Hiện nay, xu hướng chung trong nghiên cứu cây thuốc là kết hợp giữa việc sàng lọc các cây thuốc được sử dụng trong dân gian bằng các thử nghiệm sinh học với nghiên cứu chiết xuất phân lậ
Trang 1BỘ Y TẾ
BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
Nghiên cứu một số dược liệu có tác:
dụng trên ký sinh trùng,
từ nguồn tời nguyên thực vột Việt nam
bằng kết hợp sòng lọc sinh học vò
nghiên cứu hóa học
CƠ QUAN CHỦ TRÌ Trường Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI PGS Ngô Vân Thu PGS PTS Nguyễn Khắc Quỳnh Cứ
Trang 2CÁN BỘ NGHIÊN CỨU CHÍNH
PGS Ngô Vân Thu - Trưởng bộ môn Dược - ĐH Y Dược Tp HCM
PGS PTS Nguyễn Khắc Quỳnh Cứ - Phó phòng NCKH - ĐHYD Tp HCM
TS Trần Hùng - Trưởng ban Sau ĐH, Giảng viên BM Dược liệu
ThS Vương Văn Ảnh - Phó phòng TCCB, Giảng viênBM Dược liệu
DS CKY Võ Văn Lẹo - Phó CN BM Dược liệu
DS CKI Võ Thị Bạch Huệ - Phó CN BM Kiểm nghiệm
DS CKI Huynh Ngoc Thuy - Giảng viên bộ môn Dược liệu
Ths Phạm Đông Phương - Phó trưởng Khoa Dược, Giảng viên BM Dược liệu PTS Nguyễn Viết Kình - Giảng viên BM Dược liệu
10 PTS V6 Van Chi - Giảng viên bộ môn Dược liệu
11.PTS Nguyễn Văn Thanh - Chủ nhiệm bộ môn Vi sinh
Trang 3PHAN |
DAT VAN DE
Trang 4iz dna ƒ - Det van dé
}
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, nhu cầu về các thuốc đùng trong điều trị ký sinh trùng và chống ung thư trên thế giới và trong nước là rất lớn Các thuốc hiện có trên thị trường còn có những hạn chế về mặt tác dụng, nên các nhà khoa học trên thế giới vẫn đang phải tiếp tục nghiên cứu tìm ra các thuốc trị ung thư và sốt rét có hiệu quả hơn để bổ sung vào các phác đồ điều trị Các nhà khoa học biện đang rất chú ý đến kho tàng y dược học cổ truyền của các dân tộc nhằm tìm ra những phân tử thuốc mới có nguồn gốc tự nhiên có tác dụng trị liệu để đưa vào sử dụng, cũng như làm mô hình cho việc bán tổng hợp những dẫn xuất
có tác dụng trị liệu cao Nước ta có hệ thực vật rất phong phú và có rất nhiễu bài thuốc
dân gian Việc nghiên cứu thử nghiệm tac dụng trị ung thư, ký sinh trùng và côn trùng
để làm sáng tỏ giá trị của nguồn (ài nguyên thiên nhiên, tìm ra các cây thuốc quí để đưa vào khai thác sử dụng là cần thiết Nhu cầu-về thuốc nói chung và thuốc điều trị ký sinh trùng, ung thư v.v nói riêng ở nước ta hiện nay rất lớn Phần lớn các thuốc này đều phải nhập nội Nhiều loại thuốc rất đắt tiền (như các thuốc trị ung thư) mà đa số nhân dân lao động không đáp ứng được Việc tìm ra các nguồn thuốc tại chỗ, đi từ nguồn gốc tự nhiên để bổ sung hay thay thế một phần các thuốc nhập nội ngoài ý nghĩa khoa học còn góp một phần không nhỏ trong việc bảo vệ sức khỏe nhân dan
Việc nghiên cứu tìm ra thành phần hoạt chất của cây thuốc đòi hỏi nhiều thời gian và công sức Trước đây, được liệu nghiên cứu thường được chọn các một cách ngẫu nhiên
và các nghiên cứu thường được tiến hành độc lập giữa nghiên cứu hoá học và thử tác dụng sinh học nên tiêu tốn nhiễu thời gian và tiên của Hiện nay, xu hướng chung trong
nghiên cứu cây thuốc là kết hợp giữa việc sàng lọc các cây thuốc được sử dụng trong dân gian bằng các thử nghiệm sinh học với nghiên cứu chiết xuất phân lập các hoạt chất
nhằm định hướng vào các thành phần có tác dụng sinh học đỂ rút ngắn thời gian, tránh
mò mẫm trong nghiên cứu Kết qủa nghiên cứu trong những năm gần đây đã chứng tỏ
hướng nghiên cứu này rất có hiệu quả Thời gian nghiên cứu được rút ngắn, giảm kinh phí và tăng hiệu quả trong việc âm kiếm các thuốc mới Việc tìm ra các hợp chất chống
ung thư như podophyllin, taxol là những ví dụ chứng minh cho tính đúng đắn của việc
kết hợp đó
Trừớc đây, các thử nghiệm sinh học, đặc biệt là các thử nghiệm tác dụng chống ung thư
phải thực hiện in vivo r&t tốn thời gian và tiên của Gần đây nhiều tác giả đã nghiên
cứu các mô hình thử nghiém sinh hoc in vitro nhu 1a cdc tht nghiém ban dau (pretest)
cho việc sàng lọc nhanh và it tốn kém một lượng lớn mẫu nghiên cứu Bằng những thử nghiệm này, từ một số lượng lớn các mẫu cây thuốc được thu thập đựa vào kinh nghiệm
dân gian (Ethnopharmacology) qua sang lọc sinh học, các nhà nghiên cứu có thể tập
trung vào một vài cây thuốc có tác dụng tốt nhất Từ các cây thuốc này, cũng bằng kết
hợp các thử nghiệm sinh học và nghiên cứu hóa học có thể định hướng tới các hoạt chất
của cây thuốc, bỏ qua các thành phần không có tác dụng
Brine shrimp va Crown gall tumour scréening tests; thử nghiệm trên entamoeba,
Trang 5Phén 1 Dat vain dt 2
plasmodium in vitro 14 nhitng thit nghiém nhu vay Cac thứ nghiệm sinh học này đã được các nhà nghiên cứu của các viện nghiên cứu lớn sử dụng và hoàn thiện Ngày nay
chúng được chấp nhận rộng rãi trên thế giới trong sàng lọc ban đầu các cây thuốc Viện
Nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ đã quyết định chỉ sử dụng các thử nghiệm in vivo (P-388,
9-KB ) những chất nào cho kết quả tốt trên các thử nghiệm sàng lọc trên
Trong nước đã có một số công trình nghiên cứu riêng lẻ về sàng lọc các cây thuốc trị giun sán như các công trình của GS Đăng Văn Ngữ và các cộng tác viên (1960), sốt rét của GS Ngô Vân Thu và Cs (1976) và ly amib của GS Nguyễn Vĩnh Niên, GS Ngô Vân Thu và Cs (1988) Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây chỉ mới thực
hiện trên một số nhỏ các cây thuốc Chưa có công trình nào nghiên cứu sàng lọc các cây thuốc hướng tới tác dụng trị ung thư, một trong những mối quan tâm hàng đầu của
các nhà nghiên cứu những dược phẩm tương lai cũng chưa nghiên cúu các tác dụng kể trên trong mối liên hệ : kháng sốt rét - trị ly amib - độc đối với tế bào / trị ung thư như
một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh
Các nghiên cứu khác chỉ thực hiện trên từng được liệu riêng lẻ
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI :
Tìm ra những cây thuốc thực sự có tác dụng trị bệnh nhằm đưa các cây thuốc đó vào sử dụng nhằm tăng nguồn thuốc phòng và chữa bệnh cho nhân dân
Để thực hiện mục tiêu này, để tai sit dung mét s6 thi nghiém in vitro ding Artemia
salina và các thử nghiệm trên ký sinh trùng và côn trùng khác v.v sàng lọc một số cây
thuốc được sử dụng trong dân gian và những loài tương cận nhằm tầm ra những cây
thuốc có tác dụng trên các bệnh ký sinh trùng, côn trùng ung thư Từ đó tìm ra những
nhóm hoạt chất hay hoạt chất tinh khiết từ những cây thuốc đã được lựa chọn qua kết
quả sàng lọc ban đầu làm tiễn để triển khai các nghiên cứu sâu hợn vệ dược lý và đạng
bào chế các chế phẩm từ một vài cây có tác dụng tốt nhất đối với các bệnh nói trên
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
(cho đề tài hoàn chỉnh nghiên cứu trong nhiều năm)
1 Nghiên cứu Được lý dân tộc học (ethnopharmacology) : Thu thập tài liệu về các cây
thuốc, bài thuốc kinh nghiệm dân gian; tham khảo các tài Hiệu về sử dụng cây thuốc
của các nước; các dân tộc trên thế giới; các nghiên cứu được lý hiện đại để lập nên một danh sách cây thuốc trị các bệnh ly, ký sinh trùng và côn trùng v.v
2 Chọn ra nhũng cây thuốc được xem là có tác dụng tốt, có tần suất sử đụng cao trong
dan gian, được nhiều dân tộc sử dụng, hoặc đã có các thử nghiệm dược lý chứng mỉnh tác dụng để phục vụ cho nghiên cứu sàng lọc
3 Thu thập mẫu dược liệu từ đanh sách cây thuốc nêu trên
4 Chiét cao MeOH và cao nước toàn phần của các mẫu được liệu đãthu thập
5 Thử độc tính của các dịch chiết trên ấu trùng Arfermia salina.
Trang 6Phén | - Dat véin dé 3
10
Thử độc tính trên trùn chỉ 1ữmnodrilus hofmoistery
Thit déc tinh trén Tam Bombyx mori
Thử độc tính trên ấu trùng muỗi Aedzs
Thử tác đụng gây chán ăn trên Tằm Bormbyx mmori
"Thử tác động chống phân bào trên mơ phân sinh rễ hành Ailiur ascalonicum
Từ các thử nghiệm trên lựa chọn những cây thuốc cĩ tác dụng mạnh nhất để nghiên cứu tiếp các bước
Chiết cao chiết tồn phân của dược liệu Dùng các kỹ thuật hố thực vật (chủ yếu
là các kỹ thuật sắc ký) để phân tách hoạt chất tồn phần thành những phân đoạn
đơn giản hơn
Kiểm tra tác dụng sinh học của các phân đoạn đã tách được
Định hướng vào các phân đoạn cĩ tác dụng sinh học tốt, kết hợp với kỹ thuật hĩa thực vật để chiết tách các hoạt chất tinh khiết phục vụ cho nghiên cứu cấu trúc,
nghiên cứu tác dụng dược lý, chiết xuất lớn, bào chế và tiêu chuẩn hĩa
Nghiên cứu các đặc tính lý hĩa của các chất phân lập được và xác định cấu trúc
của chúng bằng các phương pháp phổ hiện đại như MS, NMR, X-ray
Song song với giai đoạn 14, 15 là nghiên cứu bước đầu độc tính và dạng bào chế
của cây thuốc cĩ tác dụng tốt nhất
4 NỘI DUNG CỤ THỂ CỦA ĐỀ TÀI
chứng minh tác dụng để phục vụ cho nghiên cứu sàng lọc
_ Thu thập mẫu dược liệu từ danh sách 50 cây thuốc nêu trên
Chiết cao MeOH và cao nước tồn phần của các mẫu dược liệu đãthu thập
Thử độc tính của các dịch chiết trên ấu trùng Artemia salina
Thử độc tính trên trùn chi Limnodrillus hofmoistery
Thử độc tính trên Tăằm Bombyx mọi
Thử độc tính trên ấu trùng muỗi Aedes
Thử tác dụng gây chán ăn trên Tằm Bombyx mori.
Trang 7ha i Dat van 4
10 Thử tác động chống phân bào trên mô phân sinh rễ hành Alium agealonicuma
Từ các thử nghiệm trên lựa chọn những cây thuốc có tác dụng mạnh nhất để nghiên cứu tiếp các bước
11 Phân tích thành phần hóa thực vật của cây thuốc bằng các phương pháp hoá học, sắc ký (Sắc ký lớp mỏng, sắc ký lỏng cao ấp ) để định hướng cho chiết xuất và phân lập các hoạt chất
12 Chiết cao chiết toàn phân của dược liệu Dùng các kỹ thuật hoá thực vật (chủ yếu
là các kỹ thuật sắc ký) để phân tách hoạt chất toàn phần thành những phân đoạn
đơn giản hơn
13 Kiểm tra tác đụng sinh học của các phân đoạn đã tách được
14 Định hướng vào các phân đoạn có tác dụng sinh học tốt, kết hợp với kỹ thuật hóa
thực vật để chiết tách các hoạt chất tĩnh khiết phục vụ cho nghiên cứu cấu trúc, nghiên cứu tác dụng dược lý, chiết xuất lớn, bào chế và tiêu chuẩn hóa
15 Nghiên cứu các đặc tính lý hóa của các chất phân lập được và xác định cấu trúc
của chúng bằng các phương pháp phổ hiện đại như MS, NMR, X-ray.
Trang 8PHAN II
PHUONG PHAP NGHIEN CUU
Trang 9hdr M huenag php nghien ate 2
1 LỰA CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo các nguyên tắc sau :
Được sử dụng trong dân gian, được ghi nhận trong các sách y học cổ truyền của các dân
tộc dùng để điều trị các bệnh giun sán, ký sinh trùng (chấy, rận), ly, tiêu chảy, sốt rét
(sốt cách nhật, ngã nước, sốt rét rừng, nghịch tật), ung thư, Các dữ liệu này được thu thập từ các tài liệu trong và ngoài nước, các kinh nghiệm thực tế thu thập trong các
chuyến đi điều tra thu thập mẫu (Nghiên cứu dược lý dân tộc học -
Ethnopharmacology)
Được biết có tác dụng trên giun sán, chấy rận, ly, sốt rét, ung thư và có tác dụng tác
dụng trên đơn bào, côn trùng khác qua các thử nghiệm sinh học, dược lý, lâm sàng công bố trên các tạp chí khoa học, các hội nghị về-cây thuốc trong và ngoài nước
Có mối quan hệ họ hàng gần gũi về mặt thực vật với những cây thuốc đã được biết là
có tác đụng sinh học, được lý lâm sàng theo hướng đang thử nghiệm (nghiên cứu dựa trên Hoá phân loại học - chemotaxonomy) hoặc với những cây thuốc được sử dụng
nhiều trong dân gian để điều trị các bệnh nói trên Đặc biệt chú ý tới các cây chưa hoặc
ft được nghiên cứu và những loài đặc hữu (cndemic plants) của Việt nam hay Đông dương
Từ các dữ liệu thu thập từ 3 nguồn trên, lập nên một Đanh sách các cây thuốc có nhiều
triển vọng cho nghiên cứu Từ danh sách này, chọn ra những cây thuốc có tần suất sử
dụng cao trong dân gian, được sử dụng bởi nhiều dân tộc, nhiễu vùng địa lý khác nhau,
có hoạt tính cao trong các thử nghiệm sinh học và dược lý lâm sàng và có thể thu thập
mẫu cho nghiên cứu để lập nên Danh sách các mẫu nghiên cứu ,
Các cây thuốc trong Danh sách mẫu nghiên cứu được tổng quan về các mặt : Thực vật, hóa học, được lý, công dụng và kinh nghiệm sử dụng làm định hướng cho nghiên cứu phòng thí nghiệm
2 CHUẨN BỊ NGUYÊN LIỆU
2.1 Thu hái dược liệu
Phần lớn các dược liệu được thu hái tại thực địa Khi có thể, mẫu vật được thu thập riêng từ tất cả các bộ phận chính của cây (1á, thân, vỏ thân, gỗ, rễ, vỏ rễ, lõi rễ, hoa,
* quả, hạt) đặc biệt chú ý tới bộ phận được sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm dân gian Một số dược liệu được thu mua tại các cửa hàng dược liệu
Các mẫu vật được giám định về thực vật và dược liệu để dam bảo chính xác vềể mặt thực vật học
Trang 10khi đã khô xay thành bột bằng máy xay hoặc tần bằng thuyền tán, Bột dược liệu được
rây bột qua rây có lỗ 0,5mm, để đầm bảo các mẫu được liệu đồng nhất về kích cỡ Bột
dược liệu được giữ trong lọ kín có đán nhãn để tên nguyên liệu, ngày hái, nơi hái và
lượng mẫu
3 PHÂN TÍCH SƠ BỘ THÀNH PHẦN HÓA THỰC VẬT CÁC MẪU
Phân tích sơ bộ thành phần hóa học của các dược liệu đuợc thực hiện theo quy trình
phân tích của Trường Đại học Dược khoa Roumani Các định tính xác nhận từng nhóm
hoạt chất được thực hiện bằng cách chiết riêng biệt theo nhóm hoạt chất và định tính bằng các thuốc thử đặc hiệu
4 CHUẨN BỊ CÁC CAO CHIẾT CHO THỬ SINH HỌC
4.1 Xác định độ ẩm
Dược liệu trước khi chiết được xác định độ ẩm để tính toán hàm lượng cao chiết được
trên lượng dược liệu khô tuyệt đối
Dụng cụ : Cân xác định độ ẩm Moisture Balance EB-340 MOC (Shimadzu)
Kết quả tính trung bình trên 3 lân đo
4.2 Cao methanol cho thử nghiệm sinh học
Cân chính xác 5g dược liệu, sau khi ngâm dược liệu qua đêm với 40 ml methanol, hỗn hợp được để trong bể siêu âm ở nhiệt độ 40°C trong 12 phút Gạn lấy dịch chiết, Bã
dược liệu được chiết trong bể siêu âm ở nhiệt độ 402C trong 12 phút thêm 3 lần nữa, mỗi lần với 30 ml methanol Gộp chung dịch chiết, Lọc qua giấy lọc Cô địch lọc trên bếp cách thủy đến cao khô Cân xác định khối lượng cao toàn phần và tính tỉ lệ % lượng cao methanol chiết được
* -Bảo quần cao trong chai thủy tỉnh nhỏ, có nắp đậy và để trong các bình hút ẩm Cao này được sử dụng để thử sinh học
4.3 Chuẩn bị cao nước cho thử nghiệm sinh học
Tiến hành các giai đoạn chiết tương tự như cao methanol nhưng thay methanol bằng
nước cất.
Trang 11TH Il - Phuong phdp nghien citt 3
Quy trình chung để chiết các cao thử nghiệm được trình bày ở hình 1
NGUYÊN LIỆU THỰC VẬT (10g)
Đung môi, ngâm qua đêm
Siêu âm ở 409/15 phút - Loc |
[| Siên Âm & 409/15 nhất - Ï.nec
Dung môi
[TT | Siêu âm 8 407/15 phút - Lọc F—| DICH CHIET BA DUGC LIEU
Hình 1 : Sơ đồ chung chiết các cao thử sinh học
5 THỬ ĐỘC TÍNH CÁC CAO CHIẾT TRÊN MÔ HÌNH THỬ NGHIỆM
Các thử nghiệm sinh hoc in vitro được thực hiện theo các tài liệu đã công bố (Thử nghiệm brine shrimp, thử nghiệm trên ấu trùng muỗi, thử nghiệm chống phân bào trên
mô phân sinh rễ hành) Những thử nghiệm mới (Thử độc tính trên tầm, thử độc tính trên trùn chỉ, thử tác động gây chán ăn trên tầm) được thăm dò điều kiện thử nghiệm theo
nguyên tắc thử nghiệm chung của các mô hình thử nghiệm tương cận đã được chấp
nhận
5.1 Thử độc tính trên mô hình brine shrimp
5.1.1 Nguyên tắc
Xác định độc tính của các cao chiết được liệu trên ấu trùng Brine shrimp, một loài giáp
xác sống trong nước biển có tên khoa học là Arfemia salina Leach
Hầu hết các chất có hoạt tính sinh học đều có độc tính ở liều cao Vì thế, một thử
nghiệm xác định độc tính của các chất trên các động vật bậc thấp có thể được sử dụng
như một thử nghiệm nhanh, đơn giản để định hướng nghiên cứu các hợp chất có tác
Trang 12‘Bhan i Phuong phdp nghien ctu 8
dụng sinh học Thử nghiệm trén brine shrimp (Artemia salina Leach) 14 một trong
những thử nghiệm như vậy
Brine shrimp đã từng được sử dụng trong nhiều thử nghiệm sinh học khác nhau như để
xác định dư lượng các chất diệt côn trùng, các chất độc từ nấm, ô nhiễm môi trường,
thử nghiệm các thuốc tê, các chất gây ung thư v.v Năm 1982, McLaughin và các cộng
sự đã triển khai thử nghiệm này cho việc nghiên cứu sàng lọc ban đầu các chất chống ung thư trước khi thử nghiệm trên các dòng tế bào ung thư, cũng như cho việc định
hướng chiết xuất phân lập các hoạt chất chống ung thư trong cây cỏ
Các nghiên cứu thực hiện tại của nhóm McLaughin tại Đại học Purdue (Mỹ) và của nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới đã cho thấy giữa độc tính của cây thuốc trên Brine shrimp và tác dụng trên các dòng tế bào ung thư có mối tương quan thuận chiểu Đa số các chất có tác dụng trên tế bào ung thư đều có tác dụng trên brine shrimp Nhiều chất
có tác dụng trên các thử nghiệm chống tế bào ung thu in vivo da được phân lập nhờ định hướng của thử nghiệm brine shrimp Các tác giả đã để nghị sử dụng mô hình thử nghiệm này như một thử nghiệm sàng lọc sơ bộ các chất có hoạt tính sinh học từ các
dịch chiết sinh học và đùng như một thử nghiệm để định hướng trong việc chiết xuất và
phân lập các hoạt chất có tác dụng trong nguyên liệu thử nghiệm
De đơn giản, không đòi hỏi trang bị đắt tiền và điểu kiện vô trùng như nuôi cấy tế bào; thời gian thử nghiệm ngắn (24 giờ) nên hiện nay thử nghiệm brine shrimp được sử dụng rất phổ biến, như những công việc hàng ngày tại các phòng nghiên cứu các hợp chất tự nhiên
5.1.2 Dụng cụ và hóa chất thử
Tring Brine shrimp (Artemia salina Leach)
Trứng bào xác Artemia Vĩnh Châu (Artemia cystis) do khoa Sinh, Đại học Cần Tho sản
xuất Loại hộp thiếc 200g trứng, tiêu chuẩn chất lượng :
e Kích thước trứng : 230 + 2.5m
© Số lượng trứng : 398000/gram
e Độ ẩm :3.5-4%
« Tỷ lệ nở: Sau 24h ở 26 °C : 78% (310000 ấu trùng/g)
Sau 48h ở 26 °C : 84% (335000 ấu irùng/g)
« Hàm lượng acid béo không no (HUFA) 17mg/gram
DMSO (dimethyl sulfoxid) : Prolabo, loại tỉnh khiết phân tích
Muối biển nhân tạo : Marinemix, Singapore
Hộp ap tritng brine shrimp :
Hộp nhựa nhỏ có một vách ngăn ngang ở một phần ba chiều đài hộp, trên vách ngăn có đục các lỗ nhỏ để ấu trùng sau khi nở có thể đi qua Ngăn rộng của hộp được che kín
Trang 13Phan ll -Rhuong phdo nghien atu 9
tránh ánh sáng
Khay thử Cooke microtiter 96 lỗ, có nắp đậy Mỗi lỗ (giếng thử) có thể tích là 0,3mI
Nguyên liệu thi :
Cao dược liệu để thử nghiệm (cao methanol và cao nước, theo quy trình chiết ở mục II- 4.2 và II-4.3)
được sử dụng để đánh giá hoạt tính của dược liệu
Kết quả được đánh giá dựa trên số trung bình Brine Shrimp chết ở mỗi nông độ:
- Không có tác dụng nếu không có con ấu trùng nào chết (-)
- Có tác dụng nếu có từ 1-5 ấu trùng chết (+)
- Có tác dụng mạnh nếu có từ 6-10 con chết (++)
5.2 Thử độc tính trên ấu trùng muỗi
8.2.1 Sinh lý của muỗi - Phương pháp nuôi muỗi và ấu trùng để thử
nghiệm
5.2.1.1 Sinh lý của muỗi
Muốỗi là loài côn trùng rất được quan tâm trong y tế cộng đồng Là một nhóm phổ biến gồm 3.000 loài phân tán khắp nơi trên thế giới Muỗi hút máu người và truyền các tác
nhân gây bệnh nguy hiểm cho người như : sốt rét, sốt vàng, sốt xuất huyết, bệnh giun
chỉ Bancroft, viêm não
Muỗi thuộc họ Culicidae, bộ Diptera, là loại côn trùng nhỏ, chân dài, có 2 cánh Chu kỳ sinh sống của muỗi gôm 4 giai đoạn : trứng, ấu trùng, nhộng và muỗi trưởng thành Ba giai doan đâu sống trong nước, con trưởng thành năng động, bay được và sống nhờ hút
máu (con cái), hay hút mật hoa và nhựa cây (con đực) .
Trang 14han It “Rhuong pháp nghien clu 10
Giai đoạn trứng
Trứng khi mới để ra có mầu trăng, sau 1 - 2 giờ thì sẵm lại
Trứng mới đẻ cần nước hay độ ẩm đây đủ, nhưng sau 48 giờ, nếu điều kiện khô thì trứng vẫn có thể tổn tại một thời gian lâu, chờ khi có nước sẽ nở cho ấu trùng Trứng của một vài loại muỗi có khả năng tổn tại 3 - 4 năm trong điều kiện khô, Bình thường trứng sẽ nở sau 2 - 3 ngày
Au tring của tất cả các loài muỗi đều sống trong nước : ao hỗ, đầm lầy ẩm ướt hay các
vũng nước đọng trong rừng, hốc cây, hõm đá hay những vật chứa nước dùng trong
nhà nhưng chúng không sống được trong các môi trường có nước chảy mạnh như: suối, thác, hê, cạnh thác và nước biển Thời gian ấu trùng kéo đài 4 - 10 ngày gồm có 4 giai đoạn lột xác để phát triển, thời gian từng giai đoạn thay đổi tùy theo yếu tố môi trường
đặc biệt là nhiệt độ, ở lần lột xác thứ 4 thì ấu trùng thành nhộng
Giai đoạn nhộng kéo dài từ một ngày đến vài tuần tùy điều kiện Cuối giai đoạn, ở
nhộng nứt ra cho muỗi trưởng thành
Muỗi trưởng thành
Muỗi trưởng thành nhỏ, phần bụng mang một đôi cánh hẹp và 3 đôi chân đài mỏng
mảnh, đầu dài thay đổi từ 1.6 - 12.5 mm Cấu tạo cơ thể gồm 3 phần: đầu , ngực, bụng Đầu tròn gồm một cặp mắt kép, 1 đôi râu, 1 đôi xúc biện và vòi Râu dài, mỏng, gồm
15 đốt có thể thấy được, những đốt cuối mang lông ngắn, thưa (con cái), day ram rap
(con đực) Râu có nhiệm vụ xúc giác, xúc biện gồm 5 đốt
5.2.1.2 Muỗi Aedes
Còn gọi là muỗi đốm, muỗi vẫn, muỗi có tầm vóc nhỏ, màu sậm, có những đốt trắng
bạc trên thân và trên chân Bụng muỗi có những băng ngang màu trắng Xúc biện hàm
đài hơn vòi ở con đực và ngắn hơn ở con cái Muỗi đậu với tư thế song song chỗ đậu
Aedes gồm hơn 500 loài phân bố khắp nơi từ miễn cực đến những vùng nhiệt đới Để trứng đơn độc trên đất ẩm, trong hốc cây hay những vật chứa nước khác, trong trứng đã
có phôi Trứng tổn tại một thời gian dài trong điều kiện khô ráo
Giống Aedes acgypti là vector đáng chú ý của bệnh sốt vàng, sốt xuất huyết và viêm não Loài này để trứng ở nước dơ, dễ thích nghỉ Mỗi lần để khoảng 10 - 100 trứng Cách 4 hay 5 ngày đề 1 lần Tổng cộng số trứng trong một vòng đời là 300 - 750 trứng
Ấu trùng khi nổi lên mặt nước để thở, chúng nằm xiên và thở bằng ống thở Ống này ngắn và rộng bể ngang Ấu trùng cần có đầy đủ thức ăn để phát triển thành nhộng
Trang 15Bhan Phuong phdp nghien atu i
trong vòng khoảng 5 - 7 ngày với nhiệt độ của nước là 25 - 30°C Nước lạnh dudi 10°C
sẽ làm chết ấu trùng, cũng như nhiệt độ càng nóng thì tỉ lệ chết của ấu trùng càng cao
Nhiệt độ của nước là 32°C sẽ ức chế sự phát triển và nếu hơn 36oC thì ấu trùng bị tiêu diệt Ấu trùng Aedes øegypii ưa nước sạch, nhưng chúng vẫn có thể tổn tại được trong
các môi trường hơi acid, hơi kiểm hoặc hơi mặn Đa số ấu trùng bị chết trong điều kiện khô cạn, chỉ có một số rất ít ẩn trong lá cây ẩm ướt thì tổn tại
Giai đoan nhộng hoàn tất trong 1 - 5 ngày với nhiệt độ của nước là 27 - 32°C, trung bình nhộng đực cân 44 giờ, nhộng cái cần 60 giờ để phát triển, Nhộng có thể tổn tại 24 giờ trên giấy thấm ẩm và chỉ nở thành muỗi khi gặp nước Nhộng thành muỗi bằng một đường nứt trên lưng, sau 15 phút, muỗi ra khỏi thân nhộng và nằm yên trên xác nhộng
khoảng 1 giờ mới bay được Ở nhiệt độ môi trường 6°C, muỗi sẽ bị giết chết trong 24 giờ, 7 - 9°C, muỗi có thể tổn tại lâu hơn
5.2.1.3- Phương pháp nuôi muỗi và ấu trùng
Aedes aegypti
Muỗi Aedes aegypti được nuôi trong lổng lưới kín, lưới 1mm, có cửa bằng vải lưới được cột kỹ Muỗi đực được nuôi bằng nước đường (dùng bông gồn tẩm nước đường, đặt vào đĩa petri trong lổng) Cho muỗi cái hút máu từ chuột bạch bằng cách cho hút máu trên
thân hay trên đuôi chuột
Muỗi cái đẻ trứng trên tờ giấy thấm ẩm quấn quanh mặt trong của bocal chứa nước
Sau khi tờ giấy đầy trứng, lấy ra để khô và có thể giữ được trứng như vậy trong thời -
gian dài Nếu số lượng muỗi ít, có thể cho muỗi đẻ trên tờ giấy thấm cắt tròn, đặt trên bông thấm nước trong đĩa petri
Đặt giấy thấm có trứng vào đĩa hay bocal nước để nở thành ấu trùng Khi loạt ấu trùng đầu tiên được nở, lấy giấy ra cho vào đĩa khác để nở tiếp đợt 2
Nuôi ấu trùng tốt nhất bằng nước mưa, có thể dùng nước máy để bay hết chlor khoảng
1 - 2 ngày Thức ăn cho ấu trùng là loại thức ăn đành cho súc vật thí nghiệm, ngâm bánh thức ăn trong nước cho mềm rồi thả vào đĩa
Au tring Aedes aegypti ưa nước sạch, nên trong qúa trình nuôi cần thay nước thường ˆ xuyên Nước đục do chất thải của ấu trùng và thức ăn có thể lên men để đóng thành
một lớp màng phía trên ngăn cẩn không khí Thay nước bằng cách hút ấu trùng (dùng
ống đếm giọf) sang 1 đĩa mới có sẵn nước và thức ăn
Ấu trùng thử nghiệm đủ tiêu chuẩn nhất là ấu trùng giai đoạn lột xác thứ 3 (vào khỏang
ngày thư 5) Đây là giai đoạn ấu trùng trưởng thành nhất và tính để kháng cũng cao
hơn so với các giai đoạn trước
Nhộng để riêng trong một chén nước sạch và cho vào léng Mudi lần lượt được nở ra
trong vòng 1 đến 2 ngày
Culex :
Au tring Culex sinh sống và thích nghỉ trong môi trường nước cống rãnh độ hữu cơ cao
Trang 16Phan ll _ lubMg pháp nghi2n clu 12
5.2.2 Dụng cụ và hóa chất thí nghiệm
Dụng cụ và vật liệu thủ nghiệm
Au tring mudi Culex va Aedes (Culicidae) giai đoạn lột xác thứ 3
Hộp petri, ống đếm giọt
Bocal nuôi ấu trùng
Burette và một số dụng cụ thông thường của phòng thí nghiệm
Cao được liệu: cao nước và cao methanol
DMSO
Diéu kién
Trước khi thí nghiệm, ấu trùng được chuyển sang nước cất để loại bổ ảnh hưởng của thức ăn, tạp chất và một số sản phẩm hữu cơ trong nước đến kết qủa thí nghiệm
Thực hiện trong phòng thí nghiệm nhiệt độ thường
Tiến hành đối chiếu với mẫu chứng trong cùng điều kiện của mẫu thử
Tiến hành
Dung dịch thử được pha trhành những nồng độ 1mg/ml; 0,1 mg/ml và 0,01 mg/ml Đối với cao chiết methanol pha trong DMSO rỗi tiếp tục hòa tan nước cất, hàm lượng DMSO không quá 0,5%
8.2.3 Nguyên tắc thử nghiệm và cách tính kết qủa
Nguyên tắc :
Xác định tỉ lệ tử vong của ấu trùng thí nghiệm trong dung địch cao thử ở các nỗng độ
khác nhau Từ đó sơ bộ đánh gía độc tính đối với ấu trùng và tác dụng sinh học của được liệu
Cho 20 mi dung dịch thử vào đĩa petri thêm vào mỗi hộp petri mỗi hộp 10 ấu trùng Thực:hiện những mẫu chứng song song với thử nghiệm trong những điều kiện tương tự nhưng thay dung dịch thử bằng dung môi dùng để pha dung dịch thử Đếm số ấu trùng
chết sau 6, 12, 24 giờ
Cao nước và cao methanol của được liệu được thử ở nông độ 1; 0.5 và 0.1 mg/ml Mỗi dung dịch thử được thực hiện trên 3 hộp petri với tổng số 30 ấu trùng
Tính toán kết qủa
xác định % ấu trùng chết trong thử nghiệm ở mỗi nồng độ thử Nếu mẫu chứng có số
ấu trùng chết từ 5 - 20% thì kết qủa sẽ được điều chỉnh theo công thức Abbott :
Tổng số chết trong lô thử - Tổng số chết trong lô chứng
Tỉ lệ chết = x 100 ?
(Tổng số thử của lô chứng - số chết của lô chứng)
Trang 17Bhan ll Phuong phd nghién atu 13
5.3 Độc tính trên trùn chỉ
5.3.1 Nguyên tắc chung
Thông thường, để khảo sát các thuốc có tác dụng trên giun sán, có hai mô hình thực
nghiệm :
1 Mô hình tiếp xúc : là một mô hình thử nghiệm đơn giản bằng cách cho giun thử
nghiệm tiếp xúc trực tiếp chất cần thử trong điểu kiện sống bình thường của giun Xác định độc tính của thuốc (gây chết, làm tê liệt v ) với giun ;
2 Thử nghiệm 3 mite d6 té bao : Nghién giun sdn để được hỗn dịch tế bào Những tế
bào này sẽ được tiếp xúc với thuốc và đánh giá tác đụng bằng máy Warburg
Tuỳ theo loại giun cần thử nghiệm mà điều kiện-thí nghiệm có thể được thay đổi cho phù hợp Những mô hình thử nghiệm như vậy phản ánh đúng tác dụng của thuốc trên
loại ký sinh trùng muốn tiêu diệt Tuy nhiên để thử nghiệm với một lượng lớn các mẫu
chưa biết rõ tác dụng, phục vụ cho việc sàng lọc các cây thuốc thì nhửng mô hình như vậy tổ ra không thích hợp vì việc nuôi các ký sinh trùng gây bệnh trên động vật đòi hỏi
những điều kiện đặc biệt về môi trường đinh đưỡng và nhiệt độ để duy trì sự sống của
ký sinh trùng Vì thế việc tìm ra một mô hình thử nghiệm đơn giản hơn, dễ thực hiện và
có thể tiến hành hàng loạt trong phòng thí nghiệm mà vẫn có mối liên hệ với tác dụng
trị giun là một điều cần thiết
Đã có những công trình nghiên cứu sử dụng các loài giun đất cho những thử nghiệm
ban đầu này Tuy nhiên việc sử dụng giun đất để thử nghiệm vẫn còn nhiễu trở ngại
trong điều kiện phòng thí nghiệm Qua tìm hiểu, chúng tôi đã khảo sát việc sử dụng một loại giun tròn nhỏ sống trong nước thường được gọi là “trùn chỉ” có tên khoa học là Limnodrilus hofaoisiery đỂ phục vụ cho thử nghiệm
Trùn chỉ là loài giun tròn nhỏ màu đỏ nâu, sống trên bể mặt lớp bùn của các dòng
sông, kênh rạch có dòng nước chảy, không sống được ở những nơi ao tù, nước đọng
Chúng bám vào bể mặt lớp bùn hoặc tụ với nhau thành đám Thức ăn là đất bùn có lẫn réu va 14 muc
Kết quả khảo sát (xem phần II-5.3.3 và II-5) cho thấy đây là một mô hình có đáp ứng
tốt với các hóa chất điểu trị gìun, có mối tương quan giữa tác dụng và nỗng độ hoá chất
sử dụng, thích hợp cho việc sàng lọc các cao chiết từ được liệu
Ưu điểm của việc sử dụng trùn chỉ là :
- Kích thước nhỏ (đường kính thân từ 0,1 - 0,5 mm, chiêu đài con trưởng thành từ 3 - 6cm) nên thuận tiện cho việc thử trong hộp petri với một lượng lớn mẫu thử và sinh vật thử (10 con hay nhiều hơn), đễ dàng cho việc tính toán thống kê
- Sống trong nước nên rất thuận tiện cho việc thử nghiệm với mô hình thử tiếp xúc
- Kích thước trùn nhỏ nên thể tích đung dịch thử nhỏ, ít tốn hoạt chất
- Trùn chỉ sống rất tốt trong điều kiện nuôi tại phòng thí nghiệm (trên 2 tháng) nên chủ?
Trang 18Phan i Phuong phap nghien atu 14
động về sinh vật thử nghiệm Hơn nữa, rất dễ dàng mua được trùn chỉ tại các cơ sé mua
bán cá cảnh
5.3.2 Dụng cụ và phương tiện và vật liệu thử
—_ Trùn chỉ được mua tại các cơ sở nuôi cá cảnh tại Tp HCM Chọn lô trùn mới được vớt từ đưới sông Trùn mua về được nuôi trong nước sạch có đòng nước động thường xuyên Trùn chỉ sau khi đã được nuôi ổn định và khỏe mạnh trong vòng từ 2 tuần được dùng cho thử nghiệm
— Mebendazol : Viên nén chứa 500mg mebendazol
— Vinacor : Viên nén chứa 150mg levamisol
—_ Dung dịch thử là các cao chiết dược liệu được c pha và dùng ngay hoặc bảo quản
trong tủ lạnh trong vòng 12 giờ
- DMSO : Prolabo loại tinh khiết phân tích
—_ Các dụng cụ khác : đĩa petri có nắp đậy, pipet, bình định mtfc 50, 100 ml v.v
8.3.3 Phương pháp thử
Khảo sát sự đáp ứng của mô hình thử nghiệm
Để khảo sát sự đáp ứng của trùn chỉ với chất thử nghiệm và khả năng tương thích với các thử nghiệm trên các loài giun ký sinh trên người, thử nghiệm được tiến hành với hai
hoạt chất trị giun thông thường là mebendazoli và levamisol
Mebendazol được chiết bằng methanol trên bếp cách thủy trong vòng 15' ở 40°C lọc
và điều chỉnh thể tích dung dịch bằng methanol để có nông độ 10mg/ml Lấy chính xác 10ml dung dịch này vào chén sứ và cô trên bếp cách thủy đến khô Thêm vào cắn 0,5ml DMSO để giúp hoà tan và sau đó là 70 mÌ nước cất Cho dung địch vào bình định
mức 100ml, tráng chén sứ bằng nước cất và cho địch tráng vào bình định mức, bổ sung
nước cho đủ 100ml Dung dịch thu được có nồng độ 1mg/ml Lấy dung dich này pha loãng thành dung địch có các nồng độ : 0,1mg/ml; 0,01mg/ml và 0,001mg/mI
Dung dịch levamisol được chuẩn bị tương tự như dung dịch mebendazol
Cả hai loại thuốc này được thử trên trùn chỉ so sánh với dung dịch chứng là nước có
nỗng độ DMSO tương tự như dung dịch thử
Kết quả Xem phần II- 5) cho thấy trùn chỉ có đáp ứng với hai loại thuốc trên, vì thế
nó được sử đụng để sàng lọc các hoạt chất trong được liệu
Thử tác dụng của các cao chiết trên trùn chỉ
Chuẩn bị dung dịch thử
Cao chiết methanol của dược liệu được pha thành dung địch có néng d6 1 mg/ml trong nước cất có 0,5% DMSO (dimethyl sulfoxid) gitip cho sy hoa tan TY dung dich Img/ml
Trang 19‘Rhian Nt -Rhuong phdp nghien atu 15
pha loãng 10 lần để được dung dịch 0,1mg/ml Dung dich 0,lmg/ml duoc pha loãng thêm 10 lần để có dung dịch 0,01mg/ml
Các cao chiết được thử ở 3 nồng độ lmg/mi; 0.img/ml và 0.01mg/ml trong các đĩa
petri Mỗi đĩa thử chứa 30ml dung dịch thử (cao chiết methanol, cao chiết nước và mẫu
trắng chỉ gồm dung môi, không có cao chiết) và 10 trùn chỉ
Mỗi nỗng độ được thử trên 3 đĩa petri với tổng số 30 con trùn chỉ Chọn những con trùn
trung bình, kích thước đều nhau, khoẻ mạnh, không bị đứt, không có phần thân mới tái
sinh, đùng giấy thấm gạt nhẹ những giọt nước bám theo Thả trùn vào các đĩa petri có chứa dịch thử Đậy hờ nắp, để yên nơi mát
Thử nghiệm được tiến hành ở nhiệt độ phòng Các đĩa petri được đặt ở nơi mát, thoáng khí, không bị ánh nắng trực tiếp
Đánh gía kết quả
Đếm số lượng ấu trùng chết sau 6, 12 và 24 giờ Những số liệu này được sử dụng để
đánh giá hoạt tính của dược liệu Màu sắc và hình dạng của trùn bị chết cũng được ghi nhận
Kết quả % trùn chỉ chết ở mỗi nộng độ thử nghiệm được tính toán từ số lượng trùn chỉ chết trong mẫu thử và mẫu trắng theo công thức Abbott :
Tổng số chết trong lô thử - Tổng số chết trong lô chứng
Số còn sống trong lô chứng Các được liệu được xem là có tác dụng mạnh tai néng độ thử nghiệm khi trên 60% trùn chỉ bị chết sau 24 giờ
5.4 Thử độc tính và tác dụng gây chán ăn trên tằm
5.4.1 Đại cương
Cũng như các mô hình thử nghiệm trên Ar/eria salina; ấu trùng muỗi; giun tròn, một số
loài côn trùng cũng được sử dụng trong việc sàng lọc các cây thuốc Thử nghiệm sinh học trên côn trùng ngoài việc tìm hiểu độc tính chung của các cao chiết dược liệu tương
tự như các mô hình sàng lọc độc tính khác còn giúp định hướng cho việc tìm các loài?
Trang 20Rhdn Ul -Rhuong phdp nghién atu 16
thực vật có tác dụng trên các loài côn trùng truyền bệnh hoặc côn trùng gây hại trong
nông nghiệp Trong để tài này chúng tôi thử tác dụng của các cao thuốc trên tăm với 2
hướng :
- Thử nghiệm độc tính của các cao thuốc trên tim như các mô hình thử nghiệm trên
Artemia salina, trên trùn chỉ và trên ấu trùng muỗi Thử nghiệm loại này chưa thấy
được sử đụng trong các mô hình thử nghiệm của các tấc giả trước đây
- Thử nghiệm tác dụng gây chán ăn (antifeedant) của các cao thuốc trên tầm
Thứ nghiệm tác dung gây chán ăn của các chất đã được nhiều tác giả trên thế giới thực hiện Các tác giả Yasuhifo Kojima và Natsuki Kato (1981) đã thử nghiệm hoạt tính gây
chán ăn trên ấu tring Spodoptera litura F Blaney và cộng sự (1988) đã thử nghiệm khả năng gây chán ăn của chất excelsin (phân lập từ cây Ailanthus excelsa) trên Spilosoma obliqua (loài sâu hại phát triển trên cây thâu đầu) Các tác giả Steven V Ley; James
C Anderson (1989) đã thử nghiệm khả năng ức chế tăng trưởng và gây chán ăn của chất azadirachtin và vài ñmonoid (được phân lập từ cây Azadirachta indica) trên các ấu
trùng Spodoptera litoralis và Spodoptera frugiperda Kubo và cs ở Đại học California thì dé nghị sử dụng các loài Pectinophora gossipiella (Sauder) (một loài sâu hại bông ở
nhiều vùng củ nước Mỹ) và Heliothis virescens (Fabr.) (loài sâu hại trên nhiều loại cây trồng như bông, thuốc lá, cà chua, đậu v.v ) cho các thử nghiệm antifeedant Các loại
sâu khác cũng được sử dụng trong thử nghiệm antifeedant là : Epilachna varivests, Spodoptera exempta, Eldana saccharina, Heliothis zea, Spodoptera eridania, Tribolium castaneum (ấu trùng của một loài sâu lúa) và Siophylus zeamais Người ta cũng sử
dụng Epilachna varivestis - loài bọ cánh cứng Mexico hay ấu trùng loài đế Locusia migratoria lam sinh vat thi nghiém
Theo Kubo, khéng có giới hạn trong việc chọn loại côn trùng thử nghiệm Tuy nhiên,
có 3 yếu tố cần được quan tâm khi chọn là : (1) Có ý nghĩa về mặt kinh tế - kết qủa
khảo sát có thể sử dụng vào thực tế; (2) Dễ thu thập trứng hoặc nuôi giữ côn trùng - nguồn sinh vật thử có sấn và ổn định, việc nuôi côn trùng trong phòng thí nghiệm qua
nhiều thế hệ có thể dẫn tới những thay đổi về mặt di truyển; và (3) Nhạy cảm với nhiều loại hoá chất Một điều cũng không kém quan trọng trong việc chọn côn trùng là
chúng không mang vào phòng thí nghiệm bệnh truyền nhiễm và các ký sinh trùng gây
bệnh
Tất cả các tác giả trên đều không ding tim Bombyx mori (L.) lam cén tring thiv nghiém Tuy nhién, theo Kubo, tim có thể được đùng để nghiên cứu các chất khác như
chất dẫn dụ sinh học hoặc chất kích thích ăn ở côn trùng
* Trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi khảo sát việc sử dụng tầm cho việc thử độc tính
và khả năng gây chán ăn của các cao chiết dựa trên những ưu điểm sau :
- Tầm là loài côn trùng đã được thuần hóa, không gây hại cho người
- Sinh vật thử nghiệm rất ổn định về mặt sinh học : giống tầm, quy trình nuôi dưỡng, tuổi tầm
- Có thể có một lượng lớn và ổn định tầm từ các cơ sở nuôi tầm phục vụ cho thi”
Trang 21Phan Phuong pha nghien atu 17
nghiệm cùng một lúc nhiễu mẫu thử
8.4.2 Giới thiệu Tằm Bombyx mori L
Đặc điểm chung của tằm
Tầm là loại côn trùng được nuôi để lấy tơ - vòng đời của tầm từ 6-8 tuần lễ, tùy theo điều kiện khí hậu từng vùng nuôi và từng giống tầm lai khác nhau
Mọi giống tầm đều trải qua bốn giai đoạn biến thái rõ rệt gọi là vòng đời của tầm: Trứng tăm -> tăm => nhộng => ngài => trứng tầm
Mỗi giai đoạn biến thái, tầm có thời gian sống và đặc điểm hình thái khác nhau
Đặc điểm sinh học của Tằm
Tim có đạng một con sâu tổn tại trong khoảng từ 22 đến 23 ngày, và được chia làm 5
độ tuổi khác nhau : tuổi 1, 2, 3, 4, 5 Toàn thân con tăm được phủ một lớp kidn mồng, đẻo, có khả năng căng đài ra một cách đáng kể khi tầm lớn nhanh giữa các độ tuổi
Tầm có 6 đốt đầu; 3 đốt ngực và 11 đốt thân
* Ở phân đầu: các đốt thứ 2; 4; 5 mang các phần phụ, biến dạng tuân tự thành: râu, ham trén ham đưới và môi Hàm trên phát triển rất khỏe
* Ở phân ngực: về phía bụng, mỗi đết mang một cặp chân hình nón Mỗi chân có 3 đốt
và mang một cái vuốt sắc nhọn ở đốt cuối :
* Ở phần bụng: 3 đốt cuối lẫn vào nhau hình thành đốt thứ 9 Đốt thứ 8, mặt lưng có
mang gai đuôi Phần bụng mang 4 đôi chân
Tầm thể thông qua 9 đôi lỗ thở nhỏ nằm đọc hai bên hông ở giữa các đốt
Thức ăn của tằm là lá dâu tầm ( Morus aiba L.) Tăm phát triển rất nhanh từ tuổi này
sang tuổi khác Giữa hai độ tuổi kế nhau là một thời kỳ ngủ và lột xác (Bảng 1)
5.4.3 Thử nghiệm độc tính của cao dược liệu trên tằm
rổ nhựa để theo dõi Kết quả theo đõi được ghi nhận tại các thời điểm 30 phút, 60 phút,
6 giờ, 12 giờ và 24 giờ sau khi nhúng tằm xong.
Trang 22‘Bhan Il -Rhuong phdp nghien atu 2
Becher, pipet khắc độ 1ml, pipet chinh x4c 5ml, 10ml; bình định mức 50ml, 100ml,
phếu, chai đựng dịch pha, đũa khuấy
* Cao nào có tác dụng gây chết sinh vật thử nghiệm ở nồng độ 2mg/ml, được pha loãng
tiếp thành các nông độ 1mg/ml; 0,5mg/ml; 0,1mg/ml; 0,01mg/ml để tiếp tục thử
* Số lượng mẫu thử nghiệm : 108 mẫu cao methanol và 113 mẫu cao nước từ các bộ phận khác nhau của 42 cây thuốc
Chọn phương pháp thử nghiệm
Qua khảo sát nhiều phương pháp gây độc cho tầm bằng các dung địch thử nghiệm, phương pháp nhúng được chọn sử dụng để thử cho tất cả các mẫu thử
Dùng vợt nhúng tầm (với mỗi lô 10 con tằm) ngập hẳn trong dung địch thử, nhúng vào
10 lần, mỗi lân 5 giây, thời gian nghỉ giữa hai lần nhúng kế tiếp là 5 giây Sau đó cho tầm lên tờ giấy lọc khô đặt trong rổ nhựa Đặt rổ vào đĩa nhựa rồi để lên kệ theo dõi
Đây là phương pháp khả thí nhất trong các phương pháp đã thử vì tỉ lệ tầm chết do chịu -
Khảo sát tính đáp ứng của mô hình thử nghiệm
Tầm được thử với các dung dịch chứng như nước cất và DMSO 0,5%, cùng với ¡ dung môi dùng để chiết xuất là methanol 50% và 2 chất bảo vệ thực vật thông dụng là dung địch rotenon và wofatox ở những nông độ khác nhau để khảo sát tính đáp ứng của tầm
với chất thử, tính phụ thuộc của độc tính vào nồng độ sử dụng của các chất thử Kết quả (xem phần II — 6) cho thấy mô hình thử nghiệm có đáp ứng tốt với chất thử nghiệm Tầm không bị chết trong các dung dịch chứng và khả năng gây độc của rotenon và - wofatox trên tầm phụ thuộc vào nồng độ dung dịch thử
Khảo sát ảnh hướng của tuổi tầm lên mô hình thử nghiệm
Để chọn tuổi tầm thích hợp nhất sử đụng cho thử nghiệm, tầm ở các độ tuổi 1, 2, 4, 5 được sử đụng để thử trong cùng một điều kiện Kết quả (Phần II - 6) cho thấy tầm tuổi
1 hoặc tuổi 2 có đáp ứng tốt nhất trên mô hình thử độc tính Trong các thử nghiệm về
sau tằm tuổi 1 (tầm sau khi nở 2 ngày) được sử đụng chính thức cho mô hình thử
Đánh gía kết quả
Trong thử nghiệm độc tính, kết quả thử nghiệm được ảnh giá theo quy ước như sau :
— : không có đáp ứng của sinh vật thử nghiệm (Tầm không bị chết, hoạt
động bình thường)
Trang 23‘Phan ll Phuong phdp nghien atu 20
+ đáp ứng không rõ (có biểu hiện ngộ độc: tầm gục đầu; kém linh hoạt
hoặc bất động; ói dịch mầu vàng lục; hoặc không nhưng tất cả đều không
chết)
+: Tầm chết với tỷ lệ < 2/10 trong lô thử
++ : Tầm chết với tỷ lệ từ 3/10 đến 5/10 trong lô thử
+++ : Tầm chết với tỷ lệ từ 6/10 đến 10/10 trong lô thử
5.4.4 Thử nghiệm tác động gây chán ăn của cao dược liệu trên tằm
theo dõi, khi thức ăn ở lô chứng bị giảm khoảng 50%, đồng loạt bắt tầm ra khỏi tất cả các lô Cân xác định khối lượng lá dâu còn lại ở các lô, suy ra lượng lá dâu bị tầm ăn ở từng lô Trên cơ sở đó rút ra kết luận cho mục đích thử nghiệm
5.4.4.3 Vật liệu thử nghiệm
Nguyên liệu thử
Sử dụng 79 mẫu cao methanol, 80 mẫu cao nước và 2 mẫu cao chloroform từ các bộ
phận khác nhau của 35 cây thuốc
Trang 24Bhd l| -9lupug pháp nghiếm alt 21
methanol khó tan, đùng chất trợ tan DMSO pha trước Lượng DMSO không quá 0,5%
trong dịch thử nghiệm
Khảo sát ảnh hưởng của tuổi tằm trên mô hình thử nghiệm
Khảo sát tăm ở các độ tuổi khác nhau trong cùng một điều kiện cho kết quả là tầm tuổi
5 là thích hợp nhất cho thử nghiệm tính gây chán ăn của các mẫu thử Tằm ở tuổi này
khỏe mạnh và ăn nhiều nên đáp ứng tốt hơn với thử nghiệm
Chuẩn bị thức ăn thử nghiệm
Lá dâu tươi mới hái về, sạch sẽ không bị sâu, không bị ướt được cắt thành những
khoanh tròn đường kính 25mm bằng đổ khoan nút chai Cân và xác định khối lượng cụ
thể cho từng lô thức ăn trên, với độ chính xác 0,01g
Ở mỗi lô thử nghiệm cũng như các lô chứng, sử dụng 15 phiến lá tròn đã cắt ở trên để làm thức ăn cho tầm -
Ngâm từng lô lá dâu trên trong từng dịch thử 2mg/ml hoặc đung dịch chứng (nước cất hoặc DMSO 0,5%) trong 30 phút Sau đó vớt ra và trải trên từng đĩa nhựa riêng biệt có đánh dấu Để táo nước một cách tự nhiên trong phòng thoáng
Tiến hành thử nghiệm
Khi lá dâu đã ráo nước, đồng loạt cho vào mỗi lô 5 tăm tuổi 5 được xác định khối lượng trung bình và không cho ăn trong thời gian 8 giờ trước khi thử nghiệm Ngoài các lô thử
, ba mau chứng được tiến hành song song là :
- Chứng nước: lá dâu ngâm nước cất và cho tằm ăn trong cùng điều kiện thử nghiệm
- Chứng DMSO 0,5%: ngâm lá dâu trong dung dịch DMSO 0,5% rồi cho tim ăn
- Chứng trắng: là lô lá đâu ngâm nước cất nhưng không cho tằm ăn để xác định độ hụt khối lượng tự nhiên của lá dâu trong điều kiện thử nghiệm
Mỗi loại cao chiết dược liệu và các mẫu chứng tiến hành trong cùng đợt thử nghiệm
được thực hiện 3 lô trong cùng một điều kiện
Theo dõi cho đến khi lá đâu ở lô chứng bị nước ăn khoảng 50% thì đẳng loạt bắt tầm ra
ở tất cả các lô Cân khối lượng lá dâu còn lại trong từng lô Tính lượng lá dâu tương ứng đã bị con tầm ăn trong mỗi lô Khối lượng thức ăn bị giảm được tính theo giá trị
trung bình của 3 lô thử nghiệm của mỗi mẫu thử
5.4.4.5 Đánh giá kết quả
Một cao dược liệu được đánh giá là có khả năng gây chán ăn, nếu chỉ số gây chán ăn
C-T,
C+T,
% > 75% Chỉ số này được xây dựng như sau :
k: hệ số giảm khối lượng tự nhiên của lá dâu
C¿: khối lượng lá dâu của lô chứng trắng trước khi ngâm nước (lô không cho tằm ăn).
Trang 25‘Dhan I -Phuong phap nghién atu 22
C¡: khối lượng lá dâu của lô trắng ở thời điểm kết thúc thử nghiệm: k= =
9
Cọ: là khối lượng thức ăn của lô chứng nước đã bị ăn
C =kCoT—Ct
Toọ.¡: là khối lượng lá dâu của lô thử trước khi ngâm cao 1
T¡¡: là khối lượng lá đâu của lô thử cao ¡ ở thời điểm kết thúc thử nghiệm
T¡ : là khối lượng thức ăn của lô thử cao i đã bị ăn:
Ti =kTo4 - Tri
Để tiện theo đõi,trong các bắng kết quả, quy ước:
(+) : Mẫu thử có tính gây chán ăn đối với tầm thử nghiệm trong mô hình nay
(-) : Mau thử không có tinh gây chán ăn đối với tầm thử nghiệm trong mô hình này
(*) : thức ăn hoàn toàn không bị ăn
(**) : sinh vật ngộ độc và chết 100%
k: hệ số giảm khối lượng tự nhiên của thức ăn
C : khối lượng thức ăn ở lô chứng nước bị ăn
Ti : khối lượng thức ăn ở lô thử dược Hệu i bi an
M, : khối lượng trung bình của 5 tầm trong các lô
8.5 Thử tác dụng chống phân bào trên mô phân sinh rễ hành
Ung thư là một loại bệnh nan y mà y học thế giới cho đến ngày nay tuy đã có nhiều
thành tựu trong điều trị bệnh, nhưng số người mắc bệnh và chết vì bệnh ung thư còn rất
cao, chiếm tỉ lệ 20% tổng số trường hợp tử vong vì bệnh tật Theo thống kê của WHO, mỗi năm có khoảng 7 triệu người trên thế giới mắc bệnh ung thư và khoảng 5 triệu
người chết vì ung thư Ở Việt Nam ước tính vào khoảng 70.000 — 100.000 người mắc bệnh ung thư hàng năm
Các phác đồ điều trị ung thư hiện nay thường là kết hợp giữa phẫu thuật và hóa trị liệu hoặc 3a trị và hóa trị để tăng hiệu quả chống lại tế bào ung thư Các thuốc dùng để
điểu trị ung thư biện tại có hai loại chính :
Các chất độc đối với tế bào : Thuốc ngăn chặn sự sinh trưởng hoặc sự sinh sản của tế bào với nhiều cơ chế khác nhau trong đó có ngăn chặn sự phân bào (như các chất
chống phân bào : colchicin, vinblastin, vincristin)
Các thuốc kích thích miễn địch : Kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể chống lại các
tế bào ung thư
Để nghiên cứu các thuốc trị ung thư bằng cơ chế độc với tế bào, các mô hình thử
nghiệm tác dụng của thuốc trên các dòng tế bào, các tổ chức của cơ thể sinh vật được
sử dụng Một trong những thử nghiệm đơn giản trên sự sinh sản tế bào được sử dụng :
trong những nghiên cứu các chất chống phân bào được sử dụng từ lâu là thử nghiệm
Trang 26Rhan ll Phuong phdp nghién atu 23
trên tế bào mô phân rễ hành So với những mô hình thử nghiệm xây dựng sau này, phương pháp này có ưu điểm là rất đơn giản và dễ thực hiện trong các phòng thí
nghiệm mà không đòi hỏi trang thiết bị, điểu kiện phòng thí nghiệm hay con người được đào tạo đặc biệt
5.5.1 Dai Cuong
Chu trình sinh sản và phát triển của tế bào
Các tế bào sinh dưỡng động vật và thực vật đều trải qua quá trình sinh sản giống nhau
để hình thành thế hệ tế bào mới giống hệt tế bào mẹ, đảm bảo thông tin di truyền được
ổn định từ thế hệ này sang thế hệ khác Tế bào ung thư cũng có cùng chu trình sinh sản
như vậy nhưng sinh sản, vô tổ chức và không theo nhu cầu của cơ thể, tạo nên khối tế
bào ung thư chèn ép và xâm lấn các mô, các tổ chức xung quanh, làm ảnh hưởng đến
các chức năng sinh lý bình thường của các tổ chức này
Quá trình sinh sản của tế bào gồm một chuỗi các sự việc lặp lại được gọi là chu kỳ tế
bào (Hình 2)
(i) Pha Gy
Pha G¡ là pha nghỉ của chu trình tế bào sau khi tế bào thực hiện sự phân chia thành hai
tế bào con ở pha M Thời gian kéo dài của pha này là yếu tố chủ yếu để xác định thời gian của một chu kỳ tế bào Trong suốt pha G¡ không có sự tổng hợp ADN, nhưng sự g hợp ARN và protein diễn ra bình thường và sau đó tế bào chuyển sang pha S
Trang 27Bhan il “Rhuong phdp nghicn ctu 24
(iii) Pha Go
G2 la một pha nghỉ tiền phân bào xây ra ngay sau pha S Sự tổng hợp ADN đã dừng lại trong khi sự tổng hợp ARN và protein vẫn tiếp tục
(iv) Pha M (nguyean phaan)
La giai đoạn tế bào phân chia thành hai tế bào con Trong suốt quá trình nguyên phân mức độ tổng hợp ARN và protein giảm Nhiễm sắc chất tụ lại thành nhiễm sắc thể và
sợi tiên nhiễm sắc thể tách ra, tế bào phân chia Tế bào thực hiện xong một chu trình tế
(v) Pha Go
Sau giai đoạn nguyên phân các tế bào có thể bước vào một giai đoạn nghỉ khác gọi là pha Go Pha này thực ra không phải là một pha thực sự của chu trình tế bào Ở giai đoạn này, tế bào không phân chia, không chuyển hóa tích cực nhưng vẫn có khả năng tăng sinh Các thuốc chống ung thư ít tác động vào giai đoạn này Để có thể tác động lên tế bào ở pha Gọ, các thuốc chống ung thư phải kích thích các tế bào này bước vào giai
đoạn phân chia bằng cách giết một lượng tế bào đang phân chia
Các thuốc có độc tính trên tế bào khác nhau có thể ảnh hưởng lên các pha khác nhau
của vòng tế bào
Giai đoạn nguyên phân (gián phân) - pha M là quá trình tế bào tách ra thành hai tế bào con, pha này được chia thành : tiền kỳ (prophase), biến kỳ (metaphase); tiến kỳ
(anaphase) và hậu kỳ (telophase)
Tién kỳ : nhiễm sắc chất trong nhân đần dần rõ dạng, đầu giai đoạn này có dang chấm nhuyễn mịn đều, sau là chấm sậm hoặc dấu phẩy sợi đài tương ứng với nhiễm sắc thể Mỗi nhiễm sắc thể gồm 2 thành phần gọi là nhiễm sắc tử (chromatid) sát nhau ở vùng đặc biệt gọi là tâm động, vị trí tâm động rõ vào cuối tiền kỳ, nhiễm sắc thể xoắn tương đối xoắn nhiều Nhân còn đạng tròn, hạch nhân mờ dân, màng nhân biến mất và có sự thành lập thoi vô sắc
Biến kỳ: các nhiễm sắc thể nằm cùng một mặt phẳng thẳng góc với thoi vô sắc gọi là tấm xích đạo Nhiễm sắc thể ở trạng thái cực xoắn có hình thái đặc trưng nhờ vị trí eo thắt
Tiến kỳ : giai đoạn này bắt đầu lúc tâm động tách đôi Hai nhiễm sắc tử của mỗi nhiễm
sắc thể hoàn toàn tách rời hẳn nhau và mỗi nhiễm sắc tử trở thành một nhiễm sắc thể
* Các nhiễm sắc thể con trượt trên thoi vô sắc di chuyển về một trong hai cực mỗi cực có đúng số nhiễm sắc thể mà tế bào có Sau đó thoi vô sắc biến mất dân
Hậu kỳ : tế bào có 2 bộ nhiễm sắc thể là hai bộ giống nhau, có sự hình thành trở lại
màng nhân bao quanh mỗi bộ nhiễm sắc thể tạo hai tế bào con Hạch nhân rõ đạng dần Màng tế bào mới xuất hiện khoảng giữa tế bào và ngăn tế bào mẹ thành hai tế bào con
Nhờ những cơ chế đặc biệt, mỗi tế bào con nhận được số lượng nhiễm sắc thể đứng như
Trang 28‘Bhan II - lu pháp mạ hiền atu 25
của tế bào mẹ Tuy nhiên, vì một lý do nào đó (như hóa chất, tia xạ v.v ) có thể xẩy ra
những bất thường trong quá trình phân bào làm cho số lượng nhiễm sắc thể ở tế bào con nhiều hơn hay ít hơn so với tế bào mẹ Khi đó sẽ dẫn đến những sai lệch rõ rệt chức năng tế bào so với bình thường, thậm chí có thể dẫn tới làm chết tế bào
Những bất thường xảy ra trong quá trình phân cắt tế bào thực vật và mối liên
quan đến việc tìm ra các chất chống phân bào
Hai bất thường thường gặp trong qúa trình gián phân là : nội gián phân và phân bào
chậm
Nội gián phân
Trong nhiều tế bào, nhất là tế bào đang biệt hóa, nhiễm sắc chất tăng lên vì một sự phân cắt đặc biệt của nhân Màng nhân vẫn nguyên song nhiễm thể tự chẻ một hay nhiều lân Nhân nội gián phân chứa số nhiễm sắc thể là 4n, ồn,
Sự phân bào chậm
Sự phân bào chậm dẫn đến sự hình thành nhân đa bội bởi một cơ chế đặc biệt mà chủ
yếu là việc không hình thành thoi vô sắc
Sự phân bào chậm được biết lần đầu tiên ở mô động vật hay thực vật dưới tác động của colchicin Sau đó, người ta đã tìm ra những chất khác có khả năng gây bất thường tương
tự như colchicin Chúng được gọi là “chất làm phân bào chậm” hay “chất phá hủy
phân bào”
Dưới tác dụng colchicin, nhiễm sắc thể trong tiến trình phân bào vẫn tái bẩn và hình
thành nhiễm sắc tử Tuy nhiên, do thoi vô sắc không xuất hiện khi bước vào biến kỳ
nên dù có tâm động các nhiễm sắc thể vẫn nằm rải rác khắp tế bào Các nhiễm sắc tử vẫn nằm kể cận có dạng song song từng đôi gọi là giả tiến kỳ Vào giai đoạn cuối,
màng nhân được hình thành bao quanh bộ nhiễm sắc thể đã nhân đôi nên nhân tứ bội
có kích to chiếm gần hết tế bào
Dưới tác dụng của colchicin quá trình này được lặp lại Nhân tứ bội phân chia như trước
đó và một nhân bát bội hình thành Người ta có thể quan sát và đếm được l6n nhiễm
sắc thể, nhân này tăng lên thành đa bội và nhân này thường là không đều, có thùy hay đạng amib
Ngoài ra còn có thể quan sát những rối loạn khác : ở tiền kỳ 1 thoi vô sắc thô sơ tạo
thành, tế bào có 2 nhân nối nhau bởi cầu nhiễm sắc thể, hay thoi có 3 cực tạo nên tế
bào với 3 nhân không đều sau phân chia, hay vách ngăn không hình thành giữa các
„nhân khác nhau tạo tế bào có 2 nhân đính và tạo các tế bào với 2 nhân hoặc 3 nhân, Song song với những bất thường phân bào này, người ta quan sát thấy rễ ngắn lại, đầu
rễ phổng to hơn dạng lưỡng bội, là do tế bào lẽ ra phải kéo dài song song với trục rễ lại
phát triển ra mọi hướng như nhau
Tất cả các hiện tượng trên đều có thể phục hổi ngay sau khi ngưng tác động của hoạt
chất chống phân bào Sự phân bào chậm có thể lấy lại nhịp độ bình thường.
Trang 29‘Phan ll Phuong phap nghien atu 26
Các tác nhân vật lý hay hoá học còn có thể ra gây ra sự thay đổi nhiễm sắc thể như đứt
đoạn ngẫu nhiên, đứt ở điểm cuối hoặc khoảng giữa nhiễm sắc thể, hay gây ra dồn và
dính nhiễm sắc thể do ảnh hưởng đến sự giải trùng hợp ADN làm cản trở sự phân chia
của nhân
Tìm kiếm những chất có tác đụng chống phân bào, người ta có thể hy vọng đến việc sử dụng những chất ức chế phân bào trong việc chống lại bệnh ung thư, bệnh bạch huyết Colchicin, podophylEn, các dẫn chất amin, trimethylen melanin là những chất đã cho kết qủa đáng khích lệ
5.5.2 Thử nghiệm tác dụng chống phân bào của các cao chiết dược liệu
trên mô phân sinh rễ hành ta Allium ascalonicum L
Phương pháp và điều kiện thử nghiệm
Sử dụng mé phan sinh ré hanh ta Allium ascalonicưn L để thử tác dụng của các cao chiết được liệu trên sự phân bào theo phương pháp Deysson Củ hành ta sau khi được chọn lọc cẩn thận cho vào lọ nuôi với dung dịch nuôi dưỡng Knop 1⁄2 trong 24 giờ cho những rễ có chiểu dài thích hợp để thử nghiệm (khoảng 1-1.5 cm) những cao chiết metanol hay nước của các được liệu được thử nghiệm ở các nồng độ : Img/ml,
0 1mg/ml, 0.01mg/ml Mỗi mẫu thử nghiệm đều có mỗi đối chứng song song Mỗi nồng
độ và mỗi thử / nghiệm được thử trên nhiều bụi hành Những củ được chọn là những củ
cho ra nhiều rễ đều nhau và khi quan sát sinh mô không thấy có những tế bào bất bình
thường
Các thử nghiệm được thực hiện trên tế bào mô phân sinh rễ hành ta ở điều kiện nhiệt
độ phòng thí nghiệm và pH của các dung dịch cho phép từ 5 - 5.5 (đo bằng chỉ thị vạn năng)
Ở mỗi thứ nghiệm củ hành được đặt vào lọ nuôi đựng dung dịch thử Sau 4 giờ, 24 giờ
cắt mô phân sinh chóp rễ đem nhuộm trong orcéin rồi quan sát, nhận xét sự phân bào đông thời quan sát hình thái và đo chiều dài của rễ Sau thời gian tác động của thuốc, mẫu được nuôi lại trong dung dịch Knop 1⁄2 để quan sát lại sự phân bào sau khi ngừng tác động của thuốc
Phương pháp của Deysson sử dụng có các ưu điểm :
— Đơn giản, không đồi hỏi trang thiết bị, dụng cụ phức tạp
— Nhanh
~ C6 thể áp dụng trong điều kiện phòng thí nghiệm của trường
—_ Đủ chính xác để chỉ rõ mối liên quan giữa các thành phân và tác dụng tới tế bào sinh vật
Củ hành ta được chọn để thử là do dễ kiếm, số lượng nhiễm sắc thể ít (2n = 16), nhiễm -
sắc thể to nên đễ đàng quan sát, rễ mọc nhanh (sau 24 giờ đạt chiều dai 1-1.5cm) .
Trang 30Bhan il -Phuong phao nghién alu 27
Cach tién hanh
Dụng cụ và nguyên liệu thử nghiệm
—_ Cao được liệu (cao chiết methanol và nước)
—_ Củ hành, được chọn lọc cẩn thận cho phù hợp với yêu cầu thứ nghiệm
—_ Lọ nuôi bằng thủy tỉnh
— Chén sứ nhỏ
—_ Kính hiển vi
—_ Một số dụng cụ khác như : bình định mức, pipette 1ml; 5ml; 10ml, giấy thấm, giấy
bìa cứng, thước đo phân vạch đến ram
—_ Metanol: loại công nghiệp ( Singapore ), được cất lại theo phương pháp thường, lấy
ở phân đoạn có nhiệt độ sôi là 64-67°C Bỏ phân đoạn đầu và cuối
~ DMSO (dimethyl sulfoxide ) S& dung loai tinh khiét phan tich (Fluka A.G)
— Tween 80: loai ding trong bao ché
—_ Các muối: canxi nitrat, kali nitrat, kali đihydro phosphat, magie sulfat, kali clorid, s&t III clorid
—_ Nước cất
— Phẩm nhuộm orcein
- Acid acetic, acid clohydric
Chuẩn bị các vật liệu thử
Thanh phan cho i lit dung dịch Knop nguyên
Kali nitrat 0.25¢ SAt III clorid 5% 1 giot
Kali dihydro phosphat 0.25g Nuc cat vd 1 lít
Magie sulfat 0.25g PH = 5-5.5 (chi thi van nang)
Pha thuốc nhuộm theo công thúc
Orcéin 1g
Acid acetic 45ml
Nước cất 54ml
+ Chuẩn bị củ hành
Củ hành được chọn lựa xong, lột vỏ bao bên ngoài, rửa sạch, rửa lại 3 lần với nước cất
và 2 lần trong Knop 1⁄2 Đặt trong bình nuôi với dung dịch Knop 1⁄2 24 giờ sau chọn
những củ hành có đa số rễ dài từ 1-1.5cm và trong sinh mô quan sát không thấy tế bào
bất thường để thử
Pha dung dịch thử và dung dịch chứng
Trang 31Tả ll Phuong pha nghien cay - 28
Cao metanol : cân chính xác 50mg cao trên mặt kính đồng hỗ, thêm 0.25mi DMSO,
khuấy kỹ cho đến khi cao tan hết Cho vào bình định mức 50ml, thêm nước cất vừa đủ 50ml, lắc đều được dung địch có nông độ 1mg/ml Nếu cao khó tan diing Tween 80 để héa tan (lugng cho vao 1a 0.1% so theo thể tích) Từ dung dịch Img/ml pha lofng vdi nước cất để được các dung địch có nồng độ loãng 0 1mg/ml và 0.01mg/mI
Cao nước : chuẩn bị như cao metanol, nhưng không có DMSO hoặc Tween 80
Dung dich ching : có nồng độ DMSO hay Tween 80 tương ứng với nông độ của chúng
trong dung dịch thử
Tiến hành th nghiệm
Các mẫu được thử ở nễng độ 1mg/mI, nếu có tác dụng sẽ được thử ở nồng độ thấp hơn
Củ hành được đặt vào đung địch thử ở nồng độ quy định Sau 4 và 24 giờ, quan sát hình thái và đo chiểu dài rễ so với chiều dài rễ trước khi thử nghiệm Cắt ít nhất là 3 chóp rễ
ở mỗi mẫu thử nghiện, nhuộm với 0.5ml dung dich orcéin va 1 giot HCl IN trong 1-2 giờ Quan sát sự phân bào dưới kính hiển vi quang học (soi trong dung dich orcein) Đếm tổng số tế bào ở metaphase và ở anaphase, đếm tổng số những tế bào có bất thường ở metaphase và ở anaphase Quan sát những bất thường khác trong sự phân chia
tế bào Sau thử nghiệm, củ hành được nuôi lại trong dung địch knop 1⁄2 và theo đối sự hồi phục của rễ
Tiến bành tương tự với mẫu trắng
Đánh giá kết quả
- Xác định tỉ lệ tăng trưởng của rễ ở mẫu thử so với mẫu trắng không chứa cao thử
- Đánh gía sự phục hồi của rễ sau khi nuôi lại trong dung dịch Knop 1⁄2 và những bất thường về hình thái của rễ, nếu có, trong quá trình thử nghiệm
- Xác định tỉ lệ tế bào bất thường ở metaphase và ở anaphase của mẫu thử so với tổng
số tế bào của mẫu thử ở metaphase và ở anaphase So sánh tỉ lệ này với mẫu trắng
không chứa cao thử
- Đánh giá những bất thường của tế bào trong quá trình phân bào
6 NGHIÊN CỨU HOÁ HỌC
Sau khi thử nghiệm và đánh giá tác động của các cao chiết trên các mô hình thử sinh
“học iz viro, chọn những cây thuốc có tác dụng tốt, có nhiễu hứa hẹn để tiếp tục nghiên
cứu hóa học
Các cây thuốc được chọn được chiết thành các phân đoạn dựa vào độ phân cực của chúng với các dung môi có độ phân cực khác nhau Các phân đoạn chiết này được thử tác dụng sinh học Trên hai mô hình thử nghiệm là brine shrimp và chống phân bào trên rễ hành để định hướng vào các phân đoạn có tác dụng l
Trang 32Rhdn it _ P9Jpwg pháp nghien atu 29
Các phân đoạn có tác dụng được tiếp tục phân tách thành những phân đoạn đơn giản
hơn và sau cùng là các chất tinh khiết băng các phương pháp sắc ký như sắc ký cột, sắc
ký lớp mỏng điều chế v.v trên silica gel và các vật liệu đảo pha (Quy trình chiết xuất
và phân lập các hợp chất sẽ được mô tả cụ thể trong phan IV 9)
Các chất tỉnh khiết được xác định cấu trúc bằng các phương pháp quang phổ như quang phổ tử ngoại, hỗng ngoại, khối phổ và cộng hưởng từ hạt nhân (chỉ tiết các thiết bị được trình bày ở phần kết quả)
Trang 33PHAN III
KET QUA NGHIEN CUU
Trang 34‘Bhan ll - Ket gud nghien atu 30
1 DANH SÁCH MẪU NGHIÊN CỨU
Các dược liệu được sử dụng trong nghiên cứu này được liệt kê theo thứ tự tên Việt nam
gồm: Tên Việt nam, tên la tỉnh, họ thực vật, nơi và thời gian thu thập mẫu, bộ phận dùng trong thử nghiệm và đặc điểm bột được liệu
Ba dót - Eupatorium triplinerve Vahl., Asteraceae (Tp HCM 3/ 1998)
Cành mang lá - Bột màu xanh rêu
Ba bénh - Euricoma longifolia Jack Subsp longifolia, Simaroubaceae (Mua tai Tp
Rễ - Bột màu đỏ nâu, mùi hắc, buôn nôn
Bach trinh - Hymenocallis speciosa Salisb., Amarillidaceae (Tp HCM - 3/ 1997)
Muối berberin chlorid, Bột khô tơi màu vàng
Bi d6 - Cucurbita maxima Duch ex Lam., Cucurbitaceae (Tp HCM - 6/1997)
Thân lá - Bột màu nâu, có nhiều xơ
Hạt - Bột màu xám nhạt
Binh bat - Annona reticulata L., Annonaceae (TpHCM - 3/1998)
Lá - Bột màu xanh rêu
Vỏ thân - Nâu, ít xơ
Vỏ rễ - Màu nâu
Gỗ thân - Mầu vàng
Gỗ rễ - Màu vàng
Hạt - Màu nâu, đính ướt
Binh Véi Bién - Stephania pierrei Diels, Menispermaceae (Phan thiét - 1990)
Củ — Bột màu trắng xám nhạt
Bình Vôi Đồng Nai - Stephania sp., Menispermaceae (Đồng Nai - 4/1988)
Lá — Bột màu lục nâu
Trang 35Phan i Ket gud nghien ou 31 Thân - Bột màu vàng
Củ — Bột màu vàng xám
Béng né - Fluggea virosa Wall., Euphorbiaceae
+4 - Bột màu lục nhạt
Thân - Bột màu nâu nhạt
Bễ kết tây (Còng) — Albizia lebbeck (L.) Benth., Fabaceae (Tp HCM ~ 3/1998)
Lá — Bột mau nâu đậm, nhiều xơ
"Thân cành - Bột màu nâu đỏ
Bưởi - Cữrus grandis Osbeck, Rutaceae (Bến tre ~ 3/1998)
Thân - Bột nhiễu xơ, vị hơi ngọt
Cam thảo nam - Scoparia dulcis L., Scrophulariaceae (Tp HCM - 6/1997)
Phần cây trên mặt đất - Bột màu lục nâu
Rễ - Bột màu vàng nâu.
Trang 36Quy Ni - Ket gud nghien atu 32
Cu Ding - Uncaria sp., Rubiaceae (An giang - 8/1 996)
Thân có móc câu - Bột có màu nâu đồ
Cau ding — Uncaria sp., Rubiaceae
Than — Bột màu nâu dé (mua tai Tp HCM — 3/1998, Xuất xứ : Trung quốc)
Thân — Bột màu nâu đỏ (mua tại An giang - 7/1995, Xuất xứ : Việt nam)
Chanh - Citrus aurantifolia Swingle, Rutaceae (Bén tre ~ 3/1998)
Chó đẻ răng cưa - Phyllanthus urinaria L Euphorbiaceae (Thủ Đức - 3/1997),
Toàn cây cả rễ - Bột có màu xanh lá với nhiều xơ
Chim ruét - Phyllanthus acidus (L.) Skeels, Euphorbiaceae (An Giang - 3/1997)
Vỏ thân chùm ruột - Bột có màu nâu đỗ có mùi thơm,
Vỏ rễ chàm ruột - Bột có mầu nâu đen
Gỗ rễ chùm ruột - Bột có mầu xám nâu,
Gỗ thân chàm ruột - Bột có mầu nâu nhạt
Cò sen - Miiliusa velutina (Dunal) Hook et Thoms., Annonaceae (An giang - 7/ 1995)
Gỗ thân - Bột màu vàng
Gỗ rễ - Bột màu nâu nhạt
Cô lào (Yên bạch) - Eupatorium odoratum L., Asteraceae (Tp HCM - 6/1997)
Lá - Bột màu nâu nhạt, thơm nhẹ
Thân - Bột màunâu nhạt
Rễ - Bột màu vàng nhạt
Có seo gà (Cổ luỗng) — Peris ensformis Burm., Pteridaccae (Tp HCM -~ 3/1998)
Lá - Bột màu lục
Có sữa 14 16n - Euphorbia hirta L Euphorbiaceae (TPHCM - 3/1997)
`_ Toàn cây cả rễ - Bột có màu xanh lá nhạt
Cổ sữa lá nhỗ - Euphorbia thymifolia L Euphorbiaceae (TPHCM - 3/1997)
Toờn cây cả rễ - Bột có mầu nâu nhạt
Có xước — Achiranthes aspera , Acanthaceae (mua tại Tp HCM)
Rễ củ - Nâu nhạt
Cổ xước bông dé - Cyathula prostrata L., Amaranthaceae (Tp HCM 7/1997)
Toàn cây trên mặt đất - Bột có màu lục.
Trang 37Phan Il Ket gua nghien cu 33
Thân - Bột có nhiều xơ, vị đắng
Dén gai - Amaranthus spinosus L., Amaranthaceae (Tp HCM - 5/1997)
Thân - Bột màu nâu nhạt, vị đắng
Âễ - Bột màu nâu, vị đắng
Đừng lạc - Pisonia umbellifera (J et G Forst.) Seem., Nyctaginaceae (An giang - 5/1997)
Thân - Bột có màu vàng chanh, nhiều xơ
Lá - Bột có màu lục nâu
Đa đa — Harrisonia perforafa , Simaroubaceae (Đồng nai — 3/1998)
Lá —- Bột màu đỏ nâu
Thân - Bột màu nâu
Đại bí (Từ bì) - Buunea balsamifera D.C., Asteraceae (Tp HCM - 3/1997)
Lá - Bột màu vàng lục, mùi băng phiến
Thân - Bột màu nâu, nhiều xơ
Đại hoa d6 - Plumeria rubra Apocynaceae (Tp HCM - 7/1997)
[4 - B6t mau nau, vi hoi ngot
Vỏ thân - Bột có nhiều xơ, vị đắng
Hoa - Bột màu đỏ sậm, rất thơm
Đại hoa trắng - Plumeria rubra var acutifolia Apocynaceae (Tp HCM - 7/1997) :
+4 - Bột màu nâu, vị hơi ngọt
Trang 38Rhdn I Ret gud nghicn ott 34
Võ thân - Bột có nhiều xơ, vị đắng
Hoa - Bot rat thom
Đại Phong Tu - Hydnocarpus anthelmintica Pierre ex Laness, Flacourticaceae (Mua tai
Tp HCM — 3/1998)
Vỏ hạt - Bột mầu nâu
Nhân hạt - Bột nhiều đầu, màu vàng nâu, mùi đạc biệt
Dầu hạt ~ Dầu sánh mầu vàng, mùi đặc biệt
Don ld 46 — Excoecaria cochichinesis , Euphorbiaceae (An giang — 3/1998)
La
Đơn lá đỏ -Excoecaria bicolor Hass Euphorbiaceae (L4i Thiéu - 4/1997)
Lá đơn lá đỏ : bột có mầu xanh đồ lẫn lộn
Thân cành : bột có mầu nâu
Du di - Carica papaya L., Caricaceae (Tp HCM - 4/1997)
Phiến lá - Bột màu lục
Thân - Bột màu vàng nhạt, có xơ
Rễ - Bột trắng ngà, có xơ
Hạt - Bột màu nâu đen
Eicus sp Moraceae (Quảng ngãi)
Gáo vàng - Nauclea orientalis Rubiaceae (Hải Dương - 5/1997)
Vỏ thân - Bột có nhiều xơ, vị đắng
Giác đế - Goniothalamus giabracianus (Baill.) Ast., Annonaceae (An giang - 5/1995)
Lá - Bột màu nâu
Rễ - Bột màu vàng đậm
Gối hạc - Leea rubra Leaceae (Tp HCM - 6/1997)
Lá - Bột mau lục, không mùi vị
Hà thủ 6 dé - Poligonum multiflorum Thunb., Polygonaceae (Mua tại Tp HCM - 5/1997)
Trang 39‘Rhdn il Ket gud nghién ctu 35
Lá - Dùng dạng tươi
Hoa - Dùng dạng tươi
Hạt - Bột màu xám
Hoàng bì - Murraya koenigii (L.) Spreng., Rutaceae (Tp HCM — 7/1997)
Lá - Bột màu rêu, có mùi thơm đặc trưng, vị đắng hơi cay
Vỏ thân - Bột mầu xám nâu vị đắng hơi cay
Hoàng lan (Ngoc Ian tay, Ylang y lang) - Cananga odorata (Lam.) Hook f Et Thoms.,
Annonaceae (Tp HCM - 5/1997)
Lá - Bột màu nâu đen, có mùi thơm
Vỏ thân - Bột màu nâu đen, có mùi thơm
Vỏ rễ - Bột mầu nầu đen, có mùi thơm
Hoang lién - Coptis chinensis., Ranulculaceae (Mua tai Tp HCM - 5/1997)
Ké đầu ngựa — ÄXanthium strumarium L., Asteraceae (mua tai Tp HCM)
Quả - Bột màu nâu
Khién nguu (Bin bim, Hic stu) - Ivomea hederaceae J: acq., Convolvulaceae (An giang - 5/1997)
Hạt - Bột màu nâu đen, nhiều chất béo
Lưỡi rắn (Tp HCM - 1/1997)
Toàn cây - bột màu lục nhạt
Mạn kinh tử - Vitex trifolia Lin Verbenaceae
Hat - (Trung tâm dược liệu Quận 5, Nha Trang - 4/1997)
Mãng cẫu ta - Annona squamosa L., Annonaceae (TpHCM - 3/1998)
+ Lá Màu xám
Vỏ thân Mầu nâu, nhiều xơ
V6 ré Màu nâu, có xơ
Gỗ thân Vàng nhạt
Gỗ rễ Màu vàng nhạt
Hạt Xám trắng, dính tay
Mãng cầu xiêm - Annona reticulataL., Annonaceae (Bến tre - 4/1998)
Lá - Xanh lá, mùi thơm
Vỏ thân - Màu nâu, nhiều xơ
Trang 40Bhan lil Ket gud nghién atu 36
Vỏ rễ - Màu nâu, nhiều xơ
Gỗ thân - Màu nâu xám
Gỗ rễ - Màu xám
Hạt - Nâu đen, ướt
Me - Tamarindus indica L., Fabaceae (Tp HCM - 6/1997)
Rễ - Bột màu nâu, mùi thơm gắt
Miu u - Calophyllum inophyllum , (Tp HCM — 3/1998)
Lá - Bột lá màu lục
Vỏ thân
Nhân hạt
Murdania — Muzdania sp , Comeliaceae (Kiên giang — 8/1997),
Toàn cây trên mặt đất — Bột màu lục nâu
Mướp đắng - Momordica charamia L., Cucurbitaceae (Tp HCM - 3/1997)
Lá - Dùng dạng tươi
Thân - Dùng dạng tươi
Quả - Dùng dạng tươi
Hạt - Dùng dạng tươi
Náng hoa đồ - Crinum defixum Ker Gawl, Amaryllidaceae (Tp HCM - 3/1997)
Lá - Bột màu xanh nâu
Thân hành - Bột màu trắng hơi nâu
Nang hoa Trang (Đại tướng quân) - Criun Asiaticum L Amaryllidaceae (Tp HCM - 3/1997)
Lá - Bột màu xanh nâu
Thân hành - Bột màu trắng hơi nâu
Nga truật - Curcuma zedoaria (Berg.) Roscoe, Zingiberaceae (Mua tai Tp HCM -
3/1997)
Than ré - B6t mau vang chanh, c6 mii dac trung, vị hơi đắng
Ngai luc binh - Zurycies amboinensis (L.) Loudon, Amarillidaceae (An giang - 7/1995)
Thân hành - Bột màu trắng ngà
Nghệ - Curcuma longa L., Zingiberaceae (Tién giang - 3/1997)
Thân rễ - Bột màu nghệ, mùi thơm đặc trưng :