CNXH DC là một trào lưu tư tưởng cải lương trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XIX. Cho đến nay, CNXHDC vẫn tồn tại và một số đảng DCXH đang nắm chính quyền ở một số nước TBCN. Sau sự kiện khủng hoảng sụp đổ của CNXH hiện thực ở Đông Âu Liên Xô, 1 số người cộng sản, một bộ phận công nhân, nhân dân lao động cũng dao động con đường XHCN Mác xít muốn ngả sang CNXHDC, họ lớn tiếng đòi hỏi Đảng ta phải nhanh chóng hoàn lương, từ bỏ con đường CNXHKH đi theo con đường CN XHDC
Trang 1Chuyên đề 3 CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DÂN CHỦ
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề:
CNXH DC là một trào lưu tư tưởng cải lương trong phong trào cộng sản vàcông nhân quốc tế, xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XIX Cho đến nay,CNXHDC vẫn tồn tại và một số đảng DCXH đang nắm chính quyền ở một sốnước TBCN Sau sự kiện khủng hoảng sụp đổ của CNXH hiện thực ở Đông Âu -Liên Xô, 1 số người cộng sản, một bộ phận công nhân, nhân dân lao động cũngdao động con đường XHCN Mác xít muốn ngả sang CNXHDC, họ lớn tiếng đòihỏi Đảng ta phải nhanh chóng hoàn lương, từ bỏ con đường CNXHKH đi theo conđường CN XHDC
Để nhận diện: + Bản chất CNXH dân chủ là gì?
+ Đặc điểm của nó ra sao?
+ Thái độ của Đảng ta với CNXHDC như thế nào?
Hôm nay tôi cùng các đồng chí nghiên cứu : CNXH Dân chủ
2 Mục đích, yêu cầu:
- Nắm vững sự ra đời, các giai đoạn phát triển của CNXHDC
- Thấy rõ bản chất và đặc điểm của CNXHDC
- Phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái cuả CNXHDC
3 Nội dung:
I Sự ra đời và các giai đoạn phát triển của CNXHDC
II Bản chất và đặc điểm của CNXHDC
III Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam với CNXHDC
* Thời gian: 4 tiết
* Phương pháp: Thuyết trình, phân tích tổng hợp, lịch sử, lô lúc, kết hợptrình chiếu
* Tài liệu Nghiên cứu:
Trang 2- Đề tài “Những quan điểm lư luận về con đường thứ Ba của một số đảng xãhội - dân chủ Tây Âu trong giai đoạn hiện nay” do TS Nguyễn Đức Thùy làm chủnhiệm, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
NỘI DUNG
I SỰ RA ĐỜI VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CNXHDC
1 Một số khái niệm
- “Dân chủ xã hội” là một khái niệm chính trị xuất hiện lần đầu tiên trong
phong trào cách mạng Đức vào những năm 1848 - 1849, nó thể hiện tư tưởng xâydựng một xã hội dân chủ cho mọi công dân, trong đó dân chủ về chính trị và xã hội
Trang 3gắn liền với công bằng xã hội và nghĩa vụ đóng góp của mỗi người dân, đối lập với
tư tưởng nhà nước dân tộc sô vanh và quân phiệt của Đức thời bấy giờ
- “Trào lưu dân chủ xã hội” là một trào lưu tư tưởng và chính trị trong
phong trào công nhân, lúc đầu chịu ảnh hưởng tích cực của chủ nghĩa Mác, về sau
xa dần mục tiêu đấu tranh của phong trào công nhân, thực hiện những thoả hiệpchính trị với giai cấp tư sản Lịch sử tồn tại của nó là một quá tŕnh đầy mâu thuẫn
và thăng trầm, gắn liền với những cuộc đấu tranh trong nội bộ từng đảng cũng nhưtrong trào lưu nói chung, giữa hai trào lưu dân chủ xã hội và cộng sản trong phongtrào công nhân quốc tế
- “Quốc tế XHCN” (Socialist International - SI): Là tổ chức quốc tế tập hợp
các đảng dân chủ xã hội, các đảng XHCN, và các đảng công nhân (hoặc côngđảng) đang hoạt động ở các quốc gia trên thế giới SI được thành lập tại Đại hộicác đảng dân chủ xã hội lần thứ nhất ở Frankfurt (CHLB Đức) năm 1951 Đến nay,Quốc tế XHCN đă tiến hành được 22 đại hội, Đại hội gần đây nhất là Đại hội XXIIđược tiến hành ở Brazil (10/2003)
Theo điều lệ, SI họp đại hội 2 năm một lần (sau này là 3 năm) Tính đến Đạihội XXI (1999), tổng số thành viên của SI là 140 đảng và tổ chức SI không thừanhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt nội bộ; các đảng thành viên duytrì sự độc lập hoàn toàn của mình; các hội nghị của SI chỉ ghi nhận các chính sách
do các đảng đưa ra, không đề ra chính sách chung và cố gắng đạt tới sự nhất trí(đồng thuận) cao nhất của các thành viên Cơ cấu lãnh đạo của SI gồm: Một Hộiđồng gồm đại biểu các đảng thành viên; một Ban lãnh đạo (Bureau), sau này đổithành Đoàn Chủ tịch gồm 1 Chủ tịch, 12 Chủ tịch danh dù, 28 Phó Chủ tịch và mộtBan thư kư Cơ quan ngôn luận chính thức của SI là Bản tin “Những vấn đềXHCN” (Socialist Affairs) xuất bản bằng tiếng Anh
- “Chủ nghĩa cải lương xã hội” là khái niệm do những người dân chủ xã
hội nêu ra từ giữa thế kỷ XIX Đầu tiên là tư tưởng của Ferdinand Lassalle về việcgiai cấp vô sản có thể lợi dụng quyền bầu cử, phổ thông đầu phiếu trong chế độTBCN để tranh cử và bằng con đường đấu tranh nghị viện để xây dựng xã hộiXHCN
Trang 4Sau đó, những tư tưởng này được Eduard Bernstein đề lên thành lý luận khikhẳng định rằng “phong trào dân chủ xã hội được quyền mang tính chất cải
lương” Xét về thực chất, “Chủ nghĩa cải lương xă hội” là một trào lưu cơ hội hữu
khuynh khi nó chủ trương phong trào công nhân chỉ cần tiến hành những thay đổi
có tính chất cải lương trong các quan hệ xã hội của CNTB là có thể tiến lên CNXH
mà không cần phải thông qua cách mạng xã hội xoá bỏ CNTB
- “Chủ nghĩa dân chủ xã hội” là khái niệm được trào lưu dân chủ xã hội dùng để thay cho khái niệm “chủ nghĩa cải lương xã hội” Ngoài ý nghĩa khác
nhau về ngôn từ, khái niệm này có ý muốn đề cao vấn đề “dân chủ”, nhất là dânchủ về xã hội Các nhà lý luận của trào lưu dân chủ xã hội đã đưa ra lý luận về mốiquan hệ giữa dân chủ chính trị với dân chủ xã hội
Họ cho rằng, sự thắng lợi của nhân dân, của dân chủ chính trị đã được thểhiện đầy đủ trong nền dân chủ tư sản Nói cách khác, họ đồng nhất nền dân chủ tưsản với thắng lợi của dân chủ chính trị Do đó, phong trào công nhân chỉ cần tậndụng cơ sở dân chủ chính trị tư sản để tiếp tục phấn đấu có đầy đủ dân chủ xã hộihơn, như vậy sẽ có CNXH Dân chủ xă hội, theo quan điểm của họ có nghĩa là sựbảo đảm việc làm, không thất nghiệp, có chỗ ở, đời sống cao, có bảo hiểm xă hội,bình đẳng cho phụ nữ
- “CNXH dân chủ” là hệ thống các quan điểm tư tưởng của trào lưu xã hội
dân chủ quốc tế mang tính cải lương về CNTB, về mô hình và con đường, biệnpháp xây dựng CNXH và giải quyết các vấn đề xã hội khác
2 Sự ra đời của CNXHDC
a Sự ra đời:
CNXH dân chủ không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên Trái lại, nó là sảnphẩm nảy sinh từ cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của CNTB và cuộc đấu tranh giaicấp trong xã hội tư bản
Vào khoảng nửa sau thế kỷ XIX, khi CNTB từ giai đoạn tự do cạnh tranhsang giai đoạn độc quyền, cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân chuyểnsang thời kỳ mới, phong trào công nhân phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, dẫnđến sự ra đời của nhiều tổ chức công đoàn và Đảng xã hội - dân chủ Tổ chức tiền
Trang 5thân của trào lưu dân chủ xã hội đó là Đảng xã hội - dân chủ Đức được thành lậpvào năm 1875 trên cơ sở sáp nhập 2 tổ chức là Đảng Aidơnach thành lập 1863 (do
Bê ben lãnh đạo) - theo quan điểm Mác xít, và “Tổng công hội Đức” (do F.Lát xanthành lập 1869) theo lập trường cải lương Sau đó là sự ra đời của hàng loạt cácĐảng dân chủ - xã hội ở các nước tư bản châu Âu
Sự phát triển mạnh mẽ của PTCN, sự ra đời hàng loạt các Đảng xã hội - dânchủ và do những nỗ lực to lớn của Ph.Ăngghen, Quốc tế II ở giai đoạn đầu, khiPh.Ăngghen còn sống là tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân, chủ yếu theo lậptrường tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, mặc dù trong các Đảng xã hội - dânchủ một bộ phận vẫn chịu ảnh hưởng tư tưởng cơ hội, cải lương, ở giai đoạn sau từkhi Ph.Ăngghen mất (1895), tổ chức này bị chủ nghĩa cơ hội, xét lại chi phối
Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng cách mạng và cải lương trong Quốc
tế II đã đi đến kết cục là sự phá sản của Quốc tế II Khi cuộc chiến tranh thế giớithứ I (1914-1918) nổ ra, đã làm bộc lộ toàn diện sự phản bội của các phần tử cơhội, cải lương, xét lại trong Quốc tế II và các Đảng xã hội - dân chủ đối với lợi ích
cơ bản của giai cấp công nhân quốc tế và những nguyên lý cách mạng Mác xít
Tháng 3-1919, Quốc tế III, Quốc tế Cộng sản được thành lập ở Matxcơva.Sau khi Quốc tế II tan rã, trong những năm 1919-1920, hai tổ chức quốc tế của cácĐảng xã hội dân chủ cánh hữu từ Quốc tế II ra đời, đó là Quốc tế Luân Đôn vàQuốc tế cộng đồng lao động các Đảng xã hội dân chủ (thường gọi là Quốc tế II1/2) Tháng 5-1923, Quốc tế công nhân XHCN ra đời tại Hăm Buốc (Đức) trên cơ
sở hợp nhất Quốc tế Luân Đôn và Quốc tế II 1/2 Đây là tổ chức Quốc tế đầu tiêncủa trào lưu xã hội dân chủ hiện đại Tổ chức quốc tế này tồn tại cho đến chiếntranh thế giới thứ II
Năm 1950, những người đứng đầu trào lưu dân chủ xã hội đã tổ chức Hộinghị Hội nghị XHCN quốc tế (Committe of the International Socialist Confrence -COMISCO) ở Đan Mạch Tại Hội nghị này, lần đầu tiên đại diện của các đảng dânchủ xã hội đã chính thức bàn đến khái niệm “CNXH dân chủ” cùng với nhữngnguyên tắc cơ bản của nó và việc xây dựng lại một tổ chức quốc tế của phong tràodân chủ xã hội Tháng 7/1951, tại thành phố Frankfurt (CHLB Đức) đã diễn ra Đại
Trang 6hội thành lập tổ chức quốc tế mới của các đảng dân chủ xã hội, lấy tên là Quốc tếXHCN (Socialist International - SI)
Tuyên ngôn Frankfurt đã trình bày một cách khá đầy đủ và hệ thống cácnguyên tắc của CNXH dân chủ, đánh dấu một giai đoạn hoàn toàn mới của CNXHdân chủ, một trào lưu tư tưởng chính trị hiện đại với tham vọng đứng trên và thaythế cả hệ thống TBCN và hệ thống XHCN, đối lập với cả chủ nghĩa tự do - bảo thủ
và CNCS
Như vậy, từ những năm 70 của thế kỷ 19 những tư tưởng CNXHDC đã
được hình thành với tư cách là một học thuyết, một lý luận trong phong troà côngnhân quốc tế Tổ chức tiền thân là Đảng xã hội - dân chủ Đức (1875)
Những tư tưởng CNXHDC ra đời lấy mốc từ tác phẩm của A.Bécxtanh
“Những tiền đề của CNXH và nhiệm vụ của những người XH - DC” - 1868 Đây
là những tiền đề tư tưởng đầu tiên về CNXHDC
- Tháng 5-1923, Quốc tế công nhân XHCN ra đời tại Hăm Buốc (Đức) trên
cơ sở hợp nhất Quốc tế Luân Đôn và Quốc tế II 1/2 Cương lĩnh GôTa của Quốc tếcông nhân XHCN đã bước đầu hình thành quan điểm, hệ thống lý luận củaCNXHDC
- 1950, tại Hội nghị XHCN quốc tế lần đầu tiên đại diện của các đảng dânchủ xã hội đã chính thức bàn đến khái niệm “CNXH dân chủ” cùng với nhữngnguyên tắc cơ bản của nó
- 7/1951, Tuyên ngôn Frankfurt tại Đại hội Quốc tế XHCN của các đảng dânchủ xã hội đã một cách khá đầy đủ và hệ thống các nguyên tắc của CNXH dân chủ,đánh dấu sự ra đời của CNXHDC
b Nguồn gốc tư tưởng, nguồn gốc xã hội của CNXHDC
- Nguồn gốc tư tưởng:
Chính là ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng tiểu tư sản trong phongtrào công nhân được biểu hiện dưới nhiều màu sắc: CNXH không tưởng tư sản vàtiểu tư sản, chủ nghĩa công liên, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cơ hội hữu và tả,chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa chống cộng và sự đan xen phức tạp của các khuynhhướng tư tưởng đó CNXH dân chủ - học thuyết của trào lưu xã hội dân chủ trở
Trang 7thành một học thuyết chiết trung, hỗn tạp và mang tính cải lương, thực dụng, thoảhiệp giai cấp.
- Nguồn gốc xã hội:
Cơ sở xã hội của CNXH dân chủ là tầng lớp giai cấp công nhân quí tộc vàtầng lớp trí thức có lợi ích gắn liền với giai cấp tư sản, sự hình thành và tồn tại củacác tổ chức công đoàn vàng trong phong trào công nhân và các nghiệp đoàn tự dotrong xã hội tư bản, đặc biệt là các đảng xã hội dân chủ và các tổ chức chính trị xãhội của nó Ngoài ra còn kể đến sự hình thành và phát triển của tầng lớp trung lưurộng lớn trong xã hội tư bản hiện đại và bộ phận công nhân chậm tiến, xu thờitrong xã hội tư bản
3 Các giai đoạn phát triển của CNXHDC
Trào lưu dân chủ xă hội có nguồn gốc từ phong trào công nhân ở các nước
tư bản phát triển Tây Âu khoảng 150 năm trước Đến nay nó đă trải qua nhiều giaiđoạn phát triển thăng trầm phức tạp Để phân kỳ các giai đoạn của trào lưu dân chủ
xă hội, cần dùa trên hai căn cứ: Trước hết là dùa trên cơ sở kinh tế - xă hội, nóicách khác là dùa trên những giai đoạn phát triển của CNTB từ giữa thế kỷ XIX đếnnay Thứ hai là dùa trên những sự kiện lịch sử quan trọng của phong trào côngnhân nói chung, đặc biệt là những đại hội quan trọng của Quốc tế XHCN Trên cơ
sở phương pháp luận như vậy, có thể chia sự phát triển của trào lưu dân chủ xă hộithành 4 giai đoạn với những đặc điểm chủ yếu ở mỗi giai đoạn như sau:
a Giai đoạn 1, từ những năm 60 - 70 của thế kỷ XIX đến chiến tranh thế giới lần thứ I.
- Bối cảnh lịch sử:
Trong giai đoạn 1870 - 1900, CNTB ngày càng khẳng định ưu thế tuyệt đối
và bắt đầu chuyển dần từ tự do cạnh tranh sang lũng đoạn, đế quốc chủ nghĩa.GCCN đã trở thành một lực lượng lớn mạnh, nắm giữ những khâu trọng yếu trongnền kinh tế TBCN Tuy vậy, do sự bóc lột nặng nề của giai cấp tư sản, điều kiệnsống và lao động của những người làm thuê trở nên tồi tệ hơn so với thời kỳ tư bản
tự do cạnh tranh Mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp giữa lao động và tư bảnngày càng sâu sắc, quyết liệt Tiếp thu lý luận CNXH khoa học, GCCN ngày càng
Trang 8trưởng thành và giác ngộ về sứ mệnh lịch sử cũng như sức mạnh của mình Sựtrưởng thành đó được đánh dấu bằng việc ra đời và phát triển của các đảng dân chủ
xã hội có tính chất quần chúng và cách mạng cùng các tổ chức khác của GCCNtrong các nước TBCN, bằng sự ra đời và hoạt động của các tổ chức quốc tế củaGCCN (Quốc tế I và Quốc tế II)
- Về tổ chức:
Năm 1863, Ferdinand Lassalle (1825-1864) đã lập ra Tổng hội công nhânĐức (ADAV), tổ chức chính trị đầu tiên của phong trào công nhân châu Âu lúc đó.Tuy nhiên, chịu ảnh hưởng tư tưởng của Lassalle, nên hoạt động của ADAV mangđậm tính chất cải lương Bởi vậy, năm 1869, những người dân chủ xã hội chịu ảnhhưởng của tư tưởng mác xít, tiêu biểu cho khuynh hướng cách mạng ở nước Đứclúc đó là August Bebel (1840-1918) và Willhem Liebknecht (1828-1910) quyếtđịnh thành lập Đảng Công nhân dân chủ xă hội Đức (SAPD) mang tính chất tiến
bộ hơn so với ADAV
Sau Công xã Pari là thời kỳ phát triển nhanh chóng của các đảng dân chủ xãhội, nhiều đảng dân chủ xã hội với những tên gọi khác nhau đã ra đời ở một loạtnước châu Âu: Đảng Công nhân Pháp (1879), Đảng Dân chủ xã hội Bỉ (1879),Đảng Dân chủ xã hội Hà Lan (1889), Đảng Công nhân dân chủ xă hội Thuỵ Điển(1889) Ngoài ra, ở các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nauy, Thụy Sĩ, ĐanMạch, Italia đều ra đời các đảng công nhân ít nhiều mang tư tưởng dân chủ xãhội, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác
Sự trưởng thành và phát triển mạnh của phong trào công nhân, phong tràocông đoàn và đặc biệt là sự ra đời của một loạt đảng dân chủ xă hội có tính chấtXHCN ngày càng đậm nét là những điều kiện khách quan trực tiếp đưa đến việcthành lập tổ chức quốc tế mới của phong trào công nhân - Quốc tế II - vào năm
1889 Sự ra đời của Quốc tế II đánh dấu bước phát triển mới của phong trào côngnhân, phong trào dân chủ xã hội trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XIX Sau khiĂngghen mất (1895), mặc dù đã xuất hiện trào lưu Bônsêvích do Lênin đứng đầukiên quyết đấu tranh chống tư tưởng cơ hội, nhưng chủ nghĩa cơ hội vẫn chiếm ưuthế trong Quốc tế II, cuối cùng đã dẫn tổ chức này đến chỗ phá sản vào năm 1914
Trang 9Các lực lượng cách mạng, cánh tả trong các đảng dân chủ xã hội trung thành với tưtưởng của CNXH khoa học đã tập hợp xung quanh Đảng Bônsêvích Nga do Lêninđứng đầu, thành lập Quốc tế cộng sản (Quốc tế III) vào năm 1919 và các đảngcộng sản ở các nước Sự phá sản của Quốc tế II, sự thành lập các đảng cộng sản vàQuốc tế cộng sản đánh dấu “cuộc chia tay lịch sử” giữa hai trào lưu cộng sản vàdân chủ xã hội trong phong trào công nhân quốc tế.
- Đặc điểm:
Khuynh hướng dân chủ xã hội cải lương xuất hiện và phát triển, đối lập vớikhuynh hướng mác xít, đi ngược lại lợi ích cách mạng của giai cấp vô sản vàphong trào công nhân Những đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này trongphong trào dân chủ xã hội ở nước Đức nói riêng và châu Âu nói chung là F.Lassalle, E Bernstein và K Kaustky Những quan điểm của các ông này đã trởthành nền tảng tư tưởng, lý luận của CNXHDC Có thể nói, hầu như không có mộtquan điểm lý luận nào của CNXH dân chủ lại không dựa trên những quan điểm lýluận đã được hình thành từ giai đoạn này, nhất là các quan điểm của E Bernstein
Tư tưởng CNXHDC:
- Đòi xét lại và phủ nhận một loạt các luận điểm quan trọng của chủ nghĩaMác về sự tiêu vong của CNTB, sự cần thiết của đấu tranh giai cấp, cách mạng vôsản và chuyên chính vô sản
- Đồng thời đề ra những nguyên tắc của quan niệm mới về con đường vàmục tiêu của CNXH Đó là con đường cải cách dân chủ và CNXH dân chủ khácbiệt với con đường cách mạng vô sản, cách mạng XHCN của chủ nghĩa Mác
- Đề cao các hình thức đấu tranh nghị trường, công khai về vai trò siêu giaicấp của nhà nước dân chủ tư sản, bác bỏ con đường cách mạng bạo lực, đấu tranhgiai cấp và xoá bỏ nhà nước tư sản, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản để tiếntới CNXH
- Chỉ cần sử dụng nhà nước dân chủ để tiến hành các cuộc cải tạo hoà bìnhCNTB là có thể tiến tới CNXH và mục tiêu giải phóng GCCN
b Giai đoạn 2, từ sau chiến tranh thế giới thứ I đến kết thúc chiến tranh thế giới thứ II.
Trang 10- Bối cảnh lịch sử:
Sau chiến tranh thế giới thứ I, CNTB đi vào khắc phục hậu quả chiến tranh,khủng hoảng và tiếp tục phát triển theo khuynh hướng đế quốc chủ nghĩa Sauthắng lợi của Cách mạng tháng Mười, nước Nga Xô viết - nhà nước XHCN đầutiên trên thế giới - ra đời và bắt tay vào xây dựng một xă hội mới - xă hội XHCN.Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười, một cao trào cách mạng đă diễn ra ởchâu Âu trong những năm 1918 - 1923, nhưng đă bị giai cấp tư sản đàn áp và thấtbại Tình hình đó đã tác động trực tiếp đến các đảng của phong trào công nhân, lúc
đó chủ yếu là các đảng dân chủ xã hội, làm cho trào lưu dân chủ xă hội lâm vàotình trạng phân hoá sâu sắc về tổ chức, lực lượng thành phái tả, phái hữu và pháigiữa Phái tả bao gồm đại bộ phận là những người dân chủ xă hội cách mạng, mácxít Phái hữu và phái giữa gần nhau về khuynh hướng tư tưởng cơ hội và xét lại,cải lương đối lập với chủ nghĩa Mác Hai phái này không lớn hơn phái tả về lựclượng, nhưng bao gồm một bộ phận đáng kể những lãnh tụ đương thời của cácđảng dân chủ xă hội
- Về tổ chức:
Cuộc đấu tranh trong phong trào công nhân và cuộc đấu tranh giữa bakhuynh hướng và lực lượng cấu thành phong trào dân chủ xã hội (phái tả, pháihữu, phái giữa) ở những thập kỷ đầu của thế kỷ XX đã đưa đến sự đối lập ngàycàng tăng về tư tưởng giữa một bên là những người dân chủ xã hội cách mạng,mác xít (phái tả), với bên kia là những người dân chủ xã hội thuộc phái hữu vàphái giữa theo khuynh hướng xét lại và cơ hội Bộ phận những người dân chủ xãhội cách mạng, mác xít thuộc phái tả đã tách ra thành lập các đảng cộng sản, từ đóthành lập Quốc tế cộng sản vào năm 1919, tạo thành một trào lưu mới của phongtrào công nhân - phong trào cộng sản Bộ phận theo phái hữu đă tập hợp lại lựclượng nhằm khôi phục lại Quốc tế II vào năm 1919 ở Geneve (Thuỵ Sĩ) Tháng2/1921, những người dân chủ xă hội thuộc phái giữa cũng đă họp Đại hội ở Viena(Áo), có 20 đảng và tổ chức dân chủ xã hội tham gia, lập ra Quốc tế cộng đồng laođộng (còn được gọi là Quốc tế hai rưỡi) Tháng 5/1923, các đảng dân chủ xã hộithuộc Quốc tế II và Quốc tế hai rưỡi đã liên kết với nhau, tổ chức Đại hội tại
Trang 11Hamburg (Đức), lập ra Quốc tế công nhân XHCN, phục hồi và phát triển trào lưudân chủ xă hội Tổ chức quốc tế này tồn tại cho đến chiến tranh thế giới thứ II.
- Đặc điểm:
Sau khi Quốc tế II bị phá sản, phong trào công nhân quốc tế bị phân liệtthành hai tổ chức đối lập nhau và đấu tranh gay gắt với nhau Trào lưu dân chủ xãhội, phân hoá sâu sắc về tư tưởng và tổ chức Phái hữu phản bội phong trào côngnhân, đi theo giai cấp tư sản và phái tả chủ trương bảo vệ Liên Xô, chống nguy cơphát xít Trong chiến tranh thế giới thứ II, trào lưu dân chủ xã hội bị khủng bố, đàn
áp của chủ nghĩa phát xít, bị tổn thất và suy yếu Ở một số nước như Đức, Áo,đảng dân chủ xã hội bị cấm hoạt động; ở một số nước Trung và Đông Âu nhiềuđảng dân chủ xã hội bị tan vỡ
Các nhà lãnh đạo dân chủ xã hội thuộc phái hữu:
- Phê phán và bác bỏ các quan niệm của những người cộng sản Nga về nhànước chuyên chính vô sản, về xã hội hoá các tư liệu sản xuất, về nhà nước quản lýtập trung nền kinh tế và các lĩnh vực xă hội khác
- Họ cho rằng, các nước dân chủ tiên tiến ở châu Âu cần đi theo con đườngcủa CNXH dân chủ, thực hiện chế độ dân chủ chính trị, chế độ dân chủ trong kinh
tế và trong các lĩnh vực xă hội khác chứ không phải đi theo con đường của cáchmạng Nga
Những người dân chủ xã hội phái tả:
- Chủ trương kế thừa di sản lý luận cách mạng của các đảng dân chủ xã hộitrong giai đoạn thứ nhất, dưới ảnh hưởng của Mác và Ăngghen
- Thừa nhận ý nghĩa và giá trị lịch sử của Cách mạng tháng Mười, bảo vệLiên Xô, chống CNTB, chủ nghĩa đế quốc
Nhìn chung, các đảng XHDC trong giai đoạn này có sự phân hoá ngày càngsâu sắc về tư tưởng, nhưng xu hướng thoả hiệp trong nội bộ cũng như với giai cấp
tư sản là nét đặc trưng nhất của trào lưu dân chủ xã hội Về mặt tư tưởng, các đảngdân chủ xã hội trong giai đoạn này đều chống cộng sản, chống Liên Xô, gắn bó vớiCNTB ở một mức độ nhất định