Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học mới tập trung vàonghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ Đậu nhập nội ở một số vùngnhư: Lục Văn Ngôn, 1970 [27], đã nghiên cứu so sá
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÁC BÃI CHĂN THẢ GIA SÚC VÀ MÔ HÌNH CHĂN NUÔI GIA ĐÌNH TẠI XÃ KHÔI KỲ, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Chung
Thái nguyên - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu
trong luận văn là trung thực và chưa ai công bố
Tác giả
Hoàng Thị Phượng
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS – TS Hoàng Chung đã quan tâm, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo, các cán bộ, nhân viên khoa Sinh trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Xin cảm ơn cán bộ, nhân viên Viện Khoa học Sự sống – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gianhọc tập và nghiên cứu khoa học
Xin cảm ơn các vị lãnh đạo, các cán bộ của Ủy ban nhân dân xã Khôi Kỳ - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 06 năm 2015
Tác giả
Hoàng Thị Phượng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam 5
1.2 Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên 7
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài 7
1.2.2 Nghiên cứu về dạng sống 9
1.2.3 Nghiên cứu về năng suất cỏ 10
1.2.4 Nghiên cứu về chất lượng cỏ 11
1.3 Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả và sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam 12
1.3.1 Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả 12
1.3.2 Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam 13
1.4 Các loại thức ăn chăn nuôi gia súc và đặc điểm của cỏ hoà thảo 14
1.4.1 Các loại thức ăn chăn nuôi gia súc 14
1.4.2 Đặc điểm của cỏ hoà thảo 16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Phương pháp điều tra trong dân 21
Trang 52.2.2 Các phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên 21
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 22
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 25
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội huyện Đại Từ 25
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27
3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Khôi Kỳ 28
3.2.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Thực trạng nguồn thức ăn chăn nuôi gia súc ở xã Khôi Kỳ 30
4.1.1 Thảm cỏ tự nhiên 30
4.1.2 Cỏ trồng 69
4.1.3 Các cây trồng khác được sử dụng làm thức ăn cho gia súc 72
4.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình chăn nuôi gia súc ở xã Khôi Kỳ 72
4.3 Đề xuất mô hình khai thác thức ăn chăn nuôi gia súc 75
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Sản lượng VCK và chất lượng những loài cỏ trên vùng đất hấp vào
45 ngày cắt 4
Bảng 4.1: Thành phần loài của thảm thực vật trên đồi cỏ tự nhiên 30
Bảng 4.2: Thành phần loài của thảm thực vật dưới rừng 43
Bảng 4.3: Thành phần loài của thảm thực vật tại các bãi hoang 56
Bảng 4.4: Năng suất của thực vật tại một số điểm nghiên cứu 66
Bảng 4.5: Thành phần hoá học của một số loài cỏ chính 67
Bảng 4.6: Kết quả phân tích mẫu đất tại một số điểm nghiên cứu 68
Bảng 4.7: Năng suất của cỏ Voi tại các điểm nghiên cứu 70
Bảng 4.8: Chất lượng cỏ Voi tại các điểm nghiên cứu 71
Bảng 4.9: Hiệu quả chăn nuôi trâu của gia đình ông Dũng 72
Bảng 4.10: Hiệu quả chăn nuôi trâu của gia đình ông Phượng 73
Bảng 4.11: Hiệu quả chăn nuôi trâu của gia đình ông Đệ 74
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt có mối quan hệ mật thiết vớinhau Chăn nuôi cung cấp cho trồng trọt nguồn phân bón hữu cơ quan trọngkhông chỉ có tác động tăng năng suất cây trồng mà còn có tác dụng cải tạođất, tái tạo hệ vi sinh vật và bảo vệ cân bằng hệ sinh thái Ở nhiều vùng,trong sản xuất ngành trồng trọt vẫn cần sử dụng sức kéo của động vật chocác hoạt động canh tác và vận chuyển Còn trồng trọt lại cung cấp một lượnglớn thức ăn cho ngành chăn nuôi
Xã hội càng phát triển, mức tiêu dùng của người dân về các sản phẩm chănnuôi ngày càng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm Do vậymức đầu tư của xã hội cho ngành chăn nuôi ngày càng có xu hướng tăng nhanh
ở hầu hết mọi nền nông nghiệp Sự chuyển đổi có tính qui luật trong đầu tưphát triển sản xuất nông nghiệp là chuyển dần từ sản xuất trồng trọt sang pháttriển chăn nuôi, trong ngành trồng trọt, các hoạt động trồng ngũ cốc cũngchuyển hướng sang phát triển các dạng hạt và cây trồng làm thức ăn chăn nuôi Chăn nuôi đại gia súc là ngành chăn nuôi quan trọng ở nước ta và nhiềunước trên thế giới Nó là nguồn cung cấp thịt, sữa, sức kéo, phân bón… phục
vụ cho nhu cầu của con người Theo kết quả điều tra sơ bộ tại thời điểm1/4/2014 của Tổng cục Thống kê, cả nước có 2,58 triệu con trâu, tương đươngcùng kỳ năm trước; 5,18 triệu con bò, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, so với chăn nuôi tiểu gia súc và gia cầm thì chăn nuôi trâu bòđòi hỏi một lượng vốn đầu tư ban đầu về con giống nuôi tương đối lớn, tốc độtăng trưởng lại chậm, lượng thức ăn tiêu thụ trên đầu vật nuôi rất cao nên việcphát triển chăn nuôi trâu bò tập trung với qui mô lớn thường gặp nhiều khókhăn về vốn nhất là đối với kinh tế hộ gia đình
Chăn nuôi trâu bò sử dụng chủ yếu các nguồn thức ăn xanh có thể khai
Trang 9thác từ tự nhiên hoặc phụ phẩm của ngành trồng trọt và phát triển theo phươngthức chăn thả tự nhiên ở các vùng có tiềm năng đất đai và đồng cỏ rộng lớn Vìvậy để phát triển chăn nuôi trâu bò có hiệu quả, một trong những vấn đề cơ bảncần phải giải quyết đó là nguồn thức ăn xanh cho trâu bò
Thực tế trong những năm qua, nhiều địa phương trong cả nước nói chung,huyện Đại Từ nói riêng đã và đang đối mặt với khó khăn trong việc giải quyếtnguồn thức ăn xanh cho trâu bò Trở ngại lớn nhất hiện nay là diện tích chănthả tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, diện tích cỏ trồng còn ít, áp lực dân số ngàycàng tăng Trong khi đó, nguồn phụ phẩm nông nghiệp như: rơm, rạ, thân lácây ngô, mía, đậu tương thì rất nhiều nhưng không có biện pháp bảo quản,chế biến nên đã để lãng phí sau thu hoạch Vì vậy đã ảnh hưởng không ít đến
sự phát triển chăn nuôi trâu bò tại địa phương
Đại Từ là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên với nền kinh tế nôngnghiệp là chủ yếu, trong đó chăn nuôi gia súc đang được chú trọng phát triểnnhưng năng suất và hiệu quả kinh tế còn thấp do thiếu nguồn thức ăn, sử dụngđồng cỏ chưa hợp lý Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của các bãi chăn thả gia súc
và mô hình chăn nuôi gia đình tại xã Khôi Kỳ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nguồn thức ăn gia súc tại các bãi chăn thả và một số mô hìnhkhai thác thức ăn gia súc tại xã Khôi Kỳ, đánh giá hiệu quả kinh tế của từng môhình chăn nuôi gia súc theo hộ gia đình Từ đó đề xuất mô hình khai thác và sửdụng hợp lý thức ăn trong chăn nuôi gia súc
Trang 10Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam 1.1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đềthức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Anh, Úc, Mỹ, Brazin …
Có rất nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về cây thức ăn cho gia súc như: T.Kanno, M C M Macedo, John W Miles
Ở Inđonêxia, trong tình hình thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cỏ tựnhiên, 21% là rơm, 16% là cây lá khác và 7% là phụ phẩm thì trong 4 giải pháp
để giải quyết thức ăn là thâm canh, trồng giống cỏ tốt (cỏ Voi và cây Đậu) [31]
Thái Lan đã nghiên cứu 19 giống của chi Brachiria thuộc bốn loài (Brachiaria decubens, Brachiaria brizontha, Brachiria humidicola, Brachiria fubata) đã xác định được bảy giống có năng suất hạt và năng suất chất xanh ở
mùa khô khá Những giống này được tiếp tục khảo nghiệm và nhân ra diện
rộng Loài Paspalum atratum nhập vào Thái Lan năm 1995 được đánh giá
trong mục tiêu là cây thức ăn cho đất thấp nó đã thể hiện là giống tốt, chịu đất
chua, ngập nước, sản xuất chất xanh và khả năng sản xuất hạt cao (Chaing sang Phai Keow, 1999).
Ở Trung Quốc, cây thức ăn gia súc được chú ý phát triển ở khu vực phía
Nam Trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống cỏ Stylo, Brachiaria, Pennisetum, … sử dụng có hiệu quả cho gia súc Hằng năm còn
sản xuất được 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước [33]
Một số nước khác như Philippin, Malaysia, Lào, … cũng đã chú trọngđầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985 Cho đến nay một
số giống cỏ Hoà thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả caotrong sản xuất Hằng năm sản xuất được 2 - 3 tấn hạt cỏ các loại Có thể nói,phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước
Trang 11quan tâm Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc ngàymột phát triển.
* Một số kết quả nghiên cứu về nâng cao năng suất cây thức ăn gia súctrên thế giới
Tại Redland Bay, Queensland, hai tác giả Riveros và Wilson (1970), thông
báo năng suất cỏ Setaria sphacelata đạt từ 23.500 – 28.000 kg/ha qua mùa sinh
trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm ure/ha/năm trên nền đất baza mầu mỡ [47]
Theo Quilichao, Colombia CIAT, (1978), loài cỏ Brachiaria decumbens
có thể đạt năng suất chất khô trên 40.000kg/ha/năm với thí nghiệm không cóbón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bónlân và đạm thấp [46]
Tại Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các loài cỏ Digitaria decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum khoảng từ 15-
20, 18 - 25, 9 - 15 và 6 - 10 tấn/ha (bảng 1.1)
Bảng 1.1: Sản lượng VCK và chất lượng những loài cỏ trên vùng đất hấp
vào 45 ngày cắt
Brachiaria mutica Cỏ lông Para 9 - 15 6 - 10
Digitaria decumbens Pangola 15 - 20 7 – 10
Nguồn: Division of Animal Nutrition, Anon (2000) [43]
Theo Quilichao (Colombia CIAT, 1978), loài Brachiaria decumbens có
thể đạt năng suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí nghiệm không bónđạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân vàđạm thích hợp [43] Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất chất khô đạt
Trang 1236.700 kg/ha, kết quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens), Para (Brachiaria mutica) và Ghinê (Panicum maximum) (Barnard, 1969) [45].
Tại Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái Lan)
cỏ Ghinê tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x 50cm
và được bón phân hỗn hợp (15-15-15) trước khi trồng ở mức 300 kg/ha tươngđương 18 tấn phân bón /1ha Lượng cỏ thu hoạch khoảng 8,9 tấn/ha ở lứa đầu(70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1 tấn/ha cắt sau 30 ngày [44]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam
Ở nước ta nhiều giống cỏ tốt đã được đưa vào sử dụng ở các cơ sở nghiêncứu và trung tâm chăn nuôi trong cả nước như Mộc Châu, Ba Vì, Đồng Giao,Tân Sơn Nhất, Hưng Lộc, Thủ Đức, Khánh Dương, Nha Bố, …
Kết quả những công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũng chưanhiều Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học mới tập trung vàonghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ Đậu nhập nội ở một số vùngnhư: Lục Văn Ngôn, 1970 [27], đã nghiên cứu so sánh năng suất và khả năngsống qua đông của một số giống cỏ trồng nhập nội trên đất đồi Thái Nguyên
trong đó có giống cỏ Tây Nghệ An (Panicum maximum), Mộc Châu (paspalum urvillei), cỏ xu đăng (Sorglum xudannens), Goatemala (Trypsacum laxum), cỏ
voi, Pangola, cỏ lông qua thí nghiệm cho thấy các cỏ voi, Tây Nghệ An có tổng
số đơn vị sản xuất ra lớn và có khả năng phát triển trong mùa đông Tác giảcũng cho thấy năng suất tỉ lệ thuận lượng phân bón nitơ
Nông trường Ba Vì, 1983 có báo cáo kết quả nghiên cứu tuyển chọn tậpđoàn cây hòa thảo nhập nội tại Nông trường Ba Vì Trong 28 giống cỏ đượcnghiên cứu thì các tác giả cho thấy: trong những giống thuộc thân đứng thì cỏKingrass và voi selection 1 là tốt hơn cả, năng suất 150 - 180 tấn /ha/năm.Nhóm thân bụi có cỏ Ghinê với hai chủng Uganda và Australia là tốt hơn, năngsuất 70 - 100 tấn/ha/năm Nhóm thân bò thì cỏ Pangola Pa 32 là tốt hơn năngsuất 60 - 80 tấn/ha/năm [42]
Trang 13Nguyễn Ngọc Hà và CTV (1985) đã tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn
tập đoàn cỏ nhập nội và đưa ra nhận xét: Nhóm cỏ thân cụm Panicum maximum Liconi và K280 cho năng suất trung bình 17 - 18 tấn VCK/ha/năm
với 7 - 8 lứa cắt [15]
Lê Hòa Bình, Hồ Văn Núng (1987 - 1989) cho biết thảm cỏ Voi xen canhvới các cây họ Đậu trong các điều kiện phân bón hạn chế đạt năng suất chấtxanh 139 - 142 tấn/ha, tăng 24 - 27 tấn/ha so với đối chứng cỏ Voi thuần [4]
Lê Hòa Bình và cộng sự (1992), khảo sát năng suất cây thức ăn mới nhậpnội ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi.[5]
Lê Hòa Bình, Nguyễn Phúc Tiến, Hồ Văn Núng, Đặng Đình Hanh, 1997,
đã nghiên cứu giống cỏ Para, các tác giả cho biết cỏ Para có năng suất 89 - 98tấn/ha với khối lượng xanh thu trong mùa đông 35 - 45 tấn/ha tương đương 39 -47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao và có ngập nước [4]
Phan Thị Phần và CTV (1999) [28], khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khuvực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:
- Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình Dương với
20 tấn phân chuồng, 80 kg P2O5, 80 kg K2O và 500 kg vôi/ha/năm Lượng phân
đạm bón từ 60 - 90 kg N/ha / năm, năng suất chất xanh cỏ Panicum maximum TD
58 đạt 64,59 83,33 tấn /ha/ năm Tỷ lệ lá cao 51,48 60,44%, năng suất hạt 287
-323 kg/ha/năm Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40 ngày/ lứa
- Khu vực miền Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồitrong điều kiện trung tính, đất tốt, đất chua nghèo lân và kali cỏ đều có tốc độsinh trưởng khá tốt (1,96 - 2,01 cm/ngày) Năng suất chất xanh đạt 90 - 100 tấn/ha/ năm Cỏ Ghinê có khả năng cho thu hạt, năng suất đạt 450 kg/ha, tỷ lệ sửdụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sữa 77% và ngựa 85% Tỷ lệ
tiêu hóa của Dê đối với cỏ Panicum maximum TD 58 cao, khả năng sử dụng
của gia súc đều tốt từ 86 - 100%
Trang 14Trương Tấn Khanh và CTV (1999) [21] đã nghiên cứu tập đoàn cây thức
ăn gia súc tại Đắc Lắc
Dương Quốc Dũng và CTV (1999), nghiên cứu nhân giống hữu tính cỏRuzi và phát triển chúng vào sản xuất một số tỉnh phía Bắc và miền Trung [13]
Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn Đĩnh (2001) [32], đã nghiên cứu khả năng
sinh trưởng và phát triển của cỏ sả Panicum maximum CvTD 58 trên vùng đất
xám Bình Dương
Tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi Thái Nguyên,tác giả Nguyễn Văn Quang (2002) [29] khi nghiên cứu so sánh về tốc độ sinhtrưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏ nhập nội chobiết: Cả 5 giống cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá cao từ 1,45 – 1,82 cm/ ngày
Trong đó 2 loài cỏ Paspalum astratum và Panicum maximum TD58 có tốc độ
sinh trưởng cao nhất (1,82 và 1,70 cm/ngày)
Nguyễn Thị Mùi, Lương Tất Nhợ, Hoàng Thị Hấn, Mai Thị Hướng, (2004)[23], đã nghiên cứu đánh giá hiện trạng nguồn thức ăn cho gia súc ăn cỏ và bướcđầu xây dựng mô hình trồng cây thức ăn gia súc tại huyện Đồng Văn – Hà Giang.Hoàng Chung, Giàng thị Hương (2006) tại Mai Sơn - Sơn La đã tiến hànhtưới nước và bón phân cho cỏ trồng (cỏ Voi, cỏ Ghinê), tăng 1 - 2 lứa / năm,năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ (100 tấn - 120 tấn/ha) [11].Nguyễn Thu Hồng, Nguyễn Ngọc Tấn, Đinh văn Cải (2006) [18] đã tiếnhành thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạn tỉnh Ninh Thuận Các tác giả cho
biết các giống cỏ hòa thảo như voi, sả, cỏ Ruzi và Paspalum đều có thể sinh
trưởng và phát triển trong điều kiện khô nóng tại Ninh Thuận Trong điều kiệntưới nước phân bón năng suất có thể đạt 100 - 150 tấn/ha/năm
1.2 Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài
Trên thế giới, nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiêncứu được tiến hành từ lâu Người ta có thể nghiên cứu thành phần loài ở từng
Trang 15vùng hay trên từng thảm thực vật khác nhau Đối với loại hình đồng cỏ, thảonguyên, ở Liên Xô có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài thực vậttrong đồng cỏ, thảo nguyên đã công bố như: Alekhin (1904), Vưsotxki (1915),Graxits (1927), Sennhicop (1938), Creepva (1978)….
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về thành phần loài trong đồng cỏ, savanhoặc một số loại hình thuộc thảo khác mới chỉ được tiến hành từ những năm
1950 trở lại đây Nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu thành phần loài trongđồng cỏ như:
Nguyễn Đình Ngỗi, Võ Văn Chi (1964), đã nghiên cứu thành phần loài củathảm thực vật ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) đã gọi loại hình này là Savan cỏ [26]
Dương Hữu Thời, Nguyễn Ngọc Chất, Hoàng Chung, Phạm Quang Anh(1969), khi nghiên cứu thành phần loài đồng cỏ Ngân Sơn (Bắc Kạn) đã gọiđây là đồng cỏ [34]
Hoàng Chung (1980), nghiên cứu thành phần loài và dạng sống của đồng
cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã đưa ra bảng phân loại các kiểu đồng cỏ, savan,
thảo nguyên Trong cuốn “Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam” năm 2004 là
79 họ, 402 loài [8]
Dương Hữu Thời (1981), đã công bố công trình “Đồng cỏ Bắc Việt Nam”,tác giả đã đề cập khá đầy đủ về loại hình đồng cỏ của vùng này với sự phânchia 5 vùng đồng cỏ bắc Việt Nam [35]
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995), khi nghiên cứu một số đặc điểmsinh thái, sinh vật học của savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng, đã phát hiện được 60 họ với 131 loài thực vật khác nhau [20]
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1997), nghiên cứu thành phần loài, dạngsống của savan bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái đã phát hiện được 123 loàithuộc 47 họ khác nhau [12]
Ma Thế Quyên (2000), nghiên cứu về động thái Đồng cỏ trong mối quan
hệ với hình thức sử dụng của người dân địa phương (Ngân Sơn - Bắc Kạn) sưutầm được 88 loài thuộc 35 họ [30]
Trang 161.2.2 Nghiên cứu về dạng sống
Thực vật trong quá trình sống phải thích nghi với môi trường sống, nóthể hiện ra không chỉ qua tổ hợp thành phần loài mà còn qua tổ hợp về dạngsống của nó
Bảng phân loại dạng sống của cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên làCannon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra như: G.N.Vưsoxki(1915), L.T Kadakevich (1922), V.r Villiams (1922), E.M.Lapreko (1935),Braun Blanquet (1951), Golubep (1962)…
I K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thườngxanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trênmặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật cóthời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và pháttriển lâu năm G N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớpcây nhiều năm và lớp cây hàng năm [25]
Raunkiaer (1934), đã sử dụng vị trí của chồi và khả năng tồn tại trongđiều kiện bất lợi làm tiêu chuẩn để phân chia và chia thực vật thành 5 kiểudạng sống: Chồi trên mặt đất, chồi mặt đất, cây chồi nửa ẩn, cây chồi ẩn và
cây một năm [10]
Xêrêbrriacốp (1964) dựa vào những dấu hiệu hình thái sinh thái và cả nhữngdấu hiệu như ra quả một lần hay nhiều lần trong cả đời của cá thể, gồm: Ngành A:Thực vật thân gỗ sống trên đất, bì sinh; Ngành B: Cây bán mộc (nửa gỗ); Ngành
C: Cây thảo Trong mỗi ngành có các kiểu và các lớp khác nhau [10]
Ở Việt Nam, Doãn Ngọc Chất (1969), nghiên cứu dạng sống của một sốloài họ hoà thảo
Hoàng Chung (2004)[8], thống kê thành phần dạng sống cho loại hìnhđồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảngphân loại kiểu đồng cỏ, savan, thảo nguyên của miền Bắc Việt Nam
Bảng phân loại dạng sống thực vật của đồng cỏ Bắc Việt Nam của ông dựatrên nguyên tắc phân loại của Golulbép (1962) [10]
Trang 171.2.3 Nghiên cứu về năng suất cỏ
Năng suất sinh học là một đặc điểm quan trọng của hệ sinh thái Năng suấtsinh học có ý nghĩa lớn nhất trong nghiên cứu về quy trình trao đổi chất vànăng lượng, tất cả các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong hệsinh thái đều có quan hệ mật thiết với quá trình tạo thành và biến đổi của sảnphẩm sinh học [10]
Trên thế giới việc nghiên cứu năng suất của đồng cỏ được tiến hành nhiềutrong những thập niên cuối thế kỷ XX; Những nghiên cứu này thường vẫn tậptrung chủ yếu ở phần trên mặt đất hoặc nghiên cứu tập chung vào chất lượng,trạng thái sống và chết, sự tăng trưởng của nó; tỷ lệ phần chết hàng năm, lớpthảm mục Các công trình nghiên cứu theo hướng này có các tác giả như:
Ivanop (1941); Odum (1968); Rodin (1968)
Nhiều công trình nghiên cứu phần trên mặt đất được tiến hành cùng vớiphần dưới đất trong sự phụ thuộc từ những điều kiện tạo thành nó của các kiểuthực bì khác nhau: Salut (1950); Andreev, Lapverenko và Leonchiev (1955);Badilevich (1958); Xơrokomskaia và Ponhiatopkaia (1960); Alekxenko (1967),Hoàng Chung (1974), Uchekhin (1977) Nghiên cứu riêng phần trên mặt đất
có các tác giả: Kalininna (1954); Xemennôva-ChianSanskia (1966) Nghiêncứu riêng phần dưới mặt đất có các tác giả: Xemennop (1966); Kharitonốp(1967); IgonachenKo, Kirillova và Ponhiatopskaia (1968)…
Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về năng suất đã được tiếnhành trong các quần xã cỏ tự nhiên và cỏ trồng như: Dương Hữu Thời (1981)[35], Nguyễn Hữu Hiến (1985), nghiên cứu một số cây có giá trị kinh tế caotrên đồng cỏ tự nhiên và chủ yếu tính sản lượng cỏ trong một số vùng nhằmphục vụ cho kế hoạch phát triển chăn nuôi đại gia súc của một số vùng đó Hoàng Chung (2004), khi nghiên cứu năng suất các quần xã cỏ vùng núiBắc Việt Nam đã nghiên cứu năng suất cả phần trên mặt đất và phần dưới mặt
đất Từ những nghiên cứu đó ông đã rút ra kết luận: “Trong các thảm thực vật
Trang 18thuộc thảo (savan - đồng cỏ) của miền Bắc Việt Nam, năng suất sinh học tăng lên dần theo trình tự; đồng cỏ á Thảo Nguyên - Savan - Đồng Cỏ”.[8]
1.2.4 Nghiên cứu về chất lượng cỏ
Chất lượng của các loài cỏ được đánh giá bằng thành phần hoá học cótrong giống cỏ đó Thành phần hoá học có trong các giống cỏ tập trung chủyếu vào 4 chỉ tiêu đó là: vật chất khô, protein, đường, chất béo và xơ Nhữnggiống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô, protein, đường cao,
tỉ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỉ lệ lá /thân cao, trong đó chỉ tiêu protein được chú
ý nhiều hơn cả
Thành phần hóa học quyết định trực tiếp đến nguồn dinh dưỡng có trong
cỏ hòa thảo Theo tài liệu của Viện chăn nuôi quốc gia, 2001[41], đối với cây
cỏ ngoài tự nhiên thì hàm lượng dinh dưỡng rất khác nhau như: Đối với câyrong, bèo,…rau ở dưới nước thì hàm lượng chất khô thường thấp, chiếm tư 1-6% VCK Đối với cây trên cạn hàm lượng dinh dưỡng cũng khác nhau như: Cỏbạc hà (cỏ vừng) có 11,9% VCK; 1,8% protein thô; 0,5% lipit thô; 2,7% xơthô; Cỏ thài lài 10% CVK; 1,7% protein thô; 0,9 lipit thô; 10% xơ thô Trongkhi đó một số cỏ khác từ 18 - 24% VCK như cỏ Mộc Châu mọc tự nhiên có23,88% VCK; 2,54% protein thô; 0,51% lipit thô; 8,67% xơ thô Một số cỏ cóhàm lượng VCK cao (trên 30%) như cỏ sâu róm 30,2% VCK
Theo Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị, 1976 [1], cỏ Voi tuổi càng nhỏ thì hàm lượngProtein càng cao, tuổi càng lớn thì tỉ lệ chất xơ càng cao (tỉ lệ nghịch với hàmlượng protein và nước) cụ thể là 2 tuần tuổi tỉ lệ nước là 89,56%; 2,67% xơ thô;protein cỏ khô là 18,42%, khi cỏ 4 tuần nước là 87,4%; 3,7% xơ; 11,49%protein trong cỏ khô Thành phần hoá học có trong các giống cỏ tập trung chủyếu vào 4 chỉ tiêu đó là: vật chất khô (VCK), Protein, đường, chất béo và xơ.Hoàng Chung và cộng sự (2004) đã tiến hành nghiên cứu và theo dõi một
số chỉ tiêu về thành phần hoá học của một số loài chính trong đồng cỏ Bắc ViệtNam Ví dụ: Cỏ lông có 76,7% nước; 1,954 % đạm; 7,86% protein; 1,379%
Trang 19đạm amin; 1% lipit; 8,8% chất xơ Cỏ Sả có 70,4% nước; 2,306% đạm, 9,61%protein; 1,686% đạm amin; 1,9% lipit; 9,3% xơ Cỏ tranh có 74% nước;1,945% đạm; 9,747% protein; 1,71% đạm amin; 1,1% lipit; 8,8% xơ [8].Những giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô, Protein,đường cao, tỉ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỉ lệ lá/thân cao, trong đó chỉ tiêu Proteinđược chú ý nhiều hơn cả.
1.3 Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả và sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam
1.3.1 Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả
Hiện nay đồng cỏ đã và đang bị thoái hoá nghiêm trọng do các tác độngthường xuyên của con người như các hoạt động sản xuất nông nghiệp Trên thếgiới có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thoái hoá của đồng cỏ do chănthả cũng như thảo nguyên của các vùng khác nhau như: G.I.Vưxôtxki (1915),
đã xác định 4 giai đoạn thoái hoá của thực bì thảo nguyên dưới tác dụng chăn
thả Patrôtxki (1917) nghiên cứu đới Nam của thảo nguyên Stipa longifolia,
ông chia 5 giai đoạn thoái hoá trong đó có cả giai đoạn không chăn thả, chănthả và ngừng chăn thả
V.V Alekhin (1934) nghiên cứu ở vùng Kursk thuộc đới phụ (phía Bắc)
của thảo nguyên Stipa longifolia đã xác định được các giai đoạn thoái hoá do chăn thả ở đây như sau: “Khi chăn thả nặng nề thì Stipa sẽ mất đi và thành phần hệ thực vật trở nên nghèo nàn hơn, đồng thời rất nhiều loài có số lượng
cá thể không nhiều, thường đơn độc, rồi cũng mất dần đi, bắt đầu trội hẳn lên
là Bromus Sau nữa còn lại chủ yếu là cây thuộc thảo và trên thảo nguyên phát triển mạnh ở tầng trên là cây Bromus riparius, tầng thấp là Festuca đồng thời trong vùng đó biểu hiện hai tầng rất rõ ràng; Bromus - Festuca ; cuối cùng chỉ còn lại Festuca, những sự chèn ép sau này của thảm Cỏ qua hàng loạt những trạng thái nhỏ nhặt sẽ dẫn đến giai đoạn phân bố rộng rãi của bào tử thực vật trên thảo nguyên” [8]
Trang 20Đồng cỏ vùng núi phía bắc Việt Nam là loại hình đồng cỏ thứ sinh Đặcbiệt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, đồng cỏ ở đây phân bố chủ yếu ở vùngnúi, các sườn đồi có độ dốc khá lớn (15- 400 ), nên vấn đề thoái hoá của đồng
cỏ do chăn thả là một trong những vấn đề nan giải hiện nay của các nhà nghiêncứu đồng cỏ bắc Việt Nam
Những nghiên cứu về sự thoái hoá của đồng cỏ do chăn thả ở Việt Nam
hiện nay đã được Dương Hữu Thời (1981) đề cập trong cuốn “Đồng cỏ Bắc Việt Nam” khi phân tích thành phần loài và các điều kiện sinh thái của đồng cỏ
ông đã đề cập đến 2 nguyên nhân của sự thoái hoá đồng cỏ Bắc Việt Nam là docường độ chăn thả và điều kiện khí hậu [35]
Hoàng Chung (1981, 1983, 2003) sau hơn 10 năm nghiên cứu tại đồng cỏ ởvùng Thôm Luông (Ngân Sơn) đã phân tích ảnh hưởng của sự chăn thả không có
kế hoạch trên sự thay đổi thành phần loài, cấu trúc và năng suất của thảm cỏ và
đã đưa ra kết luận về quá trình thoái hoá đồng cỏ Bắc Việt Nam như sau:
“Những thay đổi đầu tiên của lớp phủ thực vật đã dẫn đến sự hình thành các quần xã cỏ ở đây, những thảm cỏ này dưới sự tác động thường xuyên nhưng không thật nặng nề của con người như chăn thả, đốt nương rẫy, sẽ dẫn tới hình thành loại hình đồng cỏ khô, á thảo nguyên và đồng cỏ Khi chăn thả nặng nề hơn sẽ dẫn đến sự thay đổi phức tạp của thành phần loài ở từng quần xã, đó là
sự thay đổi các loài đang mọc bằng những loài từ ngoài đi vào, loài bản địa bị thay thế bởi loài phổ biến rộng rãi, đồng thời đơn giản hoá cấu trúc quần xã, giảm bớt khoảng không phân bố của lớp phủ thực vật, giảm năng suất của nó.”
Trên cơ sở đó đã chia quá trình thoái hoá đồng cỏ do sử dụng thành 5 giai đoạn:Bắt đầu từ trạng thái đồng cỏ đến giai đoạn hình thành savan cây bụi [8]
1.3.2 Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam
Đồng cỏ phía Bắc Việt Nam chủ yếu là có nguồn gốc thứ sinh do hoạtđộng khai phá rừng, do đó diện tích đồng cỏ ngày càng được mở rộng Hiệnnay, đồng cỏ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như làm bãi chăn
Trang 21thả, trồng rừng, trồng cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp Trongthực tế, tại các vùng có sử dụng đồng cỏ vào mục đích chăn nuôi gia súc, hầunhư chưa có phương thức sử dụng và khai thác hợp lý đồng cỏ làm cho thảm cỏngày càng thoái hoá mạnh.
Những công trình nghiên cứu về việc sử dụng hợp lý đồng cỏ còn ít, có ởmột số công trình như: Dương Hữu Thời (1981) [35], có đề cập đến một số vấn
đề sử dụng hợp lý như: luân phiên đồng cỏ, trồng cỏ, diệt trừ cây bụi
Võ Văn Trị (1983), đã chia đồng cỏ trồng ra thành những ô nhỏ, sự luânphiên mùa hè theo ông có khoảng cách 40 - 50 ngày, mùa đông là 60 ngày Hoàng Chung (1988), nghiên cứu về vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc ViệtNam Ông đã chia đồng cỏ Bắc Việt Nam thành 3 hệ thống (3 loại theo độ dốc):Loại 1: đồng cỏ có độ dốc sườn dao động từ 0 - 70
Loại 2: đồng cỏ có độ dốc sườn dao động từ 7 - 250
Loại 3: đồng cỏ có độ dốc sườn dao động từ 25 - 300 trở lên
Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ vùng núi miền Bắc Việt Nam, Ông đã đềcập hai vấn đề lớn: Cải tạo điều kiện môi trường sống, cải tạo lớp đất mặt dochăn thả hay những tác động khác làm giảm sút thảm cỏ
1.4 Các loại thức ăn chăn nuôi gia súc và đặc điểm của cỏ hoà thảo
1.4.1 Các loại thức ăn chăn nuôi gia súc
1.4.1.1 Thức ăn xanh
Thức ăn thô xanh ở nước ta rất đa dạng, phong phú bao gồm các loại cỏxanh, thân lá, ngọn non của các loại cây bụi, cây gỗ được sử dụng trong chănnuôi Thức ăn xanh chứa 60 – 85 % nước, đôi khi còn cao hơn nhiều Chất khôtrong thức ăn xanh có hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho động vật và dễtiêu hóa Gia súc nhai lại có thể tiêu hóa trên 70% các chất hữu cơ trong thức
ăn xanh Thức ăn xanh còn chứa protein dễ tiêu hóa, giàu vitamin, khoáng đalượng, vi lượng, ngoài ra còn chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học cao
Trang 22* Một số loại thức ăn xanh
- Ngô (Zea mays L): Ngô là cây thức ăn quan trọng ở Việt nam, dùng làm
lương thực cho người, thức ăn tinh và tươi cho gia súc; là cây hằng năm, thânthẳng và đơn độc Sinh trưởng nhanh có thể thu hoạch trong thời gian ngắn.Ngô thích nghi với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, có thể sống ở một số loại đất,nhưng tốt nhất là đất tốt, thoát nước Năng suất chất xanh của ngô thường thayđổi tùy theo mục đích sử dụng và mật độ gieo trồng Nếu thu hoạch làm thức ănxanh sau 40 – 50 ngày cho năng suất 12,6 tấn /ha Sau 4 – 5 tháng cho 25 – 40tấn/ ha và nếu đất tốt tới 100 – 200 tấn /ha xanh hay hơn, nhứng ở nhiệt đớinằm trong khoảng 8 – 70 tấn/ha xanh hay 2 – 20 tấn chất khô/ha [36]
- Ngọn, lá mía: Ở nước ta có diện tích mía khá lớn Khi thu hoạch thân
cây mía để làm đường, phần còn lại thải ra là ngọn, lá mía với số lượng rất lớn,
có thể sử dụng làm thức ăn cho trâu bò thay thế một phần cỏ rất tốt Ngọn, lámía có hàm lượng đường cao, nhưng nhiều xơ và nghèo các chất dinh dưỡngkhác hơn cỏ xanh [17]
- Một số loại cỏ:
+ Cỏ tự nhiên trên bờ ruộng, ven đê, gò bãi: Cỏ may, cỏ gà, cỏ tranh, cỏchỉ, cỏ ống, cỏ lá tre, cỏ mật, Cỏ bờ ruộng thường được cắt về cho bò ăn, cácnơi khác chăn thả hoặc dắt [17]
+ Một số loài cỏ trồng như: Cỏ Dầy, cỏ Voi, cỏ Ghinê, cỏ Stylo, cỏ Ruzi,
cỏ VA 06 Các loài cỏ này cho năng suất và chất lượng khá tốt
Ngoài ra, một số loại thức ăn khác như rơm tươi, các loại rau xanh (lá cảibắp, lá xu hào, cải xanh ), lá sắn, dây khoai lang, rau muống và các loại phế,phụ phẩm khác (ngọn, vỏ dứa thải ra từ nhà máy chế biến dứa ) cũng có thểđược sử dụng thay thế một phần cỏ tươi trong những lúc khan hiếm
1.4.1.2 Thức ăn thô khô
Tất cả các loại cỏ xanh tự nhiên thu cắt và các loại phế phụ phẩm của câytrồng đem phơi khô có hàm lượng xơ trên 18% đều là thức ăn thô khô Bao
Trang 23gồm: cỏ khô họ đậu hoặc hòa thảo, rơm rạ, dây lang, dây lạc và thân cây ngô
phơi khô Rơm cỏ khô là loại thức ăn dự trữ cho trâu bò về mùa đông rất tốt.
Nếu có điều kiện nên tổ chức cắt, phơi cỏ để làm cỏ khô đảm bảo cung cấpthức ăn cho trâu bò về mùa đông khi thiếu cỏ tươi [17] Ngoài ra còn gồm vỏcác loại hạt thóc, lạc, đậu, lõi và bao ngô
1.4.1.3 Thức ăn hạt và các phụ phẩm chế biến từ hạt
Đây là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho vật nuôi Thành phần dinhdưỡng chính của thức ăn hạt là chất bột đường chiếm 70 – 75%, hàm lượngprotein thô thường thấp khoảng 8 – 10% và phân bố không đều trong hạt, tăngdần từ giữa hạt ra bên ngoài
Thức ăn hạt và các phụ phẩm chế biến từ hạt gồm: hạt ngô, thóc, tấm gạo,cám gạo, lạc, hạt các loại đậu đỗ…
1.4.2 Đặc điểm của cỏ hoà thảo
1.4.2.1 Đặc tính sinh thái
Cỏ hòa thảo có khả năng phân bố rộng rãi, có thể thích ứng được ở nhiềuvùng và trong những điều kiện đất đai khí hậu khác nhau Cỏ hoà thảo có thểsinh trưởng được ở vùng nóng đất khô khan mùa khô kéo dài, độ ẩm trung bình
20 - 30%, hoặc những vùng mùa đông nhiệt độ thấp, nhưng chúng vẫn có thể
sinh trưởng và phát triển được như cỏ Xương cá, cỏ Lông đồi, cỏ Andropogon,
cỏ Brachiaria decumbens, Đa phần các loài cỏ sinh trưởng tốt ở vùng có độ
ẩm từ 60 - 80% Có loài lại có khả năng sinh trưởng được ở những nơi đất lầy,ngập nước như cỏ Môi, cỏ Bấc, cỏ Lông para, Như vậy, có thể nói thực vậttrong đồng cỏ tồn tại trong những điều kiện khác nhau của các yếu tố sinh thái
cơ bản trong vùng, và khác nhau ở cả hai phần trên và dưới đất (ánh sáng, nhiệt
độ, độ ẩm, muối khoáng, CO2 ) Nó biểu thị rõ rệt về phân bố sinh khối theochiều thẳng đứng và chiều nằm ngang
1.4.2.2 Đặc tính sinh học
Cỏ hoà thảo là cây thân tròn hoặc bầu dục (tuỳ theo giống), lá mọc thành haidãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ to, có thìa lìa, phiến lá dài, gân lá song
Trang 24song, thân cỏ thuộc loại thân rạ, rỗng (trừ mấu đốt) Cũng có loài thân đặc như cỏvoi, rễ thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấnnhờ gió (Võ văn Chi và Dương Đức Tiến, 1976) [7] Căn cứ vào hình dáng củathân và đặc điểm sinh trưởng, người ta chia cỏ hoà thảo thành các loại sau:
- Loại thân rễ: Đại diện là cỏ tranh (Imperata cylindrica)
- Loại thân bụi: Đại diện là cỏ Ghine (Panicum maximum), cỏ Mộc Châu
- Loại thân bò: Đại diện là cỏ pangola, lông Para, cỏ xích lô
- Loại thân đứng: Đại diện loại này là cỏ Voi
1.4.2.3 Đặc tính sinh lý
Nhu cầu về nước:
Cỏ hoà thảo có nhu cầu về nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớnhơn họ đậu Hệ số toả hơi nước của cỏ này vào khoảng 400 - 500 gram, trongkhi của cỏ họ Đậu 214 - 216 gram Theo N.G Andreep (1974), với đồng cỏ có
độ ẩm đất khoảng 70%, một tháng 10m2 cỏ bay hơi khoảng 1m3 nước, trong 5tháng sẽ có 50 tạ cỏ khô/1ha
Độ ẩm của đất cũng yêu cầu theo từng giai đoạn trong đời sống của cây:
- Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30 %
- Giai đoạn phát triển cành : 75 %
- Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần
Nhu cầu về dinh dưỡng:
Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn, đạm, lân và kaly Nhu cầu về dinhdưỡng cũng chia theo từng giai đoạn (Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời,1981) [22]:
- Giai đoạn 1 (nảy mầm - phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kaly
- Giai đoạn 2 (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân
- Giai đoạn 3 (ra hoa, hình thành hạt) cần nhiều lân và kaly
Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn
Trên đất nghèo không có phân bón thì đời sống thường kéo dài không quá
3 - 5 năm Trên đất phì nhiêu hay thường xuyên có phân bón có thể kéo dài 10năm, có khi hơn
Trang 25Nhu cầu về không khí :
Các loại cỏ thân đứng, thân bụi, thân rễ phân chia nhánh dưới mặt đất đòihỏi phải tơi xốp, thoáng khí Các loại thuộc thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu được đất kém thoáng khí và độ ẩm thấp hơn
Tính chịu sương giá và kháng xuân:
Tính kháng xuân hay còn gọi là khả năng chịu đựng của cỏ mùa đông Nóthể hiện khả năng chịu đựng của cỏ về sự chênh lệch nhiệt độ không khí vànhiệt độ trong đất, sự chênh lệch này làm cho sự vận chuyển các chất dinhdưỡng trong thân cỏ và quá trình đồng hóa, dị hóa của cỏ mất điều hòa nên cótính kháng xuân kém sẽ bị chết Tính kháng xuân của cỏ còn phụ thuộc vào cácyếu tố như: Loài cỏ, dạng sống, hàm lượng vật chất khô trong cỏ
Loại cỏ chịu sương giá tốt thì trong giai đoạn cuối thu đầu đông nó vẫnphát triển bình thường, còn loại chịu giá yếu kém thì ngừng sinh trưởng hoặcchết vào mùa đông
Theo Điền Văn Hưng (1974) [19]:
- Cỏ thân bò thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau khi cắt 30 - 45 ngày
Trang 26- Cỏ thân bụi thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau khi cắt 35 - 45 ngày
- Cỏ thân đứng thu hoạch sau trồng hoặc sau khi cắt trên 60 ngày
1.4.2.5 Sức sống của cỏ hoà thảo
Sức sống của cây hoà thảo không giống nhau, có loài sống lâu năm, có loàichỉ sống được một năm Vì vậy, người ta chia cỏ hoà thảo thành 4 loại sau(Quang Ngọ, Sinh Tặng, 1976)[24]:
- Loại cỏ sống một năm thì tàn lụi và chết gọi là cỏ hàng năm như cỏ XuĐăng, cỏ lồng vực,
- Loại cỏ có sức sống ngắn (2 - 3 năm) như cỏ Dầy, cỏ Mật (Melinisminutiflora)
- Loại cỏ sức sống vừa (4 - 6 năm) như cỏ Pangola, cỏ Voi, cỏ Ghine,
Paspalum, Brachiara
- Loại cỏ có sức sống lâu (6 - 10 năm) như cỏ mạch tước không râu
Căn cứ vào sức sống của các loài cỏ, người ta dự tính thời gian trồng lại đểđảm bảo năng suất
1.4.2.6 Giá trị kinh tế của cỏ hoà thảo
Cỏ hoà thảo có vai trò cực kì quan trọng trong chăn nuôi và có giá trị kinh
tế lớn không chỉ vì nó phân bố rộng, chiếm tỷ lệ cao trong thảm cỏ, mà còn córất nhiều ưu điểm tốt như: Cho năng suất và giá trị dinh dưỡng cao; khi chếbiến - dự trữ ít rơi rụng lá, ít bị thối; tỷ lệ cỏ độc ít; chịu đựng chăn dắt cao Cỏ
tự nhiên cho 10 - 20 tấn (chất xanh)/ha/năm, cỏ trồng thân bò cho 30 - 40tấn/ha/năm, thân bụi cho 50 - 60 tấn/ha/năm, thân đứng cho 80 - 100tấn/ha/năm, nếu thâm canh có thể cho 160 - 260 tấn/ha/năm 1 kg cỏ tươi cho
từ 0,1- 0,2 đơn vị thức ăn tương đương với 250 - 500 KcalME Cỏ hoà thảo cógiá trị dinh dưỡng cao Ở những nơi đất tốt, nhiều mùn, ẩm, loài cỏ tốt nhất cóthể chứa 16g prôtêin tiêu hoá và 32g lipit trong 1kg cỏ tươi, 8kg cỏ có thểtương đương 1 đơn vị thức ăn [36]
Một số giống cỏ hoà thảo chính:
Trang 27- Cỏ VA06: Cỏ VA06 là giống cỏ được lai tạo giữa giống cỏ Voi và cỏ
Đuôi
sói của Châu Mỹ, năng suất 450 - 600 tấn/ha/năm Chất lượng tốt, trong cỏ có 17loại axit amin và nhiều loại vitamin, trong cỏ khô hàm lượng protein 18,46%,protein tinh 16,86%, đường tổng số 8,3%, tỷ lệ lá cao, lá màu xanh, ít nhám vàmềm hơn cỏ Voi Cỏ VA06 có thể làm thức ăn tươi, thức ăn ủ chua, thức ănhong khô, bột cỏ để chăn nuôi Thu hoạch lứa đầu sau khi trồng 70 - 80 ngày, lứatiếp theo là 35 - 40 ngày Ở miền Bắc trồng vào vụ xuân khi bắt đầu có mưa vànhiệt độ >100C, ở miền Nam có thể trồng vào bất kì vụ nào trong năm [2]
- Cỏ Voi (Pennisetum purpureum): Cỏ Voi có nguồn gốc ở Nam Phi,
thuộc họ hoà thảo sống lưu niên, phân bố rộng ở các nước nhiệt đới trên thếgiới Cỏ Voi là một loài cỏ trồng chủ yếu cho gia súc, phát triển nhanh Cỏ thânđứng, rễ chùm, trồng hom cây 7-9 tấn/ha, mọc cao như mía đến 1,2 - 1,8m, cắt
6 - 9 lứa trong năm, năng suất 200 - 250 tấn/ha/năm Cỏ voi có thành phần dinhdưỡng cao hơn nhiều loại cỏ hòa thảo khác Trong 1kg cỏ tươi có 168g chấtkhô, protein thô 95-110g/kg chất khô, gluxit 1,3g, xơ 45g, canxi 0,6g, photpho
0,7g, năng lượng trao đổi 320 KCalo Ở Việt Nam thường sử dụng các giống cỏ
Voi thân mềm như cỏ Voi Solection I, Đài Loan, các giống King gras (Nguồn: hoinongdan.cantho.gov.vn, ngày 19/04/2011) [17].
- Cỏ Ghinê (Panicum maximum): Cỏ Ghinê còn gọi là cỏ Tây Nghệ An,
cỏ Sữa, cỏ Sả, chịu được hạn, không ưa đất ẩm cao, mùa đông vẫn xanh tươi, làgiống cỏ hòa thảo, trồng bằng nhánh gốc 4 - 6 tấn/ha, mọc bụi, rễ chùm, cao 60
- 120cm, năng suất đạt 60 - 80 tấn/ha/năm, hàm lượng protein thô 97,111g/kgchất khô Có thể trồng hai bên bờ đường, lối xóm, vườn nhà thành từng dãy cácbụi cỏ tây này Cho bò ăn tươi hoặc phơi khô dự trữ [17]
Trang 28- Môi trường đất tại các thảm cỏ.
- Một số mô hình chăn nuôi gia súc (trâu, bò) theo hộ gia đình
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
2.2.1 Phương pháp điều tra trong dân
Điều tra thu tập số liệu từ người dân về tình hình khai thác thức ăn cho giasúc; các loại cỏ, cây trồng được dùng cho gia súc, số lượng gia súc
Thu thập số liệu từ các cơ quan chức năng xã Khôi Kỳ, huyện Đại Từ vềdân số, đất đai, khí hậu, thuỷ văn,…
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên
2.2.2.1 Phương pháp điều tra nghiên cứu theo tuyến và ô tiêu chuẩn
- Điều tra nghiên cứu theo tuyến: Chúng tôi phân chia vùng nghiên cứu rathành nhiều điểm dựa vào địa hình, đất đai, kiểu thảm thực vật mà dân sử dụnglàm bãi chăn thả gia súc để xác định các sinh cảnh chính cần giám sát, đánh giá
và thu mẫu Có 2 tuyến điều tra:
+ Tuyến thứ nhất: Gò Gia - Cuốn Cờ - La Phác
+ Tuyến thứ hai: Đồng Cà - Đồng Mè - Bãi Chè - Bãi Pháo
- Điều tra nghiên cứu theo ô tiêu chuẩn:
Trang 29Trên các tuyến điều tra, chúng tôi đã lập các ô tiêu chuẩn tạm thời: Đối vớithảm cỏ trên đồi và bãi hoang là 1m2/ô; đối với thảm thực vật dưới tán rừng là100m2/ô để đánh giá số lượng cây gỗ và cây bụi, sau đó tại 4 góc làm 4 ô nhỏvới diện tích 1m2/ô để nghiên cứu thảm cỏ Trong mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hànhthống kê thành phần loài, từ đó đánh giá về độ đầy của loài trong quần xã, đánhgiá vai trò của từng loài trong quần xã, nghiên cứu về dạng sống, năng suất
thảm cỏ (theo phương pháp Hoàng Chung 2008)[10], những loài chưa biết tên
thì thu mẫu về định tên
2.2.2.2 Phương pháp lấy mẫu thực vật
- Nghiên cứu về năng suất: Trong mỗi ô tiêu chuẩn, dùng kéo cắt sát gốccác loại cây có trong ô, nhặt hết cả lá khô rơi trong ô, cho mẫu vào túi nilông
có dán nhãn và buộc lại
- Nghiên cứu về chất lượng: Chúng tôi chọn 5 loài cỏ thường gặp trongcác kiểu thảm cỏ, cắt lấy lá bánh tẻ cho vào túi nilông, có đề tên và buộc kínmang về để xác định hàm lượng vật chất khô, protein, đường và chất xơ
2.2.2.3 Phương pháp lấy mẫu đất
Tại mỗi kiểu thảm lấy 3 mẫu, đất từng tầng trộn đều rồi lấy một mẫu vềphân tích thành phần hoá học Lấy mẫu đất từ dưới lên trên ở độ sâu từ 0 –30cm, theo 3 tầng, mỗi tầng 10cm
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.2.3.1 Xác định tên khoa học của mẫu thực vật
Để xác định tên khoa học của các mẫu, chúng tôi đã sử dụng khoá phânloại hiện hành của tác giả Phạm Hoàng Hộ (1993) [16]; Nguyễn Tiến Bân vàcộng sự (2001, 2003, 2005) [3], Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001)của Trung tâm nghiên cứu Tài Nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia HàNội [40] và một số tài liệu liên quan đến phân loại Một số mẫu nhờ chuyên giaxác định tên
2.2.3.2 Xác định dạng sống
Trang 30Chúng tôi xác định dạng sống của từng loài theo phương pháp của HoàngChung (2008) [10].
2.2.3.3 Nghiên cứu năng suất cỏ
Theo phương pháp của Hoàng Chung (2006) [9] Mẫu mang về phòng thínghiệm được phân thành 2 phần : Phần tươi và phần chết Phần tươi được phânchia theo các nhóm: Hoà thảo, Xa thảo, cây Họ đậu, cây Thuộc thảo, cây gỗ,cây bụi theo các phần : Lá, thân, hoa….sau đó cân tươi rồi sấy khô, cân khô vàtính giá trị trung bình Phần đã chết và phần chưa hoàn toàn mục nằm trên mặtđất đều thuộc phần chết chung
2.2.3.4 Đánh giá chất lượng cỏ
Chúng tôi lấy lá bánh tẻ của 5 loài cỏ chiếm ưu thế trong các kiểu thảm cỏ,tiến hành phân tích tại Phòng phân tích hoá học - Viện khoa học sự sống thuộcĐại Học Nông Lâm - Đại Học Thái Nguyên về một số chỉ tiêu như: Vật chấtkhô, prôtêin, đường và chất xơ
- Xác định hàm lượng vật chất khô theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5613:1991 [37]
- Xác định hàm lượng Protein theo Tiêu chuẩn Việt Nam 4328:2007 [38]
- Xác định hàm lượng chất xơ theo Tiêu chuẩn Việt Nam 4329:2007 [39]
- Xác định hàm lượng đường theo phương pháp Bertrand [6]
2.2.3.5 Phương pháp phân tích mẫu đất
Chúng tôi phân tích mẫu đất tại Phòng phân tích hoá học - Viện khoa học
sự sống thuộc Đại Học Nông Lâm - Đại Học Thái Nguyên về một số chỉ tiêuhoá học sau: Độ pH, hàm lượng mùn, đạm (N), lân (P2O5), kali (K2O)
- Xác định độ pHKCl theo phương pháp đo bằng máy pHmeter: Cho vàobình thuỷ tinh 5g đất đã qua rây 1mm, sau đó thêm vào 25 ml KCl (1N), lắctrong 10 phút rồi ngâm qua đêm, lắc lại và đo trên máy Meter đọc trị số pH ởtrên máy
- Xác định hàm lượng đạm tổng số (N%) theo phương pháp Kjeldahl: Đemmẫu đất đã được công phá chưng cất Kjeldahl với thời gian 20 - 30 phút thu
Trang 31được dung dịch màu tím đỏ, sau đó chuẩn độ bằng NaOH 0,02N, dung dịch từtím đỏ chuyển sang màu lục và tính kết quả
- Xác định lượng lân tổng số (P2O5 %) theo phương pháp quang phổ hấpphụ: Lấy 5ml dung dịch mẫu sau khi đã công phá cho vào bình thuỷ tinh, chỉnh
độ pH đến 7 bằng dung dịch NaOH 10%, sau đó thêm 10ml H2SO4 5N, thêm1,25ml dung dịch Amonimolipdat 2% và 3ml dung dịch axit Ascobic 1N Đuncách thuỷ trên bếp khi cường độ màu lớn nhất, để nguội đến nhiệt độ phòng,định mức đến 50ml, đem so màu trên máy DERLL/2000, số đọc là P2O5
- Xác định hàm lượng Kali tổng số (K2O%) theo phương pháp quangphổ phát xạ: Nguyên tắc của phương pháp này thu bức xạ nguyên tử Kaliphát ra dưới tác dụng kích thích của ngọn lửa hồ quang Khi bức xạ này điqua máy hồ quang phổ nhiễm xạ thu được phổ bức xạ Cường độ vạch phổ tỷ
lệ với nồng độ nguyên tố kali trong mẫu Đo cường độ vạch phổ ta tính đượcnồng độ nguyên tố Phép đo thực hiện trên máy quang phổ loại DFS 8-3, độnhạy vạch là 0,01%
- Xác định hàm lượng mùn (%) theo phương pháp Tiurin: Cân 0,2 gam đất
đã qua rây 0,25mm cho vào bình tam giác 100ml, sau đó thêm 5ml dung dịch
K2C2r2O7 (0,4N) lắc nhẹ, cắm phễu con trên miệng bình để ngưng lạnh Sau đóđặt bình trong nồ i Parafin, đun sôi dung dịch trong bình 5 phút ở nhiệt độ 170 -1800C trên bếp điện cho đến khi dung dịch không còn màu xanh Để nguộidung dịch rồi đổ vào bình tam giác, dùng một ít nước cất chia làm 2-3 lần trángphễu và bình và đổ vào bình tam giác Thêm 1ml H3PO4 và 8 giọt chỉ thị màuFenylantranyn, sau đó dùng dung dịch muối Mo chuẩn độ lượng KaliBicrômmat thừa đến lúc dung dịch biến đổi sang màu xanh và tính kết quả
Trang 32Huyện Đại Từ có tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.790 ha,chiếm 16,58% diện tích tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên.
* Điều kiện địa hình
- Về đồi núi:
Đại Từ được bao bọc xung quanh bởi các dãy núi: Phía Tây và Tây Nam
có dãy núi Tam Đảo ngăn cách giữa huyện và tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ với độcao từ 300 - 600m Phía Bắc có dãy Núi Hồng và Núi Chúa Phía Đông là dãynúi Pháo cao bình quân 150 - 300 m Phía Nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần
từ Bắc xuống Nam
- Hệ thống sông ngòi
+ Sông ngòi: Hệ thống sông Công chảy từ Định Hoá xuống theo hướngBắc Nam với chiều dài chạy qua huyện Đại Từ khoảng 2km Hệ thống các suối,khe như suối La Bằng, Quân Chu, Cát Nê v.v cũng là nguồn nước quan trọngcho đời sống và trong sản xuất của Huyện
+ Hồ đập: Hồ núi Cốc lớn nhất tỉnh với diện tích mặt nước 769 ha, vừa làđịa điểm du lịch nổi tiếng, vừa là nơi cung cấp nước cho các huyện lân cận.Ngoài ra còn có các hồ: Phượng Hoàng, hồ Đoàn Uỷ (xã Khôi Kỳ), hồ Vai
Trang 33Miếu (xã Ký Phú), hồ An Mỹ (xã Mỹ Yên), các đập Minh Tiến, Phú Xuyên, NaMao, Lục Ba, Đức Lương với dung lượng nước tưới bình quân từ 40 - 50 hamỗi đập và từ 180 - 500 ha mỗi hồ.
* Khí hậu, thuỷ văn
Đại Từ nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa
và mùa khô Mùa mưa từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 10 hàng năm, mùa khô từcuối tháng 10 năm trước đến đầu tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàngnăm từ 22 - 270C
Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các dãy núi bao bọc, Đại Từthường có lượng mưa lớn nhất Tỉnh Lượng mưa trung bình hàng năm từ1.800mm - 2.000mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp củaHuyện ( đặc biệt là cây chè) Do khí hậu thường xuyên ẩm ướt nên độ ẩm trungbình năm từ 70% đến 80%
* Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên đất: Tổng diện tích tự nhiên 57.790 ha Trong đó: đất nông
nghiệp chiếm 28,3%, đất Lâm nghiệp chiếm 48,43%; Đất chuyên dùng 10,7%;Đất thổ cư 3,4% Tổng diện tích hiện đang sử dụng vào các mục đích là 93,8%,còn lại 6,2% diện tích tự nhiên chưa sử dụng
- Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp 28.020 ha, trong đó rừng tự
nhiên là 16.022 ha và rừng trồng từ 3 năm trở lên là 11.000 ha Chủ yếu là rừngphòng hộ, diện tích rừng kinh doanh không còn hoặc còn rất ít vì những nămtrước đây đã bị khai thác bừa bãi và tàn phá để làm nương rẫy
- Tài nguyên khoáng sản: Đại Từ được thiên nhiên ưu đãi phân bổ trên địa
bàn nhiều tài nguyên khoáng sản nhất Tỉnh, 15/31 xã, thị trấn có mỏ và điểmquặng Được chia ra làm 4 nhóm quặng chủ yếu sau:
+ Nhóm khoáng sản là nguyên liệu cháy: Có 3 mỏ than lớn thuộc Trungương quản lý và khai thác: Mỏ Núi Hồng, Khánh Hoà, Bắc làng Cẩm Sảnlượng khai thác hàng năm từ 10 đến 20 nghìn tấn/năm
Trang 34+ Nhóm khoáng sản kim loại: bao gồm nhiều loại khoáng sản quý nhưthiếc, vonfram, vàng, chì, kẽm, barit, pyrit, granit, titan, sắt… phân bố ở nhiều
xã trong huyện như: Hà Thượng, Yên Lãng, Phú Xuyên, Cù vân , trong đótập trung nhiều nhất tại mỏ đa kim Núi Pháo, trữ lượng khoảng 100 triệu tấn.+ Vật liệu xây dựng: gồm các mỏ đất sét (nhất ở xã Phú Lạc); ngoài ra còn
có nguồn đá, cát, sỏi có thể khai thác quanh năm ở dọc theo các con song, bãibồi của các dòng chảy phục vụ vật liệu xây dựng tại chỗ của Huyện
- Tài nguyên du lịch: Điểm du lịch quan trọng nhất của Đại Từ là khu du lịch
Hồ Núi Cốc với diện tích 25 km², dung tích 175 triệu m³ Ngoài ra còn có một sốđiểm di tích lịch sử khác như: Núi Văn - Núi Võ ở Văn Yên và Ký Phú; Di tích27/7 (xã Hùng Sơn), chùa Tây Trúc (xã Quân Chu), Cửa Tử (xã Hoàng Nông)
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Huyện Đại Từ có nhiều đơn vị hành chính nhất tỉnh: 31 xã, thị trấn, có 8dân tộc anh em cùng sinh sống phân bố trên địa bàn huyện gồm Kinh, tày,Nùng, Sán chay, Dao, Sán dìu, Hoa, Ngái Tổng dân số toàn huyện: 171.142người, lao động toàn huyện: 82.148 người Tổng số lao động trong độ tuổi laođộng là: 63.878 người
Trong nông nghiệp:
- Cây trồng lương thực (lúa, ngô) và đặc biệt cây chè là thế mạnh củahuyện Các cây công nghiệp ngắn ngày chính gồm lạc, đậu tương Diện tíchlúa gieo cấy hàng năm từ 12.000 ha đến 12.500 ha, sản lượng lương thực có hạthàng năm đạt khoảng 69.000 tấn Bình quân lương thực đạt khoảng 400kg/người/năm
- Cây chè là cây kinh tế mũi nhọn, là cây tạo ra sản phẩm hàng hoá vừaxuất khẩu, vừa tiêu thụ nội địa Diện tích toàn huyện có 5.124 ha, trong đó chèkinh doanh có 4.470 ha, hàng năm cho sản lượng búp tươi đạt trên 30 ngàn tấn.Ngành sản xuất chè đang là điểm sáng của nông nghiệp Đại Từ, đem lại nguồnthu nhập đáng kể cho người dân trong những năm gần đây
Trang 35Trong công nghiệp:
Chủ yếu là khai thác, sơ chế khoáng sản và chế biến nông sản Huyện có 2
mỏ than là mỏ Làng Cẩm, xã Phục Linh và mỏ Núi Hồng, xã Yên Lãng Dự án
mỏ đa kim Núi Pháo do công ty trách nhiệm hữu hạn khai thác chế biến khoángsản Núi Pháo làm chủ đầu từ bắt đầu được triển khai từ 2010
3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Khôi Kỳ
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Khôi Kỳ thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, xã nằm trong toạ độđịa lý 21037' vĩ Bắc và 105036' kinh Đông, phía Bắc giáp với xã Tiên Hội, phíaĐông Bắc giáp xã Hùng Sơn, phía Đông Nam giáp xã Bình Thuận, phía Tây vàTây Nam giáp xã Mỹ Yên, phía Tây Bắc giáp xã Hoàng Nông
Xã có tổng diện tích là 13,1 km2, địa hình chủ yếu là đồi núi, xã có hai consuối chảy từ dãy Tam Đảo xuống và đổ ra sông Công Ngoài ra, xã còn cónhiều ao hồ, đặc biệt là hồ Đoàn Uỷ thuộc xóm Cuốn Cờ chuyên cung cấpnước phục vụ cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp của nhân dân trong xã
Xã Khôi Kỳ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 2 mùa rõrệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từtháng 11 đến tháng hết tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 210C
- 230C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 và tháng 7 là 280C - 320C, nhiệt độ thấpnhất là các tháng 12, 1, 2 từ 120C - 150C
Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.700mm - 1.900mm, độ ẩm trungbình từ 70 - 80%
Tài nguyên đất của xã khá đa dạng về loại đất: Đất xám mùn, đất Feralit,đất Gley, đất thịt pha cát, đất cát
Các kiểu thảm thực vật gồm: Rừng tự nhiên, Rừng trồng, các thảm cây bụi
và thảm cỏ
3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã Khôi Kỳ được chia ra thành 20 xóm, dân số là 5.937 người, gồm 8dân tộc cùng chung sống, chủ yếu là dân tộc Kinh Mật độ dân số trung bình
là 453 người/km2
Trang 36Nền kinh tế của nhân dân trong xã chủ yếu là nông nghiệp, với 2 loại câytrồng chính là cây lúa và cây chè Ngành chăn nuôi đang dần phát triển, chủyếu là chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt với mô hình chăn nuôi theo hộ gia đình.Trong đó, chăn nuôi trâu bò với hình thức chăn thả chủ yếu là tại các bãi hoang,
bờ ruộng, trên đồi, dưới rừng đã đem lại thu nhập tương đối ổn định chongười dân Các ngành công nghiệp khai thác vật liệu xây dựng, tiểu thủ côngnghiệp đã có nhưng còn nhỏ bé, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuấtcòn hạn chế nên đời sống của người dân chưa cao Nguồn thu nhập của ngườidân trong xã chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, mức thu nhập bình quânđầu người còn thấp
Trang 374.1.1 Thảm cỏ tự nhiên
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thành phần loài, dạng sống, năng suất,chất lượng các thảm cỏ ở một số vùng đặc trưng như thảm cỏ trên đồi cỏ tựnhiên, thảm cỏ dưới rừng, thảm cỏ tại các bãi hoang
4.1.1.1 Thảm cỏ trên đồi cỏ tự nhiên
Chúng tôi nghiên cứu thành phần loài và dạng sống của thảm cỏ trên đồi
cỏ tự nhiên tại 3 điểm:
- Điểm nghiên cứu số 1 thuộc xóm La Phác, xã Khôi Kỳ
- Điểm nghiên cứu số 2 thuộc xóm Đồng Cà, xã Khôi Kỳ
- Điểm nghiên cứu số 3 thuộc xóm Cuốn Cờ, xã Khôi Kỳ
Điểm NC
DS
GT CT
Trang 381 Lygodium scandens (L.) SW Bòng bong leo x x 11 Ho
2 Lygodium flexuosum (L.) SW Bòng bong x x 11 Ho
2 Artemisia japonica Thumb Ngải cứu dại x x 10 Ke
3 Aster ageratoides Turez Cúc sao x x 6 Ho
7 Wedelia biflora (L.) DC Sài đất x x 16 Ho
8 Xanthium inaequilaterum DC. Ké đầu ngựa x x x 16 Ho
1 Commelina communisL Thài lài x x x 11 Ho
1 Ipomoea chrysoides (Kerr) Ham Bìm bìm x x 3 Ho
1 Aporosa dioica (Roxb)
Trang 391 Dunbaria podocarpa Kutz Đậu dại x x 11 To
2 Desmodium clovisii Gagn Tràng quả x 4 To
2 Rhodomyrtus tomentosa (Sit)
Hassk
1 Melastoma sanguineum Sims Mua đồi x x 2 Ho
2 Melastoma septemnervium Lou Mua đất x x x 9 Ho
2 Sida rhombifolia L. Ké hoa vàng x x x 6 Ke
2 Fimbristylis dichotoma Koy Cỏ lông lợn x x 10 Ke
Trang 401 Acroceras munroanum (Bel)
3 Centosteca lappacea Rendle Cỏ lá tre lá to x x x 11 To
4 Cynodon dactylon (L.) Rers Cỏ gà x x 18 To
5 Chrysopogon aciculatus Trim Cỏ may x x x 15 To
6 Digitaria abludens (Roem ex
Sth)
Cỏ chân nhện x 12 To
7 Eleusine indica (L.) Gaertn Cỏ mần trầu x 10 To
8 Imperata cylindrica (L) P.Beauv Cỏ tranh x x 14 To
9 Ischaemum indicum (Houtt)
11 Paspalum conjugatum Berg Cỏ mật x x x 15 To
12 Phragmites karka (Retz) Trin Sậy x 13 To
13 Saccharum arundinaceum Rtz Lau x x x 13 TB
14 Setaria viridis (L.) P.Beauv Cỏ sâu dóm x x 12 To
* Điểm nghiên cứu số 1
Trong điểm nghiên cứu số 1, chúng tôi đã thống kê được 35 loài thuộc 20