kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ thiếu không đảm
Trang 1NGỌ THỊ HOA
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1
ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI ĐẶNG ĐỨC KHANG XÃ HƯỚNG ĐẠO - TAM DƯƠNG - VĨNH PHÚC VÀ SO SÁNH HIỆU LỰC CỦA
HAI THUỐC AMOXINJECT VÀ AMCOLI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2NGỌ THỊ HOA
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1
ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI ĐẶNG ĐỨC KHANG XÃ HƯỚNG ĐẠO - TAM DƯƠNG - VĨNH PHÚC VÀ SO SÁNH HIỆU LỰC CỦA
HAI THUỐC AMOXINJECT VÀ AMCOLI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y Lớp: K43 - TY Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thị Hoan
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã nắm được
những kiến thức cơ bản ngành học của mình Kết hợp với 6 tháng thực tập tốt
nghiệp tại trại lợn Đặng Đức Khang đã giúp em ngày càng hiểu rõ kiến thức
chuyên môn, cũng như đức tính cần có của một người cán bộ nông nghiệp Từ
đó, đã giúp em có lòng tin vững bước trong cuộc sống cũng như trong công
tác sau này Để có sự thành công này, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Ban chủ nhiệm khoa và tập thể các thầy, cô giáo trong bộ môn Chăn nuôi
Thú y, đã tận tụy dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt quá trình học tập, cũng như
trong thời gian thực tập
Tập thể lớp Thú y K43 trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã luôn
sát cánh bên em trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Cán bộ và công nhân trại đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ trong thời gian thực
tập để giúp em hoàn thành tốt khóa thực tập
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự quan tâm, chỉ bảo tận
tình của cô giáo hướng dẫn TS Trần Thị Hoan
Nhân dịp này, em cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều
kiện vật chất cũng như tinh thần, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình
học tập
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Ngọ Thị Hoa
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên trước khi ra trường, nhằm giúp sinh viên củng cố, hệ thống hóa kiến thức đã học được, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, được trực tiếp tham gia vào công tác sản xuất, học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm thực tế, qua đó giúp sinh viên nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững phương pháp nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, tính sang tạo và
tự giác cao góp phần xây dựng sự nghiệp phát triển nông thôn nước ta
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi – Thú y, sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn TS Trần Thị Hoan và sự tiếp nhận của cán bộ công nhân trại lợn Đặng Đức Khang xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, em đã tiến hành thực hiện đề
tài “Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại lợn Đặng Đức Khang
xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc và so sánh hiệu lực của hai thuốc Amoxinject và Amcoli” Do thời gian có hạn, trình độ chuyên
môn còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên khóa luận của em còn nhiều thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp nhận xét của các thầy cô giáo
để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 25
Bảng 4.1 Lịch tiêm phòng cho đàn lợn tại trại 31
Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 36
Bảng 4.3 Tình hình lợn mắc bệnh phân trắng theo tháng ở trại lợn nái Đặng Đức Khang xã Hướng Đạo – Tam Dương – Vĩnh Phúc 38
Bảng 4.4 Tình hình lợn mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 40
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 43
Bảng 4.6 Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc bệnh 44
Bảng 4.7 So sánh hiệu lực của hai phác đồ 45
Bảng 4.8 Sinh trưởng tích lũy của lợn con qua các giai đoạn (kg) 47
Bảng 4.9 Hạch toán chi phí thuốc thú y 48
Trang 6TT: Thể trọng
Vit: Vitamin
STT: Số thứ tự
Sal : Salmonella
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ 3
2 1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa 4
2.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt 7
2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 7
2.1.5 Một số hiểu biết về E coli 8
2.1.6 Bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis) 12
2 2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu và phương pháp xử lý số liệu 26
Trang 8Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 27
4.1.1 Công tác chăn nuôi 27
4.1.2 Công tác thú y 29
4.1.4 Bài học kinh nghiệm từ công tác phục vụ sản xuất 36
4.2 Kết quả nghiên cứu của đề tài 37
4.2.1 Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng theo tháng ở trại lợn nái Đặng Đức Khang, xã Hướng Đạo – Tam Dương – Vĩnh Phúc 37
4.2.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 39
4.2.3 Tình hình mắc bệnh phân trắng theo tính biệt 43
4.2.4 Triệu chứng của lợn bị mắc bệnh phân trắng 44
4.2.5 Hiệu lực điều trị của hai loại thuốc amoxinject LA và amcoli 45
4.2.6 Ảnh hưởng của các loại thuốc tới khả năng sinh trưởng của lợn con qua các giai đoạn 46
4.2.7 Hạch toán chi phí thuốc thú y 47
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người Trong đó chăn nuôi lợn là ngành đang rất phổ biến và trở thành yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế hộ gia đình nông nghiệp và các trang trại Do đó việc chăn nuôi lợn là không thể tách rời vì vậy Đảng và nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm và đầu tư về công tác giống, thức ăn, thú y cho ngành chăn nuôi không ngừng được nâng cao, chất lượng đàn lợn không ngừng được cải thiện với mục đích đa ngành chăn nuôi lợn trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng
và phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa nói chung
Hiệu quả trong chăn nuôi lợn và mang lại lợi ích kinh tế nhanh nhất, lớn nhất đó chính là mô hình chăn nuôi công nghiệp ở các trang trại, xí nghiệp Đi cùng với lợi ích kinh tế là nhiều vấn đề nan giải xuất hiện trong đó
có tình hình dịch bệnh đã nổi lên như một thách thức đối với ngành chăn nuôi
đe dọa trực tiếp đến lợi ích kinh tế và nhiều lợi ích khác Đặc biệt là bệnh phân trắng lợn con giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới ở các nước đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, nhất là khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, ) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ thiếu không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng Khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị kém hiệu quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến lợn cũng như khả năng tăng trọng của chúng, gây tổn thất lớn về kinh tế
Trang 10Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo mẹ giai đoạn 1 đến 21 ngày tuổi tại trại Đặng Đức Khang xã Hướng Đạo – Tam Dương – Vĩnh Phúc và so sánh hiệu lực của hai thuốc Amoxinject và Amcoli”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định được tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo mẹ giai đoạn từ 1 đến 21 ngày tuổi tại trại nái Đặng Đức Khang xã Hướng Đạo – Tam Dương – Vĩnh Phúc
- Đánh giá hiệu lực điều trị của hai loại thuốc amoxinject và thuốc amcoli
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Nắm vững quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn con theo mẹ giai
đoạn 1 đến 21 ngày tuổi
- Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Lợn con từ khi sơ sinh có khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh Qua nghiên cứu, thí nghiệm và thực tế cho thấy khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng 5 – 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 – 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc
60 ngày tuổi tăng gấp 12 -14 lần so với khối lượng lợn con lúc sơ sinh, nếu đem so sánh với các loài gia súc khác thì tốc độ tăng trưởng của lợn con nhanh hơn như bê nghé tăng 3 – 4 lần
Lợn con sau khi sinh, sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua từng giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày tuổi sau đó giảm, sự giảm tăng trưởng do nhiều nguyên nhân, nhưng cũng chủ yếu là do lượng sữa mẹ giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu lợn con giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Để kích thích sự tăng trưởng và hạn chế khủng hoảng của lợn con ta cần cho chúng tập ăn sớm và bổ xung sắt cho lợn con bằng cách tiêm Dextran-Fe cho lợn con vào lúc 3 ngày tuổi, 10 ngày tuổi và
Trang 12lũy nạc là chính, vì vậy tiêu tốn thức ăn ít hơn so với lợn trưởng thành (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [14]
2 1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Tiêu hóa là quá trình phân giải thức ăn bằng các biện pháp cơ học, hóa học, vi sinh vật học để biến các hợp chất hữu cơ phức tạp thành các hợp chất hữu cơ đơn giản mà cơ thể động vật có thể hấp thụ được
Cơ quan tiêu hóa phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng Khi còn trong bào thai, cơ quan tiêu hóa của lợn đã hình thành đầy đủ nhưng dung tích còn bé Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan tiêu hóa phát triển và hoàn thiện dần
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14] cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng nhanh về dung tích dạ dày, ruột non, ruột già
Trong thời kỳ bú sữa cơ quan tiêu hóa phát triển và phát dục nhanh, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức ăn
và tăng khả năng tiêu hóa các chất, đặc biệt là xelulozơ có nhiều trong thức ăn (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [14] Mặc dù vậy ở lợn con các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh do đó lợn có phản ứng rất chậm với các tác động bên ngoài vì vậy lợn con cũng dễ bị mắc bệnh và dễ bị rối loạn tiêu hóa
Trang 13Theo tác giả Từ Quang Hiển và cs (2001) [5] cho biết: Lợn con trước 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày Hiện tượng này gọi là hypochlohydric Cũng do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới
có khả năng tiêu hóa protein Hoạt lực của các men Pepsin tăng lên theo tuổi một cách rõ rệt “Ở 9 ngày tuổi tiêu hóa 30mg fibrin trong 19 giờ, 28 ngày tuổi chỉ cần 2-3 giờ, đến 50 ngày tuổi chỉ cần 1 giờ”
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14], vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh
ỉa phân trắng lợn con, do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 – 7 ngày tuổi thì HCl tự do
có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi
Enzim trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa, sự tiêu hóa của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh, hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích tiết HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa, đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con
Khi nghiên cứu về sự phân tiết của hệ thống men tiêu hóa chúng ta thấy chức năng của lợn con mới sinh chưa có hàm lượng cao, chức năng tiêu hóa của một số men được hoàn thiện dần:
- Men pepsin: Đây là men tiêu hóa protein thức ăn, nhưng nếu không cho lợn con ăn sớm thì trong khoảng 25 ngày đầu đẻ ra, men Pepsin trong dạ
Trang 14dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein thức ăn, vì lúc này trong dịch
vị dạ dày lợn con chưa có acid HCl tự do thì nó sẽ kích hoạt men pepsinogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa Lợn con tiêu hóa protein sữa mẹ nhờ catepsin và men trypsin phát triển sớm trong dịch vị và dịch tụy
- Men amilaza và mantaza: Men này có trong nước bọt và dịch tụy của lợn con từ lúc mới đẻ ra nhưng hoạt lực kém trước 3 tuần tuổi, chỉ tiêu hóa được 50% lượng tinh bột ăn vào Sau 3 tuần hai men này mới có hoạt tính mạnh do đó khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn con được tốt hơn
- Men saccaraza: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi men này có hoạt tính còn thấp, nếu cho ăn đường saccaraza trong thời gian này rất dễ bị đi ỉa chảy Nếu có bổ sung đường thì nên bổ sung loại đường 6 cacbon như: Glucose, fructose
- Men trypsin: Là men tiêu hóa protein của thức ăn ở ruột non Ở thai lợn lúc 2 tháng tuổi trong chất tiết đã có men trypsin, thai càng lớn hoạt tính của men trypsin càng cao Khi lợn con mới đẻ thì men trypsin của dịch tụy rất cao, để bù đắp lại khả năng tiêu hóa protein của men pepsin dạ dày
- Men catepsin: Là men tiêu hóa protein trong sữa, với lợn con trước 3 tuần tuổi men này có hoạt lực mạnh sau đó giảm dần
- Men lactaza: Có tác dụng tiêu hóa lượng lactose trong sữa men này
có hoạt tính mạnh ngay từ khi mới đẻ và có hoạt lực tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2 sau đó giảm dần
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh
ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh
Trang 152.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt
Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, thân nhiệt của lợn con chưa ổn định, sự sinh nhiệt và thải nhiệt của lợn con kém do nhiều nguyên nhân:
- Lớp mỡ dưới da rất mỏng, lượng mỡ và glyxerin dự trữ trong cơ thể còn thấp, trên thân lợn con lông còn thưa nên khả năng cung cấp nhiệt chống rét còn nhiều hạn chế và khả năng giữ nhiệt còn kém
- Hệ thống thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh Trung khu điều tiết nằm ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả giai đoạn trong bào thai và ngoài thai
- Diện tích bề mặt cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên lợn con bị mất nhiều nhiệt khi lạnh
- Lợn con khi nằm trong bào thai điều kiện sống tương đối ổn định, các chất dinh dưỡng do con mẹ cung cấp qua nhau thai Sau khi sinh, cơ thể lợn con tiếp xúc trực tiếp với điều kiện ngoại cảnh Do đó chăm sóc nuôi dưỡng không tốt có thể làm cho lợn con dễ mắc bệnh, còi cọc và dẫn đến chết Đặc biệt với thời tiết ở miền bắc nước ta có mùa đông lạnh và mưa phùn làm cho lợn con dễ mắc các bệnh về đường tiêu hóa và hô hấp như: Phân trắng lợn con, tiêu chảy, cảm lạnh, viêm phổi….gây tỷ lệ chết cao
Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm là biện pháp tốt nhất để khắc phục được tình trạng khủng hoảng thời kỳ 3 tuần tuổi và sau cai sữa (Từ Quang Hiển và cs 2001) [5]
2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [14] cho biết: Lợn con mới đẻ lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ được nhiều hay ít từ sữa đầu của mẹ
Theo Nguyễn Văn Thiện (1996) [18] cho biết: Khả năng miễn dịch của lợn con trước 21 ngày tuổi là sự miễn dịch hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ.Trong sữa đầu của lợn nái
có chứa hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ hàm lượng protein trong sữa chiếm tới 18 – 19 %, trong đó hàm lượng γ - globulin chiếm
Trang 16khá cao (30 – 35 %), γ - globulin có tác dụng tạo sức đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thụ γ - globulin từ sữa mẹ bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thụ nguyên vẹn phân tử γ - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Phân tử γ - globulin
có khả năng thẩm thấu qua thành ruột lợn con tốt nhất trong 24 giờ sau khi đẻ nhờ trong sữa đầu có men antitripsin làm mất hoạt lực của men Tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng Cho nên sau 24 giờ khi được bú sữa đầu, hàm lượng γ - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100 ml máu Do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Vì thế, nếu lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ bị bệnh, tỷ lệ chết cao
Phan Đình Thắm (1995) [17] cho rằng: Lợn con mới đẻ trong máu không
có kháng thể, nên nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu để có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu có albumin và γ - globulin cao hơn sữa thường, đây là nhân tố chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Do vậy, cho lợn con
bú sữa trong 3 ngày đầu và đảm bảo toàn bộ số con trong đàn được bú sữa đầu của lợn mẹ Nếu lợn con không bú được sữa đầu của lợn mẹ thì từ 20 –
25 ngày sau mới khả năng tự tổng hợp được kháng thể Vì vậy việc cho lợn con bú sữa đầu là vô cùng quan trọng Sau khi con mẹ đẻ xong cần nhanh chóng cho đàn con bú sữa đầu và tiến hành cố định bầu vú cho chúng
2.1.5 Một số hiểu biết về E.coli
Trực khuẩn ruột già E coli được Escherich phân lập từ năm 1985 ở phân trẻ em E coli thường xuất hiện rất sớm ở đường ruột của người và động
vật sơ sinh (sau khi đẻ 2 giờ) chúng thường phân bố ở phần sau của ruột già,
ít hơn ở dạ dày và ruột non Trong nhiều trường hợp còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận khác trong cơ thể.Từ ruột vi khuẩn theo phân ra ngoài môi
trường đất, nước Chỉ số E coli có trong nguồn nước cho phép ta kết luận
nước đó có phải là nhiễm phân hay không và là cơ sở để đánh giá chất lượng nguồn nước
Trang 17- Đặc điểm hình thái:
Trực khuẩn E coli thường có dạng hình gậy ngắn, kích thước 0,6 x 2 - 3
µm, hai đầu tròn
Khi trong cơ thể động vật E coli có hình cầu trực khuẩn đứng riêng lẻ,
đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Trực khuẩn có lông ở quanh thân nên có thể di động được
- Đặc tính nuôi cấy:
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [21], E coli là trực khuẩn hiếu khí và
yếm khí tuỳ tiện, có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 15 – 29oC, nhiệt độ thích hợp
là 37oC, pH = 7,4
Trong môi trường nước thịt phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng xuống đáy màu trắng xám, trên bề mặt tạo một màng mỏng màu xám nhạt Canh trùng mùi phân hôi thối
Trên bề mặt thạch thường, ở 37oC sau 24 giờ nuôi cấy hình thành những khuẩn lạc hình tròn, ướt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi đường kính 2 - 3
mm Nếu nuôi cấy lâu khuẩn lạc chuyển sang dạng R (to, nhám, xù xì), rồi chuyển sang dạng M (to, nhám, xù xì, nhầy, ướt)
Trong môi trường Endo, E coli hình thành khuẩn lạc, màu đỏ mận, có
ánh kim hoặc không có ánh kim
Trong môi trường EMB, E coli hình thành khuẩn lạc màu tím đen Trong môi trường Istrati, E coli hình thành khuẩn lạc màu vàng
Trong môi trường thạch, E coli hình thành khuẩn lạc màu đỏ
Không mọc trong các môi trường: Wilson Blair, môi trường lục Malusit
- Đặc tính sinh hoá:
E coli lên men và sinh hơi đường: Glucose, lactose, mantose, fructose
Có thể lên men hoặc không lên men đường saccarose, salixin, dunxit, glyexron Không lên men: Dextrin, amidin, glycogen, xenlobio
E coli làm đông vón sữa tươi sau 24 - 37 giờ ở 37oC
Không làm tan chảy gelatin
Thường sinh indol, không sản sinh H2S, phản ứng MR dương tính, phản ứng VP âm tính Hoàn nguyên nitrat thành nitrit
Trang 18- Sức kháng của mầm bệnh:
E coli bị diệt ở 60oC trong 15 - 30 phút, chết ngay ở 100oC Trong đất
và nước E coli sống được vài tháng Các chất tiệt trùng thông thường như axit phenic, focmon 1%, cồn, nước vôi 20% có thể diệt E coli trong 5 - 10 phút Sức sống của E coli giảm xuống đáng kể khi hạ độ ẩm trong chuồng nuôi E coli có thể đề kháng với sự sấy khô Mẫn cảm với nhiều kháng sinh
Khi nghiên cứu về tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E coli được
phân lập từ các ổ lợn con mắc bệnh phân trắng ở nước ta cho thấy: Hiện nay
có rất nhiều loại thuốc dùng để điều trị bệnh phân trắng lợn con do E coli gây
ra như: Doxy - tialin, mycofloxacin, neomycin, kanamycin, amoxincilin, ampicilin,… còn các thuốc như streptomycin, sulfamide ít có tác dụng với
trực khuẩn E coli, tỷ lệ E coli kháng thuốc cao từ 70 - 80%, theo nhiều tác
giả có thể do những loại thuốc này được dùng thường xuyên và dùng sai nguyên tắc trong điều trị dẫn đến vi khuẩn kháng thuốc
- Tính gây bệnh:
Vi khuẩn E coli tạo ra hai loại độc tố gây bệnh cho vật nuôi đó là nội
độc tố và ngoại độc tố
+ Nội độc tố: Là yếu tố gây độc chủ yếu của chủng dưỡng khuẩn đường
ruột Đây là loại độc tố chính của vi khuẩn E coli, chúng có trong tế bào và
gắn chặt với nhau Nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phương pháp phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học hoặc bằng axit tricoxetic, phenol dưới tác dụng của enzym
+ Ngoại độc tố: Là độc tố của vi khuẩn tiết vào môi trường, có tính chịu nhiệt kém, dễ bị phá huỷ ở nhiệt độ 560C trong 10 - 30 phút Dưới tác dụng của formalin và nhiệt, ngoại độc tố trở thành giải độc tố Ngoại độc tố
có tính hướng thần kinh và gây hoại tử Hiện nay, việc chiết xuất ngoại độc tố vẫn chưa thành công mà mới chỉ phát hiện trong canh trùng của những chủng mới
được phân lập Khả năng tạo độc tố của E coli sẽ mất đi khi các chủng được nuôi
giữ lâu dài hoặc được cấy truyền nhiều lần trong môi trường nuôi dưỡng
Trang 19
- Cấu trúc kháng nguyên:
E coli có 3 loại kháng nguyên chính là O, K và H
+ Kháng nguyên O: Là kháng nguyên thân, chịu được nhiệt, chỉ bị tiêu diệt ở nhiệt độ trên 100oC, bị formon phá huỷ nhưng có sức đề kháng với cồn
+ Kháng nguyên H: Là kháng nguyên lông, không chịu được nhiệt, bị phá huỷ ở nhiệt độ 70oC, bị cồn phá huỷ nhưng đề kháng được với formol
+ Kháng nguyên K: Là kháng nguyên bề mặt (kháng nguyên vỏ hay kháng nguyên bao), gồm 3 loại:
+ Kháng nguyên L: Không chịu được nhiệt, bị phá huỷ ở nhiệt độ
100oC trong 1 giờ
+ Kháng nguyên A: Là kháng nguyên vỏ chịu được nhiệt, không bị phá huỷ khi đun sôi ở 100oC, nhưng khi đun sôi trong thời gian 2 giờ 30 phút thì kháng nguyên bị phá huỷ
+ Kháng nguyên B: Là kháng nguyên không chịu được nhiệt, bị phá huỷ ở 100oC trong 1 giờ, lúc đó kháng nguyên B bị mất tính kháng nguyên nhưng vẫn giữ được khả năng ngưng kết và kết tủa
- Tính gây bệnh:
E coli có sẵn trong đường tiêu hoá của người và động vật nhưng chỉ
gây được bệnh khi sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút (do chăm sóc, nuôi dưỡng, thời tiết thay đổi…)
Ở người, đặc biệt là trẻ em dưới 1 tuổi vi khuẩn có thể gây viêm dạ dày, ruột và gây nhiễm độc, viêm túi mật, bàng quang, đường niệu sinh dục
Ở gia cầm (gà, vịt, bồ câu) thường đi tháo, phân có màu xanh lá cây, rất hôi thối, có hiện tượng viêm kết mạc mắt, viêm cuống phổi, viêm niêm mạc mũi dẫn đến khó thở
Trang 20Ở lợn và các loại gia súc mới đẻ khác, bệnh thể hiện bằng các triệu chứng sốt cao 41 – 42oC, đi ỉa, phân lúc đầu vàng, đặc sệt, mùi chua, sau chuyển thành màu trắng xám, hôi thối, dính máu Lợn đi ỉa nhiều lần và rặn nhiều Bệnh có thể lây cho cả đàn, thậm chí có thể lây từ đàn này sang đàn khác Ở động vật trưởng thành vi khuẩn có thể gây: viêm gan, thận, bàng quang, túi mật, khớp xương…
Trong phòng thí nghiệm, gây bệnh bằng cách tiêm vi khuẩn vào dưới
da cho chuột bạch, chuột lang, thỏ có thể gây viêm cục bộ, nếu tiêm với liều lớn có thể gây bại huyết, giết chết con vật
2.1.6 Bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis)
- Tình hình dịch tễ của bệnh
Bệnh phân trắng lợn con là bệnh rất phổ biến ở lợn con theo mẹ đặc biệt
là lợn mới sinh đến 28 ngày tuổi, bệnh có thể mắc một vài con hoặc cả đàn Cách phòng bệnh ít tốn chi phí nhất là vệ sinh chuồng trại sạch sẽ Để có các biện pháp vệ sinh tốt nhất cần hiểu biết dịch tễ của bệnh
Đào Xuân Cương (1981) [1], cho biết: Bệnh có thể phát triển quanh năm, nhiều nhất là cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè, sau nhiều trận mưa to, gió lớn, khí hậu thay đổi đột ngột, tỷ lệ mắc bệnh có thể tăng lên đến 100 %,
+ Thời gian nào độ ẩm cao, bệnh phát triển nhiều
+ Vệ sinh kém, chuồng trại ở nơi trũng, ướt tạo điều kiện cho bệnh phát triển
+ Thay đổi nơi ở, vận chuyển đi đường dài
Trang 21+ Thay đổi thức ăn đột ngột
- Đường nhiễm bệnh:
Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống Khi bị nhiễm E coli phát
triển nhanh chóng trong đường ruột, chúng tự hủy hoại và giải phóng độc tố, độc tố này xâm nhập vào dòng limpho do đó máu bị nhiễm độc và con vật chết Từ khi mới sinh ra hệ vi sinh vật phát triển trong đường tiêu hóa rất đa dạng, tỉ lệ số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau
Mầm bệnh cũng có thể được truyền trực tiếp từ lợn mẹ bị nhiễm E coli sang con khi còn là bào thai Thực tế cho thấy bệnh do E coli không những
xuất hiện vào những ngày dầu tiên mới đẻ mà thậm chí vào những giờ đầu tiên sau khi sinh, điều đó cho thấy đã có sự nhiễm bệnh của bào thai từ khi còn trong bụng mẹ, do đó con vật đẻ ra đã là con vật bệnh Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc đề xuất những biện pháp nhằm phòng trừ có hiệu quả ngay từ khi con vật trong bụng mẹ (theo Đào Trọng Đạt và cs, 1996) [4]
* Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con
- Do yếu tố ngoại cảnh:
Do đặc điểm sinh lý của lợn con chưa hoàn chỉnh làm cho khả năng thích nghi và bảo vệ cơ thể rất yếu Vì vậy, các yếu tố ngoại cảnh nóng, lạnh, thay đổi thời tiết…điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới sức đề kháng của con vật Khi điều kiện thay đổi lập tức con vật cũng có những biến đổi theo, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh và phát triển
Trong các yếu tố về khí hậu thì nhiệt độ và độ ẩm là quan trọng nhất Nhiệt
độ thích hợp nhất cho lợn con là từ 28 – 30o
C, độ ẩm thích hợp là từ 75 – 85% Do đó ở những tháng giao mùa, những tháng mưa nhiều, độ ẩm cao, nhiệt độ thay đổi thất thường thì tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con tăng lên rõ rệt Ngoài ra, nếu lợn con ở những nơi ẩm ướt, thoáng gió sự thải nhiệt bằng truyền nhiệt, khuếch tán nhiệt càng mạnh, con vật mất nhiều nhiệt, cơ thể bị
Trang 22nhiễm lạnh, dẫn đến rối loạn tiêu hóa và gây nên bệnh phân trắng lợn con, (Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng, 1986) [3]
- Do vi khuẩn
Theo tác giả Đào Trọng Đạt, cs (1996) [4] thì bệnh lợn con phân trắng
do trực khuẩn E coli gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính, đặc trưng là ỉa
chảy, nhiễm trùng huyết, nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở động vật non, nhất là vào 3-5 ngày tuổi sau khi sinh, thậm chí ở một hai ngày tuổi cũng đã
mắc Có đến 48 % các trường hợp tiêu chảy ở lợn con là do E coli gây ra Vì vậy, bệnh do E coli có tầm quan trọng đặc biệt trong các bệnh nhiễm ở lợn con Bệnh do Escherichia coli thuộc Enterobacteriaceae, nhóm Escherichia, loài Escherichia Trong các vi khuẩn đường ruột, loại Escherichia là loại phổ
biến nhất Loài này xuất hiện và sinh sống trong đường tiêu hóa của động vật
chỉ vài giờ sau khi sinh và tồn tại cho đến khi con vật chết E coli sống bình
thường trong đường ruột của động vật và người Khi các điều kiện nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y kém, sức chống đỡ bệnh tật của con
vật ốm yếu thì E coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh, chúng sản
sinh ra độc tố (enterotoxin) phá hủy tổ chức thành ruột làm thay đổi cân bằng quá trình thay đổi nước, điện giải Nước không được hấp thu từ ruột vào mà
bị rút từ cơ thể vào ruột dẫn đến gây bệnh tiêu chảy
- Những nguyên nhân có thể làm lợn con tăng mức độ nhiễm E coli
+ Lượng sữa mẹ ít, lợn con đói, phải gặm mút lung tung, trong đó có
nước, rơm, chất thải bị nhiễm E coli
+ Chuồng bẩn, lợn con luôn bú lợn mẹ có bầu vú bị nhiễm E coli
+ Lợn mẹ bị viêm vú, đặc biệt là do E coli gây ra Khi bú sữa của lợn nái
bị viêm vú này, lợn con sẽ bị tiêu chảy ngay sau đó
+ Lợn con không được bú sữa đầu, mà khả năng miễn dịch của lợn con phụ thuộc chủ yếu vào lượng kháng thể hấp thu từ sữa đầu của lợn mẹ
Trang 23Sử An Ninh (1993) [12] cho biết: Nguồn gốc sinh ra bệnh lợn con phân trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố stress, biểu hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu: Đường huyết, cholesteron, kẽm, natri
Chăm sóc lợn mẹ (đặc biệt là thời gian mang thai) không đúng kỹ thuật: thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh, khẩu phần không đủ dinh dưỡng, thiếu các yếu tố đa lượng, vi lượng làm cho lợn con sinh ra còi cọc, thiếu sắt, vitamin B12… khiến cơ thể lợn con suy yếu do thiếu máu, khả năng chống đỡ với các môi trường kém nên dễ mắc bệnh
- Do đó sức đề kháng của cơ thể lợn con yếu, dễ mắc bệnh
Chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa không đảm bảo kỹ thuật, thức ăn lợn mẹ không đảm bảo vệ sinh, thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần không cung cấp đủ cho nhu cầu của lợn nái chửa Do đó, lợn con sinh ra đã bị nhiễm E coli từ lợn mẹ hoặc sinh ra còi cọc, sức sống yếu, khả năng chống đỡ với các yếu tố bất lợi của môi trường bị giảm nên lợn con dễ mắc bệnh
+ Do trữ lượng sắt của lợn con từ bào thai chưa đủ, khi sinh ra không được sữa mẹ cung cấp đầy đủ nhu cầu, thiếu cả coban, Vit B12, nên sinh bần huyết, cơ thể suy yếu không hấp thụ được đầy đủ chất dinh dưỡng sinh ra không tiêu, ỉa chảy
+ Thời tiết lạnh, gió lùa, mưa phùn, gió bấc, độ ẩm môi trường cao, chuồng nơi ẩm thấp làm cho lợn con theo mẹ dễ bị mắc bệnh phân trắng
+ Lợn con từ sơ sinh đến 20 ngày tuổi, pH dịch vị trung tính vì không
có HCl tự do nên dạ dày không có khả năng sát trùng và tiêu hóa Protit Nhược điểm này cũng là nguyên nhân phát sinh bệnh phân trắng lợn con Lợn con từ 1 tháng tuổi trở lên hàm lượng HCl và men pepsin dịch vị tăng, nên tỷ
lệ cảm nhiễm bệnh giảm rõ rệt
- Quá trình sinh bệnh
Đối với lợn con khỏe mạnh vi trùng E.coli và các loại vi trùng khác chỉ cư
trú ở đoạn ruột già và phần cuối ruột non, phần đầu và phần giữa hầu như không có vi trùng mà chỉ có rất ít liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, lactobacillus (Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu, 2003) [22]
Trang 24Quá trình sinh bệnh liên quan đến đặc điểm sinh lý của cơ thể lợn, hệ thống thần kinh của lợn con hoạt động với chức năng chưa thành thục, việc điều khiển thần kinh hầu hết bằng những phản xạ không điều kiện, ngoài ra các đặc điểm đáng chú ý như: Độ toan của dịch vị dạ dày thấp, độ thẩm thấu của biểu bì thành ruột cao, chức năng điều tiết của gan kém, chức năng thu nhận các tế bào vòng nội quá dễ dàng Sự thu nhận quá dễ dàng qua hàng rào
bảo vệ đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập vào các độc tố do E coli sinh ra vào
các nhu mô chính, đó là những điều kiện gây nên bệnh Việc bú sữa đầu không kịp thời, chất lượng sữa đầu kém, thiếu chất và Globulin miễn dịch cũng là điều kiện để phát bệnh Như vậy, để gây ra coli bacilosis rõ ràng phải
có chủng E coli cường độc và đều sản sinh ra một hoặc một số yếu tố bám
dính lên tế bào biểu bì của màng niêm mạc và vào lớp niêm mạc kế tiếp
Những lợn con mắc bệnh phân trắng do E coli thường sốt, xù lông, biếng ăn,
kém bú, thường nằm một chỗ ở góc chuồng
Vi trùng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa chúng xâm nhập vào niêm mạc ruột, sinh sản phát triển trong các tế bào biểu mô ruột gây viêm thủy thũng các tế bào, ngăn cản sự hấp thụ sữa khi lợn con bú vào Nếu cơ thể yếu, vi trùng vào các hạch gây viêm thủy thũng hạch sau đó vào máu Trong máu, chúng tiết ra độc tố làm cơ thể bị nhiễm độc dẫn tới trạng thái hôn mê rồi chết
- Triệu chứng
Bệnh ở lợn con thường ở dạng nhiễm trùng E coli hoặc nhiễm độc Lợn
con bị bệnh có triệu chứng: Yếu, chậm chạp, ít bú, thân nhiệt ít khi bị tăng cao, cá biệt có con 40,5 – 41oC nhưng chỉ sau 1 ngày hạ xuống ngay, lợn ỉa nhiều lần trong ngày, phân lỏng, màu trắng như vôi, trắng xanh, mùi tanh Bụng hóp lại, da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, hai chân sau rúm lại, bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào vụ đông xuân khi độ ẩm môi trường cao, bệnh thường gặp ở lợn con 1- 21 ngày tuổi, mắc một vài con hoặc cả đàn có khi điều trị khỏi lại tái nhiễm
Trang 25+ Thể gây chết nhanh: Những lợn 4 – 15 ngày tuổi thường mắc ở thể này, sau 1 – 2 ngày ỉa phân trắng lợn gầy sút rất nhanh, lợn kém bú rồi bỏ bú hẳn,
ủ rũ, đi đứng xiêu vẹo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh, có con hay đứng riêng một chỗ và thở nhanh Phân từ nát rồi đến loảng, số lần ỉa tăng 1 – 2 lần trong ngày lên 4 – 6 lần, màu phân từ phân đen biến thành màu xám rồi trắng đục, mùi tanh khắm, phân dính xung quanh hậu môn và đuôi Bệnh kéo dài 2 – 4 ngày, trước lúc chết có hiện tượng quá suy nhược, co giật, tỷ lệ chết 50 – 80 %
+ Thể bệnh kéo dài: Lợn 20 ngày tuổi hay mắc thể này, bệnh kéo dài từ 7 – 10 ngày, lợn vẫn bú nhưng dần dần bú kém đi, phân màu trắng đục, trắng hơi vàng, có con mắt có rỉ, có quầng thâm quanh mắt, niêm mạc nhợt nhạt, nếu không làm lợn suy nhược rồi chết sau hàng tuần bị bệnh
Những lợn đã 45 – 50 ngày tuổi thì ỉa có phân trắng nhưng vẫn hoạt động bình thường, ăn bú đi lại nhanh nhẹn, phân thường đặc hoặc nát với màu trắng xanh Từ đó lợn có thể tự lành, thường ít chết Nhưng nếu kéo dài, lợn gầy sút và sau này còi cọc chậm lớn
- Bệnh tích
Bệnh tích thể hiện chủ yếu ở xoang bụng, ruột non bị viêm cata kèm theo xuất huyết mạch máu màng treo ruột bị sưng Phá một lớp nhày có nhiều dạng xuất huyết khác nhau, gan bị thoái hóa màu đất sét, túi mật căng và dài ra
do chứa đầy mật, cơ tim nhão, dạ dày căng và dài ra do chứa đầy mật, sữa đặc Chất chứa trong lòng ruột lỏng có màu vàng, xác chết của lợn gầy, bụng thóp
- Chẩn đoán
Việc chẩn đoán lợn con phân trắng chỉ dựa vào triệu chứng lâm sang cũng có thể phát hiện Trong đàn lợn thường quan sát thấy các loại phân lúc đầu là táo, sau đó là lỏng hoặc sền sệt mầu vàng hoặc mầu trắng Quan sát hậu môn có thể thấy những con mắc bệnh có phân dính ở hậu môn hoặc dính cả ở vùng mông, khoeo, nhìn thấy ướt Lợn bỏ bú hoặc bú ít, xù long, tím tai, tím mõm, thường nằm ở góc chuồng, khi nặng thì run rẩy, co giật, nằm chân bơi trong không khí
Bệnh đường ruột do E coli gây ra có những khác biệt với những bệnh do
nhóm các tác nhân gây tiêu chảy khác như: virus, cầu trùng Cơ sở của việc
chẩn đoán là xác định độ pH của phân, nguyên nhân do E coli gây ra thì pH
của phân nghiêng về bazơ, nguyên nhân do virus, cầu trùng thì phân có pH nghiêng về axit, có thể phân lập vi khuẩn ở lớp niêm mạc ruột non
Trang 26- Biện pháp phòng bệnh:
Đây là một khâu rất quan trọng, có ý nghĩa rất lớn trong chăn nuôi, nó quyết định đến khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn lợn giai đoạn sau và ảnh hưởng lớn đến chi phí sản xuất của người chăn nuôi
Bệnh phân trắng lợn con được gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân phức tạp, do đó cũng phải có nhiều biện pháp giải quyết các vấn đề trên từng khía cạnh của bệnh phân trắng cùng áp dụng đồng bộ mới có thể hạn chế đến mức
thấp nhất những thiệt hại do bệnh gây ra
- Phòng bệnh bằng vaccine
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu vaccine để phòng bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn là chủ yếu,do đó các nghiên cứu đã tập trung chế
tạo vaccine từ vi khuẩn E coli và Salmonella
Sử dụng vaccine cho lợn nái mang thai bằng cách tiêm hoặc cho uống trước khi đẻ từ 4 – 6 tuần để kích thích lợn mẹ đáp ứng miễn dịch, sản sinh kháng thể đặc hiệu trong máu truyền qua sữa đầu cung cấp cho lợn con sau khi bú sữa (Nguyễn Thị Nội, 1989) [13]
Sử dụng vaccine trực tiếp cho lợn con uống để tạo ra các globulinmieenx dịch tiết ra ở đường ruột nhằm mục đích bảo vệ niêm mạc ruột, chống vi khuẩn bám dính xâm nhập, sản sinh độc tố gây bệnh
Gần đây một số nhà nghiên cứu còn dung hỗn hợp vi khuẩn đường
ruột E coli và Salmonella phân lập được từ cơ sở chăn nuôi để chế vaccine
nhằm ngăn chặn sự xâm hại của hai loại vi khuẩn này Kết quả cho thấy
vaccine chế tạo được có khả năng ngăn cản sự bám dính và xâm nhập của E
coli và Salmonella vào các tế bào biểu mô ruột Hiệu lực của vaccine này
tương đương với hiệu lực của vaccine sống, cao hơn vaccine chết
- Phòng bệnh bằng các chế phẩm sinh học
Dùng các vi khuẩn có lợi đẻ phòng và điều trị tiêu chảy ở lợn là biện pháp hữu hiệu, đã có nhiều chế phẩm được nghiên cứu và ứng dụng Các
nhóm vi khuẩn thường dùng là Bacillus subtilis, Colibacterium,… Các vi
khuẩn này khi được đưa vào đường tiêu hóa của lợn sẽ có vai trò cải thiện thức ăn, lập lại cân bằng vi sinh vật, ức chế và khống chế các vi khuẩn có hại
Gần đây Nhật Bản đã giới thiệu chế phẩm EM (Effective Micoorgaims)
là một chế phẩm sinh học có nhiều loại vi khuẩn có lợi có khả năng phòng, trị
Trang 27bệnh tiêu chảy cho nhiều loại gia súc và gia cầm và còn có khả năng khử mùi hôi cho phân thải, chuồng trại…
- Phòng bệnh bằng thuốc hóa học trị liệu
Lợn con bú sữa mẹ thường thiếu sắt vì sữa mẹ không cung cấp đủ, do
đó lợn con thường rối loạn tiêu hóa và ỉa chảy Để giải quyết vấn đề này các nhà chăn nuôi đã sử dụng chế phẩm Dextran – Fe để tiêm bổ sung cho lợn phòng bệnh thiếu máu, suy dinh dưỡng và các bệnh đường ruột, tăng sức đề kháng cho lợn
Để diệt vi khuẩn gây bệnh trong thức ăn và trong đường tiêu hóa, trong một thời gian dài các nhà chăn nuôi thú y đã chủ trương cho kháng sinh vào thức ăn, nước uống hàng ngày của lợn để phòng tiêu chảy
Ví dụ: Trộn tiamulin, tetracyclin,… vào thức ăn
Tuy nhiên việc trộn kháng sinh vào thức ăn, nước uống đã để lại nhiều hậu quả không tốt như gây tồn dư thuốc kháng sinh trong thực phẩm, sữa, làm tăng số lượng vi khuẩn kháng thuốc Do vậy ngày nay các nước đã cấm sử dụng thuốc kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi và thường xuyên có các cuộc thanh tra, kiểm tra các loại thức ăn chăn nuôi nhằm ngăn chặn việc sử dụng bừa bãi kháng sinh trong chăn nuôi
+ Lợn bị bệnh phải được nuôi cách ly, cử người chăm sóc
+ Tiêm phòng các loại vaccine
+ Bổ sung sắt cho lợn con: Tiêm Dextran - Fe
Trang 28- Điều trị bệnh
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại chế phẩm, thuốc khác nhau để điều trị bệnh phân trắng lợn con, nhưng khi tiến hành đề tài em đã sử dụng 2 thuốc là amoxinject LA và amcoli
2 2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Được sự quan tâm của Nhà nước đến sự phát triển của ngành Chăn nuôi
Thú y nói chung và ngành Thú y nói riêng, đã có rất nhiều nhà khoa học đã xây dựng được những công trình khoa học đóng góp cho sự phát triển của ngành Chăn nuôi Thú y Trong đó bệnh phân trắng lợn con được nhiều tác giả nghiên cứu đề cập tới việc tìm hiểu nguyên nhân cũng như phương pháp
phòng trị
Khi nghiên cứu về bệnh phân trắng lợn con Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [7] cho rằng đây là một loại hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày – ruột, ỉa chảy, gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh
chủ yếu của lợn con là E coli và một số loài Salmonella (Sal.cholerasuis, Sal
Typhisuis), đóng vai trò phụ là Proteus, Streptococcus Bệnh xuất hiện vào
những ngày đầu sau khi sinh và trong suốt thời kỳ bú mẹ
Theo Lê Văn Năm và cs, (1998) [10] cho rằng: Bệnh phân trắng lợn con
chủ yếu do trực khuẩn E coli gây ra Ngoài ra còn có một số nguyên nhân
khác như chuồng trại bẩn, sữa đầu ít, chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa không đúng kỹ thuật và bất lợi về thời tiết
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [21] cho biết bộ máy tiêu hóa ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật của đường ruột và dạ dày rất yếu Do đó cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh đường tiêu hóa cho lợn
Trang 29Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14] thì nhất thiết lợn con sơ sinh phải được bú sữa đầu để giúp lợn con có sức đề kháng chống đỡ bệnh tật trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn bình thường Đây là chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng vì thế cần chú ý cho lợn con bú sữa trong 3 ngày đầu sau khi sinh
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, (2000) [9] cho rằng: Bổ sung Dextran-Fe cho lợn con có tác dụng làm tăng lượng huyết sắc tố (Hemoglobin), số lượng hồng cầu, giúp gia súc non, đặc biệt là gia súc sơ sinh khỏe mạnh, phát triển tốt, lớn nhanh và tăng sức đề kháng với bệnh truyền nhiễm, nhất là với bệnh phân trắng lợn con
Theo Lê Thị Tài và cs (2000) [16]: Để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn
con, ngoài kháng sinh đặc hiệu với vi khuẩn đường ruột (Trimazon,
Chloramphenicol, Becberin) có hiệu quả điều trị 75 – 80 % Chúng ta nên
phối hợp với các chế phẩm sinh học sẽ tăng hiệu quả lên 95 – 98 % và bổ sung thêm điện giải (Ozesol) vừa tăng hiệu quả điều trị vừa tăng tỷ lệ khỏi bệnh từ 89,5 – 90 %, con vật mau hồi phục, đảm bảo chất lượng và số lượng con giống
Theo Lê Văn Phước (1997) [15] trong bài “Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ
ẩm không khí đến tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng”, tác giả nêu tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con thay đổi theo sự biến đổi của nhiệt độ, độ ẩm trung bình thay đổi hàng tháng, có tương quan thuận với ẩm độ và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó, để hạn chế tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, càn đảm bảo chế độ tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp
Trang 30Nguyễn Hữu Nhạ (1976) [11] cho rằng: Bệnh lợn con phân trắng là do vi
khuẩn E coli gây ra và chữa bằng cách cho uống vi sinh vật sống Sucolac có
hiệu quả tốt, vừa điều chỉnh hệ vi sinh vật đường ruột, vừa cung cấp một số men tiêu hoá cho lợn con
Theo Đỗ Trung Cứ và cs (2000) [2] cho biết dùng chế phẩm Effective Mycroogranizm (EM) trộn vào thức ăn cho lợn tập ăn cho kết quả là số vi khuẩn Salmonella và E coli trong một gam phân giảm Tỷ lệ tiêu chảy giảm
29 %, tỷ lệ tái nhiễm giảm 50 %, khả năng tăng trọng cao, các chỉ tiêu sinh lý, huyết sắc tố, hồng cầu bình thường
Bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng
đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày, viêm ruột và gầy sút nhanh Tác nhân gây
bệnh chủ yếu là E coli, nhiều loại Salmonella và đóng vai trò phụ là Proteus
Streptococus Bệnh xuất hiện nhiều vào những ngày đầu sau khi mới sinh và
sống suốt trong thời gian bú sữa (Theo tác giả Trịnh Văn Thịnh, 1985) [20] Theo Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1996) [6], khi nghiên cứu tác
dụng của một số phytonciden và thuốc hoá học trị liệu với E coli phân lập từ
bệnh lợn con phân trắng cho biết tỏi và hẹ là 2 dược liệu có tác dụng tốt với
E coli còn nghệ và cây vàng đắng là 2 dược liệu có tác dụng trung bình
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Bệnh phân trắng lợn con là bệnh phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn
cả trên thế giới Chính vì vậy nó được nhiều tác giả nước ngoài tập trung vào nghiên cứu Theo nhiều tác giả thì nhóm kháng sinh neomycin có tác dụng điều trị tốt, cho uống với liều từ 10 – 20 UI/kg TT, cho uống trong vòng 3 ngày, các kháng sinh khác nên dùng: Oxytetracyclin, dibiomycin liều 5000 – 10.000 UI/kg TT trong liệu trình điều trị phối hợp với sulfamid cũng cho hiệu quả điều trị tốt
Trang 31Theo Jones (1976) [27], khả năng bám dính của vi khuẩn là yếu tố vô cùng quan trọng để thực hiện bước đầu của quá trình gây bệnh, trong qua trình liên kết đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động
Các nghiên cứu của Smith.R.A và Nagy Band Feket Pet Pzs [17], cho thấy sản xuất vaccin E coli phòng bệnh phân trắng cho lợn tốt nhất được phân lập từ bệnh phẩm của lợn bệnh ở tuổi dưới 14 ngày
Theo Axovach và Lobiro (1993) [23] đã chữa bệnh Colibacteria ở lợn
có hiệu quả bằng cách cho uống vitamin 3 lần trong 3 ngày liên tục, liều
5mg/con Dùng Colibacteria tức E.coli sống Chúng có tính đối kháng với
nhiều loại vi khuẩn cho lợn ăn 2 lần/ngày liều 250ml, sau 14 ngày sẽ có hiệu quả, đặc biệt tốt với lợn con thời kỳ cai sữa
Theo Matsiser (1976) [26] dùng Colibacteria tức E coli sống chủng
M17 có tính đối kháng với nhiều loại vi khuẩn, cho lợn ăn 2lần/ngày với liều 250ml Sau 14 ngày có hiệu quả đặc biệt đối với lợn con trong thời kỳ cai sữa Theo Lutter (1983) [25] cho biết: Ogramin liều 15g/con cho uống có
tác dụng tốt 95,61% trong hiệu quả điều trị E coli Tác giả lưu ý rằng khi sử
dụng kháng sinh qua đường thức ăn, nước uống để giúp làm giảm số lượng lợn bị nhiễm bệnh và lợn chết
Theo Neiffeld (1998) [24] cho biết các loại thuốc kháng vi khuẩn toàn thân điều trị hiệu quả nhất trong một ổ dịch cấp tính, nhiễm trùng mãn
Salmonella choleraesuis Có thể sử dụng kháng sinh qua đường thức ăn, nước
uống để giúp làm giảm số lượng lợn bị nhiễm bệnh và lợn chết Việc chọn lựa ban đầu các loại thuốc kháng vi khuẩn dựa vào sự hiểu biết trước đó về tính
nhạy cảm của các type Salmonella ở một số vùng nhất định