến chính trị nếu chỉ nói đến giai cấp và nhà nước thì có lẽ chưa đủ, mặc dù vấn đề giai cấp và nhà nước là hai vấn đề cơ bản nhất của chính trị Về thực chất chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc trong việc phân bổ các giá trị xã hội “Chính trị”, theo cách định nghĩa của nhiều trường phái khoa học chính trị ở phương Tây, là “tất cả các hoạt động của con người nhằm xác lập những chế định bắt buộc chung đối với nhóm hoặc giữa các nhóm người” [144, tr.58]
Từ khái niệm chính trị để đi đến khái niệm đời sống chính trị Đời sống
chính trị (political life) là khái niệm để chỉ “những hoạt động và công việc liên quan đến chính trị quốc gia hay chính trị quốc tế” [156, tr.183] Gần như không có
một khái niệm nào định nghĩa cụ thể về đời sống chính trị Thông thường đời sống chính trị giới thiệu những quan hệ, khung cảnh và các chủ thể chính trị như các công dân, đảng chính trị, quan hệ giữa các chủ thể khác nhau này, các quá trình tham gia chính trị, v.v Một vấn đề trọng tâm của đời sống chính trị là cuộc đấu tranh giành quyền lực chính trị Đời sống chính trị chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi một
xã hội cụ thể, với các thiết chế chính trị, chế độ chính trị, văn hóa chính trị gắn với
nó Mỗi một đời sống chính trị có nét riêng - đặc thù của nó vào một thời điểm, ở
Trang 38trong một khung cảnh xã hội và trong một chế độ chính trị cụ thể Nói đến đời sống chính trị, tức là động chạm đến một tập hợp nhiều yếu tố, như xã hội cụ thể trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, gắn với xã hội đó là trình độ phát triển kinh tế, khuôn khổ luật pháp, các thiết chế, văn hóa, tôn giáo, v.v., kể cả những tác nhân bên ngoài làm biến đổi đời sống chính trị của quốc gia, hệ thống chính trị, con người chính trị
và văn hóa chính trị v.v
Trong khuôn khổ của luận án này, chúng tôi đánh giá tác động của dòng báo chính trị với đời sống chính trị Việt Nam, nghĩa là những hoạt động và công việc liên quan đến chính trị Việt Nam 1925-1945, thu hẹp trong phạm vi tác động của
báo chí chính trị đến chính quyền thuộc địa; các đảng phái, phong trào chính trị và
quần chúng nhân dân
Trong công trình Comparing Media System: Three Models of Media and
Politics, các tác giả đã đề xuất bốn tiêu chí có thể được sử dụng để so sánh mối
quan hệ truyền thông và đời sống chính trị:
(1) sự phát triển của thị trường phương tiện truyền thông, đặc biệt nhấn mạnh đến sự phát triển mạnh hay yếu của báo chí phát hành đại chúng;
(2) chủ nghĩa song song chính trị (political parallelism), nghĩa là mức độ và
tính chất của các liên kết giữa các phương tiện truyền thông và đảng phái chính trị, hay rộng hơn, mức độ mà hệ thống phương tiện truyền thông phản ánh sự phân chia chính trị chủ yếu trong xã hội;
(3) sự phát triển tính chuyên nghiệp của báo chí;
(4) mức độ và tính chất can thiệp của nhà nước vào hệ thống phương tiện truyền thông [163]
Từ những tiêu chí này, Hallin và Mancini đã giới thiệu ba mô hình truyền
thông - chính trị: Mô hình Tự do, chiếm ưu thế ở Anh, Ireland, và Bắc Hoa Kỳ;
Mô hình Nghiệp đoàn Dân chủ, phổ biến ở miền Bắc lục địa châu Âu; và Mô hình
Đa nguyên Phân cực, chủ yếu ở các quốc gia Địa Trung Hải ở vùng Nam châu
Âu Mô hình Đa nguyên Phân cực, mô hình truyền thông mà Pháp là một đại diện
tiêu biểu, đã có những ảnh hưởng đến dòng báo chính trị Việt Nam giai đoạn 1925-1945
Với những tiêu chí như trên, mối quan hệ báo chí và chính trị ở Pháp được thể hiện: (1) Mặc dù số báo lưu hành ở Pháp cao nhất trong khu vực Địa Trung Hải nhưng vẫn thấp hơn các khu vực khác của châu Âu, như vậy sự phát triển của báo chí thương mại khá yếu kém ở khu vực này (2) Sự tham gia của báo chí vào nền chính trị đảng phái: Báo chí gắn liền với các đảng chính trị Các phương tiện truyền thông là công cụ cần thiết cho việc tổ chức các phong trào và các đảng phái đóng vai trò quan trọng cho sự thành công của các tờ báo, cung cấp kinh phí và phân phối báo chí qua các tổ chức đảng (3) Tính chuyên nghiệp của báo chí kém phát triển hơn Khác với Mô hình Tự do ở Anh, Mỹ báo chí thường tập trung vào
Trang 39thông tin, phong cách báo chí của Pháp có xu hướng nhấn mạnh đáng kể đến bình luận Cả nhà báo và chủ sở hữu phương tiện truyền thông thường xuyên có quan
hệ chính trị hoặc liên minh với nhau, khá phổ biến hình ảnh các nhà báo là các chính trị gia và ngược lại (4) Nhà nước luôn đóng một vai trò to lớn đối với đời sống báo chí ở Pháp thể hiện ở việc can thiệp của Nhà nước tương đối mạnh đối với các phương tiện truyền thông Chúng tôi xem đây là một cách hiểu có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu này và nhận thấy rằng, trường hợp của Việt Nam trước năm 1945 cũng chịu sự ảnh hưởng của mô hình báo chí ở Pháp, với sự tham gia của báo chí vào các nền chính trị đảng phái, với sự phát triển báo chí thương mại một cách yếu ớt và sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước vào dòng báo chính trị
Về tác động của dòng báo chính trị với đời sống chính trị Việt Nam, chúng tôi có tham khảo quan điểm của Pippa Noris, đó là sự tác động của báo chí chính trị
lên nhận thức chính trị, thái độ chính trị và hành vi chính trị của những đối tượng được xác định trong phạm vi nghiên cứu là đảng phái chính trị, công chúng và
chính quyền
2.2 Các lý thuyết về mối quan hệ báo chí và đời sống chính trị
2.2.1 Quan điểm mác xít
2.2.1.1 Quan điểm C.Mác - Ph.Ănghen - V.I.Lênin
C.Mác - Ph.Ănghen - V.I.Lênin, các nhà lãnh đạo của phong trào vô sản thế giới, luôn xem báo chí là vũ khí, là tiền đồn chính trị - tư tưởng mà giai cấp vô sản cần phải nắm và sử dụng một cách hiệu quả trong hoạt động đấu tranh Các ông cũng đều là các nhà báo lớn, chịu trách nhiệm lãnh đạo nhiều tờ báo của phong trào
và là tác giả của hàng ngàn bài báo quan trọng Không một trở lực nào có thể ngăn cản hoạt động báo chí của họ Dù bị trục xuất khỏi Đức và Pháp vì những hoạt động cách mạng và báo chí, bị kẻ thù luôn theo dõi, dò xét ngay cả khi cư trú ở Anh, C.Mác đã luôn giữ vững trận địa này trong suốt cuộc đời mình Với V.I Lênin, hoạt động báo chí kéo dài ở cả hai thời kỳ trước và sau Cách mạng tháng Mười “Đặc điểm chung của các tác phẩm báo chí của C.Mác, Ph Ăng ghen, V.I Lênin là giàu chất trí tuệ mà hạt nhân là tư duy triết học, tri thức văn hóa và tri thức kinh tế, xã hội” [41, tr.16]
C.Mác - Ph.Ănghen - V.I.Lênin đã có một hệ thống quan điểm về mối quan
hệ báo chí - chính trị, có thể khái quát như sau:
* Nhiệm vụ hàng đầu của báo chí là đấu tranh chính trị
C.Mác, Ph.Ănghen luôn nhấn mạnh trong hoạt động báo chí nhiệm vụ hàng đầu là đấu tranh chính trị Báo chí đã được các nhà lãnh đạo của giai cấp vô sản coi
là vũ khí sắc bén của các nhà cách mạng, là công cụ đấu tranh chống kẻ thù của giai cấp vô sản và đông đảo quần chúng Các tờ báo đều chịu sự chi phối của chính trị, mang nội dung chính trị: “Tuyệt đối từ bỏ chính trị là không thể được; tất cả các tờ báo chủ trương từ bỏ chính trị cũng đều làm chính trị Vấn đề chỉ là làm chính trị như thế nào và làm loại chính trị gì” [91, tr.551] Như vậy, điều mà Ph.Ăngghen
Trang 40nhấn mạnh “tuyệt đối từ bỏ chính trị là không thể làm được” cũng là điểm tranh
luận thú vị khi nói về dòng báo chính trị ở Việt Nam Bởi tính chính trị, bản chất
chính trị là đặc trưng của báo chí, nhưng cũng như quan điểm của các nhà kinh điển
“Vấn đề chỉ là can dự vào chính trị như thế nào và đến mức nào” [91, tr.547] Các báo, tạp chí thuộc dòng báo chính trị ở Việt Nam phải can dự một cách sâu sắc vào
chính trị, nghĩa là nội dung của báo chí chủ yếu phản ánh những vấn đề chính trị -
xã hội và có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống chính trị Việt Nam
C.Mác, Ph.Ănghen luôn nhấn mạnh rằng báo chí không được từ bỏ lập trường chính trị: “Nhưng nhiệm vụ là ở chỗ: trong mọi hoàn cảnh cần giữ cho được thành trì này cho mình và không từ bỏ lập trường chính trị” [92, tr.201] Mặc dù, với các ông, hoạt động báo chí luôn gặp những thách thức: sự cấm đoán của chính quyền, sự truy
nã của cảnh sát và tình trạng thiếu thốn về tiền nong C.Mác, Ph.Ănghen nhắc nhở các nhà báo không được lệch lạc về phương diện tư tưởng Các ông cũng phê phán tình trạng kém cỏi về chính trị của báo chí vô sản và đòi hỏi báo chí phải có chính kiến đúng đắn, phải có chất lượng và kinh nghiệm nghề nghiệp
Kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác, Ph.Ănghen về nhiệm vụ của báo chí trong cuộc đấu tranh giai cấp, V.I Lênin đã luôn coi báo chí là mũi nhọn đi đầu trong cuộc đấu tranh, và đòi hỏi báo chí của những người cộng sản phải học báo chí
tư sản ngay trên mặt trận này: “Chúng ta không biết dùng báo chí để tiến hành đấu tranh giai cấp, như giai cấp tư sản Chúng ta cứ nhớ lại xem trên báo chí của nó, giai
cấp tư sản đã hoàn toàn biết công kích những kẻ thù giai cấp của nó như thế nào, đã
chế giễu, đã bôi nhọ họ như thế nào, đã khiến cho họ không sống nổi như thế nào” [93, tr.435] Vào những thời điểm chính trị căng thẳng, Lênin đã triệt để sử dụng báo chí tuyên truyền để bảo vệ cách mạng và trực tiếp tấn công kẻ thù Ông khẳng định: “Chỉ có kết hợp chặt chẽ cuộc đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị, chỉ có làm cho công tác tuyên truyền và cổ động chính trị thâm nhập vào những tầng lớp quần chúng ngày càng rộng rãi trong giai cấp công nhân, thì đảng dân chủ - xã hội mới có thể làm tròn sứ mệnh của mình được” [83, tr.417]
* Đảm bảo tối đa tự do báo chí
Trong những luận điểm quan trọng nhất về tự do sáng tác, C.Mác, Ph.Ănghen luôn nhấn mạnh đến nguyện vọng của người cầm bút, cho dù nhà báo
hay nhà văn, là phải được viết theo ý của mình, chống lại lối viết theo “một cách
biểu hiện đã được quy định” [41, tr.127] Sự biểu hiện đã được quy định này chính
là theo khuôn mẫu đã cho trước của nhà nước, và là một căn bệnh cố hữu từ chế độ này sang chế độ khác Chế độ phong kiến có những quy tắc ràng buộc người viết, như phạm húy, phạm quy và những hình thức xử phạt nặng nề Chế độ tư bản được coi là chế độ dân chủ, tự do, nhưng thực chất luôn có những quy định nghiêm ngặt
với người viết Trong bài Nhận xét bản chỉ thị mới nhất về chế độ kiểm duyệt của
Phổ, Mác đã chỉ ra tình trạng mất tự do của người viết: “Chính các vị không đòi hỏi
hoa hồng phải thơm như hoa tím, vậy cớ sao các vị lại đòi sự phong phú hết sức lớn